Bên cạnh những thành tích đạt được các doanhnghiệp phần mềm Việt Nam còn tồn tại nhiều yếu điểm với những khó khăncản trở nh thị trường, các điều kiện nh nhân lực, công nghệ… Bài viết củ
Trang 1nó trở nên lạc hậu và ra đời những phát minh sáng chế mới.Trong tình hìnhthế giới diễn ra vô cùng sôi động đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật của tiến trình phát triển.Việc ứngdụng thành tựu của Công nghệ thông tin vào nước ta đang ngày càng nhậnthức được tầm quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực sản phẩm phần mềm dịch
vô ưu thế của thế giới đang thuộc về mảng này Chóng ta ứng dụng thành tựucủa Công nghệ thông tin xong một mặt cũng phải phát triển sáng tạo ra nhữngsáng chế mới áp dụng phù hợp với thực trạng đất nước mặt khác làm giảm chiphí cho việc nhập khẩu các sản phẩm dịch vụ Êy
Đối với các doanh nghiệp phần mềm hiện nay đó là bài toán nhức nhốinhất làm thế nào để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và tạo
ra sản phẩm dịch vụ xuất khẩu ra thị trường thế giới khi mà tình trạng cạnhtranh trong nước và trên thế giới diễn ra quyết liệt
Nhà nước ta víi những chính sách phát triển Công nghệ thông tin nóichung và Công Nghiệp Phần Mềm nói riêng đã đưa ra nhiều chương trình đề
án trong những năm qua Bên cạnh những thành tích đạt được các doanhnghiệp phần mềm Việt Nam còn tồn tại nhiều yếu điểm với những khó khăncản trở nh thị trường, các điều kiện nh nhân lực, công nghệ…
Bài viết của em với mục đích làm sáng tỏ tình hình hoạt động của cácdoanh nghiệp phần mềm Việt Nam, phân tích thấy được nguyên nhân củanhững thực trạng và trình bàymột số giải pháp cho việc phát triển các doanhnghiệp phần mềm Việt Nam Do thời gian ngiên cứu không cho phép nên em
Trang 2chỉ trình bày một cách tổng quát nhất tình hình thực trạng hiệu quả các doanhnghiệp phần mềm Việt Nam Trong bài viết còn nhiều thiếu xót mong thầy côgóp ý để em hoàn thiện bài viết này tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên:Phạm Thị Hằng
Trang 3Phần 2:Nội dung
A.Chính sách và mục tiêu phát triển công nghệ thông tin nước ta đến năm 2010.
Công nghệ thông tin được đánh giá là ngành kinh tế có ý nghĩa quyết định
sự thành công hay sự phát triển của nền kinh tế Mỗi nước phát triển tên tuổicủa nó đều gắn liền với một trình độ Công nghệ thông tin với tốc độ nhanh, tỷtrọng ngành Công nghệ thông tin trong GDP chiếm tương đối lín Ngay tạinhững nước như Mỹ, Nhật là những nước điển hình đi đầu trong ứng dôngCông nghệ thông tin những thành tựu mà họ đạt được đã đưa nền kinh tế pháttriển vượt bậc như vũ bão.Trong xu thế của thế giới,việc ứng dụng nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật đặc biệt trong lĩnh vực Công nghệ thông tin làmột điÒu tất yếu.Và với nước ta cũng không nằm ngoài quy luật Êy Đánh giátầm quan trọng của việc ứng dông Công nghệ thông tin, Đảng và nhà nước ta
đã xác định Công nghệ thông tin là một ngành có tính chất đột phá trong nềnkinh tế, tạo đà cho các ngành khác phát triển Muốn phát triển các ngành kinh
tế thì Công nghệ thông tin phải đi trước một bước mở đường tạo tiền đề pháttriển các ngành kinh tế khác từ đó đưa nền kinh tế phát triển nhanh ổn định.Ngay từ giai đoạn đầu của thời kỳ CNH-HĐH, thời kỳ mở cửa đất nước, hộinhập kinh tế đã đặt lên hàng đầu.Thông tin đã có ý nghĩa quyết định quantrọng, làm thế nào để nắm bắt thông tin một cách chính xác mau lẹ đòi hỏiphải có sự trợ giúp của việc ứng dông Công nghệ thông tin - những thành tựukhoa học kỹ thuật của thời đại mới Nhà nước ta đã ban hành nhiều chínhsách, nghị quyết tạo điều kiện cho Công nghệ thông tin phát triển Ngày nayviệc phát triển kinh tế đất nước gắn liền với phát triển một ngành Công nghệthông tin tiên tiến kỹ thuật cao Đó là xu hướng phát triển của nền khoa họcthế giới là điều kiện để Việt Nam mở cửa giao lưu học hỏi với nhiều nền kinh
tế trên thế giới.Đã có nhiều văn bản hướng dẫn, nhiều chương trình phát triểnCông nghệ thông tin gắn với từng giai đoạn cụ thể của đất nước :NQ07/CPcủa chính phủ về xây dựng và phát triển Công Nghiệp Phần Mềm Việt Nam
Trang 4trong giai đoạn 2000-2005, nhiều chương trình đề án được thực hiện đặc biệt
là đề án 112 của Chính phủ về việc hướng dẫn ứng dông Công nghệ thông tintoàn quốc Đây là đề án tin học quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005(gọi tắt là đề án 112) Đề án này được đặt ra với nhiều kỳ vọng ở cả haimục tiêu cơ bản: Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý cho các cơquan nhà nước và thúc đẩy mạnh mẽ hiện đại hóa công nghệ hành chính nhànước Cho đến nay đề án này chưa thực sự hoàn thiện chưa đạt được mục tiêu
đề ra nhưng nó thể hiện sự quyết tâm của Đảng nhà nước ta quyết tâm pháttriển Công nghệ thông tin đưa Công nghệ thông tin ứng dụng vào mọi ngànhcủa nền kinh tế
Trong Công nghệ thông tin mảng Công Nghiệp Phần Mềm đóng vai tròquan trọng, nhiều cơ chế chính sách được ban hành vÓ phát triển CôngNghiệp Phần Mềm từ NQ07/CP của chính phủ về phát triển Công NghiệpPhần Mềm, chỉ thị 58 của Bộ chính trị về phát triển Công nghệ thông tin choCNH-HĐH và NQ331/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kếhoạch phát triển nguồn nhân lực Công nghệ thông tin từ năm 2000-2010.Ngoài ra còn nhiều chính sách ưu đãi khác như giảm thuế cho các doanhnghiệp phần mềm
Mục tiêu đặt ra của Việt Nam đến năm 2010 là đưa CN-Công nghệ thôngtin thành một ngành kinh tế quan trọng có chỗ đứng vững chắc trên thị trườngnội địa và bước đầu xuất khẩu ra thị trường Quốc tế.Vào năm 2010,Việt Nam
sẽ khẳng định được vị trí của mình về gia công phần mềm và dịch vụ trên thếgiới Cụ thể ngành này sẽ đạt giá trị 1 tỷ USD trong đó xuất khẩu phần mềmchiếm 40% vào năm 2010 Các sản phÈm trọng điểm là phần mềm nhúng,phần mềm tin học hóa, nội dung thông tin sè, giải trí, giải pháp an toàn mạng,công nghiệp game hướng tới các thị trường trọng tâm là Nhật Bản, EU và Bắc
Mỹ
Quan điểm phát triển là trong giai đoạn đầu các nhà sản xuất trong nướclấy thị trường nội địa làm bàn đạp phát triển và tiến tới xây dựng một thị
Trang 5trường định hướng xuất khẩu Công Nghiệp Phần Mềm sẽ tập trung đầu tưcho phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh gia công xuất khẩu ra nước ngoài Giải pháp được đề cập tới sẽ xây dựng chiếc lược và kế hoạch tổng thểphát triển Công nghệ thông tin, xây dùng một môi trường thuận lợi nhất vàthực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất Công nghiệp-Công nghệ thông tin métcách hợp lý Ngoài ra xuất khẩu lao động phần mềm cũng được coi là mộtbiện pháp đào tạo nhân lực cho Công Nghiệp Phần Mềm Kế hoạch tổng thểphát triển Công nghiệp-Công nghệ thông tin giai đoạn 2006-2010 được xâydựng với các chương trình phát triển Công Nghiệp Phần Mềm, kế hoạch pháttriển công nghiệp điện tử và chương trình phát triển công nghệ nội dungthông tin sè.
Cùng với luật Công nghệ thông tin dự kiến được trình Quốc hội thông quavào năm 2007, Việt Nam sẽ thực hiện chính sách ưu tiên sử dụng các sảnphẩm công nghiệp công nghệ thông tin nội địa như kích cầu, hỗ trợ thị trườngcho các doanh nghiệp Công Nghệ thông tin, cân đối chỉ tiêu giữa phần cứng-phần mềm trong sử dụng nguồn vốn ngân sách, tạo điều kiện cho các doanhnghiệp nội địa tham gia các dự án lớn Khối cơ quan nhà nước cũng phải điđầu trong việc sử dụng các phần mềm có bản quyền nội địa phương đặc biệt
là đồi với các dự án ứng dông Công nghệ thông tin có vốn ngân sách nhànước, các doanh nghiệp phải sử dụng các sản phẩm phần mềm có bản quyềnnhằm cải thiện thị trường trong nước tạo điều kiện để các doanh nghiệp phầnmềm Việt Nam hoạt động được ngày càng nâng cao tính hiệu quả của mình
B.Tình hình hoạt động các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
I Thực trạng các doanh nghiệp phần mềm
Trong tiến trình xu thế thế giới, Công Nghiệp Phần Mềm được đánh giá
là ngành kinh tế mang hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, có tiềm năng xuấtkhẩu và là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển biết nắm đúng thời cơ tạođộng lực đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước Bên cạnh đó ngành Công
Trang 6Nghiệp Phần Mềm cũng được đánh giá là ngành siêu lợi nhuận với tốc độ rấtnhanh.Từ năm 1965-1995 trong vòng 30 năm doanh thu phần mềm thế giớităng 900 lần (từ 0.3 tỷ USD lên 257.3 tỷ USD ).Từ năm 1996 đến nay tốc độtăng trưởng trung bình 10-25% gấp 3 đến 5 lần tỷ lệ tăng trưởng GDP của thếgiới
Trên thực tế các nước càng phát triển thì nhu cầu phần mềm và dịch vụcàng lớn vượt quá khả năng cung cấp cũng như nguồn nhân lực của chính họ
đã dẫn đến sự thiếu hụt về nhân lực phần mềm ngày càng nhiều và giá nhâncông ở nước đó ngày càng cao.Theo nghiên cứu của các chuyên gia nếu nhưnhững năm 80 của thế kỷ trước ưu thế doanh nghiệp phần mềm thuộc về cácnước công nghiệp như Mỹ (57%), Nhật, Pháp, Đức, Anh, Canada (37%) thìnay lại đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển như Ên
Đé, Trung Quốc
Việt Nam cũng nằm trong khu vực được đánh giá có tốc độ phát triểnphần mềm cao là điều kiện thuận lợi tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta đẩymạnh phát triển ngành Công Nghiệp Phần Mềm nước nhà đưa nền kinh tếphát triển.Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Chính phủ đã đề ra mục tiêuđưa ngành Công Nghiệp Phần Mềm trở thành một ngành kinh tế mòi nhọn và
để thực hiện mục tiêu đó, Chính phủ đã có nhiều chính sách khuyến khíchphát triển ngành này Song thực tế cho đến nay kết quả đạt được so với mụctiêu còn quá xa vời Nhìn toàn cảnh bức tranh của ngành Công nghệ thông tinViệt Nam thì mảng sáng tập trung chủ yếu ở kinh doanh phần cứng, cung cấpgiải pháp thiết kế mạng Còn kinh doanh phần mềm thì rất khiêm tốn.Năm2001 doanh thu phần mềm cả nước đạt 21 triệu USD chỉ chiếm khoảng10-15 % tổng doanh thu cả nước trong lĩnh vực hoạt động tin học Từ năm
2000 đến 2004 số liệu thống kê con số này có tăng nhưng không tăng mạnh
Trang 7
Nhìn chung chóng ta có thể đưa ra một đánh giá khái quát về ngành CôngNghiệp Phần Mềm Việt Nam bằng hai chữ khiêm tốn Khiêm tốn từ sè lượngdoanh nghiệp, quy mô hoạt động cho đến nguồn lực lao động, phạm vi và thịtrường kinh doanh
1.Quy mô hoạt động
Hiện cả nước có khoảng hơn 2500 công ty đăng ký trong lĩnh vực kinhdoanh sản xuất phần mềm trong đó chỉ có khoảng 600 đơn vị hoạt động thực
sự có hiệu quả Phần lớn các doanh nghiệp với quy mô vừa và nhỏ kể cả sốlượng nhân viên cũng như doanh thu từ kinh doanh phần mềm Hình thức chủyếu là công ty cổ phần, công ty TNHH hay doanh nghiệp tư nhân vẫn chiếmtới tỷ lệ 86 %, còn lại 51% thuộc doanh nghiệp nhà nước và 8% là liên doanhhay 100% vốn nước ngoài Các doanh nghiệp có tuổi đời bình quân 5 năm,còn quá non trẻ thiếu kinh nghiệm hoạt động, tổ chức bộ máy và quy trìnhsản xuất chuyên nghiệp, ngay cả trụ sở cũng không ổn đinh
Các công ty phần mềm nằm tập trung chủ yếu ở hai thành phố chính là
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Các thành phố khác nh Đà Nẵng Nhưng têntuổi các doanh nghiệp để lại rất Ýt.T¹i TP Hồ Chí Minh theo khảo sát của hộitin học thành phố cho biết tỷ lệ doanh nghiệp đã khẳng định tên tuổi thương
Trang 8hiệu và thành lập trên 5 năm là 32%, trên 10 năm là 35%, 30 năm so với cácdoanh nghiệp trên 15 năm Xét theo quy mô đơn vị có nhân lực Ýt hơn 50người chiếm đến 82 % Doanh nghiệp có nhân lực trên 50 người là 17% và từ500-1000 chỉ chiếm con số rất hạn chế là 1% Đi đôi với doanh thu bìnhquân/năm của các doanh nghiệp còng ở mức rất khiêm tốn dưới 500 triệuđồng là 35%, 750-1.5 tỷ đồng là 19%, 7.5 -15 tỷ đồng là 7%, 15-30 tỷ đồng
là 2 % Những con số thống kê trên phần nào phản ánh được bức tranh toàncảnh về doanh nghiệp phần mềm ở thành phố còng nh các doanh nghiệp phầnmềm Việt Nam hiện nay
2 Nguồn nhân lực
Con người là nhân tố chính của lực lượng sản xuất phần mềm, điều hành
và tác động vào sự hoạt động và phát triển của ngành Công nghệ thông tin do
đó đòi hỏi những người hoạt động trong Công nghệ thông tin nói chung vàCông Nghiệp Phần Mềm nói riêng phải có trình độ am hiểu thực sự Nhưngđối với nước ta theo các chuyên gia cho rằng Nguồn nhân lực vẫn là bài toánkhó nan giải bởi sản xuất phần mềm có quy trình nên việc tuyển chọn lậptrình viên dùa trên chuẩn mà nội dung chương trình giảng dạy các trường đạihọc nước ta chưa thể đáp ứng nhu cầu so với tốc độ phát triển thực tiễn
Theo số liệu thống kê của Bộ Bưu chính Viễn thông, năm 2002 cả nước cókhoảng 8000 nhân sự trực tiếp làm phần mềm Năm 2003 con số này đã tăng lênkhoảng 12000 người Năm 2004 có khoảng 15000 người trong khi đó nhu cầunhân lực Công nghệ-Công nghệ thông tin năm 2005 tăng từ 30-40% lín nhấttrong 39 nhóm ngành nghề Công ty FPT mét công ty sản xuất phần mềm theo
kế hoạch kinh doanh đòi hỏi đến năm 2009 phải có 2000 lập trình viên và đếnnăm 2014 là 10000-17000 nhân viên Một số ví dụ khác như công ty Hài Hòachuyên viết phần mềm, hàng năm tăng trưởng của công ty là 30 %, doanh sốbình quân /người là 10 nghìn USD /năm Hiện nay chỉ có khoảng 150 nhân viênnhưng có nhiều hợp đồng không làm hết việc thậm chí còn nhiều dự án công ty
Trang 9phải từ chối vì không bố trí đủ nguồn nhân lực Khi tuyển chọn hàng năm nép
hồ sơ dù tuyển thì chỉ chọn được vài người, trong khi đó những người này phảiqua đào tạo sáu tháng sau mới có thể tham gia dây truyền sản xuất
Những dấu hiệu của sự khủng hoảng thiếu người làm trong Công nghệthông tin được cảnh báo trước ngày càng hiện hữu.Vấn đề đạo đức ngànhphần mềm với nguy cơ cạnh tranh thiếu lành mạnh cũng nổi lên song songvới quá trình các doanh nghiệp không ngừng tiếp thị mình để thu hót người.Trong khi nhu cầu nhân lực cho Công nghệ thông tin năm 2005 tăng từ 30-40% để đáp ứng nhu cầu đó nguồn nhân công chất lượng cao phải đạt mứctăng trưởng 60% /năm.Trong thực tế có tới 63.4 % công ty phần mềm khẳngđịnh thiếu nhân lực trình độ cao là khó khăn nhất đối với họ và nếu như đủngười thì năng suất của doanh nghiệp sẽ tăng 10 lần Hàng năm cả nước đàotạo được khoảng 40000 nhân lực cho ngành, nhưng vÉn có nguy cơ khủnghoảng thiếu
Bên cạnh sự thiếu hụt về số lượng nguồn nhân lực của ngành này thìchất lượng của nguồn này lại là vấn đề đang được cảnh báo.Trình độ của lậptrình viên được đào tạo ở Việt Nam rất thấp.Tại nhiều cuộc hội thảo về vấn đềnguồn nhân lực cho ngành Công nghệ thông tin nói chung và công nghệ phầnmềm nói riêng, người ta cho rằng cốt lõi chính là chất lượng nguồn nhân lựchiện nay.Vì thực tế là việc đào tạo đang diễn ra khá đông đảo và sôi nổi ởkhắp mọi nơi Song học viên và sinh viên ra trường vẫn không được tuyểndụng Các doanh nghiệp khẳng định khi đăng ký dự tuyển nhân sự, hầu hếtcác ứng viên chưa sẵn sàng cho công việc mà họ nhắm đến.Theo khảo sátthực tiễn có tới 72 % ứng viên thiếu kinh nghiệm thực tiễn khi xin việc, 46%không biết làm việc theo nhóm và ngoại ngữ kém, 41% kĩ năng làm việckém Nhiều đơn vị đang thực hiện gia công phần mềm cho rằng nguồn nhânlực không hẳn là người tốt nghiệp đại học, nên coi lập trình viên là một nghềchỉ cần đào tạo 6-12 tháng không cần phải 4 năm như hiện nay
Trang 10Trước những thách thức của việc thiếu nguồn nhân lực không đủ trình độđáp ứng tốt với công việc, các doanh nghiệp phần mềm hiện nay đang thayđổi cách tiếp cận với vấn đề nhân sự Bằng cách này hay cách khác, nhiều đơn
vị làm phần mềm năng động đang cố gắng thể hiện mình bằng cách tiếp thịhình ảnh để thu hót nhân công Bên cạnh đó doanh nghiệp tham gia trực tiếpvào tiến trình đào tạo nguồn nhân lực như hợp tác trao học bổng tài trợ Xâydựng thương hiệu cho công ty cũng như cho các sản phẩm của công ty
Sù thiếu nhân lực trong ngành Công Nghiệp Phần Mềm đã gây nên sựbất ổn về nhân lực trong ngành.Việc tuyển dụng những cán bộ đủ trình độ đãkhó nhưng làm thế nào để các doanh nghiệp phần mềm giữ chân họ lại đượctrong công ty thì càng khó hơn Hiện nay nhiều công ty có môi trường làmviệc không chuyên nghiệp và không có điều kiện để phát triển, không Ýt công
ty có môi trường làm việc mang tính gia đình, chưa có cung cách làm việcchuyên nghiệp, chưa sử dụng người đúng nơi đúng chỗ Sự bất ổn về nhân sựđang là tình trạng chung của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam.TP HồChí Minh là nơi tập trung nhiều nhất các công ty tin học và cũng có sự pháttriển nhanh nhất Hơn 90 % doanh nghiệp phần mềm trên địa bàn có quy môvừa và nhỏ Người sáng lập công ty hầu hết là những kỹ sư trong lĩnh vựcCông nghệ thông tin, có kiến thức chuyên môn nhưng thiếu kinh nghiệmtrong thương trường Khi công ty mở rộng quy mô thì họ quản lý không nổi.Nguồn tuyển dụng ban đầu thường là các sinh viên mới tốt nghiệp Khoảng 6tháng trở đi khi các nhân viên này có kinh nghiệm nhất định thì họ bỏ sangcông ty khác thương là các công ty của nước ngoài có mức lương cao hơn vàmôi trường làm việc hấp dẫn hơn.Vấn đề đặt ra ở đây là sự thành công củadoanh nghiệp nhưng không phải ở khâu kỹ thuật mà cốt lõi của nó là ở khâuquản lý Để doanh nghiệp đạt hiệu quả khả năng quản trị của nhà quản lý là40%, chuyên môn 30%, còn lại là các khả năng khác Người lãnh đạo phảibiết chia sẻ với nhân viên, đưa ra khảo sát tháo gỡ khó khăn về chuyên mônkhi cần thiết và cũng phải có tầm nhìn đúng đắn cho từng giai đoạn cụ thể của
Trang 11công ty Họ cần tạo cho nhân viên chức danh công việc cô thể Những nhânviên mới ra trường hoàn toàn tự lực cánh sinh trong công việc rất dễ tâm lýchán nản Nhưng khi có môi trường phát huy, hoàn thiện kiến thức, trưởngthành nhanh hơn về mọi mặt và có ý thức cống hiến lâu dài hơn.
3.Thị trường
Xu hướng toàn cầu hóa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, mở cửa nềnkinh tế là điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, tiếpthu công nghệ trong tiến trình phát triển của nhân loại Đồng thời tạo nên môitrường trường cạnh tranh để các doanh nghiệp khẳng định mình đứng vữngtrên thị trường Nhưng vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp nói chung vàdoanh nghiệp phần mềm nói riêng khi mà các doanh nghiệp chưa có hướng đi
cô thể thì đó là điều đáng lo lắng Liệu khi hội nhập WTO các doanh nghiệpnày có đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài hay không,một thực trạng hiện nay đang được đặt chấm hỏi.Thực tế hiện nay các doanhnghiệp phần mềm mới khó xác định hướng đi cho mình vì không có nơi nàocung cấp các thông tin về hiệu quả các sản phẩm phần mềm, không địnhhướng phát triển ngành gì sản phẩm gì cho phù hợp Thị trường sản phẩmphần mềm còn rất rộng nhưng cách nào đến với thị trường và thị trường nàotiếp nhận sản phẩm cũng không rõ (Những nhân tố đầu vào của ngành phầnmềm như nhân lực, quản lý chưa được đồng bộ hóa)
Việc xác định thị trường trong hay nước ngoài để cung cấp sản phẩm củamình là chiến lược của các công ty phần mềm.Theo ước tính thị trường ViệtNam cho phần cứng và các dịch vụ IT là trên 230 triệu USD trong năm2000.Trong tổng số đó các công ty trong nước chiếm khoảng 35% thị trườngphần mềm trong tổng số là 50 triệu USD Đối lập với thị trường IT toàn cầu(không phải phần cứng ) theo ước tính khoảng 400 tỷ USD năm 2002.Trongtổng số đó phần thực tế cho các công ty ở nhiều quốc gia mà Việt Nam nhắm
Trang 12tới là gia công phần mềm cho nước ngoài chiếm khoảng 8 tỷ USD ở Mỹ Điều
đó có nghĩa là cơ hội lớn hơn ở khu vực quốc tế.Tuy nhiên hiện nay nhiềucông ty phân tích không có đủ điều kiện để theo đuổi những hợp đồng nhưthế Bởi khi đã bước ra thị trường quốc tế các công ty phải có quá trình kiểmsoát chất lượng, có hồ sơ thành tích đầy đủ để thu hót các khách hàng quốc tếcũng như cơ sở hạ tầng và về tiếp thị và bán hàng để được biết tiếng vớikhách hàng tiềm năng
Thông qua nhiều hình thức khác nhau, từng bước các doanh nghiệp phầnmềm Việt Nam đã xuất khẩu được một số phần mềm sang một vài thịtrường.Tuy nhiên doanh số xuất khÈu chủ yếu là gia công phần mềm, chỉ cómét sè Ýt là phần mềm đóng gói.Trong thực tế công nghiệp phần mềm ViệtNam chưa có một chỗ đứng vị trí nào trên thị trường thế giới Kim ngạch xuấtkhẩu phần mềm (chủ yếu là gia công phần mềm) chiếm khoảng 10% tổng giátrị doanh thu của ngành công nghiệp phần mềm.Trong khi đó, thị trường phầnmềm thế giới đạt khoảng 500 tỷ USD và hàng năm có tốc độ tăng trưởngkhoảng 10-15% Phần lớn sản lượng phần mềm thế giới là do nền kinh tế Mỹ
và Tây Âu tạo ra Một đặc điểm quan trọng của thị trường phần mềm thế giới
là các công ty tin học lớn chủ yếu là của Mỹ và Tây Âu đang chi phối khốngchế thị trường nhờ những ưu thế tuyệt đối về trình độ kỹ thuật và công nghệ,vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lớn, đội ngò nhân viên và lập trìnhviên giỏi Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể vào các thị trường
đó Phần lớn doanh thu xuất khẩu phần mềm của các công ty Việt Nam là từgia công cho các công ty lớn này hoặc phân phối sản phẩm phần mềm quamạng lưới tiêu thụ của họ Như vậy có thể thấy được năng lực sản xuất củacác công ty phần mềm Việt Nam còn nhỏ bé Các công ty phần mềm, sảnphẩm và lao động phần mềm Việt Nam đều chưa đủ sức cạnh tranh trên thịtrường thế giới Thêm vào đó nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam cũngđang thiếu nhân lực để sản xuất ra những phần mềm đạt tiêu chuẩn chấtlượng, cũng như không đủ nguồn lực để thuê các chuyên gia, kỹ sư giỏi Khi
Trang 13vươn ra thị trường thế giới tức là phải có trụ sở kinh doanh của công ty ởnước ngoài thì điều này dẫn đến chi phí khá cao.
Bên cạnh đó khi Ên Độ và Trung Quốc là những nước cùng trong khuvực đang nổi lên như những nươc phát triển gia công xuất khẩu phần mềmmạnh thì vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam phảiđương đầu càng khó khăn hơn
Như vậy bên cạnh những cơ hội thuận lợi mà chúng ta có được thì nhữngthách thức cũng không phải là nhỏ nên các doanh nghiệp phần mềm nên xácđịnh có một cơ chế bảo hiểm chất lượng cao, có một cơ chế đầu tư rõ ràng khitheo đuổi các khách hàng quốc tế
Thị trường phần mềm trong nước mới được hình thành và còn rất nhỏ bé.Quy mô thị trường phần mềm trong nước những năm gần đây đạt khoảng 60triệu USD, trong đó các công ty phần mềm trong nước chỉ đạt khoảng doanh
sè 14-15 triệu USD, phần còn lại được cung cấp từ nguồn nhập khẩu và tựphát triển Có thể thấy rằng thị trường hiện tại của ngành phần mềm Việt Namrất khiêm tốn nhưng nhu cầu tiềm năng của nó tương đối lớn và sẽ tăngtrưởng trong những năm tới có thể đạt 45-50% Nguyên nhân là do nhu cầutin học hóa nền kinh tế và do đứng trước sức Ðp cạnh tranh trong quá trìnhhội nhập
Cơ cấu nhu cầu sản phẩm phần mềm lại tương đối đơn điệu về chủngloại, giá trị đầu tư thấp Nguyên nhân là trình độ ứng dụng Công nghệ thôngtin của các khách hàng còn thấp, họ thực sự chưa hiểu rõ họ cần những sảnphẩm phần mềm nào để sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của họ.Những khách hàng quan trọng của thị trường phần mềm là các doanh nghiệplớn có nhu cầu mua sắm phần mềm hệ thống tích hợp với giá trị lớn đượcthiết kÕ cho hoạt động tổng thể của họ Các khách hàng này lại chủ yếu muachương trình phần mềm của nước ngoài.Tiêu chuẩn mua của họ là giải pháptổng thể có chất lượng cao, dịch vụ khách hàng tốt, đảm bảo an toàn Bên
Trang 14cạnh đó rất nhiều doanh nghiệp và tổ chức chỉ mua phần mềm có giá trị thấphoặc đặc biệt thấp Đối với những khách hàng này giá cả đối với họ lại rấtquan trọng Những khách hàng này muốn rằng số vốn đầu tư hạn chế họ cóthể có được các chương trình phần mềm giải quyết được các vấn đề của họ.Hiện nay, số lượng khách hàng quan tâm đến giá thấp dễ sử dụng, đáp ứngđược các tiêu chuẩn quốc tế, thích nghi được các hoàn cảnh cụ thể của ViệtNam vẫn đang chiếm số đông trên thị trường Đây là một tiêu chuẩn rất khóđáp ứng đối với các công ty phần mềm trong nước Ngay trên thị trườngdoanh nghiệp Hà Nội kết quả điều tra cho thấy : Đa số các doanh nghiệp vẫnđang tận dụng bộ office của Microsoft vào trong kinh doanh là một trongnhững giải pháp phần mềm không cao trong khi loại hình doanh nghiệp nàylại rất phù hợp với khả năng của đa số doanh nghiệp phần mềm Việt Nam.Cùng với đó mới chỉ có 23,2% doanh nghiệp áp dụng các giải pháp phầnmềm nhỏ lẻ phục vô kinh doanh như kế toán, quản lý nhân sự, quản lý kinhdoanh…
Như vậy trong nhận thức và điều kiện của doanh nghiệp (người muasắm giải pháp phần mềm) hiện vẫn đang còn nhiều yếu tố cản trở họ với nhàcung cấp Còn đối với các nhà cung cấp (các công ty phần mềm ) cũng đanggặp khó khăn trong nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu tiêu dùng, khảnăng phát triển các giải pháp phù hợp với các doanh nghiệp ứng dông
4 Sản phẩm
Theo nghiên cứu của hội tin học TP Hồ Chí Minh cho thâý các doanhnghiệp phần mềm không hoàn toàn chuyên môn hóa phần mềm mà thườngkinh doanh cả phần cứng, cung cấp các giải pháp khác dẫn đến hoạt độngkinh doanh phần mềm trong nội bộ doanh nghiệp thường bị tranh chấp bởicác nguồn lực với các hoạt động khác Bên cạnh đó sự tập trung sản xuất vàcung ứng quá mức vào một sản phẩm đã dẫn đến tình trạng trùng lặp trongsản xuất và cung cấp các sản phẩm phần mềm giữa các doanh nghiệp làm cho
Trang 15hiện tượng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang trở nên gay gắt Hiện cókhoảng 80 loại sản phẩm được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau chủyếu là kế toán, xây dụng cơ bản, ngân hàng tài chính, bưu chính viễnthông Trong đó các phần mềm kế toán quản lý công ty được sử dông khárộng rãi trong nhiều ngành 83.3% sè doanh nghiệp cung cấp phần mềm choquản lý khách hàng, 55.6% doanh nghiệp tham gia cung cấp phần mềm kếtoán, 66.7% doanh nghiệp cung cấp sản phẩm phần mềm quản trị văn phòng.Song chất lượng sản phÈm là điều thực sự phải nói tới.Tính tiện dụng khảnăng thích ứng với điều kiện sử dụng thực tế của các phầm mÒm trong nướccòn nhiều hạn chế Khi sử dụng phần mềm nhiều trục trặc phát sinh trong khidịch vụ sau bán hàng, trong cung ứng phần mềm còn rất yÕu cả về số lượng
và chất lượng Phần lớn các phần mềm đều là các sản phẩm nhỏ lẻ, đơn giảnchứ chưa có các phần mềm hệ thống lớn với các giải pháp tổng thể.Trên thịtrường trong nước chưa thực sự tồn tại một phần mềm nào đủ sức cạnh tranh
cả về chất lượng và dịch vụ khách hàng so với các phần mềm nhập khẩu Hơnthế nữa vấn đề vi phạm bản quyền ở Việt Nam được thống kê là cao nhất.Điều này dẫn đến việc định hình hướng đi cho các doanh nghiệp phần mềmnhư thế nào để đạt mục tiêu đặt ra đạt hiệu quả cao nhất
5.Vi phạm bản quyền
Hiện nay ngay cả các doanh nghiệp phần mềm làm ăn nghiêm túc hầunhư đều bị vi phạm bản quyền phần mềm Cho đến thời điểm này hầu hết cácdoanh nghiệp đều phải sống chung với tình trạng đó chứ chưa có sù lùa chọnnào khác tốt hơn.Thực tế cho thấy tình trạng ăn cắp và vi phạm bản quyền vẫndiễn ra tràn lan.Theo các chuyên gia Công nghệ thông tin nếu không sớm cóbiện pháp ngăn chặn và cải thiện tình trạng này Hiện nay việc sao chép bấthợp pháp nhiều phần mềm phổ thông đang diễn ra ở nước ta.Tình trạng nàyphổ biến ở tất cả các đối tượng bất kể cơ quan nhà nước hay các doanh nghiệplàm tin học Để nghiên cứu phần mềm kế toán có khi phải mất 3 năm với
Trang 16lượng vốn đầu tư lớn trong khi sản phẩm này bị sao chép bất hợp pháp vàđược bán trên thị trường với giá chỉ 10.000 đồng/ 1đĩa CD Thực trạng nàycũng làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài đang có ý định đầu tư vào lĩnhvực này ở Việt Nam
Bảo hộ bản quyền được coi là điều kiện quan trọng để phát triển CôngNghiệp Phần Mềm thì theo nhận định của các chuyên gia hàng đầu về Côngnghệ thông tin,Việt Nam đang là một trong các nước có tỷ lệ sử dụng phầnmềm trái phép cao nhất thế giới Hầu hết các phần mềm được sử dụng đều dosao chép mà có Riêng với Microsoft tập đoàn chuyên gia về phần mềm hàngđầu thế giới thì sử dụng phần mềm này không có giấy phép lên tới 97% tạiViệt Nam Các dạng vi phạm bản quyền thường là người sử dụng sao chép lại,làm đĩa lậu, hàng giả, cài trước vào máy, qua internet, đánh cắp bản quyềnphần cứng và copy sách Công nghệ thông tin
Không chỉ các phần mềm nước ngoài bị vi phạm mà các doanh nghiệpphần mềm trong nước không Ýt lần lên tiếng kêu cứu về việc vi phạm bảnquyền mà không có cách nào giải quyết Điển hình là công ty tin học Lạc Việtvới phần mềm từ điển LạcViệt hiện đang được cài đặt hầu như tất cả các máytính cá nhân đang được sử dụng tại Việt Nam Một số công ty phần mềm khácchọn cách thức tiếp cận Ýt nguy hiểm hơn là sản xuất phần mềm chuyênngành theo các hợp đồng đặt trước Đây là bước đi khá khôn khéo trong bốicảnh tình hình lộn xộn đang diễn ra ở nước ta mà chưa cã biện pháp nào giảiquyết nổi
II.Nguyên nhân của những thực trạng trên
1 Thiếu nguồn vốn đầu tư
Bản thân các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đa số là các doanhnghiệp vừa và nhỏ lại mới thành lập đi vào hoạt động kinh doanh chưa lâunên lợi nhuận chưa cao chưa có nhiều vốn để gây tạo quỹ cho đầu tư lớn Mặtkhác để mở rộng quy mô mua sắm công nghệ cần rất nhiều chi phí nên hiện
Trang 17nay đa số các doanh nghiệp phần mềm đều đang thiếu nguồn vốn để đầu tư.Việc vay vốn từ ngân hàng có nhiều quy định nghiêm ngặt như thếchấp…,các ngân hàng chưa thực sự tin tưởng vào một ngành kinh doanh quátrẻ và đem lại lợi nhuận nhanh cho các doanh nghiệp phần mềm trongnước Do đó việc vay vốn gặp nhiều khó khăn.Trong khi đó huy động từ cácnguồn vốn khác như đầu tư từ nước ngoài nhiều doanh nghiệp hiện nay chưathu hót được do bối cảnh tình hình chung và một phần nhiều vấn đề còn trởngại trong ngành Công nghệ thông tin là tình trạng vi phạm bản quyền trànlan làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài, làm cho các doanh nghiệp phảisuy xét và rất ngại đầu tư mạo hiểm.Vì vậy tìm nguồn vốn ở đâu luôn là câuhỏi đặt ra với các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
2.Nhân lực thiếu ổn định
Như đã phân tích ở trên thực trạng nhân lực các doanh nghiệp rơi vàotình trạng khủng hoảng trầm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng Nguyênnhân chính do đào tạo không gắn liền với thực tiễn Số lượng các đơn vị đàotạo Công nghệ thông tin không ngừng tăng lên NÕu năm 2000 số lượng cácđơn vị đào tạo Công nghệ thông tin tại Việt Nam chỉ có 42 trường đại học, 36trường cao đẳng và 9 tổ chức phi chính quy thì đến năm 2004 con sè này đã là
62 trường đaị học,74 trường cao đẳng và 69 tổ chức phi chính quy Xong việcđào tạo không khớp với thực tiễn hiện nay khi mà ngành Côn nghệ thông tinluôn có sự thay đổi nhanh chóng theo thời gian Cứ 18 tháng giá thành phầncứng lại giảm đi một nửa, còn kiến thức công nghệ cũng thay đổi tới 50 %trong vòng 2 năm Sinh viên học đến năm thứ 4 thì những kiến thức năm thứnhất đã trở nên lạc hậu Nhiều trường líp cơ sở vật chất cho việc học tậpchuyên ngành công nghệ thông tin không đầy đủ Vì vậy trình độ và sự thiếukinh nghiệm thực tế của sinh viên mới ra trường là việc không thể tránh khái Mặt khác sự thiếu ổn định nhân lực còn thể hiện các doanh nghiệp phầnmềm chưa có khả năng giữ chân nhân viên của mình, họ chưa có hình thức