BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ---oOo---PHẠM THỊ HIỀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA HẦU THÁI BÌNH DƯƠNG Crassostrea
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-oOo -PHẠM THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA HẦU THÁI BÌNH
DƯƠNG (Crassostrea angulata Lamarck, 1819) GIAI ĐỌAN
ẤU TRÙNG CHỮ D ĐẾN CON GIỐNG CẤP 2 (15mm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Phạm Thị Hiền
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Thị Xuân Thu, người thầy đã tận tình định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Ban lãnh đạo và Phòng Hợp tác Quốc tế và Đào tạo-Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học này
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng các cán bộ, nhân viên Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi một phần kinh phí để hoàn thành luận văn này
Lời cảm ơn chân thành xin gửi tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã giúp đỡ và động viên tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Hà Nội, tháng 5 năm 2012 Tác giả
Phạm Thị Hiền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
2.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái bên ngoài 3
2.1.7 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng 10
2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu Crassostrea angulata
2.2.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu trên thế giới 11
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống hầu ở Việt Nam 14
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 16
Trang 53.4.1 Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời
gian biến thái của ấu trùng giai đoạn phù du 17
3.4.2 Thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng và tỷ
lệ sống của hầu giai đoạn ương từ spat lên con giống cấp 2 19
3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 21
4.1 Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của
4.1.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 23
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ ương tới tỷ lệ sống và thời gian biến thái
4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ ương tới tốc độ sinh trưởng của ấu trùng
4.2 Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của
hầu giai đoạn spat đến con giống cấp 2 29
4.2.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 29
4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của
hầu giai đoạn spat đến con giống cấp 1 (3 – 4 mm) 30
4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương tới tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của hầu giai đoạn con giống cấp 1 đến con giống cấp 2
5.1 Kết luận 38
Trang 68 SGR Tốc độ sinh trưởng đặc trưng
9 Spat Ấu trùng giai đoạn sông bám
10 vb Vật bám
11 VNCNTTS I Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các dụng cụ đo yếu tố môi trường 17
Bảng 3.2 Lượng thức ăn cho ăn theo từng giai đoạn phát triển của hầu
Bảng 4.1 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm giai đoạn ấu trùng phù
Bảng 4.2 Tỷ lệ sống và thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng phù du hầu 25
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng của ấu trùng phù du
Bảng 4.4 Tăng trưởng chiều cao của ấu trùng theo thời gian nuôi (µm) 27
Bảng 4.5 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm giai đoạn spat đến
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của hầu giai đoạn con giống cấp 1 30
Bảng 4.7 Tốc độ sinh trưởng của hầu giai đoạn ương từ spat lên con
Bảng 4.8 Tăng trưởng về chiều cao hầu giai đoạn con giống cấp 1 theo
Bảng 4.9 Tỷ lệ sống của hầu giai đoạn con giống cấp 2 34
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng của hầu giai đoạn
Bảng 4.11 Tăng trưởng của hầu giai đoạn con giống cấp 2 theo thời gian nuôi 36
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hình thái ngoài của hầu Thái Bình Dương 3
Hình 2.2 Vòng đời phát triển của Hầu Thái Bình Dương 11
Hình 3.1 Thí nghiệm ương ấu trùng phù du hầu ở các mật độ khác nhau 17
Hình 3.2 Thí nghiệm ương hầu bám ở các mật độ/giá thể 19
Hình 4.1 Sự thay đổi về chiều cao của ấu trùng phù du qua các lần đo 28
Hình 4.2 Tăng trưởng của hầu giai đoạn con giống cấp 1 theo thời gian nuôi 33
Hình 4.3 Tăng trưởng của hầu giai đoạn con giống cấp 2 theo thời gian nuôi 37
Trang 9PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng biển nước ta có 11 loài hầu Trong đó có những loài có giá trị
kinh tế lớn như hầu cửa sông (C rivularis), hầu sú (S cucullata), hầu dày vảy (O denselamellosa), hầu đá (O glomerata) Từ lâu, nhân dân ta đã biết bỏ
đá nuôi hầu như bãi hầu ở bãi giữa sông Gianh – Quảng Bình Theo chủ trương của Tổng Cục Thủy sản, hầu đã là đối tượng nuôi hàng đầu của nghề nuôi hải sản nước ta [5]
Hầu Thái Bình Dương không phân bố tự nhiên ở Việt Nam Năm 2005, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã nhập giống hầu Thái Bình Dương
từ Đài Loan về nuôi thăm dò tại vịnh Bái Tử Long Năm 2008, Viện thực hiện
đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm hầu Thái Bình Dương phục vụ xuất khẩu” [11] Năm 2008 – 2009, Viện đã nghiên cứu sản xuất thành công giống hầu Thái Bình Dương cho năng suất, chất lượng, tỷ
lệ thịt/vỏ cao, cung cấp cho các cơ sở nuôi từ 100 đến 120 triệu con hầu giống/năm [29]
Do hầu không phân bố tự nhiên ở Việt Nam nên việc nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào con giống sản xuất nhân tạo Vì vậy, đưa ra các giải pháp nuôi thích hợp với con giống từ sản xuất nhân tạo cũng cần được quan tâm nhằm đưa nghề nuôi hầu ở nước ta phát triển mạnh, tạo ra sản lượng lớn để xuất khẩu Mật độ nuôi cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi Mật độ ương nuôi có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng, phát triển, chất lượng của ấu trùng và hầu giống Mật độ ương quá cao hay quá thấp đều không tốt Nuôi với mật độ thấp, lãng phí thức ăn, thể tích bể và tốn công chăm sóc Nuôi với mật độ quá cao, khó quản lý môi trường do các sản phẩm trao đổi chất và các chất thải thải ra nhiều sẽ làm ô nhiễm môi trường nước nuôi, dẫn đến ấu trùng và hầu giống phát triển chậm, thời gian nuôi kéo dài Do đó, việc nghiên cứu nhằm tìm ra mật độ nuôi phù hợp rất cần thiết, góp phần nâng cao năng suất của nghề nuôi hầu Thái Bình Dương
Trang 10Xuất phát từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
của mật độ ương đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của hầu Thái bình dương
(Crassostrea angulata Lamarck, 1819) giai đọan ấu trùng chữ D đến con
giống cấp 2 (15mm)”
* Mục tiêu chung: Góp phần hoàn thiện công nghệ sản xuất giống hầu TBD (dạng bám)
* Mục tiêu cụ thể: Xác định được mật độ tối ưu cho sinh trưởng tốt nhất và tỷ
lệ sống cao nhất cho giai đoạn ương từ ấu trùng lên con giống cấp 2
Trang 11PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số đặc điểm sinh học của hầu
2.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái bên ngoài
Hầu Thái Bình Dương được Lamarck phân loại vào năm 1819 và được sắp xếp như sau:
Loài Crassostrea angulata (Lamarck, 1819)
Hình 2.1 Hình thái ngoài của hầu Thái Bình Dương
Cũng như các động vật hai mảnh vỏ khác, hầu Thái Bình Dương (TBD)
có hai vỏ úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép vỏ Hai vỏ này rất cứng, thô, khác nhau về hình dạng và kích thước Vỏ phải thì nhỏ, nông nằm ở trên còn vỏ trái thì sâu và lớn dùng để bám chặt vào vật cứng và nằm ở dưới Hầu TBD không có răng bản lề ở bên trong Cơ khép vỏ có màu tím hay màu nâu
Trang 12Hầu TBD có tỉ lệ chiều dài và chiều rộng vỏ tương đối lớn (thường chiều dài gấp 3 lần chiều rộng) Ngoài ra hai mép lưng bụng của hầu gần như song song với nhau cũng là một đặc điểm nhận dạng khác [18]
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Phân bố địa lý:
Hầu có phân bố địa lý tương đối rộng từ 14 - 40 vĩ độ Bắc đến 107 -
124 kinh độ Đông Diện tích phân bố địa lý rộng hay hẹp chủ yếu được quyết định bởi hai yếu tố là nhiệt độ và nồng độ muối Đa số các loài hầu có phạm
vi phân bố rất rộng, chúng có mặt khắp nơi trên thế giới từ hàn đới, ôn đới,
nhiệt đới Ví dụ: Hầu Châu Âu O edulis phân bố từ ven biển Na Uy xuống đến Maroc, qua Địa trung hải vào đến Biển Đen Hầu Mỹ Crassostrea
virginica phân bố dọc ven biển Đại Tây Dương: từ New Brunswich (Canada)
xuống đến Vịnh Mexico Loài O lurida phân bố từ Alaska xuống đến Baja, California nhưng tập trung nhiều nhất tại Oregon và Washington C gigaslà
loài bản địa của Đông Bắc châu Á như Nhật Bản nhưng được di chuyển và lan rộng ra nhiều quốc gia như Pháp, Trung Quốc (du nhập vào đầu và cuối những năm 70 của thế kỉ 20), Anh bờ tây nước Mỹ (vào những năm 1950) và hiện nay chúng được nghiên cứu để du nhập và phát triển nuôi tại bờ đông, Ca-na-đa, Bra-xin, Hàn Quốc, Úc (những năm 1960) New Zealand vì mục đích nuôi và vì sự phát tán ngẫu nhiên bởi những tàu buôn lớn Cho nên có
thể nói hầu TBD phân bố toàn cầu Trong khi đó hầu C angulata có nguồn
gốc tại Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Maroc Được du nhập và nuôi nhiều ở Pháp, Nhật, Anh, Đài Loan Tại Châu Á cũng có một số loài hầu phân bố
Loài Saccostrea cucullata (hầu nắp) thường gặp tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia Hầu C belcheri và C iredalei phân bố nhiều ở các nước khu vực
Đông Nam Á như: Malaysia, Thái Lan và Việt Nam (Gosling, 2003)
Phân bố theo phương thẳng đứng: Hầu TBD trưởng thành không có
tơ chân và bám chặt trên những vật bám cứng như đá hay vỏ động vật thân
Trang 13mềm khác trong vùng triều và vùng hạ triều đến độ sâu 3 m nước Chúng thiên về những vùng nước lợ ở cửa sông hay những vùng duyên hải gần bờ mặc dù chúng có thể thích nghi với biên độ dao động mạnh của nồng độ muối
và các yếu tố môi trường nước nên có thể xuất hiện ở ngoài khơi ở độ sâu khoảng 40 m nước nhưng với mật độ ít và sinh trưởng kém [18]
2.1.3 Phương thức sống
Phương thức sống của hầu thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể Trứng hầu sau khi đẻ một thời gian ngắn được thụ tinh và phát triển thành ấu trùng đĩa bơi Từ ấu trùng đĩa bơi đến lúc sống bám phải trải qua giai đoạn sống phù du Thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ nước Sau thời kỳ sống phù du, ấu trùng chuyển sang giai đoạn sống bám Chúng thường sống bám cố định vào bất kỳ vật thể cứng nào như đáy cứng,
đá, vỏ động vật thân mềm, san hô chết…[16]
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Thức ăn:
Thức ăn của hầu thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể
Giai đoạn ấu trùng:
Hầu khi phát triển thành ấu trùng đĩa bơi, các chất dinh dưỡng trong cơ thể đã bị tiêu hao hết, cơ quan tiêu hóa đã dần được hình thành và ấu trùng phải sử dụng thức ăn từ bên ngoài môi trường Thức ăn của ấu trùng giai đoạn này thường là các loại thực vật phù du có kích thước nhỏ bé (2 – 8µm) như
Nannochloropsis, Irochrysis, Chaetocerosi, Pavlova, Chlorella, Cryptomonas, Platymonas… Trong sinh sản nhân tạo, vấn đề thức ăn của ấu
trùng là một vấn đề cần được chú trọng
Giai đoạn trưởng thành:
Theo kết quả nghiên cứu thức ăn của hầu người ta thấy rằng thức ăn của hầu gồm có sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ và những chất hòa tan trong nước như amino acid, muối khoáng (đặc biệt là các muối calci rất cần thiết cho sự
Trang 14hình thành vỏ) Thực vật phù du (phytoplankton) chủ yếu là tảo silic:
Melosira, Coscinodiscus, Navicula, Nitzschia, Chaetoceros, Biddulphia, Skeletonema, Cyclotella, Rhizosolema, Thalassiotrix… Động vật phù du
(zooplankton) bao gồm ấu trùng giun nhiều tơ, ấu trùng copepoda, copepode nhỏ, rotifer
Phương thức bắt mồi:
Lebesnerais (1985), Boucaud-Camou và ctv (1985) đã nghiên cứu cơ chế lọc thức ăn và quá trình chuyển hóa thức ăn trong hệ thống tiêu hóa của hầu Thái Bình Dương [7], [8] Theo Chestinnt (1946) thì phương thức bắt mồi của hầu là bị động theo hình thức lọc nhiều lần Hầu bắt mồi trong quá trình hô hấp, dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang Khi hô hấp, nước có mang theo thức
ăn qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ đính vào các tiêm mao trên bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao Hạt thức ăn có kích cỡ thích hợp (nhỏ) sẽ bị đính vào dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên sau
đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn có kích cỡ quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài Mặc dù hầu bắt mồi bị động nhưng với cách bắt mồi này thì có thể chọn lọc thức ăn theo kích thước [16] Quá trình chọn lọc thức ăn được thực hiện bốn lần theo phương thức trên: Lần thứ nhất xảy ra trên mang, lần thứ hai xảy ra trên đường vận chuyển, lần thứ ba xảy ra trên xúc biện, lần thứ tư xảy ra tại manh nang chọn lọc thức ăn Thức ăn sau khi được chọn lọc bởi manh nang chọn lọc thức ăn, được đưa trở lại dạ dày để tiêu hóa Tại đây nó được tiêu hóa một phần nhờ tác dụng của men tiêu hóa tiết ra từ nang tinh Sau đó thức ăn được chuyển đến manh nang tiêu hóa và tiếp tục được tiêu hóa nhờ men tiêu hóa do manh nang tiêu hóa tiết ra Cuối cùng thức ăn được tiêu hóa tại ruột, các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thụ, còn chất cặn bã sẽ bị đưa ra ngoài cơ thể qua hậu môn
Trang 15Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của hầu là thủy triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối …)
Khi triều lên cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ bắt mồi giảm
Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp và ít thức ăn thì cường độ bắt mồi cao
Khi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối …) trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao và khi các yếu tố môi trường ngoài khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp Khi nhiệt độ nước 10-15oC hầu bắt mồi mạnh nhất Trong mùa sinh sản nhiệt độ nước tương đối cao, hầu bắt mồi yếu Nói chung lượng nước lọc của hầu khoảng 1-25 L/h, trong thời gian ngắn có thể lọc được 31-34 L/h bằng 1500 lần khối lượng của nó [16]
Độ pH của nước biển có ảnh hưởng đến hoạt động bắt mồi của hầu Khi pH = 7,75 cường độ lọc nước bình thường, từ 6,75 – 7,00 cường độ lọc nước tăng nhưng khi pH giảm dưới 6,5 thì cường độ lọc giảm xuống Khi pH
= 4,14 lượng nước lọc chỉ còn 10% mức bình thường (Loosanoff, 1948)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Hầu có tốc độ sinh trưởng rất nhanh khi so sánh với các loài hầu khác có trên thế giới [23] Sinh trưởng của hầu phụ thuộc rất nhiều vào tập tính sinh lý
và sinh thái
Nhiệt độ được xem là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng chết mùa hè của hầu mà đã được nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới quan tâm như Perdue và CTV (1981); Cheney và CTV (2000); Huvert và CTV (2004); Garnier và CTV (2007) và Samain (2004, 2007) [26] Theo Beatrice Gagnaire và CTV (2006) [14], sự tương tác giữa nhiệt độ, độ mặn, chất ô nhiễm và các yếu tố môi trường khác như (pH, DO) có thể là nguyên nhân của hiện tượng chết mùa hè
Hầu sống ở nơi có dòng chảy nhanh lớn chậm hơn nơi có dòng chảy chậm, ở độ sâu từ tầng mặt đến 3m sinh trưởng nhanh hơn ở tầng nước sâu,
Trang 16dưới độ sâu 3m sẽ hạn chế hầu sinh trưởng, hầu sống ở độ sâu 7m lớn nhanh hơn 13m [19] Từng vùng nuôi khác nhau thì hầu có tốc độ sinh trưởng và độ dày vỏ khác nhau [25]
Mức độ phong phú của thức ăn, sự phát triển của tuyến sinh dục là những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của hầu Đặc biệt là số lượng và khối lượng thức ăn - những yếu tố này lại ảnh hưởng bởi mức độ trao đổi nước và các điều kiện thời tiết như mưa rào, tốc độ gió, thuỷ triều và hàm lượng dinh dưỡng của mỗi vùng Hầu đói do thiếu dinh dưỡng, sinh trưởng chậm hoặc không sinh trưởng Theo Brown (1988), tốc độ tăng trưởng của hầu trước hết bị ảnh hưởng bởi nguồn thức ăn cung cấp, sau đó mới đến yếu
tố nhiệt độ
Những nghiên cứu về mật độ nuôi đã chỉ ra rằng, mật độ thả giống cao thường làm cho hầu sinh trưởng chậm hơn so với hầu được thả nuôi ở mật độ thấp [21], [23] Mật độ giống thả còn ảnh hưởng đến hình dạng vỏ, ảnh hưởng đến thị hiếu của người tiêu dùng [23]
Chất lượng giống, vị trí nuôi và thời gian thả giống cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của hầu Các loài trong cùng một họ, vị trí nuôi khác nhau có tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống khác nhau Yếu tố chi phối chủ yếu là môi trường nuôi, bên cạnh đó loài, kiểu gen cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của hầu [22], [24]
Trang 17Hầu tham gia sinh sản lần đầu sau khoảng một năm Mùa vụ sinh sản thường diễn ra vào những tháng mùa xuân và mùa hè Trong suốt mùa sinh sản khối lượng tuyến sinh dục của hầu có thể chiếm tới 50% khối lượng cơ thể Sức sinh sản của hầu là vô cùng lớn, một con hầu cái có thể sinh ra khoảng 50-100 triệu trứng trong một lần đẻ Quá trình thụ tinh diễn ra trong nước và phải mất khoảng 10-15 phút sau khi đẻ
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của hầu:
Quá trình sinh sản của hầu chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ
Theo Byung Ha Park và ctv (1988), nghiên cứu sự thành thục của hầu
C.gigas tại Hàn Quốc cho thấy, yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành
thục là nhiệt độ Nhiệt độ tăng cao thời gian chín của tuyến sinh dục càng rút ngắn Còn theo thí nghiệm của Loosanoff về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự
phát triển của tuyến sinh dục hầu C.virginica cho thấy ở nhiệt độ 10oC thì sau
35 ngày hầu mới thành thục nhưng tỷ lệ thành thục ít, ở 20oC sau 5 ngày hầu
đã thành thục nhưng tỷ lệ đẻ thấp chỉ đạt 24%, ở 30oC chỉ sau 3 ngày hầu đã thành thục và cho tỷ lệ sinh sản cao
Ngoài ra, hoạt động sinh sản của hầu còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường khác như:
- Độ mặn: có quan hệ chặt chẽ đến sinh sản của hầu Khí hậu vùng
nhiệt đới quanh năm thích hợp cho hầu Ấn Độ Ostrea cucullata sinh sản
nhưng ở Ấn Độ hầu này chỉ đẻ từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; còn tháng 7,
8 tuy tuyến sinh dục thành thục nhưng vẫn không đẻ vì lúc đó mùa mưa xuống độ mặn giảm không thích hợp cho sinh sản của nó Ở nước ta, hầu sông
có mùa sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9, trong các tháng này hầu đẻ rộ nhất vào thời kỳ nhiệt độ nước cao nhất trong toàn năm (trung bình 30oC) nhưng
độ mặn lại thấp nhất toàn năm (trung bình 5 – 10 ‰)
Trang 18- Thức ăn: trong môi trường giàu dinh dưỡng thì khả năng tích lũy glycogen tăng, do đó sự tích lũy noãn hoàng trong trứng của hầu tăng theo, vì vậy mà hầu thành thục sớm và khả năng sinh sản tốt hơn Ngược lại trong môi trường nghèo dinh dưỡng thì khả năng thành thục sinh dục và sinh sản của hầu sẽ kém đi
2.1.7 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng
* Ấu trùng Veliger (Ấu trùng chữ D)
Xuất hiện ÂT Veliger sau 16 - 24 giờ từ khi thụ tinh, ÂT có dạng chữ
D, có 2 nắp vỏ và có vành tiêm mao giữa 2 nắp vỏ, ÂT vận động nhanh nhờ
sự vận động của vành tiêm mao miệng Giai đoạn này kéo dài từ 2 - 6 ngày và kích thước ÂT dao động từ 75 - 120 µm [17]
* Ấu trùng Umbo (Ấu trùng đỉnh vỏ)
Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các cơ quan bao gồm: giai đoạn Umbo sơ kỳ, bắt đầu xuất hiện mầm cơ khép vỏ Quan sát trên kính hiển
vi thấy ruột và một đôi cơ quan trong suốt Giai đoạn Umbo trung kỳ xuất hiện đỉnh vỏ, kích thước ÂT đạt 130 - 200 µm Giai đoạn hậu kỳ đỉnh vỏ, ÂT xuất hiện điểm mắt, kích thước ÂT tăng nhanh, cuối giai đoạn Umbo hậu kỳ xuất hiện điểm mắt ở gần phía đỉnh vỏ, một số cá thể hình thành chân bò, đây
là dấu hiệu kết thúc giai đoạn sống trôi nổi chuyển sang giai đoạn sống bám
cố định [20] Trong sản xuất giống nhân tạo, đây là thời điểm đặc biệt quan trọng trong việc thả vật bám để thu con giống bám
* Ấu trùng bám (spat)
Sau khi xuất hiện chân bò, hoạt động bơi của ÂT giảm dần, ÂT chuyển xuống bò dưới đáy, lúc này vành tiêm mao và điểm mắt thoái hoá dần Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các tơ chân, màng áo và một số cơ quan khác Ấu trùng chuyển sang hoàn toàn sống bám
Trang 19* Giai đoạn sống con giống
Từ ấu trùng spat, ấu trùng bám vào giá thể là các loại vỏ động vật thân mềm, các tấm nhựa… chúng sống cố định vào các vật bám cho đến khi trưởng thành Thời gian từ giai đoạn ấu trùng spat đến con giống cấp 2 kéo dài khoảng 2 tháng tùy vào điều kiện chăm sóc
Hình 2.2 Vòng đời phát triển của Hầu Thái Bình Dương
(Nguồn: Fishers and Marine technology center Saturo Aka Shige)
2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu Crassostrea angulata trên
thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu trên thế giới
Mặc dù nuôi hầu đã có lịch sử rất lâu đời, nhưng sản xuất giống hầu chỉ bắt đầu 40 năm trở lại đây ở một số nước như Nhật Bản (Pacific oyster,
Crassostrea gigas), Úc (Sydney Rock oyster, Crassostrea commercialis), Mỹ
(Crassostrea virginica) và Pháp Từ đó tới nay, quy trình sản xuất giống đã
dần được hoàn thiện và phát triển ở trình độ cao Cụ thể là trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, sản lượng con giống từ sinh sản nhân tạo
Trang 20chiếm gần 90% tổng sản lượng hầu giống ở Anh, Canada, Mỹ (Wong, 1993) [27] Việc sản xuất ở mọi nơi đều tuân theo một trình tự chung là chọn lọc và thu thập hầu bố mẹ và nuôi vỗ, kích thích cho đẻ hay cho thụ tinh nhân tạo, ương nuôi ấu trùng và con giống, cấy tảo làm thức ăn Quá trình nuôi vỗ dài hay ngắn tùy thuộc vào từng vùng và mùa nhưng thông thường 2 -3 tuần vào mùa xuân hè, 6 – 8 tuần vào mùa đông Phương pháp kích thích cho đẻ thì đa dạng bao gồm nâng hạ nhiệt độ, độ muối, phơi khô, tạo dòng chảy, tiêm hóa chất seretonin, nhưng đối với hầu hiệu quả nhất là nâng nhiệt Ương nuôi ấu trùng thực hiện trong bể 1 - 2 m3 với mật độ ấu trùng 5 – 8 con/ml [1]
Phương pháp sản xuất giống hầu nhân tạo dựa trên những cơ sở và kết quả nghiên cứu đầu tiên của Loosany và Imai Điều kiện cần thiết cho sinh sản là nhiệt độ, ở những thủy vực ôn đới, mùa vụ sinh sản phụ thuộc vào sự gia tăng nhiệt độ Mùa xuân là cực điểm của sự chín sinh dục khi nhiệt độ nước đạt đến ngưỡng sinh sản Nhiệt độ cũng cần thiết cho sự phát triển của
ấu trùng Riêng ở những vùng có khí hậu nhiệt đới thì nhiệt độ không phải là yếu tố kích thích sinh sản nhưng sự gia tăng nhiệt độ trong ngưỡng thích hợp
sẽ làm sản phẩm sinh dục chín, chính vì thế tăng nhiệt độ là biện pháp kích thích sinh sản trong sản xuất giống nhân tạo
Trên thế giới phương pháp sản xuất giống mang tính thương mại đã có từ những năm cuối của thế kỷ 19 Công trình nghiên cứu cho hầu đẻ thành công vào năm 1897 của Brook, ông đã nuôi được ấu trùng bơi lội tự do từ trứng và tinh trùng của hầu trong mùa sinh sản Cũng có nhiều nghiên cứu tiến hành ương nuôi ấu trùng hầu trong phòng thí nghiệm nhưng mãi đến năm 1920, Wells mới thành công trong kỹ thuật ương nuôi ấu thể Spat
Để làm cơ sở cho việc sử dụng vật bám trong sản xuất giống nhân tạo cũng như cải tiến phương pháp thu giống ngoài tự nhiên, Latama (1996) đã sử dụng những vật liệu sẵn có, rẻ tiền như thanh tre và tấm xi măng để thu giống
hầu C cucullata tại Indonesia Kết quả cho thấy hầu bám nhiều hơn trên
Trang 21những tấm xi măng so với thanh tre Năm 2000, Yulianda và Atmadipura đã kết luận rằng độ ghồ ghề và loại của vật bám có ảnh hưởng đến mật độ bám
của con giống hầu Crassostrea sp Thí nghiệm của họ cho kết quả là hầu
giống bám nhiều hơn trên những vật bám là những viên đá có bề mặt gồ ghề hơn vật bám là những vỏ sò [1]
Theo Jones và Jones (1988), một chi tiết rất quan trọng liên quan đến việc vận chuyển ấu trùng để cho bám ở những vùng không có khả năng xây dựng trại giống là ấu trùng điểm mắt của hầu Thái Bình Dương có thể giữ trong điều kiện độ ẩm và nhiệt độ 5oC trong thời gian hàng tuần, hầu vẫn có thể bám tốt Nhưng trong nghiên cứu của Tan và Wong (1995) tại Hong Kong
cũng đã kết luận rằng ấu trùng điểm mắt của hầu C belcheri có thể giữ tốt
nhất trong vòng 12 giờ ở nhiệt độ 15 oC [27] Ứng dụng những thành tựu đó,
Mỹ và Malaysia đã xây dựng những trại giống có công suất lớn tạo ra ấu trùng hầu điểm mắt cung cấp cho các cơ sở cho bám và nuôi thương phẩm trong nước hay xuất ra nước ngoài
Đỉnh cao của phương pháp sản xuất giống nhân tạo là thu giống hầu đơn (remote – setting) Ấu trùng được nuôi đến giai đoạn hậu ấu trùng đỉnh vỏ lồi, dùng LHG kích thích hầu xuống đáy mà không cần bám, hoặc dùng bột vỏ hầu, bột vỏ điệp, các hạt có kích thước 300 – 500 µm, ấu trùng Spat bám vào các hạt đó và thu được con giống dạng bám đơn Hai phương pháp này được
sử dụng nhiều ở các nước tiên tiến như Mỹ, Pháp, Úc (FAO, 2003) [30] Vào những năm 1982, các nhà khoa học của trường đại học Washington
và trường Maire đã nghiên cứu thành công việc dùng các tác nhân vật lý và hóa học tạo thể tam bội ở hầu với kết quả đạt được 80% thể tam bội trong 1 triệu trứng sinh ra Theo kết quả của Chaiton và Allen (1985), 57% thể tam
bội của hầu C.gigas được tạo ra khi trứng đã thụ tinh được đặt ở áp suất 6000
– 8000 atmosphere trong 10 phút Ngoài ra, với việc dùng các tác nhân hóa học 6 – DMAP gây đột biến đa bội trên hầu ống cho ra kết quả là 90% cá thể
Trang 22hầu tam bội Guo el al (1996) đã so sánh tỷ lệ tạo tam bội (3N) khi sử dụng
hóa chất CB và 100% thể tam bội khi cho lai giữa dạng tứ bội (4N) và lưỡng bội (2N) Khi cho hầu đực tứ bội lai với hầu cái lưỡng bội, Nell (2002) cũng
đã cho ra kết quả là 100% hầu tam bội Và từ đó trở đi vệc nuôi thương mại hầu tam bội tại bờ biển phía tây của Bắc Mỹ tăng đáng kể
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống hầu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hầu Thái Bình Dương phân bố ở những vùng triều thấp tới
độ sâu 10 mét nước ở những vùng nước thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng [6] Nguyễn Văn Chung (2001) khi điều tra đánh giá tình hình phân bố của hầu Thái Bình Dương phân bố ở đầm Cù Mông, đầm Ô Loan nhưng với tần
số bắt gặp rất ít [3]
Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản hay sinh thái của hầu dường như ít được đề cập đến trong các tài liệu, có chăng đó chỉ là những tài liệu tiếng Việt được dịch từ các thứ tiếng khác như tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Nhật… Điều đó chứng tỏ rằng việc nghiên cứu sản xuất giống hay nuôi hầu thương phẩm ở nước ta chưa thực sự phổ biến Việc nuôi hầu chỉ là tự phát, xuất phát từ giá trị kinh tế và người nuôi chỉ dựa vào kinh nghiệm
Đến năm 2001 – 2004, Bộ Khoa Học & Công Nghệ đã cấp kinh phí cho
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I nghiên cứu đề tài “nghiên cứu công
nghệ sản xuất hầu giống và nuôi hầu (Crassostrea) thương phẩm” do kỹ sư
Hà Đức Thắng làm chủ nhiệm, bao gồm 3 chi nhánh: miền Bắc do kỹ sư Hà Đức Thắng đảm nhiệm, miền Trung do tiến sỹ Lê Trọng Phấn phụ trách và miền Nam do tiến sỹ Lê Minh Viễn đảm nhiệm
Từ đó đến nay, đề tài đã có những thành công nhất định trong việc phát
triển nghề nuôi hầu ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam với các loài C belcheri và
C rivularis
Đa số các hộ ở miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng) nhập con giống hầu
C.angulata từ Trung Quốc và Đài Loan về nuôi, còn ở miền Nam có công ty
Trang 23nuôi trồng thủy sản và thương mại Viễn Thành tiếp tục sản xuất giống các
loại hầu C belcheri, C rivularis để cung cấp cho hoạt động nuôi hầu của
công ty, đồng thời cung cấp giống cho người dân
Lê Minh Viễn (2004) đã tiến hành nghiên cứu và sản xuất thành công
hầu giống bám đơn (C belcheri) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo Hình
thức này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần so với hình thức nuôi hầu bằng phương pháp lấy giống tự nhiên
Hiện nay hầu Thái Bình Dương C angulata đang được quan tâm và
được xem là một đối tượng nuôi quan trọng Năm 2008 - 2010, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 đã thực hiện Đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm Hầu Thái Bình Dương phục vụ xuất khẩu”
Đề tài đã có thành công bước đầu, xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm Hầu Thái Bình Dương Đề tài đã nghiên cứu thử nghiệm 3 loại vật bám để thu con giống khác nhau như: vật bám là vỏ Hầu Thái Bình Dương, vỏ Điệp và nhựa trắng và đã tìm ra loại vật bám là vỏ Hầu thích hợp để thu giống Hầu bám Tuy nhiên con giống cấp 1 (3 - 5 mm) khi đưa vào nuôi dưỡng thành giống cấp 2 (> 15 mm) ngoài tự nhiên hầu chậm lớn, nguyên nhân trong quá trình xử lý bám chưa điều chỉnh được số lượng con giống bám trên mỗi vật bám: đạt > 40 con/vật bám là quá cao so với thực tế nuôi thương phẩm (15 - 20con/vật bám) Do vậy sản xuất giống Hầu bám (giai đoạn từ giống cấp 1 lên cấp 2) vẫn chưa ổn định
Trang 24PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2011
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trung Tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc – xã Xuân Đám – Huyện Cát Hải – Thành phố Hải Phòng
3.1.3 Đối tượng nghiên cứu
Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea angulata Lamarck, 1819)
bể thuyền 3m3, bể được bố trí với 5 khoảng, mỗi khoảng chia làm 3 phần phân biệt bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ ương giai đoạn con giống sống bám Xô nhựa và bể được ngâm bằng Chlorine, sau đó rửa lại bằng xà phòng và nước ngọt nhiều lần trước khi sử dụng
- Nước mặn: Nước biển được lấy vào bể lọc thô, sau đó được xử lý bằng tia cực tím và được lọc qua túi vải trước khi sử dụng
- Nước ngọt: Sử dụng nước máy và được xử lý lại bằng túi vải lọc
Trang 25- Những vật liệu khác bao gồm: Kính hiển vi quang học, buồng đếm tảo, buồng đếm động vật, thước kẹp, nhiệt kế thủy ngân, tỷ trọng kế, vợt, chậu, hệ thống sục khí …
Bảng 3.1 Các dụng cụ đo yếu tố môi trường
MĐ 5
AT/ml
MĐ 9 AT/ml
MĐ 11 AT/ml
MĐ 13 AT/ml
Ấu trùng chữ D
Trang 26* Phương pháp bố trí thí nghiệm:
- Thời gian bố trí thí nghiệm được bắt đầu khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn chữ D và kết thúc khi ấu trùng xuất hiện điểm mắt
- Thí nghiệm được bố trí ở 5 mật độ ương tương ứng với 5CT là 5, 7, 9,
11, 13 con/ml Ở mỗi CT được lặp lại 3 lần Tất cả các thí nghiệm được bố trí trong các bể composite 400 lít, sử dụng nước biển lọc sạch, trong điều kiện nhiệt độ từ 26 – 30oC, pH từ 7,8 – 8,2 và sục khí 24/24 giờ Chế độ chăm sóc
ấu trùng trong các lô thí nghiệm như nhau
- Thức ăn cho ấu trùng bao gồm các loại tảo đơn bào: Nannochloropsis
oculata, Chaetaceros muelleri, Isochrysis galbana Mật độ thức ăn tùy thuộc
vào khả năng tiêu thụ của ấu trùng
Chăm sóc quản lý:
Thay nước 1 – 2 ngày/lần, thay từ 30 – 50% lượng nước trong bể
- Ấu trùng được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 – 8 giờ và 16 – 17 giờ Trước khi cho ăn tiến hành đếm mật độ tảo và kiểm tra chất lượng nước, tình trạng của ấu trùng Lượng thức ăn tăng dần theo giai đoạn phát triển và được tính theo công thức:
Tổng số tảo cho ăn = tổng số ấu trùng x Tb/ấu trùng/ngày
Số Tb/ấu trùng/ngày được tính dựa theo bảng 2
Bảng 3.2 Lượng thức ăn cho ăn theo từng giai đoạn phát triển của hầu
Thái Bình Dương [10]
Giai đoạn Tuổi Mật độ nuôi Lượng thức
ăn (Tb/ml)
Số lần cho ăn (Lần/ngày) Trứng 0 – 24h 20 trứng/ml
AT chữ D 24h 10 con/ml 40.000 1
Umbo trung kỳ 4 – 5 ngày 5 – 10 con/ml 60.000 2
Umbo hậu kỳ 8 – 12 ngày 5 – 10 con/ml 80.000 2
AT điểm mắt 14 – 21 ngày 5 con/ml 140.000 2
Spat 21 ngày 5 con/ml 160.000 2
Trang 27- Xác định mật độ tảo theo công thức
Dùng buồng đếm hồng cầu, xác định mật độ tảo theo công thức:
D = A 5 10 4 a
Trong đó: D: Mật độ tế bào (số tế bào/ml)
A: Số tế bào trung bình trong 5 ô chéo của ô lớn
a: Hệ số pha loãng dung dịch tảo (nếu có)
5 104: Hệ số nhân tính số tế bào trong 1 ml
Sau khi cho ăn ta lấy mẫu và kiểm tra độ no đói của ấu trùng trên kính hiển vi quang học
- Theo dõi các yếu tố môi trường, hàng ngày tiến hành đo nhiệt độ nước, độ mặn, pH vào lúc 7 – 8 giờ và 14 – 15 giờ
- Kiểm tra tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng bằng cách đo kích thước ấu trùng 2 ngày/lần bằng thước đo trên trắc vi thị, theo dõi thời gian chuyển giai đoạn và xác định mật độ theo từng giai đoạn phát triển của ấu trùng bằng buồng đếm động vật
3.4.2 Thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của hầu giai đoạn ương từ spat lên con giống cấp 2
Trang 28* Phương pháp bố trí thí nghiệm:
- Làm dây vật bám thu giống hầu bám: Vật bám được sử dụng là vỏ hầu, vỏ hầu được vệ sinh sạch sẽ Mỗi dây vật bám gồm 30 vỏ hầu xâu lại Mỗi CT được bố trí 20 dây vật bám
- Dùng vợt phân lọc ấu trùng có kích thước mắt lưới 300µm, chuyển toàn bộ ấu trùng sau khi đã phân cỡ vào bể thuyền có 3m3 Sau 2-3 ngày khi thấy ấu trùng bám và đã khĩ thì tiến hành thả dây vật bám thu ấu trùng bám, sau khi thả vật bám 4-5 giờ thu các dây vật bám lên và tiến hành phân loại những vật bám này thành 5 kích nhóm ứng với 5 mật độ ương Những vỏ có hầu bám quá nhiều trên 40 con/vb hay quá ít dưới 20 con/vb thì loại bỏ những
vỏ này
- Thí nghiệm được bố trí ở 5 mức mật độ ương khác nhau tương ướng với 5CT là 20, 25, 30, 35, 40 con/vật bám Mỗi công thức được lặp lại 3 lần Thí nghiệm được bố trí trong bể 3m3 Mỗi bể bố trí 20 dây vật bám
Tiến hành kiểm tra tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hầu
- Thức ăn cho hầu giống bao gồm các loại tảo đơn bào: Chaetoceros
gracilis, Ch muelleri, Tetraselmis sp
Chăm sóc, quản lý:
Thay nước 1 ngày/lần, thay từ 30 – 50% lượng nước trong bể
- Hầu được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 – 8 giờ và 16 – 17 giờ Trước khi cho ăn tiến hành đếm mật độ tảo và kiểm tra chất lượng nước, tình trạng sức khỏe của hầu Lượng thức ăn cho hầu được cung cấp theo nhu cầu của chúng và có sự điều chỉnh hàng ngày sau khi kiểm tra độ no đói của hầu
- Xác định mật độ tảo theo công thức
Dùng buồng đếm hồng cầu, xác định mật độ tảo theo công thức:
D = A 5 10 4 a
Trong đó: D: Mật độ tế bào (số tế bào/ml)
A: Số tế bào trung bình trong 5 ô chéo của ô lớn
Trang 29a: Hệ số pha loãng dung dịch tảo (nếu có)
5 104: Hệ số nhân tính số tế bào trong 1 ml
- Theo dõi các yếu tố môi trường, hàng ngày tiến hành đo nhiệt độ nước, độ mặn, pH, DO vào lúc 7 – 8 giờ và 14 – 15 giờ
- Kiểm tra tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của hầu bằng cách đo kích thước 5 ngày 1 lần bằng thước kẹp và kiểm tra tỷ lệ sống bằng cách lấy mẫu vật bám và đếm số lượng hầu trên vật bám
3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
∗ Xác định kích thước ấu trùng :
Đo qua vật kính 10, thước đo trên trắc vi thị kính có 100 vạch, mỗi vạch tương ứng là 10 µm Mỗi lần kiểm tra 30 con, cố định mẫu bằng formol 5% tiến hành đo chiều dài và chiều cao vỏ
- Chiều cao được đo từ mép vỏ phía mặt bụng đến đỉnh vỏ phía mặt lưng
- Chiều dài được đo từ mép mặt sau đến mép vỏ mặt trước
Đo kích thước con giống hầu bằng thước kẹp, đo chiều dài và chiều cao của hầu Ở mỗi CT lấy mẫu 30 con rồi tiến hành đo chiều dài và chiêu cao của vỏ
∗ Xác định mật độ ấu trùng trong bể thí nghiệm:
Lấy ngẫu nhiên 1 ml mỗi mẫu, nhỏ 1 – 2 giọt Formol 5% vào đĩa lồng sau 15 phút xoay nhẹ đĩa ấu trùng lắng tụ lại giữa đĩa, dùng ống hút nhựa hút
bỏ phần nước, hút hết ấu trùng đưa vào buồng đếm (dùng buông đếm động vật phù du), đếm toàn bộ ấu trùng/ml, kiểm tra từ 3 - 5 mẫu/bể/lần/2 ngày
∗ Xác định mật độ ấu trùng trên vật bám:
Ở mỗi lô thí nghiệm định kì 5 ngày lấy 3 – 5 vật bám tiến hành đếm số lượng hầu bám rồi lấy giá trị trung bình ở mỗi lô thí nghiệm
Trang 30∗ Xác định thời gian chuyển giai đoạn:
Thời gian chuyển giai đoạn được quy ước tính từ lúc 50% số cá thể bắt đầu chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác
3.5.2 Công thức tính toán
- Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (%/ngày):
% 100
1 2
1
t t
LnL LnL
SGR
−
−
=
Trong đó: L1 là kích thước của ấu trùng (µm) tại thời điểm t1
L2 là kích thước của ấu trùng(µm) tại thời điểm t2
- Tính tỷ lệ sống (Ts):
Trong đó: A là số lượng cá thể thu được khi thí nghiệm kết thúc
B là số lượng cá thể tại thời điểm thí nghiệm
3.5.3 Xử lý số liệu:
Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel 2003 và SPSS Version 16.0 So sánh tốc độ tăng trưởng giữa các nghiệm thức bằng phương pháp ANOVA Giá trị trung bình của các lô thí nghiệm được so sánh và đánh giá ở độ tin cậy 95% Các giá trị được trình bày bởi giá trị trung bình ± sai số chuẩn
A
B
T s (%) = × 100