1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết kế website thư viện sách của trung tâm thông tin tư liệu dầu khí

85 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 764 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn được trình bày như sau: -Chương I : Tổng quan về Internet và các dịch vụ của Internet-Chương II : Dịch vụ World Wide Web -Chương III : Phương pháp tạo dựng WebSite-Chương IV : C

Trang 1

mở đầu

Sự phát triển nhanh chóng của Internet đã làm cho máy tính ngày càng trở thành một công cụ không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống Việc áp dụng máy tính để tự động hoỏ cỏc hoạt động của thư viện đã đưa ngành thông tin thư viện lên đỉnh cao của quản lý thông tin

Được sự hướng dẫn của TS Cao Kim Ánh em đã thực hiện đề tài “Thiết kế WebSite thư viện sách của Trung Tâm Thông Tin Tư Liệu Dầu Khí” Mục

đích của đề tài là cải tiến một số chức năng trên khía cạnh “thư viện sỏch” của WebSite này Luận văn được trình bày như sau:

-Chương I : Tổng quan về Internet và các dịch vụ của Internet-Chương II : Dịch vụ World Wide Web

-Chương III : Phương pháp tạo dựng WebSite-Chương IV : Công cụ Microsoft Visual Interdev trong việc phát triển trang Web động

-Chương V : Thiết kế WebSite thư viện sách của Trung Tâm Thông Tin Tư Liệu Dầu Khí

Qua đây, em xin chân thành cám ơn TS Cao Kim Ánh, người đã tận tình chỉ bảo và định hướng cho em trong suốt quá trình làm luận văn Em xin cám ơn toàn thể thầy cô giáo trong khoa Công Nghệ Thông Tin Trường ĐHDL Phương Đông và các cán bộ phòng máy tính thuộc Trung Tâm Thông Tin Tư Liệu Dầu Khí đã tạo mọi điều kiện thuận để em hoàn thành luận văn này

Hà Nội ngày 16 tháng 5 năm 2002

Sinh viên Bùi Thị Tâm

Trang 2

Chương I

Tổng quan về internet1.1.Internet là gì ?

Tháng 7 năm 1968 cơ quan quản lý dự án phát triển của bộ quốc phòng Mỹ (ARPA) đã đề nghị liên kết các mạng mỏy tớnh để trong trường hợp có chiến tranh, dù một vài địa điểm có bị phỏ, thỡ cỏc địa điểm còn lại vẫn có thể còn lại liên hệ với nhau.Năm 1969 liên mạng đuợc hình thành, có tên gọi là ARPANET.Giao thức cơ sở liên mạng là TCP/IP

Thuật ngữ Internet xuất hiện vào khoảng năm 1974 Đến thời điểm này đã

có nhiều điểm kết nối vào ARPANET.Tuy nhiên, do tốc độ đường truyền còn hạn chế, quan điểm liên mạng còn thuần túy mang tính tăng cường khả năng liên mạng giữa các máy tính, chưa hướng tới người sử dụng, nên Internet vẫn chưa được phổ tiến và thực sự phát triển

Phải đến những năm 1990 khi mà máy tính xuất hiện ngày càng nhiều, ở bất

cứ đõu trờn thế giới cũng có khả năng kết nối Internet thuận tiện và tự do, các dịch vụ thông tin trên Internet đã hình thành, mang lại lợi Ých cho một số lượng

người không hạn chế thì Internet mới thực sự phát triển.

Vậy, Internet là liên mạng máy tính có phạm vi toàn cầu, sử dụng giao thức

cơ sở TCP/IP, có khả năng cung cấp cho người sử dụng những dịch vụ thông tin

Trang 3

vụ Internet.

Người sử dụng kết nối với dịch vụ Internet bằng cách kết nối máy tính của mình với máy chủ Internet qua đường điện thoại hoặc đường thuê bao Thông thường, người sử dụng đơn lẻ dùng đường điện thoại để kết nối Internet, doanh nghiệp/tổ chức kết nối máy tính của mình thành mạng LAN, sau đó kết nối một hoặc một vài máy tính của mạng Lan đó với Internet thông qua đường thuê bao

1.3 Giao thức TCP/IP

(Transmission Control protocol/Internet Protocol)

Giao thức (protocol) là một tập hợp các quy tắc, mô tả bằng các thuật ngữ kỹ thuật một việc cần phải làm như thế nào Để các máy tính nối mạng có thể

“hiểu” được nhau, chúng phải tuân theo một tập hợp các giao thức nhất định Tập hợp các giao thức được chọn cho Internet có tên là TCP/IP, là tên của hai giao thức quan trọng nhất : TCP (Transmission Control Protocol – giao thức kiểm tra truyền tải) và IP (Internet Protocol – Giao thức Internet)

Như vậy, TCP/IP thực chất là một họ các giao thức cùng làm việc với nhau

để cung cấp phương tiện truyền thông liên mạng TCP/IP là bộ giao thức chuẩn

mở, không có tổ chức nào độc quyền kiểm soát, nó được thiết lập bởi tổ chức

Trang 4

IETF (Internet Engineering Task Force) và được chấp nhận bởi cộng đồng mạng trên thế giới

1.3.1 Giao thức TCP

Giao thức TCP được thực hiện ở líp vận chuyển dữ liệu và là một giao thức hướng kết nối TCP cho phép hai chương trình máy tính trao đổi thông tin trên mạng hoặc một nhúm cỏc mạng khác nhau một cách tin cậy Khi một máy tính

có yêu cầu thiết lập một cuộc hội thoại với hệ thống mạng khỏc trờn Internet, nó

sẽ mở ra một kết nối logic đến hệ thống đó Kết nối TCP cung cấp giữa hai máy tính cho phép dữ liệu di chuyển đồng thời cả hai chiều và điều khiển cỏc dũng

dữ liệu đến các giao thức ở mức cao hơn

1.3.2 Giao thức liên mạng (IP)

Giao thức xác định dịch vụ mạng này gọi là giao thức liên mạng Giao thức này có thể xem như một giao thức phi kết nối, nó cung cấp 3 định nghĩa quan trọng sau :

- IP sẽ xác định một đơn vị cơ sở cho việc truyền dữ liệu, nó sẽ xác định khuôn dạng chính xác của tất cả các dữ liệu khi lưu thông trên mạng theo

mô hình TCP/IP

- IP sẽ thực hiện chức năng định hướng để chọn ra mét con đường tối ưu

mà dữ liệu sẽ được gửi đi trên đó

- IP có bao hàm một tập hợp các quy tắc để mô tả quá trình xử lý cỏc gúi

dữ liệu

1.4 Phương pháp địa chỉ hoỏ trờn Internet và dịch vụ tên miền

1.4.1 Phương pháp địa chỉ hoỏ trờn mạng

Trong mạng Internet mỗi máy tính phải có một tên và một địa chỉ riêng biệt Địa chỉ này được dùng để định doanh một cách duy nhất vị trí của các máy tính

Trang 5

chủ trên mạng Internet dựa trờn cơ cở giao thức IP Nên địa chỉ này còn được gọi là địa chỉ IP.

Mỗi địa chỉ IP có độ dài 32 bit được chia làm 4 vùng Mỗi vùng 8 bits được biểu diễn dưới dạng thập phân, bỏt phõn, thập lục phân hoặc nhị phõn.Cỏch viết phổ biến nhất là dùng ký pháp thập phân có dấu chấm để tỏch cỏc vựng

Vớ dô: 192.168.124.231

Mỗi địa chỉ IP bao gồm 2 phần là: địa chỉ mạng (netid) và địa chỉ của một mỏy trờn mạng (hostid) Do cách tổ chức và độ lớn của các mạng con trong mạng Internet có thể khác nhau nên địa chỉ IP được phân thành 5 líp: A, B, C,

D, E Cỏc lớp này được mô tả như sau

a Líp A: Dành cho mạng cực lớn (mỗi mạng có thể lên đến trên 16 triệu

máy)

Bit đầu tiên của trường đầu là 0 thì 7 bớts còn lại là địa chỉ mạng và 24 bits

còn lại của 3 trường tiếp theo là địa chỉ của máy tính Như vậy líp A cho phép

c Líp C: Cho phép định danh tới 2 triệu mạng, với tối đa 254 máy cho

mỗi mạng Líp này được dùng cho các mạng có Ýt máy

Trang 6

Ba bits đầu tiên của líp này là 110 trong byte đầu tiên, thì địa chỉ mạng bắt đầu từ 192 đến 223.

d Líp D: Dùng để gửi IP datagram tới một nhúm cỏc mỏy trờn một

mạng

Bèn bits đầu của byte đầu tiên là 1110, như vậy trong byte đầu tiên thì địa chỉ mạng bắt đầu từ 224 đến 239 Phần còn lại gồm 24 bits của trường tiếp theo tạo ra một số xác nhận mạng đặc trưng cùng làm việc Một địa chỉ IP loại này là địa chỉ gửi đến cho 1 hoặc nhiều máy tính, trong khi cỏc lớp A, líp B, líp C thì mỗi IP xác định địa chỉ cho một máy

e Líp E: Dùng để dự phòng cho tương lai

1.4.2 Dịch vụ tên miền (DNS - Domain Name Server)

Việc định doanh các phần tử của liên mạng bằng các con số như trong địa chỉ IP rõ ràng không làm cho người sử dụng hài lòng bởi chỳng khú nhớ và dễ nhầm lẫn Vì thế người ta xây dựng hệ thống đặt tên cho các phần tử của Internet, cho phép người sử dụng chỉ cần nhớ tên chứ không cần nhớ địa chỉ IP nữa

Trang 7

Tất nhiên việc định danh bằng tên cũng có những vấn đề của nó Chẳng hạn, tên phải duy nhất, có nghĩa là không để 2 máy tính trên mạng lại có cùng một tên Ngoài ra cần phải cú cỏch để chuyển đổi tương ứng giữa cỏc tờn và các địa chỉ số Đối với một liên mạng tầm cỡ toàn cầu với hàng chục triệu người dùng như Internet đòi hỏi phải có một hệ thống đặt tên phân tán và trực tuyến thích hợp Hệ thống này được gọi là DNS Đây là một phương pháp quản lý cỏc tờn (name) bằng cách giao trách nhiệm phân cấp cho một nhúm tờn Mỗi một hệ thống được gọi là một miền (domain), các miền được tách nhau bởi dấu chấm

Số lượng miền trong một tên thay đổi nhưng thường có nhiều nhất là 5 miền

Domain name có dạng tổng quát là past@ domainname, trong đó

local-past thường là tên của người sử dụng hay một nhóm người sử dụng do người quản trị mạng nội bộ quy định, còn domain name được gán bởi các trung tâm thông tin mạng các cấp

Domain cấp cao nhất là cấp quốc gia, mỗi quốc gia được gán một tên miền riêng gồm 2 chữ cái

Vớ dô: us (Mỹ), vn (Việt Nam)Domain tiếp theo thể hiện lĩnh vực hoạt động của tổ chức

Vớ dô: com (công ty), gov (cơ quan chính phủ)Domain tiếp theo là tên viết tắt của các tổ chức

Vớ dô: fpt (Cụnt ty FPT), vaec (Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam)

1.5 Các dịch vụ của Internet

1.5.1 E-mail (Electronic mail - Thư điện tử)

Có thể xem thư điện tử là dịch vụ quan trọng và phổ biến nhất của Internet Giao thức sử dụng để gửi - nhận thư điện tử gồm có: SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) và POP (Post Office Protocol) Để có dịch vụ thư điện tử ta cần đăng ký với máy chủ thư điện tử, để có hộp thư

Trang 8

Hộp thư điện tử thực chất là một thư mục trờn máy chủ mà chỉ cần người

sử dụng có account và mật khẩu tương ứng mới có thể truy nhập được Khi sử dụng máy tính khách cần có phần mềm tương ứng để truy nhập thư điện tử

Vớ dô : phần mềm Outlook Express, trên máy tính khách sẽ tự động phát sinh thư mục thư điện tử được chia thành các mục nhỏ hơn : inbox để chứa thư gửi đến, outbox để chứa thư sẽ được gửi đi, sent để chứa thư đã được gửi đi

1.5.2 News (Tin điện tử)

Trong thực tế cuộc sống, người ta sử dụng bảng tin để thể hiện ý kiến của mình, đọc ý kiến của người khác, để thảo luận những vấn đề một nhóm người cùng quan tâm Mục đích sử dụng tin điện tử cũng tương tự như vậy Sự hình thành cỏc nhúm thảo luận trên Internet tạo thành một hệ thống được gọi là Usenet Hiện nay có hàng chục nghỡn nhúm thảo luận khác nhau trên Usenet Người ta có thể thảo luận mọi vấn đề thuộc mọi lĩnh vực khác nhau trên Internet như những chuyện vui, nấu ăn, triết học, toán học, vật lý, tin học

“Bảng tin điện tử ” của một nhóm tin là một máy chủ Internet làm dịch vụ tin (News Server), được gọi là Usenet Site (News Server trung tâm), nhưng đồng thời nó cũng tự động gửi từ News Server này đến News Server khác Nhờ

đó mà mọi thành viên trong nhóm có thể nhanh chóng tiếp cận bảng tin mới

Sự hình thành nhóm tin bắt đầu từ những thông điệp đặc biệt, được gọi là những thông điệp điều khiển (Control Message) Thông điệp này được tự động gửi cho tất cả các News Admin Những người quan tâm có thể bỏ phiếu bằng cách gửi một thông điệp thích hợp đến một địa chỉ xác định Một danh sách những người tham gia bỏ phiếu sẽ được thiết lập Kết quả được chọn nếu có 2/3

số người tham gia bỏ phiếu, hoặc có sự ủng hộ của quá bán cộng thêm 100 người Thông thường thì những việc thảo luận về việc hình thành nhóm tin mới được gửi đến nhóm news.announce.newsgroup và người quản trị nhóm tin này

có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của người quan tâm

Trang 9

Tờn nhóm tin được đặt theo phương pháp “phõn cấp” Nhờ đó, người ta

có thể dễ dàng tìm ra cỏc nhúm tin có quan hệ với nhau

Trang 10

Vớ dô:

Comp.ai : trí tuệ nhân tạo

Comp.ai.edu : ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục

1.5.3 FTP

Dịch vô FPT là một dịch vụ chuyển và nhận tệp trên Internet cho phép người dùng truy cập tới một hệ thống để truyền hay nhận các tệp từ các FPT Server trong hệ thống về mỏy mỡnh hay chuyển một tệp từ trạm này đến trạm khác bất kể trạm đó ở đâu và dùng hệ điều hành gì, không phải thiết lập phiên liên lạc ở xa mà chỉ cần chúng được nối với Internet và FPT Chủ yếu theo mét trong hai cách

- Lấy các File ASCII: Text File được truyền theo bộ mã NVT ASCII Bên truyền phải Convert File ra dạng mã và bên nhận phải Convert trở lại

- Lấy các File kiểu nhị phân: Dữ liệu được gửi thành một dũng cỏc bit liên tục trên đường truyền

Trờn cỏc mỏy phục vụ FPT Server cú cỏc dữ liệu bao gồm hệ thống tệp

và các phần mềm phục vụ cho cỏc mỏy yêu cầu (FPT Client) để đảm bảo tính an toàn của hệ thống thông thường người dùng chỉ được quyền thâm nhập vào một

số thư mục nhất định nào đó, dịch vụ này có nhược điểm là việc truy xuất, tìm kiếm thông tin trong Cơ sở dữ liệu khó khăn

FPT là một chương trình phức tạp vì có nhiều cách khác nhau để sử dụng tệp, cấu trúc tệp và nhiều cách lưu trữ khác nhau (Binary ASCII, nén hay không nén) để khởi động FPT từ trạm làm việc người dùng gõ : FPT <Domain Name

Or IP Address> FPT sẽ thiết lập với các trạm xa và lúc đó người sử dụng phải làm các thao tác quen thuộc và đăng nhập bảo vệ vào hệ thống

1.5.4 Telnet

Trang 11

Để truy nhập được từ xa vào một máy tính nào đó, ta phải chạy chương trình Telnet Máy tính được sử dụng để khởi chạy Telnet được gọi là máy cục bộ (local computer), máy tính kia được gọi là máy ở xa (remote computer) Thông thường máy ở xa là máy chủ Internet

Vớ dô : Kết nối vào máy chủ www.vaec.gov.vn bằng lệnh:

Telnet www.vaec.gov.vn

Ta có thể sử dụng trực tiếp địa chỉ IP của máy từ xa:

Telnet 192.168.5.80Trong trường hợp máy chủ từ xa có nhiều dịch vụ thông tin, tương ứng với các cổng (Port) khác nhau, ta cần khai báo cụ thể

Vớ dô: Telnel cuchi.vaec.gov.vn 80

1.5.5.WWW

WWW (World Wide Web hay còn gọi là Web) là một dịch vụ thông tin mới nhất và hấp dẫn nhất trên Internet Web được mô tả là “hệ thống truy xuất thông tin toàn cầu”, nhưng nói một cách chính thức thì WWW không phải là một hệ thống cụ thể với tên gọi như thế, mà thực chất là một tập hợp các công cụ tiện Ých và cỏc siờu giao diện giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản và cung cấp cho người dùng khỏc trờn Internet Công nghệ này có thể gọi là công nghệ Web

Công nghệ Web một công nghệ cho phép truy cập và xử lý các trang dữ liệu

đa phương tiện (như văn bản , âm thanh, đồ hoạ, ảnh, phim ) trên Internet Để xây dựng các trang thông tin đa phương tiện như vậy, Web phải sử dụng ngôn ngữ có tên là HTML (HyperText Markup Language) HTML cho phép người đọc liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau trên cùng một trang thông tin WWW truyền các tài liệu HTML thông qua giao thức HTTP

Trang 12

Để thực hiện việc truy cập, liên kết các tài nguyên khác theo kỹ thuật siêu văn bản, WWW sử dụng khái niệm URL (Uniform Resource Locator) Đõy chớnh là một dạng tên để định danh duy nhất cho một tài liệu hoặc một dịch vụ trong Web.

Hoạt động của Web dựa trờn mô hình Client/Server Tại máy Client, người

sử dụng sẽ dùng Web browser để gửi yêu cầu tìm kiếm các tệp tin HTML đến Web Server nhờ địa chỉ URL Web Server nhận các yêu cầu đó và thực hiện rồi gửi kết quả về cho Web Client ở đây Web Brower sẽ biên dịch các thẻ HTML

và hiện thị nội dung các trang tài liệu được yêu cầu

Trang 13

Chương 2

Dịch vô World Wide Web2.1.Các khái niệm cơ bản

2.1.1 Trang Web (Web page)

Trang Web là một đơn vị thông tin, thường gọi là tài liệu, có thể hiện thị thông qua Web, được tạo bởi ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML) Thông tin được biểu diễn trên trang Web có thể dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh, đoạn phim Trang Web được lưu trữ dưới dạng file có phần mở rộng là htm hoặc html Trên một trang Web có thể chứa các điểm liên kết (hyperlink) tới các trang Web khác, điều này giúp người dùng có thể truy cập được thông tin ở nhiều trang Web khác

2.1.2.Trang chủ (Homepage)

Trang chủ là một trang Web đặc biệt, là điểm vào của một WebSite Nó tạo

ra Ên tượng đầu tiên cho người sử dụng khi vào một WebSite.Thụng thường nó

là trang giới thiệu về WebSite đó và chỉ ra cỏc liờn kết đến các trang thứ 2 có trong WebSite này

2.1.3.WebSite

Mét WebSite là một tập hợp các trang Web có liên hệ với nhau và các tập tin khác được liên hệ với nhau WebSite thông thường có mục đích riêng, hoặc liên quan đến cá nhân hoặc liên quan đến công việc Trên mỗi một WebSite có một trang Web được gọi là trang chủ Đây là trang Web mà người dùng sẽ nhìn thấy đầu tiên khi họ truy cập đến một WebSite Từ trang chủ, người dùng có thể nhấp vào các liên kết để mở các trang Web khác trong cùng một WebSite hay các

Trang 14

trang Web của các WebSite khỏc Cỏc liên kết có thể là các WebSite trên cùng một máy tính hoặc cũng có thể nằm trên máy tính khác.

2.1.4.Phân loại trang Web

a Web tĩnh

Các trang Web tĩnh chỉ đơn thuần là các trang Web có khuôn dạng

HTML chuẩn, không có tương tác với người sử dụng

- Nhược điểm: Do thông tin là cố định cho nên không đáp ứng được nhu cầu thông tin mang tính chất thời gian thực

- Ưu điểm: Thông tin bên trong trang Web là cố định cho nên thời gian Download nhanh hơn

b Web động

Các trang Web động là các trang Web hỗ trợ thêm khả năng tương tác với người sử dụng Với trang Web động, mọi số liệu đều mang tính chất thời gian thực và được cập nhật thường xuyên do đó người sử dụng có thể xem kết quả ngay tức thời tại một thời điểm hiện tại Điều này Web tĩnh không thể đáp ứng được

2.1.5 Điểm siêu liên kết (HyperLink) :

Là những điểm ảnh, những bức tranh hay những chữ, dòng đặc biệt mà khi được tương tác bằng cách kích chuột lờn thỡ từ HyperLink này có thể nhẩy tới một điểm khác trong trang Web, mở ra mét trang Web mới hay truy nhập đến một vài kiểu tài nguyên trên mạng

2.1.5 Địa chỉ của Web

Điạ chỉ của Web được biết đến nhờ các URL (Uniform Resource Location -

Bé định vị tài nguyên thống nhất) Nếu các trang Web được ghi lồng vào sâu hết

Trang 15

mục này đến mục khỏc thỡ địa chỉ của Web sẽ hết sức dài Một URL thường có cấu trúc như sau:

+ File.name: Tên của trang Web Trang Web này thường mặc định là có phần mở rộng là HTM, HTML nhưng cũng có thể có phần mở rộng như ASP, CGI, DLL, EXE, PL

URL được sử dụng ở tất cả các dịch vụ thông tin trên mạng Mỗi một trang Web có một URL duy nhất để xác định trang Web đó Qua phân tích cấu trúc của một URL, thấy rằng thông qua URL có thể truy cập tới bất cứ một tài nguyên thông tin dữ liệu của bất kỳ một dịch vụ thuộc bất kỳ một máy tính nào trên mạng

2.2 Hoạt động của World Wide Web

2.2.1 Mô hình kiến trúc Client/ Server

Client/ Server là kiến trúc phần mềm trong đó hai quá trình tác động qua lại với tư cách là mỏy khỏch và máy chủ, qỳa trỡnh đưa ra yêu cầu và đáp ứng yêu cầu

Mô hình Client/ Server là phương cách theo đó ứng dụng được chia làm hai phần:

- Phần xử lý mặt trước chạy tại máy trạm: đảm nhận giao diện với người sử dụng

Trang 16

- Phần xử lý mặt sau: đảm nhận quá trình xử lý cơ sở dữ liệu và quá trình tính toán chính xác Nó là một nền tảng linh hoạt dựa trờn cơ sở xử lý theo thông điệp và có tính modul, nó được dùng để tăng hiệu suất sử dụng, khả năng linh hoạt động, có tính mở.

Mô hình Client/Server dùa vào hướng của yêu cầu được khởi tạo để phân

biệt một ứng dụng là ứng dụng Client hay ứng dông Server Ứng dụng thực

hiện khởi tạo việc liên lạc gọi là ứng dụng Client Rất nhiều các ứng dụng

chương trình hiện nay là ứng dụng Client Mỗi lần ứng dụng Client thực hiện, nó

liên lạc với một máy chủ(Server) để gửi các yêu cầu và đợi sự trả lời, ứng dụng

Client tiếp tục quá trình thực hiện Các ứng dụng Client thường dễ xây dựng

hơn so với các ứng dụng Server, và thường khụng đũi hỏi những đặc quyền ưu

tiên (privileges) đặc biệt của hệ thống để có thể chạy được.

So với ứng dụng Client, các ứng dụng Server là các ứng dụng chờ đợi các yêu cầu liên lạc, trao đổi từ phớa cỏc ứng dụng Client, thực hiện những công

việc cần thiết, sau đó trả lại các kết quả của công việc đó về cho ứng dụng Client

Việc xử lý đồng thời trên Server rất quan trọng, nó thể hiện thông qua tính

hiệu quả trong việc thực hiện các yêu cầu Các thao tác trên Server đòi hỏi đến

các tính toán và liên lạc, trao đổi có tính chất lượng yếu Ví dụ như dịch vụ đăng

ký (login) từ xa Nờỳ như không xử lý đồng thời, tại mỗi thời điểm, chỉ có thể thực hiện được duy nhất một dịch vụ login từ xa Mỗi khi có một Client liên lạc với Server, Server phải “ lê qua ” hoặc từ chối các yêu cầu tiếp theo, cho tới khi

ứng dụng Client đó kết thúc Điều này hạn chế khả năng của Server, ngăn cản

việc những người sử dụng từ xa truy nhập tới một máy tính cùng một lúc

Tóm lại quá trình xử lý Client/ Server gồm các bước:

- Mỏy khách yêu cầu dữ liệu

- Yêu cầu được dịch sang một dạng mã và được gửi qua mạng tới máy chủ

Trang 17

- Máy chủ cơ sở dữ liệu tiến hành tìm kiếm thông tin.

- Các kết quả theo yêu cầu được gửi trả lại cho mỏy khỏch

- Dữ liệu được trình bày tới người sử dụng

Web là một môi trường Client/ Server, trong đó Client là các trình duyệt Web còn Server là các WebServer hoặc các Database Server, trong đó cơ sở dữ liệu (CSDL) có thể phân tán trên nhiều Server hoặc tập trung tại một Server Client và Server là hai thực thể hoàn toàn chia tách, không phụ thuộc vào nhau trừ khi Client cần những thông tin từ Server Nhiệm vụ chính của Client là phục

vụ như một giao diện người dùng, cho phép khởi đầu tác vụ nhập, yêu cầu xử lý

Về phía Server, nhận yêu cầu qua mạng, phân tích nó và thường phải tra cứu hay cập nhật CSDL Kết quả của thao tác trên CSDL được gửi ngược cho Client khởi đầu qua mạng, Client sẽ trình bày thông tin đú trờn giao diện màn hình máy tính hoặc là trên máy in và quá trình kết thúc

2.2.2.Trình duyệt Web( browser )

Web Browser (trình duyệt Web) là phần mềm được sử dụng từ phía người

sử dụng nhiệm vụ của nó là khởi tạo các con trỏ địa chỉ URL để gửi tới các Web Browser sẽ diễn dịch các nội dung dưới dạng ngôn ngữ HTML Hai trình duyệt Web phổ biến nhất hiện nay là Micorosoft Internet explorer và Netscape Navigator

Các trình duyệt Web đều hoạt động theo cùng một cách như sau:

Trình duyệt trờn mỏy của người dùng đọc văn bản được viết trên HTML và hiển thị nó, dịch tất cả cỏc mó đánh dấu trong văn bản

Khi bấm chuột vào hyperlink trình duyệt sẽ sử dụng HTTP ( Hypertext Tranfer Protocol) để gửi một yêu cầu lờn mỏy Web Server, truy nhập vào văn bản hay dịch vụ nào đó được chỉ ra trong hyperlink

Web Brower

H×nh 2.2.1: M« h×nh kiÕn tróc Client/Server

M¹ng truyÒn th«ng

Data Base

Web Server

Trang 18

Web Server sẽ dùng HTTP để trả lời với các văn bản hay dữ liệu được yêu cầu Trình duyệt trờn mỏy của người dùng lại đọc, dịch rồi hiển thị theo đúng khuôn dạng.

sẽ nhận và xử lý các kết quả này rồi hiện thị chúng cho người dùng

2.3 Giao thức HTTP( Hyper text transfer protocol)

Trong môi trường Client/ Server truyền thống, truyền thông được thực hiện qua giao thức mạng cho phép các Client luôn duy trì kết nối tới Server hay Ýt nhất còng có khả năng thiết lập một kết nối ngay lập tức Môi trường Web không cung cấp những kết nối cố định tới các Server, mà thay vào đó là kết nối qua giao thức HTTP

HTTP là giao thức truyền thông mà Client sử dụng để liên lạc với Server

Mọi giao thức truyền thông đều phải yêu cầu có một chương trình tương ứng trên Server để “ nghe “ các yêu cầu trên mạng do các Client truyền đến

Với giao thức HTTP, trỡnh khỏch có thể gửi và yêu cầu trình chủ (Web Server) xử lý những lệnh sau:

- GET - Yờu cầu trỡnh chủ trả về nội dung một tài nguyên theo địa chỉ định

vị URL

Trang 19

- POST - Chuyển dữ liệu từ trỡnh khỏch lờn trỡnh chủ Trình chủ tiếp nhận

dữ liệu, tính toán và trả về kết quả cho trỡnh khỏch

- HEAD - Yờu cầu trỡnh chủ trả về thông tin mô tả một tài nguyên (tập tin)

- PUT - Đưa một tài nguyên (tập tin) lờn trỡnh chủ

- DELETE - Yờu cầu trỡnh chủ xoá một tài nguyên (tập tin) nào đó

Cú mét sự khác biệt khá quan trọng giữa HTTP và các giao thức khác đó là

HTTP không duy trì sự kết nối cố định Sau khi Server hoàn thành việc phục vụ

yêu cầu lấy thông tin của Client, nó chấm dứt kết nối với Client Khi Web Browser từ Client yêu cầu thông tin mới thì một kết nối mới sẽ được thiết lập

Trang 20

2.4.Một sè giao diện chuẩn

Khác với ứng dụng chạy trên máy tính đơn lẻ khi mà việc xử lý được thực hiện trên mỗi máy tính, ứng dụng Web tập chung xử lý trên Server gồm có một hay nhiều Server vì Web Brower chỉ đưa ra giao diện người sử dụng, toàn bộ ứng dụng được đặt trên Server

Vậy phía Client chỉ còn mỗi User Interface Đối với Web Server thay vì User Interface ta có Web Interface Đây là líp chương trình tương tác với Web Server nhằm mục đích giao tiếp với Client, Web Interface đóng vai trò kết nối giữa những đối tượng và trang HTML được gửi tới Web Brower của Client.Web Interface cung cấp HTML cho Web Brower thông qua Web Server và nhận những yêu cầu thông qua Web Brower và Web Server

Có nhiều công nghệ được dùng để xây dựng Web Interface như CGI, ISAPI,

2.4.1 CGI (Common Gateway Interface)

Khi nhận được lệnh GET hay POST từ trỡnh khỏch, trỡnh chủ có thể cho thực thi một chương trình và chương trình này sẽ tự động sản sinh ra nội dung của tập tin trả về cho trỡnh khách Như vậy tập tin trả cho trỡnh khỏch sẽ không tồn tại trên đĩa cứng của trình chủ, nó được tạo ra từ một chương trình Chương trình này thường được gọi là CGI

CGI là chuẩn để kết nối chương trình ứng dụng với Web Server Các yêu cầu của người sử dụng được chuyển đến cho ứng dụng CGI, ứng dụng này sau

đó sẽ gửi trả kết quả được tạo ra theo yêu cầu ngược về trình duyệt Web của người dùng để tạo ra những trang Web có khả năng tác động qua lại với các trang Web khác cũng như tạo khả năng tương tác giữa Server và Client

Trang 21

Vớ dô: Client có thể đệ trình một form cho Server và nhận lại những thông tin theo yêu cầu hoặc có thể xử lý những thông tin phức tạp, thì Server sẽ không trực tiếp xử lý những công việc này mà thay vào đó sẽ chuyển những công việc này cho những chương trình khác xử lý Những chương trình này gọi là chương trình Gateway.

Một chương trình của trình chủ có thể sản sinh ra hàng ngàn trang Web theo yêu cầu của trỡnh khỏch

CGI thực ra chỉ là một chương trình EXE (trên Windows) hoặc chương trình thực thi (trên UNIX) bình thường Có thể xây dựng chương trình CGI từ nhiều ngôn ngữ C, C++, Pascal, Visual Basic

Ých lợi của chương trình CGI là tạo được những trang Web tuỳ biến Bên trong chương trình CGI có thể tính toán, kết nối truy vấn CSDL, lưu các thông tin do trỡnh khỏch gửi đến, Nội dung dữ liệu do trình CGI trả về cho mỏy khỏch do đó sẽ phong phú và đa dạng hơn

Cơ chế làm việc của các chương trình CGI tá ra rất hiệu quả trong các ứng dụng truy xuất Web trên Internet CGI sau này được Java cải tiến thành công nghệ Servlet

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm như: thực hiện đơn giản, cơ động, có thể chạy đa môi trường dễ sửa lỗi thì CGI cũn cú một số nhược điểm như tiêu tốn tài nguyên và giới hạn về tốc độ do mỗi lần trình CGI thực thi là mỗi lần Web Server phải nạp và giải phóng khỏi bộ nhớ

Để khắc phục những nhược điểm của CGI, các nhà phát triển dịch vụ Web đã thiết lập một giao diện chuẩn mới có thể mở rộng khả năng của Web Server đó là ISAPI (Internet Server Application Program Interface - Giao diện lập trình ứng dụng Internet Server)

2.4.2 ISAPI

Trang 22

ISAPI có chức năng giống như CGI, ưu điểm của chương trình ISAPI là chỉ phải nạp một lần vào bộ nhớ khi lần đầu tiên Web Server triệu gọi ứng dụng

Do đó vấn đề tốc độ mà chương trình CGI gặp phải được giải quyết triệt để, và rất hiệu quả, tốn Ýt tài nguyên của hệ thống

Với ngôn ngữ kịch bản, Microsoft đề xuất phương án thiết kế trang Web ASP (Active Server Page) ASP là các trang Web chứa mã lệnh viết bằng ngôn ngữ Visual Basic kết hợp với các thẻ định dạng của ngôn ngữ HTML

Tương tự như ISAPI có Servlet, Servlet là các chương trình Java chỉ cần nạp một lần vào máy ảo Servlet sẽ phục vụ mọi yêu cầu từ mỏy khỏch gửi đến tương tự chức năng của một chương trình CGI hay ISAPI Sun đưa ra một khái niệm tương tự JSP là Java Server Page (JSP) Thay vì viết bằng ngôn ngữ Visual Basic như ASP, các trang JSP viết bằng ngôn ngữ Java

Tuy nhiên ứng dụng của ISAPI và CGI chạy rất khác nhau trên Windows

NT ISAPI cung cấp một tập hợp những giao diện cho phép ta tạo ra những ISAPI Extensions và ISAPI Filters

a ISAPI Extensions

Đây là một file liên kết động được nạp và gọi bởi một Web Server Nã cung cấp những chức năng tương tự như ứng dụng CGI Tuy nhiên ISAPI Extensions được tạo ra để chạy như những DLL chứ không phải như một file thực thi, ISAPI Extensions chạy như một luồng trong cùng không gian của Processor hoặc bộ nhớ của Web Server Kết quả là đoạn mã chỉ được nạp vào một lần cho

dù có bao nhiêu Instance (tình huống) đang làm việc tại một thời điểm Vì ISAPI Extensions chạy như một luồng của Web Server nờn nú có thể truy xuất

dữ liệu trực tiếp tới không gian điạ chỉ của Web Server do đó thông tin được chuyển đi từ Web Server tới ứng dụng và ngược lại một cách nhanh chóng và dễ dàng

Trang 23

b ISAPI Filters

ISAPI Filters thực chất cũng là một DLL được nạp vào mỗi lần Web Server khởi động và được gọi mỗi lần Web Server nhận được yêu cầu Điều này cho phép ta có thể tuỳ biến dòng dữ liệu đi vào hoặc đi ra Web Server ISAPI Filters

có thể nhận mọi loại yêu cầu của Web Server, khả năng ghi nhận được những yêu cầu về Web và xử lý những yêu cầu này trước hoặc sau khi Web Server truy xuất chúng Đây là điểm mạnh của ISAPI Filters

ISAPI Filters được sử dụng để kiểm soát những yêu cầu của HTTP, là một công cụ hữu hiệu để tuỳ biến về mặt chức năng cho Web Server

Trang 24

Chương 3

Phương pháp tạo dựng WebSite3.1 Cấu trúc của một WebSite

3.1.1 Cấu trúc một trang Web

Cấu trúc của một trang Web không tuân theo một chuẩn cố định nào cả mà

ta có thể định ra được nó Nói chung các trang Web thường có cấu trúc như sau:

a Phần Header của trang Web

Thường đặt các thông tin như tiêu đề của trang Web

b Phần mục đích của trang Web

Đặt thông tin về mục đích của trang này, phần này khá quan trọng vì khi một người nào đó vào một trang Web thì đầu tiên người ta quan tâm đến mục đích của trang Web họ đang xem

c Phần nội dung của trang Web

Đây là phần chính của một trang Web, phần này chứa thông tin mà ta muốn trình bầy Cách tổ chức phần nội dung này sao cho khoa học, dễ nhìn, là hết sức quan trọng

d Phần Footer của trang Web

Đây là phần thông tin kết thúc của một trang Web Thông thường phần này chứa những thông tin về địa chỉ, số điện thoại, của đơn vị có trang Web

3.1.2 Cấu trúc một WebSite

Để có một WebSite hoàn chỉnh không chỉ đơn thuần là công việc của người làm tin học mà nó là kết hợp công việc của người lập trình, người trang trí, người phân tích hệ thống, người quản trị cơ sở dữ liệu Tuy nhiên tư tưởng thiết

kế ở đây nhằm đưa ra những nguyên tắc chung nhất, để trên cơ sở đó tạo ra được một hệ thống hoàn chỉnh có tính khoa học

WebSite có thể được cấu trúc theo cỏc cỏch sau:

Trang 25

- Cấu trúc nối tiếp: Đây là cách để hệ thống thông tin theo dãy, hiển thị thông tin một cách tuần tự Thông tin sẽ nối tiếp nhau như một bản tường thuật, theo thời gian hoặc trong sự sắp xếp logic nó là ý tưởng cho sự bàn luận nối tiếp, các chủ đề được phát triển từ tổng quát tới cụ thể.

- Cấu trúc không cấp bậc: Điều này có nghĩa là các trang Web có cấp bậc như nhau và từ một trang Web bất kỳ nào đó ta cũng có thể nhẩy đến một trang nào đó trong WebSite, phương pháp này làm việc khá tốt đối với các WebSite nhá

- Cấu trúc liên kết có thứ bậc trong và có một trang mục lục được nối với tất cả các trang trong WebSite Tạo một điểm tập trung thông tin cho toàn bộ WebSite điều này giúp Ých rất nhiều trong việc tìm kiếm các trang

a Hệ thống phân cấp:

Mọi thông tin đều được sắp xếp theo mức quan trọng và được hệ thống theo mức độ quan hệ giữa các thành phần trong chương trình Hệ thống được phân thành các cấp:

- Cấp 1: Trang chủ là trang chứa menu chương trình, trong trang này có chứa các liên kết động và tĩnh đến các trang Web khác trong WebSite

- Cấp 2: Trong cấp này có chứa các trang Web tĩnh chứa thông tin

và hướng dẫn sử dụng ngoài ra cũn cú cỏc trang Web động được sinh ra khi chạy chương trình

- Cấp 3: Gồm các Form Cập nhật và Tra cứu dữ liệu

- Cấp 4: Gồm các trang Web kết quả của chương trình và các trang Web chứa thông báo

b Các quan hệ và chức năng:

Khi thiết kế một hệ thống cần xác định các thực thể và tìm hiểu các chức năng liên quan để từ đó xác định các mối liên hệ giữa chúng

Trang 26

- Quan hệ trang tĩnh: Trong hệ thống này trang chủ có chức năng như menu và có chứa các liên kết đến các trang Web tĩnh, những trang này được gọi đến sẽ hiển thị ngay bằng giao thức HTTP.

- Quan hệ trang động: Các trang động được sinh ra để đáp lại yêu cầu của người sử dụng, nếu yêu cầu không đầy đủ các điều kiện thì sẽ hiển thị thông báo

c Giao diện đồ hoạ hay văn bản:

Đa số các trang chủ của các tổ chức, doanh nghiệp thường là một hình ảnh

về logo của mình hoặc sản phẩm kinh doanh, Các trang Web nhiều đồ hoạ rất

có hiệu quả để gây sự chú ý cho người sử dụng, nhưng lại tốn thời gian tải xuống, đặc biệt hiện nay người sử dụng kết nối với Internet qua Modem hay mạng trục có tốc độ thấp Điều này có thể giảm bớt nếu ta sử dụng đồ hoạ trên đầu trang, sau đó là các liên kết text

3.2 Phương pháp xây dựng WebSite.

3.2.1 Phương pháp từ trên xuống.

Ta bắt đầu thiết kế từ trang cao nhất (thông thường nó được gọi là Home Page), và từ đây ta sẽ thiết kế các trang nhánh theo chủ đề đã được chọn, mỗi chủ đề được chọn là một WebSite nhá trong toàn bộ WebSite của ta, ở mỗi nhánh này lại có trang cao nhất và từ đó cỏc nhỏnh nhỏ hơn lại được thiết kế.Thuận lợi: Ta có thể thiết kế các trang Web theo mét ý tưởng tập trung của mình, do đó ta có cơ hội để làm cho tính quan sát và cảm nhận của WebSite trở nên mạnh mẽ, rõ ràng, giúp cho người sử dụng có thể hình dung được toàn bộ các trang Web

Trang 27

3.2.2 Phương pháp từ dưới lên.

Khi chưa có sự hình dung được về tổng thể WebSite của mình, nhưng ta biết một số trang Web cụ thể nào đó về cách tổ chức và hoạt động của nó thì một phương pháp thiết kế rất tốt là xuất phát từ những trang này và đi dần lên trang cao hơn cho đến trang chủ Đây cũng là một phương pháp tốt nếu như ta đó cú một trang Web mà ta thiết kế sẵn Điểm thuận lợi của phương pháp này là ta không bị Ðp vào theo cái khuôn mẫu của trang đầu tiên nào đó, mà ta có thể thiết kế từng trang theo ý tưởng riêng tuỳ theo mục đích của trang và sau đó có

sự điều chỉnh đôi chút để hài hoà trong WebSite

3.2.3.Phương pháp thiết kế bổ sung khi cần thiết

Là phương pháp thiết kế các trang Web khi nào cần đến nó Phương pháp này được dùng khi ta đang thiết kế cho một nhánh của WebSite đi sâu xuống và sau đó các trang trung gian được thêm vào Phương pháp này sẽ rất thích hợp nếu bạn muốn nhanh chóng có được một WebSite hoạt động và sau đó bổ sung dần chứ không phải thiết kế toàn bộ WebSite sau đó mới đưa vào hoạt động.Tóm lại các phương pháp thiết kế WebSite nhằm hướng tới một mục đích tạo được WebSite đảm bảo:

- Trang Home Page rất nổi bật và gây được Ên tượng đối với người dùng

- Lượng thông tin trong mỗi trang Web không quá lớn

- Không nên dùng quá nhiều hình ảnh, mỗi hình ảnh đưa thêm vào trang Web cần phải có mục đích cụ thể:

+ Đáp ứng nhu cầu của người dùng

+ Dựng các tài nguyên một cách có hiệu quả

+ Tạo được tính nhất quán, sự hài lòng, tính quan sát và cảm nhận có hiệu quả

Trang 28

+ Giao diện đồ họa cho người sử dụng.

+ Cho phép truy cập trực tiếp

+ Đáp ứng kịp thời các yêu cầu của người sử dụng

3.3 Mô hình xây dựng một WebSite

Mô hình đưa ra các phương pháp tiến hành đã được kiểm chứng nhằm tiết kiệm thời gian và công sức

3.3.1 Mô hình dựa trờn cỏc Dịch vụ( Services Model)

Khi thiết kế một WebSite, có thể sử dụng mô hình ứng dụng dựa trờn dịch

vụ (Server –based application model) Thuật ngữ dựa trờn dịch vụ nghĩa là chức năng hoạt động của ứng dụng được xác định như tập hợp những dịch vụ để đáp ứng các yêu cầu của người dùng

Một ứng dụng dựa trờn dịch vụ bao gồm ba cấp: những dịch vụ cho người dựng(user services), những dịch vụ đáp ứng nghiệp vụ(business services) và những dịch vụ đáp ứng dữ liệu( data services)

- user services cung cấp giao diện người dùng của ứng dụng

- Business services hoạt động tuân thủ các qui tắc nghiệp vụ và đảm bảo các giao tỏc Cỏc dịch vụ này có thể áp đặt các ràng buộc hay áp dụng việc chuyển đổi để thay đổi dữ liệu nhập bởi người dùng hay những dữ liệu thô trong cơ sở dữ liệu thành thông tin nghiệp vụ có thể sử dụng được

- Data services phục vụ việc lưu trữ dữ liệu và thao tác ở mức thấp những dữ liệu trong cơ sở dữ liệu (tạo, đọc, cập nhật và xoá dữ liệu) Business services không cần biết dữ liệu nằm ở đâu, ở dạng gì và truy nhập đến nó như thế nào Đây là những công việc của data services

3.3.2 Những Mô hình của ứng dụng

Trang 29

Trong vài thập kỷ qua, kiến trúc của các ứng dụng, đặc biệt là những ứng dụng chuyên nghiệp quan trọng và ở qui mô công ty lớn, đã tiến triển từ thiết kế đơn tầng( single-tier) thành n-tầng( n-tier) Động lực dẫn đến thay đổi này là nhằm những mục đích sau: sức mạnh, tính tách biệt, tính đóng gói về hoạt động,

về bảo trì, về hỗ trợ đa người dùng và khả năng phân tán

3.3.3 Các tầng phục vụ

Một ứng dụng đơn tầng đơn giản là một chương trình đơn giản chạy trên máy tính của người sử dụng Nó có thể liên lạc với cơ sở dữ liệu nhưng cơ sở dữ liệu này nằm trờn chớnh máy tính này(hoặc trên một ổ đĩa mạng đã được ánh xạ) Điểm chính về ứng dụng đơn tầng là cả ba dịch vụ-user, business và data-được kết hợp thành một chương trình đơn Mỗi cài đặt của một ứng dụng đơn –tầng chỉ được sử dụng bởi một người

a Ứng dông Client/Server kiểu Hai Tầng

Kiểu đơn giản nhất của tính toán phân tán là ứng dụng Client/Server kiểu hai-tầng Trong ứng dụng kiểu này, cơ sở dữ liệu (và có thể một phần của data services) được tách ra với giao diện người sử dụng và logic nghiệp vụ Đặc biệt,

cơ sở dữ liệu được đặt trên máy chủ riêng

Các ứng dụng Client/Server kiểu hai-tầng là phổ thông nhất đối với các ứng

dụng Client/Server ngày nay Nó có lợi thế vượt hơn hẳn các ứng dụng đơn-tầng

bởi vì việc xử lý dữ liệu tõp trung và trở thành tài nguyên chung cho nhiều người sử dụng

b ứng dông Client/Server kiểu Ba-Tầng

Qua thời gian, mô hình Client/Server kiểu Hai-Tầng trở nên không mềm dẻo

và đủ mạnh để chạy nhiều ứng dụng lớn hơn Việc nắm giữ những liên lạc giữa máy trạm và máy chủ cơ sở dữ liệu tập chung có thể dẫn đến lưu lượng thông tin

Trang 30

trên mạng lớn và tốc độ chậm( chẳng hạn khi nhiều người sử dụng cùng đồng thời truy nhập vào cơ sở dữ liệu).

Ứng dông Client/Server kiểu Ba-Tầng thực hiện giải pháp đặt một tầng khác giữa người sử dụng và cơ sở dữ liệu-mỏy chủ chạy ứng dụng Kiểu dịch vụ ứng dụng tõp trung có thể quản lý lưu thông của mạng và máy chủ cơ sở dữ liệu chạy hiệu quả hơn

Đặc biệt, tầng ứng dụng quản lý đa số các business services, và có thể được cài đặt trờn mỏy một máy chủ riêng, tách biệt với cơ sở dữ liệu Một ưu điểm chính của kiến trúc Ba-Tầng là khả năng lấy các logic nghiệp vụ khỏi các tầng giao diện người dùng và tầng dữ liệu, điều này khiến việc quản lý dễ hơn

3.4 Đội ngò phát triển WebSite

Trong những ngày đầu ra đời của Web, tất cả công việc như viết chương trình, cho phép người dùng, đưa thông tin lên Web và quản trị thường được thực hiện bởi một người-Webmaster

Tuy nhiên, phát triển Web hiện đại được thực hiện bởi một đội ngò phát triển WebSite chuyên nghiệp, gồm Ýt nhất ba người: một người phát triển Web( Web Developer), một người lập trình( Programmer), và một người soạn HTML( HTML Author)

Trang 31

Thành viên của đội Trách nhiệm Công cụ chính

Web developer Phân tích và thiết kế kiến trúc

WebSite; viết mã cho các seript Client-side và Server side cần thiết để tạo nên sự hợp lý cho WebSite

Visual InterDev Script Wizard

Programmer Tạo và bảo trì các ứng dụng và

các cấu phần ( component) được dùng cho WebSite: các cấu phần COM và Server MTS, ActiveX control, chương trình Java, thủ tục SQL trong CSDL và những loại khác

Visual Studio:

Visual Basic, Visual C++ vàVisual J++ MTS

HTML author Viết nội dung của WebSite; tạo

các tệp HTML; tâp hợp các hình ảnh và media

FrontPage 98,Office 98, Image Composer, Liquid Motion

3.5 An toàn trên web

Vì bản chất của web là ở mọi nơi trờn cỏc giải pháp an toàn là phức tạp hơn nhiêu so với môi trường dịch vụ tệp Khi tạo dựng một WebSite, cần phải chú tâm đến những khía cạnh khác nhau của công nghệ Web và phát triển một sơ đồ

an ninh dựa trờn kịch bản cụ thể

Trang 32

3.5.1.Các giải pháp ở Client

Nói chung, đều quan tâm chính của Client là trình duyệt hay nội dung động được tải về không làm ảnh hưởng xấu tới người sử dụng

3.5.2.Các giải pháp phía Server

Đối với Server, những vấn đề quan trọng nhất về an toàn là xác định xem ai

có thể truy nhập vào WebSite, những tệp nào người sử dụng có thể truy nhập, và loại quyền nào mà người dùng có được đọc, viết hay thực hiện

3.5.3.Các giải pháp kết hợp

Truyền thông an toàn và xác nhận người dùng là cực kỳ quan trọng cho cả Client và Server Các giải pháp an toàn và công nghệ được áp dụng khác nhau đối với người dùng nội bộ và người dùng bên ngoài

Trang 33

Chương 4

cụng cô microsoft visual interdev trong việc phát triển các trang

web động

4.1 Giới thiệu Microsoft Visual Interdev

Microsoft Visual InterDev 6 là môi trường phát triển tích hợp dành cho nhà phát triển để thiết kế, xõy dựng, kiểm thử, dò lỗi, triển khai và quản lý các ứng dụng Web tập trung khai thác dữ liệu, dựa trờn cấu phần đã có trước

Visual InterDev được dùng để tạo:

- Các ứng dụng Web hướng dữ liệu sử dụng các nguồn dữ liệu được hỗ trợ bởi ODBC (Open Database Connectivity) hay OLE DB( Object Linking and Embedding)

- Các trang Web dùng HTML và script trong các ứng dụng Web

có được lợi thế của những tiến bộ mới nhất trong công nghệ của trình duyệt

- Các giải pháp tích hợp có thể gồm các applet và các cấu phần COM được tạo trong Microsoft Visual Basic, Microsoft Visual C++, Microsoft Visual J++, và Microsoft Visual Foxpro

Visual InterDev cung cấp một môi trường phát triển mạnh mẽ với mô hình scripting object, design-time controls (cung cấp Recordset Control và Recordset NavBar Control), và các hộp công cụ mở rộng cho phép thiết kế nhanh, kiểm thử, và dò lỗi

4.2 Sử dụng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (HyperText Markup Language).

4.2.1 Khái niệm chung

Trang 34

Ngôn ngữ siêu văn bản HTML( Hypertext Markup Language) là một cách đưa vào văn bản nhiều thuộc tính cần thiết để có thể truyền thông quảng bá trên mạng toàn cầu WWW (World Wide Web) HTML cho phép đưa âm thanh, hình ảnh đồ hoạ vào văn bản, và tạo những tài liệu siêu văn bản có khả năng đối thoại tương tác với người dùng.

Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản là chất keo gắn kết tất cả các trang Web lại với nhạu, không có nú cỏc trang Web không thể tồn tại

Bằng các thẻ Tag (thẻ ghi) của HTML có thể đính vào phần của một tài liệu văn bản để qui định các Web Browser sẽ phải thể hiện như thế nào tài liệu văn bản đó

4.2.2 Mô tả HTML

Toàn bộ các thẻ của HTML được chia ra thành 7 nhóm thành phần như sau

và được gọi là từ khóa:

- Từ khóa xác lập cấu trúc tài liệu

Vớ dô: <HEAD> Tiêu Đề</HEAD> để xác định tiêu đề

Vớ dô: <A HREF></A> dùng để tạo điểm siêu liên kết

Vớ dô: <BR> đây là thẻ ngắt dòng

Vớ dô: <UL></UL> xác định danh sách không được sắp

- Từ khoá khai báo loại thông tin và định dạng mẫu chữ

Vớ dô: <B></B> thẻ này dùng để khai báo kiểu chữ đậm

Vớ dô: <IMG> cho phép chèn ảnh vào trang Web

Vớ dô: <TABLE></TABLE> thẻ tạo bảng

Trang 35

4.2.3 Các điều khiển cơ bản của HTML

Internet explorer hỗ trợ một số các điều khiển tích hợp sắn sàng trong bản thân trình duyệt Các điều khiển này gọi là điều khiển cơ bản của HTML, không cần thiết phải nạp xuống từ Internet Các điều khiển cơ bản thay vì được chèn bên trong thẻ<OBJECT></OBJECT> như các điều khiển cơ bản của ActiveX chúng được khai báo bên trong thẻ<INPUT> hoặc một vài thể định dạng đặc

<TEXTARRA></TEXTAREA> Sở dĩ các điều khiển cơ bản của HTML được

sử dụng với các thẻ định dạng này bởi vì chúng hỗ trợ các chỉ định đặc trưng của ngôn ngữ HTML để điều khiển các trang Web Siêu hơn chúng là các điều khiển ActiveX được nạp xuống từ Internet và phải được khai báo bên trong thẻ định dạng <OBJECT></OBJECT>

Các điều khiển cơ bản HTML luôn được dùng trong các biểu mẫu nhập dữ liệu trên trang Web để tạo nên các trang Web tương tác đầy sống động Biểu mẫu nhập dữ liệu được tạo ra bởi thể định dạng<FORM></FORM> Các điều khiển tiếp theo được định nghĩa bên trong các biểu mẫu này

Vớ dô:

<FORM NAME =”framnhap”>

<INPUT type=TEXT name=”txtTEN-KH”>

<INPUT type=BUTTON name=”cmdNhap”>

</FORM>

a Điều khiển lùa chọn(Select):

Điều khiển lùa chọn dùng để tạo ra mét danh sách cỏc lựa chọn Nó tương tự như hộp thoại Combo trong Visual Basic Điều khiển lùa chọn thực hiện trong HTML với thẻ định dạng <OPTION> được dùng để nhận diện các giá trị có trong danh sách

Trang 36

b Điều khiển gửi dữ liệu( Submit):

Điều khiển gửi dữ liệu được sử dụng để gửi toàn bộ dữ liệu cho các quá trình xử lý chạy trên máy chủ Khi một mẫu biểu được gửi đi, dữ liệu trờn cỏc điều khiển của mẫu biểu được truyền đi như những văn bản dạng ASCII cho quá trình được chỉ định trong thuộc tính ACTION của mẫu biểu Mọi mẫu biểu có nhiều hơn một điều khiển đều phải có điều khiển dữ liệu

Vớ dô:

<INPUT TYPE=”SUBMIT” NAME=”SUBMIT1”>

c Điều khiển văn bản (Text):

Điều khiển văn bản được sử dụng như một thiết bị nhận dữ liệu dạnh văn bản được tạo ra băng thẻ định dạng<INPUT>

Vớ dô :

<INPUT TYPE = TEXT NAME =TEXT1>

4.2.4 Các ưu nhược điểm của HTML

- Ưu điểm: Ngôn ngữ HTML có ưu điểm so với nhiều loại ngôn ngư khác, đó

là:

+ Dễ đọc, dễ hiểu, dễ sử dụng

+ Không phụ thuộc vào hệ điều hành

+ Giảm thông lượng đường truyền

+ Liên kết nhiều dạng thông tin và các dịch vụ thông tin khỏc trờn mạng

Trang 37

- Nhược điểm: Ngôn ngữ HTML có một số nhược điểm cơ bản sau:

+Là ngôn ngữ thông dịch, do đó nó sẽ giảm tốc độ thực hiện của các ứng dụng trên Web

+ Khó đảm bảo về an toàn và bảo mật

+ Không hỗ trợ đa ngôn ngữ

4.3.Sử dụng Active Server Pages

4.3.1 Khái niệm ASP

Active Server Pages(ASP) là một môi trường lập trình script trên Server, nã cho phép người lập trình tạo các trang Web động có tính bảo mật cao và làm tăng khả năng giao tiếp của chương trình ứng dụng Các ứng dụng xây dựng bằng ASP là các file có phần mở rộng ASP Trong mét File ASP có thể trộn lẫn các đoạn mà script, các thẻ của HTML và các đoạn văn bản (text)

Trên mỗi trang ASP có một ngôn ngữ script gọi là ngôn ngữ script cơ sở Ngôn ngữ cơ sở có thể là một trong các ngôn ngữ script thông dụng sau: Jscript, VBScript, Perl Ngôn ngữ cơ sở mặc định là VBScript Để thiết lập lại ngôn ngữ script mặc định ASP cung cấp lệnh sau

<% LANGUAGE=Tờn_ngụn_ngữ_Script %>

Các script này được chạy ngay trên Web Server mà không cần biên dịch riờng Chớnh điều này đã làm cải thiện đáng kể tới tốc độ thực hiện ứng dụng được xây dựng băng ASP

Phân loại script: Các ngôn ngữ script còn được phân loại theo vị trí mà nó

được nạp và thực hiện Có hai loại như sau:

a Server side script:

Trang 38

Là những đoạn script nằm trong tệp ASP được thực hiện trên Server, không nằm trong kết qủa trả về cho Web Browser của người dùng Nó sử dụng các Active Server Component( COM component) để truy cõp CSDL.

Các Server-side script được khai báo theo cú pháp như sau:

<% những lệnh nằm trong này được thực hiện trên Server %>

hoặc

<Script language =tờn_script_language Runat =Server>

các lệnh script được thực hiện trên Server

</Script>

b Client side script:

Là những đoạn script nằm trong tệp ASP mà nó sẽ được thực hiện khi trang Web được download về Client Những đoạn Script này thường dùng để hỗ trợ việc tính toán đơn giản ngay trên Client Các Client-side được khai báo như sau:

<SCRIPT Language=”Tờn Ngụn-ngữ-Script”>

Các lệnh scritp

</SCRIPT>

4.3.2.Mụ hình hoạt động của Active Server Pages

Cách hoạt động của mô hình ASP được mô tả tóm tắt qua 3 bước sau:

• Bước 1: Khi Web Browser ở máy người dùng gửi một yêu cầu về một tệp ASP cho Web Server

• Bước 2: Tờp ASP đó được nạp vào bộ nhớ và thực hiện (tại máy chủ) Các đoạn chương trình script trong tệp ASP đú cú thể là mở dữ liệu, thao tác với

dữ liệu để lấy được những thông tin mà người dùng cần đến Trong giai đoạn này tệp ASP đó cũng xác định xem là đoạn Script nào là chạy trên máy chủ, đoạn Script nào là chạy trờn máy người dùng

Trang 39

• Bước 3: Sau khi thực hiện kết qủa đó sẽ được trả về cho Web Browser của người dùng dưới dạng một trang Web tĩnh.

4.3.3 Các đối tượng được xây dựng sẵn của ASP

Gồm có 6 đối tượng như sau:

a Application: được dùng để chia sẻ thông tin giưa các người dùng của cùng

một hệ thống ứng dụng Một ứng dụng cơ bản ASP được định nghió là gồm

tất cả cỏc tờp ASP ở trong một thư mục ảo và tất cả các thư mục con của thư mục ảo đó Đối tượng Application hỗ trợ các phương thức LOCK và UNLOCK của để khoá và bỏ khoá khi chạy ứng dụng đó với nhiều người dùng

b Session: dùng lưu trữ những thông tin cần thiết trong phiên làm việc của

người dùng, những thông tin lưu trữ trong Sesion khách hàng không bị mất

đi khi người dùng di chuyển qua các trang trong ứng dụng

c Request: dùng để truy cập những thông tin được chuyển cùng với các yêu

cầu HTTP Thường thông tin này gồm có các tham số của Form khi được Submit dùng phương thức POST và GET hay các tham số được ghi cùng với trang ASP trong lời gọi đến trang đú Dựng đối tượng Request để chia sẻ thông tin qua lại giữa các trang ASP trong một ứng dụng Ngoài ra Request còn được dùng để lấy giá trị các cookie lưu trữ trờn mỏy Client

d Respone : đối tượng này được dùng để gửi kết quả cho Web Browser, chuyển

Browser đến một URL khác và hoặc thiết lập các cookie trờn mỏy Client

e Server: đối tượng này cung cõp cỏc phương thức cũng như thuộc tính của

Server Thường sử dụng phương thức Server CreateObject để khởi tạo instance của một Active Object trên trang ASP

f ObjectContext: dùng đối tượng này để chấp nhận hoặc huỷ bỏ các

Transaction được điều khiển bởi Microsoft Transaction Server Khi mà tệp ASP có chứa từ khoá @TRANSACTION ở trên đầu thì tệp ASP đó sẽ chạy cho đến khi mà Transaction thực hiện thành công hoặc thất bại

Trang 40

4.3.4.Truy nhập Cơ sở dữ liệu

Truy nhập dữ liệu trong Visual InterDev rất đơn giản Các điều khiển có thể được thêm vào trang, kết nối nguồn dữ liệu vao project , và liên kết dữ liệu với các điều khiển

Để hiển thị dữ liệu từ cơ sở dữ liệu trong mét trang ASP cần tiến hành như sau:

b Trong trang ASP được tạo

+ Thêm một điều khiển để nối dữ liệu trong cơ sở dữ liệu tới các điều khiển chứa dữ liệu trong form( Dùng một Recordset control)

+ Thêm điều khiển chứa dữ liệu để hiển thị dữ liệu từ cơ sở dữ liệu.( Dùng bất kỳ một điều khiển dữ liệu nào trên Toolbox)

+ Đặt các thuộc tính của điều khiển dữ liệu để nó hiển thị dữ liệu

+ Thêm một điều khiển để người dựng cuụn dữ liệu.( Dùng điều khiển RecordsetNavbar)

Với Visual InterDev, Query Designer có thể được dùng để tạo các truy vấn SQL , dùng Database Designer để tạo một cơ sở dữ liệu , dùng điều khiển FormManager để tạo một form nhập liệu

4.3.5.Sử dông ADO để truy nhập dữ liệu

ADO ( Access Data Object) là đối tượng ActiveX truy nhập dữ liệu mới nhất mà Microsoft đưa ra nhằm hỗ trợ tích cực cho việc tương tác với dữ liệu

Ngày đăng: 22/11/2014, 08:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng ghi nhận thông tin đặt mượn khoỏ chớnh là MaSach và MaDG - thiết kế website thư viện sách của trung tâm thông tin tư liệu dầu khí
Bảng ghi nhận thông tin đặt mượn khoỏ chớnh là MaSach và MaDG (Trang 55)
Bảng độc giả cú khoỏ chớnh là STT - thiết kế website thư viện sách của trung tâm thông tin tư liệu dầu khí
ng độc giả cú khoỏ chớnh là STT (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w