1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc

79 413 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 577,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN VĂN THUẦN Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre Meretrix lyrata Sowerby, 1851 giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con gi

Trang 1

NGUYỄN VĂN THUẦN

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ

sống của nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn ương

con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền Bắc

LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Mã số: 60.62.70

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ XUÂN THU

Bắc Ninh – 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN I

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được

cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thuần

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều

sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia khóa học này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Thu, là giáo viên hướng dẫn đề tài đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên Trung tâm giống hải sản Nam Định – Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, các chủ trang trại sản xuất nghêu giống tại Nam Định là anh Nguyễn Hồng Quân và anh Nguyễn Thanh Khiết đã

hỗ trợ tôi về mặt trang thiết bị nghiên cứu để hoàn thành các nội dung của đề tài

Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình tôi, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

2 Chi cục KT&BVNLTS Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi

4 Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục các chữ viết tắt iii

Mục lục iv

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện tự nhiên của địa điểm nghiên cứu 3

2.1.1 Khí hậu 3

2.1.2 Thủy văn 4

2.1.3 Độ mặn 5

2.1.4 Độ pH 5

2.1.5 Độ đục 6

2.1.6 Chất đáy 6

2.2 Đặc điểm sinh học nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) 7

2.2.1 Vị trí phân loại 7

2.1.2 Đặc điểm phân bố 8

2.1.3 Tập tính sống 10

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 11

2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 12

2.1.6 Đặc điểm sinh sản 14

2.1.7 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng nghêu M lyrata 16

2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới 17

2.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam 21

2.4 Tình hình nuôi nghêu tại Việt Nam 27

PHẦN III - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

Trang 6

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 32

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 32

3.2 Đối tượng nghiên cứu 32

3.3 Vật liệu nghiên cứu 32

3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 33

3.4.1 Thí nghiệm mật độ ương 33

3.4.2 Thí nghiệm về chất đáy 36

3.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu cần theo dõi 38

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 39

PHẦN IV - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 40

4.2 Kết quả theo dõi sinh trưởng & Tỷ lệ sống của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 42

4.2.1 Kết quả theo dõi sinh trưởng của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 42

4.2.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 46

4.3 Kết quả theo dõi sinh trưởng & Tỷ lệ sống của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 48

4.3.1 Kết quả theo dõi sinh trưởng của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ bùn/cát khác nhau 48

4.3.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ cát/bùn khác nhau 50

PHẦN V - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Đề xuất 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 58

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam Định (trạm Văn Lý) theo

các tháng trong năm (tính trung bình 5 năm 2005-2009) 4

Bảng 2.2: Độ mặn trung bình biển Nam Định các tháng trong năm 5

Bảng 2.3: Độ đục nước biển Nam Định 6

Bảng 2.4: Diện tích & Sản lượng nghêu nuôi tại các tỉnh miền Bắc 29

Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 40

Bảng 4.2: Kết quả theo dõi sinh trưởng của nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 43

Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 45

Bảng 4.4: Kết quả thí nghiệm ương nghêu giai đoạn con giống cấp 1 lên cấp 2 46

Bảng 4.5: Kết quả theo dõi sinh trưởng của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 48

Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 49

Bảng 4.7: Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của nghêu ương ở các nghiệm thức nền đáy với tỷ lệ cát/bùn khác nhau 51

Bảng 4.8: Tỷ lệ cát/bùn trong các bãi nuôi nghêu M lyrata khu vực Tiền Hải – Thái Bình 53

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Nghêu Bến Tre M lyrata (Sowerby, 1851) 7

Hình 3.1: Công thức pha độ mặn nước biển 33

Hình 3.2: Sơ đồ thí nghiệm mật độ ương giống nghêu M lyrata 35

Hình 3.3: Sơ đồ thí nghiệm chất đáy ương giống nghêu M lyrata 37

Hình 4.1: Biểu đồ biểu diến tỷ lệ sống của nghêu M lyrata thí nghiệm ở các mật độ ương khác nhau 47

Hình 4.2: Tỷ lệ sống của nghêu thí nghiệm ở các nền đáy với tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 52

Trang 9

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ

(Bivalvia) Ở Việt Nam chúng phân bố tự nhiên tại các khu vực vùng triều cửa sông ven biển các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Gò Công Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bình Đại, Ba Tri, Thạch Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng) (Nguyễn Chính, 1996) Từ năm 1999 trong việc tìm

kiếm đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu của miền Bắc, nghêu M lyrata

được người dân đưa vào nuôi thử nghiệm ở một số vùng cửa sông ven biển các tỉnh như Thái Bình, Nam Định và đã cho kết quả tốt (Nguyễn Kim Độ, 1999)

Hiện nay, nghêu M lyrata là một trong những đối tượng nuôi thuỷ sản

chủ lực ở Việt Nam phục vụ xuất khẩu, diện tích và sản lượng nuôi khá lớn; Một

số vùng nuôi tập trung đã đáp ứng được tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) và chứng chỉ MSC của Hội đồng Biển Quốc tế (Marine Stewardship Council) nên sản phẩm được xuất khẩu sang nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có cả các thị trường khó tính như EU, Nhật, Mỹ Bên cạnh

đó, kỹ thuật nuôi nghêu M lyrata đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác của

người dân Do đặc tính ăn lọc, sử dụng thức ăn trong môi trường tự nhiên nên nghêu có khả năng làm sạch môi trường và sinh trưởng tốt trong điều kiện ao đầm, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Đây là cơ sở thúc đẩy

sự phát triển, mở rộng diện tích vùng nuôi đối với đối tượng này trong thời gian tới, nhằm mục đích nâng cao sản lượng, cũng như góp phần làm sạch môi trường ao nuôi

Nuôi nghêu M lyrata ở nước ta hiện nay chủ yếu theo phương thức quảng

canh và quảng canh cải tiến dựa vào nguồn giống tự nhiên Việc khai thác con giống một cách ồ ạt, thiếu trách nhiệm đã làm cho nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm Vì vậy, vấn đề bức thiết được đặt ra hiện nay là nghiên cứu sản xuất

Trang 10

nhân tạo giống nghêu M lyrata để đáp ứng nhu cầu nuôi của người dân và góp

phần vào việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên

Ở nước ta, nghiên cứu sản xuất giống nghêu M lyrata đã được thực hiện bởi Nguyễn Đình Hùng & CTV (2002) nhưng tỷ lệ sống của nghêu M lyrata

giống giai đoạn sau khi xuống đáy thấp (8-24%) Chu Chí Thiết & Martin S Kumar

(2008) đã bước đầu thành công trong việc ương nuôi nghêu M lyrata giống cấp 1 lên

cấp 2 trong bể hoặc trong ao có kiểm soát thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp

để tăng tỷ lệ sống, chủ động cung cấp con giống cho người nuôi, tuy nhiên có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống giai đoạn này là mật độ ương và chất đáy còn chưa được nghiên cứu làm rõ

Xuất phát từ thực tế trên và nhằm bổ sung thêm những thông tin cần thiết

để xây dựng quy trình sản xuất nhân tạo nghêu M lyrata theo quy mô hàng hóa

tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến

sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền Bắc ”

Mục tiêu của đề tài:

Xác định mật độ và chất đáy phù hợp để ương nghêu M lyrata giai đoạn

từ con giống cấp 1 (chiều dài vỏ khoảng 850µm) lên con giống cấp 2 (chiều dài

vỏ khoảng 2500µm), góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo

nghêu M lyrata ở quy mô hàng hóa

Nội dung nghiên cứu của đề tài:

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của

nghêu M lyrata giai đoạn ương con giống từ cấp 1 lên cấp 2

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất đáy lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của

nghêu M lyrata giai đoạn ương con giống từ cấp 1 lên cấp 2

3 Theo dõi biến động một số yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm (như nhiệt độ, oxy hòa tan, độ mặn)

Trang 11

PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tự nhiên của địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Khí hậu

Khí hậu Nam Định mang tính chất vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh với các đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng ven biển miền Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa hè (mùa mưa) từ tháng 5 đến tháng 10 thời tiết nóng

ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ nước mùa hè dao động từ 23-300C tương đối thuận lợi

cho việc sản xuất giống và nuôi nghêu M lyrata; Mùa đông (mùa khô) thường

kéo dài từ tháng 11, 12 năm trước đến tháng 4 của năm sau, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc Đặc điểm chính là khô, lạnh hay có mưa phùn Trong mùa này, nhiệt độ xuống thấp nên không thuận lợi đối với sản xuất giống và

nuôi nghêu M lyrata, ngao dầu M meretrix, nuôi tôm…

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm tại khu vực vùng biển Nam Định – Thái Bình vào khoảng 23,80C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng ven biển miền Bắc là không đáng kể (Vũ Đình Thịnh, 2001)

Theo TTKTQG (2010), số giờ nắng hàng năm ở các tỉnh ven biển miền Bắc là 1.596 giờ Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 5 (184,4 giờ) Tháng có giờ nắng thấp nhất là tháng 2 (45,9 giờ) Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.689,2mm; trung bình tháng là 129,9mm Tháng có lượng mưa cao nhất thường

là tháng 9 (301,3mm), tháng thấp nhất thường là tháng 1 (17mm) Nói chung, lượng mưa trung bình hàng năm lớn, nhưng phân bố không đều trong năm, thường tập trung từ tháng 8-10 Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% lượng mưa hàng năm Theo Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định (2010) hiện tượng nghêu

M lyrata nuôi ngoài bãi triều chết hay gặp nhất vào thời gian mùa mưa, mưa nhiều cũng làm gây thiệt hại lớn cho sản xuất giống nghêu M lyrata, giai đoạn

nghêu còn nhỏ đang được ương trong ao

Trang 12

2.1.2 Thủy văn

Đặc điểm thủy văn cơ bản của hệ thống sông Hồng là: mực nước trung bình 1,52m, mực nước cao nhất tới 5,77m (lũ năm 1971) Mực nước tối thiểu 0,32m Lưu lượng trung bình 896m3/giây

Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam Định (trạm Văn Lý)

theo các tháng trong năm (tính trung bình 5 năm 2005-2009)

Tháng trong

năm

Nhiệt độ ( o C)

Lượng mưa (mm)

Giờ nắng (giờ)

Độ ẩm (%)

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2009

Thủy triều tại vùng biển Nam Định là chế độ nhật triều tương đối thuần nhất, hầu hết số ngày trong tháng trên dưới 25 ngày, hầu như mỗi ngày chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng Tuy vậy trong tháng, số ngày có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng có khoảng 5-7 ngày Kỳ nước cường thường xảy ra 2-3

Trang 13

ngày sau ngày mặt trăng có độ xích vĩ lớn nhất: mực nước lên xuống nhanh, có thể 0,5m/1giờ Độ cao thủy triều tới 3,6m, độ chênh lệch triều có thể tới 3m

Do ảnh hưởng của thủy triều và với chế độ thủy văn của các sông thuộc Nam Định (hệ thống sông Hồng), vào mùa cạn, nước mặn có thể xâm nhập sâu vào vùng của sông hàng chục kilomet, gây bất lợi cho việc lấy nước cho trồng trọt, nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ vùng cửa sông, ven sông (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2010)

2.1.3 Độ mặn

Độ mặn vùng bờ biển các tỉnh ven biển miền Bắc nói chung biến thiên rộng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, độ mặn vùng cửa sông thấp thường từ 5-15‰ Vùng ven biển ổn định từ 19-20,9‰ Một số điểm có độ mặn từ 25-34‰ Mùa khô nước ven bờ cao hơn từ 22-23‰ (Nguyễn Hữu Phụng, Võ Sĩ Tuấn & Nguyễn Huy Yết, 2001)

Theo trạm thủy văn Văn Lý năm 2009 độ mặn trung bình các tháng trong năm tại bờ biển khu vực Nam Định như sau:

Bảng 2.2: Độ mặn trung bình biển Nam Định các tháng trong năm

pH này là phù hợp cho sinh trưởng của nghêu M lyrata

Trang 14

2.1.5 Độ đục

Theo Đỗ Văn Khương (1991), nước vùng biển Nam Định (nhất là cửa sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Hồng) chịu ảnh hưởng của vùng châu thổ sông Hồng nên có độ đục cao Theo số liệu điều tra của Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định (2009) cho thấy hàm lượng phù sa trung bình tại vùng triều Nam Định có trong nước mùa mưa và mùa khô như sau:

Bảng 2.3: Độ đục nước biển Nam Định

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2009

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Địa chất – Viện Khoa học Việt Nam (1992) hàm lượng các muối dinh dưỡng (NH+4; NO3

-; NO-2; SiO2-2; PO4

3-) ở vùng biển châu thổ sông Hồng cao hơn các vùng biển khác Độ đục cao, hàm lượng các

muối dinh dưỡng lớn đã tạo nguồn thức ăn đa dạng cho nghêu M lyrata phát triển

tốt tại các địa điểm nuôi ở Nam Định (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định)

2.1.6 Chất đáy

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục (1994) đã chỉ ra rằng các bãi triều khu vực các tỉnh Nam Định, Thái Bình có tỷ

lệ cát/bùn khoảng 65-85%, thời gian phơi bãi từ 2-8giờ/ngày là thích hợp cho

nghêu M lyrata sinh trưởng

Tuy nhiên, đặc trưng của các bãi nghêu M lyrata phân bố ở Nam Định là

biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng phụ thuộc vào dòng chảy của thủy triều, phụ thuộc mùa… Qua theo dõi của Chi cục KT&BVNLTS Nam Định cho thấy có

một phần diện tích mới được đưa vào sử dụng để nuôi nghêu M lyrata, bên cạnh

đó cũng có một số diện tích trước đây đã nuôi nghêu M lyrata hiện nay bị bùn

phù sa bồi lắng gây ra sự xáo trộn tỷ lệ bùn/cát dẫn đến không còn phù hợp

Trang 15

Tóm lại, với những điều kiện tự nhiên thuận lợi về khí hậu, thủy văn và các điều kiện kinh tế, xã hội khác đã tạo tiềm năng cho phát triển nuôi trồng thủy

sản nói chung, nuôi nghêu M lyrata ở Nam Định nói riêng Theo Bộ NN&PTNT (2010) Nam Định có 1.500ha bãi triều nuôi nghêu M lyrata thuộc 2 huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng, là tỉnh có diện tích nuôi và sản lượng nghêu M lyrata lớn

nhất miền Bắc Ngoài ra, cần phải tìm cách khắc phục được những khó khăn do khí hậu như lựa chọn mùa vụ nuôi hợp lý, địa điểm nuôi phù hợp, phát triển đầu ra cho sản phẩm, quy hoạch vùng nuôi hợp lý (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định)

2.2 Đặc điểm sinh học nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

2.2.1 Vị trí phân loại

Nghiên cứu của các tác giả Habe và Sadao (1996), Nguyễn Chính (1996),

đã sắp xếp Nghêu M lyrata theo hệ thống phân loại như sau:

Loài: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Tên tiếng Anh: Hard Clam, Lyrate Asiatic

Tên khoa học: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Tên tiếng Việt: Nghêu Bến Tre

Trang 16

Các tác giả Nguyễn Chính, 1996; Kappner & Bieler (1997), Trương Quốc

Phú (1999) đã mô tả hình thái cấu tạo ngoài của nghêu M lyrata (Sowerby,

1851) như sau: cơ thể nghêu được bao bọc bởi hai mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), vỏ dày chắc, cạnh trước ngắn hơn (chỉ bằng 2/3 chiều dài cạnh sau), dính chặt nhau bằng một bản lề và góc vỏ có răng khớp rất khít

Mặt trong của vỏ nghêu M lyrata có màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình

bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau to hình bầu dục Hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nội tạng của nghêu Phía mép của 2 màng áo gần bụng dính lại hình thành 2 vòi nước (vào và ra) hay còn gọi là vòi xi phông Vòi nước vào nằm ở phía bụng, vòi nước ra nằm ở phía lưng Vòi xi phông của nghêu to và ngắn

Chân nghêu to hình lưỡi dùng để đào cát, chân nằm ở phía bụng Nghêu M lyrata có miệng là một rãnh nằm ngang ở phía trước cơ thể, trong miệng có tấm

môi ngoài, môi trong và tiêm mao để vận chuyển và lựa chọn thức ăn Mang là

cơ quan hô hấp chủ yếu Ngoài ra các vi mạch trên môi và màng áo ngoài cũng

có tác dụng bổ trợ cho quá trình hô hấp

Theo Nguyễn Đình Hùng (2000) nghêu M lyrata có hình dạng rất giống ngao dầu M meretrix, nhưng kích thước nhỏ hơn ngao dầu Nghêu M lyrata lớn

có chiều dài 40-50mm, chiều cao 40-45mm và chiều rộng 30-35mm; Mặt trong

vỏ nhẵn trơn, màu trắng, có các vết in của cơ khớp vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước; Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trắng xám hoặc nâu, trên mặt vỏ có nhiều đường gân lồi gần như song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và thưa dần về phía mặt bụng là những vòng sinh trưởng đồng tâm

2.1.2 Đặc điểm phân bố

* Phân bố theo địa lý:

Trên thế giới họ nghêu có tới 500 loài, phân bố rộng ở vùng bãi triều ven biển của các nước ôn đới và nhiệt đới (Nguyễn Hữu Phụng & Võ Sỹ Tuấn,

1996); trong đó nghêu M lyrata phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm Tây Thái Bình

Trang 17

Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam; Nguyễn Thế Ánh & CTV (1999) cũng

cho rằng nghêu M lyrata phân bố ở vùng biển nhiệt đới và Á nhiệt đới

Ở Việt Nam, nghêu M lyrata phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ

như: Cần Giờ (Tp.HCM), Gò Công (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) và Cầu Ngang, Duyên Hải của Trà Vinh (Nguyễn Chính, 1996)

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX do quá trình di nhập giống ra miền Bắc nên đã xuất hiện nghêu ở các bãi ven biển, cửa sông của các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Tại Nam Định, diện

tích nuôi nghêu M lyrata năm 2010 là 1.500 ha, tập trung ở 2 huyện Giao Thủy

và Nghĩa Hưng, là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi nghêu M lyrata lớn nhất

miền Bắc (Bộ NN&PTNT, 2011)

* Phân bố theo sinh thái:

Theo Trương Quốc Phú (1999) thì nghêu phân bố chủ yếu ở vùng trung

triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng Thường gặp nghêu M lyrata ở nền đáy cát hay cát bùn trong đó cát phải chiếm từ 60-90% với kích cỡ

hạt từ 0,006-0,25mm (Nguyễn Hữu Phụng, 1996) Trong tự nhiên chưa gặp loài này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát (Nguyễn Thế Ánh & CTV 1999)

Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) cho rằng nghêu phân bố

ở vùng thời gian phơi bãi từ 2 – 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu M lyrata lúc nước ròng là 2,5m Nghêu M lyrata phân bố ở vùng có nền đáy cát

mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10 – 18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi nghêu (1,5 - 2,5cm) Độ mặn đặc trưng cho bãi nghêu dao động từ 7 – 25‰; pH nước 6,5 – 8,5 và nhiệt độ là 26 – 32oC

Theo Nguyễn Văn Hảo & CTV (1999) bãi nghêu M lyrata thường phân

bố ở gần cửa sông có gió nhẹ, có nguồn nước ngọt chảy vào Chúng phân bố từ vùng trung triều, hạ triều, cho đến độ sâu 1-2m nước, có khi bắt gặp ở cả độ sâu

Trang 18

Nghêu M lyrata là loài thân mềm 2 mảnh vỏ sống rộng nhiệt, chúng có

thể sống trong điều kiện nhiệt độ từ 5 – 350C, khoảng nhiệt độ thích hợp cho

nghêu M lyrata phát triển là 28-310C, tốc độ dòng chảy 0,1-0,25m/s, hàm lượng

oxy hòa tan khoảng 4-6mg/l, pH 6-9, khoảng độ muối phù hợp cho nghêu M lyrata phát triển là 22-25‰ (Rubi, 2000)

2.1.3 Tập tính sống

Nghêu M lyrata là loài sống đáy, ở điều kiện bình thường nghêu dùng

chân đào bới, vùi mình trong đáy cát/bùn sâu từ 2-4cm, khi gặp điều kiện không thuận lợi như nhiệt độ giảm, độ muối thay đổi đột ngột chúng thường tiết nhớt nổi thành lớp váng trên bề mặt nước và di chuyển đi nơi khác có điều kiện thích hợp hơn (Calin, 1951) Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999) cũng chỉ ra rằng khi độ muối giảm xuống còn 5ppm thì hầu hết nghêu di chuyển tới

vùng mới nơi có độ muối cao hơn Do vậy, bãi nghêu M lyrata ngoài tự nhiên

có xu hướng dịch chuyển từ bờ ra xa vào mùa mưa và mùa khô có xu hướng tiến lại gần bờ nên diện phân bố của nghêu vào mùa khô rộng hơn so với mùa mưa

Theo Quayle & Newkirt (1989) trong quá trình sinh trưởng và phát triển

của nghêu M lyrata nói riêng và ĐVTM hai mảnh vỏ nói chung, hầu hết phải

trải qua hai giai đoạn phát triển:

- Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và xuống đáy: Sau khi trứng nở chuyển sang giai đoạn ấu trùng phù du gồm các giai đoạn nhỏ: Trochophore, Veliger và

ấu trùng Umbo Giai đoạn này, ấu trùng trôi nổi trong nước, sự phân bố của chúng phụ thuộc rất lớn vào dòng chảy và thủy triều Theo Walne (1979) cho rằng, kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du là giai đoạn sống đáy, lúc này đã hình thành chân, màng áo và cơ khép vỏ Giai đoạn này ấu trùng có thể vừa bơi vừa

bò còn gọi là ấu trùng bò lê, chúng có thể kéo dài trong vài ngày cho đến khi tìm được vật bám, đáy thích hợp, nếu không chúng sẽ chết ở ngày thứ 4

- Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn trưởng thành nghêu M lyrata sống

vùi mình trong đáy Để hô hấp và lấy thức ăn trong nước, nghêu thò vòi lên mặt

Trang 19

bãi Vòi nghêu ngắn nên chúng không thể chui sâu, thường chỉ cách đáy vài centimet Vào mùa lạnh nghêu vùi mình xuống sâu, nhưng không quá 10cm

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của nghêu M lyrata của Trương

Quốc Phú (1999) chỉ ra rằng nghêu thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu Mùa

hạ nghêu sống ở vùng triều cao, thời gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên nghêu phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn Mùa thu nhiệt

độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh nghêu cũng phải di

chuyển xuống vùng sâu Hiện tượng nghêu M lyrata di chuyển cũng liên quan

tới sinh sản, khi nghêu thành thục sinh dục thường di chuyển nhiều hơn thời kỳ tiền trưởng thành

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng & CTV (2001); Trương Quốc Phú (1999) đều cho thấy nghêu là loài ăn lọc thành phần thức ăn tự nhiên của nghêu là mùn bã và các mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong nước khoảng 75-90%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ thấp khoảng 10-25% về số lượng cũng như tần số bắt gặp, chủ yếu là tảo silic (tảo khuê) Theo Trần Thái Bái & CTV (1978) thì nhóm Bivalvia bắt mồi theo cách lọc nhờ hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước qua mang Quá trình bắt mồi diễn ra một cách thụ động, chỉ có những hạt thức ăn có kích thước phù hợp được chọn lọc (Quayle & Newkirk, 1989)

Cùng quan điểm với tác giả Thái Trần Bái (1978); Elizabeth Gosling (2003) cho rằng hoạt động bắt mồi của loài hai mảnh vỏ được thực hiện theo cách lọc nhờ vào hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp, nước mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các tiêm mao nằm trên tia mang Tuy nhiên, chúng vẫn có sự chọn lựa thức ăn theo kích thước Các kết quả này giống

với kết luận của Tammes & Dral (1950) rằng nghêu M lyrata thường chọn các

mảnh vụn hữu cơ, các loài thực vật phù du có kích cỡ < 10 µm

Trang 20

Theo Purchon (1977) cho rằng thức ăn của giai đoạn ấu trùng của nhóm Bivalvia là vi khuẩn, tảo khuê, mùn bã hữu cơ và nguyên sinh động vật có kích thước nhỏ khoảng 10µm hoặc nhỏ hơn Nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho thấy sinh vật phù du hiện diện trong ống tiêu hóa của nghêu chiếm khoảng 10%, trong khi hàm lượng mùn bã hữu cơ chiếm đến 90% Các giống tảo thường bắt

gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể đến Coscinodiscus (9loài), Pleurosigma (3 loài), Cyclotella (3 loài), Rhizosolenia (3 loài)

Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) khi nghiên cứu thành phần thức ăn của

nghêu Meretrix lyrata giai đoạn đã trưởng thành được nuôi ở tỉnh Trà Vinh thì

thành phần thức ăn chính của nghêu là mùn bã hữu cơ chiếm 75-90%, tảo chiếm 10-25% Trong thành phần tảo thì tảo silic (Baciloriophyta) chiếm 90-95%, tảo giáp (Pyrophyta) chiếm 3,3-6,6%, tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (Chlorophyta)

và tảo vàng ánh (Chrysophyta) chiếm 0,8-1%

2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Theo nghiên cứu của Gilbert (1973) cho thấy nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý và chi phối sinh trưởng đến nhóm Bivalvia, kích thước tối đa và sinh trưởng giảm, tuổi thọ tăng khi đi từ vĩ độ thấp đến vĩ độ cao Nghiên cứu

của McDonald & Thomson (1988) cho thấy kết quả quần thể nghêu M lyrata

sống ở vùng nước sâu có kích cỡ nhỏ hơn vùng nước nông trong cùng thời gian sinh trưởng

Angell (1986) chỉ ra rằng trong điều kiện đầy đủ thức ăn thì tốc độ sinh trưởng nhanh khi nhiệt độ tăng Kết quả nghiên cứu của Quayle & Newkirk (1989) cũng chỉ ra rằng vào mùa xuân và mùa hè khi nhiệt độ nước ấm lên, thức

ăn dư thừa thì sự sinh trưởng tăng lên nhanh chóng Sự sinh trưởng thường dừng lại vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp và nguồn dinh dưỡng trong nước kém

Nghêu M lyrata phân bố tự nhiên ở vùng biển miền Bắc Việt Nam sinh trưởng

nhanh từ tháng 5-9 và sinh trưởng chậm từ tháng 10-4 năm sau và tốc độ sinh

Trang 21

trưởng về khối lượng nhanh hơn sinh trưởng về chiều dài (Trương Quốc Phú,

1999 & 1996)

Theo Nguyễn Ngọc Lâm & CTV (1994) cho rằng khả năng lọc thức ăn

của nhóm nghêu M lyrata có kích thước nhỏ lọc tốt hơn nhóm nghêu có kích

thước lớn

Các tác giả Nguyễn Thế Ánh & CTV, 1999; Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục (1994) tiến hành thí nghiệm so sánh tốc độ sinh trưởng riêng theo ngày

ở các kích cỡ nghêu M lyrata khác nhau và cũng có cùng kết quả ở kích cỡ nhỏ,

nghêu có tốc độ sinh trưởng riêng theo ngày (SGR) lớn hơn so với nghêu thí nghiệm ở kích cỡ lớn

Qua kết quả phân tích tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của nghêu

M lyrata của các tác giả Trần Quang Minh (1999); Ngô Trọng Lư (2006) cũng

có cùng nhận định trên

Nguyễn Thế Ánh & CTV (1999); Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục

(1994) đã tiến hành sinh sản nhân tạo và ương giống nghêu M lyrata cùng đưa

ra kết quả trong điều kiện tương đối thuận lợi, từ giai đoạn trứng đến nghêu cám (khoảng 10.000con/kg) mất khoảng 2 tháng, từ nghêu cám đến nghêu giống (800-1000 con/kg) khoảng 6-8 tháng và từ nghêu giống đến nghêu thịt (50 con/kg) từ 10-11 tháng) Tổng thời gian từ khi sinh ra đến lúc nghêu được thu hoạch khoảng 18-20 tháng Tuy nhiên theo Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục (1994) cho rằng ở các vùng biển khác nhau, tốc độ sinh trưởng của nghêu cũng khác nhau Điều này được Hà Đức Thắng & CTV (1994) chứng minh khi so

sánh nghêu M lyrata cùng một năm tuổi kích cỡ 20 mm ở Trà Vinh nặng trung

bình 2,7 g/con, ở Thanh Hóa, Nghệ An là 3,7 g/con và ở Tiền Giang nặng trung bình 2,8 g/con Lý do của sự khác nhau trong sinh trưởng của nghêu là do ở các vùng biển khác nhau có nguồn thức ăn và các điều kiện sống như chất đáy, nhiệt độ khác nhau

Trang 22

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Sinh sản là phương thức bổ sung các cá thể mới cho quần thể sinh vật, đảm bảo sự bảo tồn và phát triển nòi giống Đối với động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) sinh sản và thụ tinh ngoài môi trường nước nên quần thể mới phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường

Nghêu M lyrata lớn có thể sinh sản đến 6 triệu trứng/năm, nghêu có khối lượng 5,4g mỗi lần đẻ 400.000 trứng; Phương thức sinh sản của nghêu M lyrata

là phần sau của thân thò vòi lên mặt nước; nghêu M lyrata đẻ trứng phân theo

đợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi tới một tháng (Chu Chí Thiết, 2005)

Đối với Bivalvia thì nhìn hình dạng bên ngoài rất khó xác định được giới tính, chỉ có thể phân biệt được đực cái khi quan sát tuyến sinh dục của chúng Tuy nhiên tác giả Nguyễn Văn Hảo & CTV (1999) quan sát tuyến sinh dục của

nghêu M lyrata trưởng thành đã khẳng định nghêu M lyrata có hiện tượng

lưỡng tính, tuy nhiên chỉ có một số lượng ít Trương Quốc Phú, (1999) có cùng nhận định trên khi phát hiện hiện tượng lưỡng tính xảy ra vào mùa sinh sản (từ tháng 2 đến tháng 8) và hình dạng cá thể lưỡng tính không có gì khác biệt về hình dạng, kích thước và màu sắc so với các cá thể đơn tính Theo các tác giả

Nguyễn Đình Hùng & CTV, 2002; Hà Quang Hiến (1964) tỷ lệ nghêu M lyrata

đực cái trong tự nhiên thường là 1,56 đực:1cái

Theo nghiên cứu của Vakily (1989) trên Vẹm Xanh (Perna viridis) cho

thấy khi thành thục sinh dục con cái có tuyến sinh dục cái có màu vàng hay màu

cam, con đực có màu trắng đục Trong khi đó Sò huyết (Anadara granosa), khi

thành thục con đực tuyến sinh dục có màu vàng nhạt, con cái có màu đỏ hồng (Broom, 1985) Nghiên cứu của Chu Chí Thiết (2005) chỉ ra rằng với đối tượng

nghêu M lyrata khi thành thục sinh dục tuyến sinh dục cái thường có màu vàng

nhạt hay màu cam nhạt; tuyến sinh dục đực có màu trắng đục Tuy nhiên, quan sát bằng mắt thường có thể xác định giới tính nhưng không thể đánh giá mức độ

Trang 23

thành thục, để đánh giá chính xác cần quan sát tế bào sinh dục (trứng và tinh trùng) và quan sát tiêu bản lát cắt (Quayle & Newkirk, 1989)

Mùa vụ sinh sản: Nghêu M lyrata có 2 mùa sinh sản trong năm, mùa

chính từ tháng 5-7 và mùa phụ vào tháng 11-1 năm sau Tùy theo điều kiện khí

hậu từng vùng mà nghêu M lyrata có thể thành thục sớm hoặc muộn Khi thành

thục tuyến sinh dục đực thường có màu trắng, tinh trùng có kích thước rất nhỏ 4µm chuyển động rất nhanh trong nước và chết sau khi phóng tinh từ 1-2 giờ Trứng nghêu có đường kính từ 75-80µm, ban đầu trứng có hình quả lê nhưng sau khi tiếp xúc với môi trường nước trứng bị trương nước và chuyển sang hình cầu (Nguyễn Đình Hùng & CTV (2002); Hà Quang Hiến (1964); Chu Chí Thiết

3-& Martin Skumar (2008)

* Sức sinh sản:

Sức sinh sản của nghêu Meretrix lyrata tương đối cao, sức sinh sản tuyệt

đối bình quân đạt 6.453.910 trứng/cá thể Sức sinh sản tuyệt đối phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, khối lượng cá thể càng lớn, sức sinh sản tuyệt đối càng tăng (Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002); Chu Chí Thiết & Martin Skumar (2008)

* Phương thức sinh sản:

Sau khi trứng và tinh trùng phóng ra, quá trình thụ tinh xảy ra trong nước

Có 5-10 tinh trùng bám trên bề mặt trứng Màng thụ tinh xuất hiện, các tinh trùng yếu bị màng nhầy bên ngoài vỏ trứng chặn lại không xâm nhập được vào bên trong Đường kính trứng thụ tinh 78,87±1,06µm, 20 phút sau khi thụ tinh nhân tế bào tan biến, ở cực động vật xuất hiện cực diệp thứ nhất, 5 phút sau cực diệp thứ 2 xuất hiện, sau đó trứng bắt đầu phân cắt 2,4,8 tế bào Quá trình phát triển phôi nang, phôi vị kéo dài trong 12 giờ, lúc này đã có rất nhiều tế bào được hình thành Màng nhầy bị phá vỡ Ấu trùng trochophore chuyển động mạnh dần

và có khả năng bơi lên tầng nước mặt

Trang 24

2.1.7 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng nghêu M lyrata

Theo nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002); Chu

Chí Thiết & Martin Skumar (2008) quá trình phát triển của ấu trùng nghêu M lyrata được chia thành các giai đoạn sau đây:

+ Ấu trùng Morula: xuất hiện 5-7 giờ sau khi thụ tinh, ấu trùng nghêu có

dàng hình tròn hoặc hơi bầu dục, tiêm mao bao phủ kín Ấu trùng nghêu hoạt động tăng dần từ chậm đến nhanh và vận động xoay tròn xoắn ốc, thường vận động ngược chiều kim đồng hồ Kích thước ấu trùng 87±2,03µm * 82,7±1,48µm

+ Ấu trùng Veliger (ấu trùng chữ D): ấu trùng có dạng hình chữ D, có 2 nắp

vỏ và vành tiêm mao nằm giữa 2 nắp vỏ, ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao quanh miệng Kích cỡ ấu trùng 97,08±2,06 * 87,7±3,13µm

+ Ấu trùng Umbo: giai đoạn ấu trùng tiềm Umbo (sau khi thụ tinh 2

ngày) xuất hiện mầm cơ khép vỏ, trên kính hiển vi có thể thấy được cơ quan tiêu hóa, kích cỡ ấu trùng 115,88±3,13µm Giai đoạn giữa Umbo (sau 4 ngày) ấu trùng xuất hiện đỉnh vỏ với kích thước ấu trùng đạt 124,73±2,06µm Giai đoạn cuối Umbo (8-9 ngày) chân bò hình thành ở ngày thứ 9 đây là dấu hiệu kết thúc

giai đoạn bơi chuyển sang giai đoạn sống đáy của ấu trùng nghêu M lyrata

+ Ấu trùng spat: sau khi thụ tinh 9-12 ngày vành tiêm mao của ấu trùng

nghêu M lyrata thoái hóa dần, hoạt động bơi giảm, ấu trùng chuyển sang sống

bò dưới đáy với đặc trưng hình thành chân, mang, màng áo, cơ khép vỏ Ấu trùng nghêu chuyển hoàn toàn từ đời sống bơi lội sang sống vùi Kích thước ấu trùng nghêu tăng nhanh, đầu giai đoạn spat kích thước 203,13±4,62 * 150±3µm (ngày thứ 11); giữa giai đoạn spat 412,07±6,23 * 354,43±3,93µm (ngày thứ 15); cuối giai đoạn spat 760±29,33 * 7,09±27,47µm

+ Juvenile (nghêu giống): nghêu giống có hình dạng tương tự nghêu

trưởng thành, kích thước đạt 1000µm sau 30 ngày ương, giống nhỏ có kích thước 1800-2000µm sau 60 ngày, giống lớn đạt 4000µm sau 100 ngày

Trang 25

Theo Sở NN&PTNT Nam Định, hiện nay nghêu M lyrata cỡ con giống

có kích thước 2000-2500µm phù hợp với vụ nuôi thả nghêu ngoài bãi triều, để

ương nghêu M lyrata đạt kích cỡ nghêu 3000-4000µm đòi hỏi thời gian ương

dài con giống dài hơn, giá thành con giống cũng cao hơn nhiều

2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới

Trên thế giới, có nhiều tài liệu được công bố liên quan đến kết quả nghiên cứu sản xuất giống và nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và nghêu nói

riêng Các loài đã nghiên cứu thành công là hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu đá Sedney (Saccostrea commercialis), nghêu dầu (Meretrix meretrix), nghêu mật (Meretrix lusoria), nghêu Manila (Mercenaria mercenaria) Các công trình nghiên cứu về loài M lyrata mới chỉ tập trung

chủ yếu vào mô tả hình thái, phân loại, phân bố, như các công trình nghiên cứu của Shintaro Hirase (1939), Trưng Nhĩ (1965), Habe & CTV (1966); Garcia H.K (1968); Tetsuaki Kira (1976), Kappner & Bieler, (1997)

Các công trình nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất nhân tạo loài M lyrata hầu hết dựa trên các công trình nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống ngao M meretrix của Loosanoff & Davis (1963); Galtsoff (1964); Sastry (1979); Mackie

(1984); Eversole (1989) trong đó đề cập nhiều đến các biện pháp kích thích sinh

sản nhân tạo ngao M meretrix như gây sốc nhiệt, sốc độ muối, sử dụng ánh sáng

mặt trời, dùng hóa chất serotonin (5 Hydroxytryto Amine) tiêm vào cơ chân ngao, xử lý ngâm dung dịch NH4OH vv

Năm 1989 Quayle & CTV nghiên cứu về đặc điểm sinh học và phương pháp sản xuất giống, nuôi một số loài ĐVTM và đã chỉ ra rằng biến đổi một số yếu tố môi trường theo mùa cũng góp phần kích thích quá trình thành thục và

sinh sản nhân tạo một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trong đó có loài M lyrata, từ đó các tác giả cho rằng yếu tố quan trọng là nhiệt độ và nồng độ muối

Năm 2005 Whetstone & CTV đã nghiên cứu sinh sản nghêu M lyrata

Trang 26

xuân, khi nhiệt độ nước ấm dần lên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng và phát triển tuyến sinh dục ở mùa đông Con đực phóng tinh ra ngoài môi trường trước, tinh dịch đóng vai trò là như chất feromol kích thích con khác trong quần thể phóng trứng và tinh theo, trứng được thụ tinh bên ngoài môi trường nước Kết luận của Whetstone & CTV (2005) cũng phù hợp với kết luận trước đó của Quayle & CTV (1989) vào mùa xuân nhiệt độ ấm áp hơn, độ mặn có chiều hướng thay đổi đã thúc đẩy quá trình phát triển của tuyến sinh dục Vì vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay đổi các yếu tố môi trường được mô phỏng theo

tự nhiên là phương pháp đang sử dụng để kích thích quá trình phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thích sinh sản đối với các đối tượng nhuyễn thể Theo Whetstone & CTV (2005) nghiên cứu nuôi vỗ nghêu Manila bố mẹ

cho sinh sản nhân tạo hỗn hợp các loài tảo Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis, Tahitial isochrysis, với hàm lượng 1 lít/0,5 kg nghêu/1 giờ và so sánh với việc nuôi vỗ loài hầu Thái Bình Dương C gigas đã

phát hiện đối với nghêu Manila không có khả năng chuyển hóa glycogen dự trữ thành sản phẩm sinh dục trong thời gian nuôi vỗ, do vậy cần thiết phải bổ sung một lượng lớn hỗn hợp các loài tảo vào trong nguồn nước tự nhiên để nuôi vỗ nghêu

Thức ăn là yếu tố quan trọng quyết định trong sản xuất giống loài nghêu M lyrata, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng tảo tốt để ương nuôi nghêu M lyrata

sẽ cho tỷ lệ cao nghêu M lyrata bố mẹ thành thục Trong sản xuất giống theo

hướng hàng hóa, sử dụng các loài tảo nuôi được để làm thức ăn cho ấu trùng và

con giống nghêu M lyrata thì thức ăn là yếu tố then chốt quyết định tỷ lệ sống

của ấu trùng, con giống

Ngao M meretrix cũng cần thiết phải có lượng lớn hỗn hợp nhiều loài tảo

để nuôi vỗ ngao bố mẹ Tang & CTV (2006) cũng có cùng nhận định với Quayle

& CTV, (1989) khi nghiên cứu sử dụng 5 loài tảo khác nhau làm thức ăn đơn và

Trang 27

phối hợp với nhau và cho thấy ở những lô cho ngao M meretrix ăn hỗn hợp nhiều loài tảo thì tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao M meretrix cũng cao hơn Tuy nhiên theo Liu và CTV (2006) khi ương ấu trùng ngao M meretrix có thể sử dụng tảo Chlorella sp thay thế 50% tảo Isochrysis spp để làm thức ăn cho

ấu trùng nghêu mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng

Các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã nghiên cứu sâu hơn về mật độ

ương nuôi một số loài có giá trị kinh tế cao như ngao M meretrix, nghêu Manila, Ruditapes philippinarum điển hình như nghiên cứu của Liu & CTV (2006) nhằm xác định mật độ ấu trùng nghêu M meretrix phù hợp trong ương

nuôi Thí nghiệm đã tiến hành ở các mật độ 5, 10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ D-veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger) Kết quả cho thấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất thì có kích thước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này

có ý nghĩa thống kê bắt đầu từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống đáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên, tỷ lệ sống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng Nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn thì tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật độ 10 đến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy

Trang 28

mô hàng hóa ương ở mật độ từ 5 – 10 con/ml sẽ thu được số lượng ấu trùng nhiều, có thời gian biến thái sớm hơn, tỷ lệ sống cao hơn

Theo Zhuang & CTV (2004), tốc độ lọc (CR) và tốc độ tiêu hoá (IR) của

nghêu M meretrix theo hàm số mũ đối với kích thước cơ thể (W) của chúng,

theo công thức CR=0,47 W0,63 và IR=0,95 W0,60 Kích thước cơ thể nghêu không ảnh hưởng tới hiệu quả lọc ở nhiệt độ 10, 16 và 220C, nhưng trong khoảng nhiệt

độ này, hiệu suất lọc tăng theo sự tăng của nhiệt độ

Baojun & CTV (2006) cũng đã tiến hành thí nghiệm bỏ đói ấu trùng

nghêu M meretrix trong thời gian dài để theo dõi sinh trưởng bù từ giai đoạn bắt

đầu của phát triển, ở 250C Kết quả chỉ ra rằng nghêu M meretrix có thể sống

trong thời gian dài không cho ăn, thậm chí chúng còn sống đến giai đoạn biến thái, mặc dù sự bỏ đói ảnh hưởng đến sinh trưởng Kết quả này có thể khẳng

định rằng nghêu M meretrix có khả năng chịu đói thông qua việc sử dụng nguồn

năng lượng khác Điều này cho thấy sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của

nghêu M meretrix còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bên cạnh chất lượng

và số lượng thức ăn

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan, các chất kim loại nặng, ánh sáng vv trong sinh sản nhân tạo ĐVTM nói chung và trong sinh sản

nghêu Meretrix sp nói riêng cũng rất quan trọng Các yếu tố này ảnh hưởng trực

tiếp đến hiệu quả của sản xuất giống ở quy mô lớn Điều này đã được khẳng định trong các nghiên cứu của Quayle & CTV (1989); Whetstone & CTV (2005) Zhuang & CTV (2004) nhận định rằng chất đáy là yếu tố môi trường

nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố của nghêu M lyrata ngoài tự nhiên, trong sinh sản nhân tạo ngao M meretrix nền đáy ảnh hưởng tới thời gian xuống

đáy của ấu trùng, tỷ lệ sống của con giống cũng nhận thấy nền đáy ảnh hưởng đáng kể đến biến thái của ấu trùng nghêu Tuy nhiên theo Baojun & CTV (2006) hình dáng và kích thước hạt cát làm giá thể không ảnh hưởng đến tỷ lệ biến thái của chúng

Trang 29

Theo Zhuang & CTV (2004) nền đáy cũng ảnh hưởng đến tốc độ lọc, tốc

độ tiêu hoá thức ăn của ngao M meretrix Nghêu nuôi ở bể có nền đáy cát, tốc

độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn cao hơn từ 2-3 lần so với chúng nuôi ở nơi đáy

trơ (đáy bể) Ngao M meretrix nuôi trong bể có đáy cát ở nhiệt độ 220C, thì tốc

độ lọc và tiêu thụ thức ăn là cao nhất

Baojun & CTV (2006) đã nghiên cứu chế độ chiếu sáng cho ngao M meretrix và đưa ra kết luận điều kiện che mát một phần (cường độ ánh sáng từ

1000 – 5000 lx) và chế độ che mát toàn phần (cường độ ánh sáng < 500 lx) ấu trùng đều phát triển nhanh hơn so với điều kiện ánh sáng ngoài tự nhiên

Theo Baojun & CTV (2006) chế độ thay nước trong ương nuôi với tỷ lệ 50% bể sau 2 ngày/lần là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng nghêu

và ấu trùng phát triển nhanh hơn trong điều kiện nước không qua lọc cát

Độ mặn của nước trong quá trình sản xuất giống cũng hết sức quan trọng, mặc dù bản thân nghêu có thể điều chỉnh được áp suất thẩm thấu để thích nghi với môi trường Baker & CTV (2007) nhận thấy đối với nghêu Manila, trong khoảng độ mặn từ 20 – 300/00 là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Kết luận của Baker & CTV (2007) phù hợp với kết luận của các tác giả trước đó như Loosanoff & Davis (1963); Galtsoff (1964); Sastry (1979); Mackie (1984); Eversole (1989)

Trong khoảng độ mặn này, tốc độ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt

động khác của chúng diễn ra một cách tối đa nhất, riêng ở loài ngao M meretrix đã

được Zhuang & CTV (2005) chứng minh khi nhận thấy tốc độ biến thái của ấu

trùng nghêu M meretrix lại liên quan đến nhiệt độ nước theo hàm sỗ mũ

2.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, kỹ thuật sinh sản nhân tạo nghêu (Meretrix sp) được biết đến

từ năm 2003, do Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I và II tiến hành, dựa trên việc nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo một số loài

Trang 30

Garcia H.K (1968); Tetsuaki Kira (1976), Kappner & Bieler, (1997) và những

nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sinh sản nhân tạo loài ngao M meretrix của các tác giả như Loosanoff & Davis (1963); Galtsoff (1964); Sastry

(1979); Mackie (1984); Eversole (1989)

Hiện nay ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học,

sinh sản nhân tạo loài M meretrix như nghiên cứu của Dương Văn Hiệp (2005); Trương Văn Thượng (2007); Vũ Đình Thịnh (2008) Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo nghêu M lyrata cũng nhiều hơn do đây là loài đối tượng chủ lực, có

giá trị cao tại Việt Nam Điển hình là các nghiên cứu của Trương Quốc Phú

(1998) về một số đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi nghêu Meretrix lyrata đạt năng suất cao Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng (1996) về đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi nghêu M lyrata Tài liệu kỹ thuật sản xuất giống và nuôi nghêu M lyrata của Trung tâm bảo tồn tài nguyên biển MCD (2007) Tài liệu kỹ thuật sản xuất giống nghêu M lyrata của Chu Chí Thiết và

sản, công nghệ sản xuất giống nghêu M lyrata quy mô sản xuất hàng hóa ở

miền Bắc

Theo Trương Quốc Phú (1998), nghêu M lyrata phân tính đực cái riêng

biệt Trong quần thể tự nhiên, tỷ lệ đực/cái của nghêu thay đổi theo thời gian Số

cá thể đực tăng trong mùa sinh sản, nhưng số cá thể cái lớn hơn nhiều trong thời gian trước và sau mùa sinh sản Nguyên nhân của sự thay đổi tỷ lệ giới tính cũng như tỷ lệ tuyến sinh dục lưỡng tính theo thời gian có thể là do sự khác nhau về

Trang 31

tốc độ phát triển của tuyến sinh dục đực và cái Thường thì tuyến sinh dục cái có thời gian phát triển dài hơn do phải tích luỹ vật chất dinh dưỡng cho quá trình tạo noãn hoàng, trong khi tuyến sinh dục đực không phải tích luỹ nhiều vật chất dinh dưỡng nên thời gian phát triển nhanh hơn Đây là hiện tượng phát triển lệch pha ở các quần thể có số lượng cá thể lớn, đặc biệt trong thời gian sớm của mùa

vụ sinh sản Ngoài ra, trong quần thể cũng xuất hiện một số cá thể không xác định được giới tính (6,82% số mẫu phân tích), tỷ lệ này giảm trong mùa sinh sản

và ngược lại Cũng theo Trương Quốc Phú (1998), nghêu kích thước 1,6cm (500mg) sau 12 tháng nuôi đạt trung bình 3,5cm, có thể thành thục và tham gia sinh sản đầu tiên Sức sinh sản tuyệt đối của nghêu đạt từ 2.747.000 đến 4.031.000 trứng/cá thể

Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học và

kỹ thuật ương nuôi nghêu M lyrata đã phân tích được thành phần thức ăn chính

của nghêu vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75-90%, tảo chiếm từ 25% Trong thành phẩn tảo thì tảo silic chiếm 90-95%, tảo giáp chiếm 3,3-6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8-1% Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1998) khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ

10-thuật nuôi nghêu M lyrata đã xác định được thành phần thức ăn trong dạ dày

nghêu tại vùng biển Tân Thành cũng cho thấy hàm lượng mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82 – 90,38%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ 9,62 – 21,18%, với 44 loài khác nhau Trong thành phần tảo, đa số là tảo silíc Bacillariophyta (chiếm 93,18%) với một số giống thường gặp là Coscinodiscus, Cycltella, Nitzschia… tảo giáp chiếm 2,27% và tảo lam chiếm 4,55% Đây là thông tin quan trọng, là cơ sở để nghiên cứu loại thức ăn và dinh dưỡng phù hợp cho nghêu trong việc nghiên cứu xuất giống, đặc biệt là công nghệ sản xuất ở quy mô đại trà

Nguyễn Ngọc Lâm & CTV (1994) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng khả năng

lọc thức ăn của nhóm nghêu M lyrata có kích thước nhỏ lọc tốt hơn nhóm

Trang 32

Nghiên cứu của Như Văn Cẩn & CTV (2005) cũng cùng đưa đến kết luận với Nguyễn Ngọc Lâm & CTV (1994) khi thực hiện thí nghiệm so sánh và nhận

thấy tốc độ tăng trưởng chậm hơn của nghêu M lyrata ở những lô thí nghiệm

kích cỡ có chiều dài vỏ là 1,7cm so với những lô có kích cỡ chiều dài vỏ 1cm Như vậy ở giai đoạn còn non tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các giai đoạn sau Điều này đã được Trần Quang Minh, 1999 & Ngô Trọng Lư, 2006 một lần

nữa khẳng định trong nghiên cứu tốc độ sinh trưởng của nghêu M lyrata giai

đoạn nghêu nhỏ và nghêu lớn

Về mật độ ương con giống:

Một số tài liệu tìm được chủ yếu đề cập đến mật độ ương loài ngao M meretrix, hoặc ương nghêu M lyrata ở giai đoạn ấu trùng chưa xuống đáy, ương nghêu M lyrata ngoài bãi triều Hiện nay chưa có nhiều tài liệu đề cập đến mật

độ ương nghêu M lyrata giai đoạn con giống cấp 1 lên cấp 2 phù hợp nhất trong công nghệ sản xuất giống nghêu M lyrata theo hình thức sản xuất hàng hóa

Tuy nhiên, việc lựa chọn mật độ phù hợp nhất để ương trong bể hoặc ngoài ao

(trước khi thả ngoài bãi triều) con giống nghêu M lyrata cấp 1 (có chiều dài vỏ

khoảng 800µm) lên giai đoạn giống cấp 2 (chiều dài vỏ khoảng 2500µm) rất

quan trọng trong quy mô sản xuất hàng hóa nghêu M lyrata giống khu vực các

tỉnh miền Bắc như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng

Chu Chí Thiết, Martin Skuma & CTV (2008) tại Phân viện Nghiên cứu

Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung bộ đã thử nghiệm ương ấu trùng nghêu M lyrata ở các mật độ khác nhau khác nhau, kết quả cũng cho thấy ở những mật độ

cao sẽ thu được số lượng sản phẩm nhiều hơn, tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ sống

và tốc độ tăng trưởng thì ở những lô ương với mật độ cao thường có tỷ lệ sống thấp, kích thước nghêu thu được cũng nhỏ hơn

Theo khuyến cáo của Trung Tâm Bảo tồn Sinh vật biển & Phát triển Cộng

đồng – MCD (2009) con giống nghêu M lyrata cấp 1 có kích thước khoảng

800µm (khoảng 20.000-30.000con/kg) nên ương ở mật độ 5.000con/m2

Trang 33

Những nghiên cứu về nền đáy:

Chất đáy là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến phân bố của các loài hai mảnh vỏ nói chung Các khu hệ sinh vật thường phản ánh rất chính xác nền đáy mà nó sinh sống (Odum, 1963) Theo Walne, 1979; Quayle & Newkirt, 1989) cho rằng chất đáy không chỉ là giá đỡ, bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây hại

mà quan trọng hơn cả nó là nơi cung cấp dinh dưỡng, tạo nên những biến đổi về thủy lý, hóa và sinh vật tạo điều kiện cho nhiều giống loài cùng sinh sôi, phát

triển trong môi trường nước Theo Trương Quốc Phú (1999) nghêu M lyrata chỉ

phân bố nhiều ở vùng có chất đáy bùn/cát trong đó cát chiếm tỷ lệ 86-91% và bùn chiếm 9-14% Những bãi có thành phần cát chiếm tỷ lệ 98-99% thì không

có nghêu phân bố hoặc có thì mật độ rất thấp (từ 0,05-0,1con/m2) những cá thể này do sóng biển đưa đến

Những nghiên cứu trên nghêu M lyrata trưởng thành, phân bố ngoài tự nhiên cho thấy: đáy nơi nghêu M lyrata sinh sống ngoài tự nhiên phải có thời gian phơi bãi từ 2 – 8 giờ/ngày Nghêu M lyrata sinh sống ở vùng có nền đáy

cát mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10 – 18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi Nghêu (1,5 - 2,5 cm) Độ mặn đặc trưng cho bãi nghêu dao động từ 7 – 25‰; pH nước 6,5 – 8,5 và nhiệt độ là 26 –

32oC (Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục, 1994)

Theo Trương Quốc Phú (1999), nghêu M lyrata phân bố chủ yếu ở vùng

trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, có nền đáy cát hay cát bùn trong đó cát phải chiếm từ 60-90% với kích cỡ hạt từ 0,006-0,25mm (Nguyễn Hữu Phụng, 1996) Trong tự nhiên chưa gặp loài này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát (Nguyễn Thế Ánh & CTV 1999)

Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển & Phát triển Cộng đồng – MCD (2009),

bãi nuôi loài nghêu M lyrata nên có tỷ lệ cát chiếm từ 90-95%, đối với những

bãi có tỷ lệ bùn cao trên 20% hoặc những khu vực bãi triều gần cửa sông – nơi

Trang 34

Trong sản xuất giống nghêu M lyrata, người ta có thể tạo nền đáy cho nghêu M lyrata sinh sống, điển hình là nghiên cứu của tác giả Chu Chí Thiết, Martin Skumar & CTV (2008) đã tiến hành nghiên cứu ương nghêu M lyrata trong các lô thí nghiệm có nền đáy khác nhau, kết quả cho thấy trong nghêu M lyrata ưa sống ở đáy có tỷ lệ cát cao 85-90%, với lô có đáy là bùn chiếm tỷ lệ 100% nghêu M lyrata không sống được

Hiện nay ở các tỉnh miền Bắc giai đoạn ương nghêu M lyrata giống cấp 1

lên con giống cấp 2 được tiến hành chủ yếu trong ao lót bạt lylon không có mái

che hoặc trong bể xi măng có mái che, như vậy việc tạo nền đáy cho nghêu M lyrata sống được người dân tiến hành phối trộn tỷ lệ cát/bùn hợp lý Tuy nhiên ở các kích cỡ nghêu M lyrata tốt nhất để nuôi thả ngoài bãi triều ở mỗi vùng

khác nhau cũng có sự khác nhau; Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), kích thước

giống loài nghêu M lyrata nuôi ngoài bãi triều phù hợp nhất từ 1800-2500µm,

vì ở kích thước này vỏ của ngao đã đủ cứng, giảm được tỷ lệ dập nát trong quá trình khai thác và vận chuyển, kích thước đủ lớn để quan sát bằng mắt thường

do vậy sẽ dễ dàng kiểm soát được mật độ nuôi phù hợp nhất là khi trộn ngao giống với tạp chất để vãi, thả trên bãi triều

Nghiên cứu về sinh trưởng của nghêu M lyrata:

Năm 2008, Như Văn Cẩn, Chu Chí Thiết, Lê Thanh Ghi & CTV đã cho

sinh sản nhân tạo thành công nghêu M lyrata ở quy mô sản xuất hàng hóa tại

Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung bộ và tiến hành nghiên

cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của nghêu M lyrata ở cỡ giống có

chiều dài 1,7cm Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu

M lyrata chiều dài vỏ 1cm (dao động từ 0,94-1,25%.ngày-1) và 1,7cm (dao động

từ 0,32-0,62%.ngày-1) Tuy nhiên ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì nghêu

M lyrata có tốc độ sinh trưởng khác nhau, cụ thể là ở giai đoạn còn nhỏ nghêu

M lyrata có tốc độ tăng trưởng cao hơn ở các giai đoạn sau, điều này đã được

Trang 35

các tác giả như Nguyễn Hữu Phụng & CTV (1996); Baojun & CTV (2006) khẳng định

2.4 Tình hình nuôi nghêu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, nghề nuôi ĐVTM xuất hiện từ những năm 1960 nhưng được phát trển mạnh mẽ trong vòng hơn 15 năm qua Tuy nhiên nghề nuôi ĐVTM đã mang lại nguồn thu lớn, không chỉ góp phần cải thiện sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho các địa phương (Bộ NN&PTNT, 2010)

Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2011), các đối tượng nuôi phổ biến hiện nay

là hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu cửa sông (Crassostrea

rivularis), tu hài (Lutraria philippinarum), vẹm xanh (Perna viridis) trai ngọc

(Pinctada sp), trai ngọc nước ngọt (Hyriopsis sp), ngao dầu (Meretrix meretrix)

và nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) Ở miền Nam, chủ yếu nuôi 3 đối tượng là nghêu (Meretrix lyrata) ở Bến Tre, Tiền Giang và sò huyết (Anadara granosa) ở Kiên Giang và hầu tròn Belcheri (Crassostrea belcheri) ở Cần Giờ, Đồng Nai,

Vũng Tàu

Theo Trương Quốc Phú (1998), từ năm 1982 nghề nuôi nghêu M lyrata

phát triển mạnh mẽ, thu hút được nhiều nguồn đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã tham gia Theo thống kê Bộ NN&PTNT, hiện nay sản phẩm

nghêu M lyrata được xuất sang hơn 10 nước và vùng lãnh thổ, thị trường lớn nhất là Nhật vì nghêu M lyrata là thức ăn truyền thống của người Nhật Bên

cạnh đó còn các nước nhập khẩu lớn khác như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và nước có tiềm năng phát triển như Mỹ

Theo Bộ NN&PTNT (2011) những nguyên nhân chính để nghêu M lyrata

được xem là đối tượng nuôi chủ lực hiện nay ở Việt Nam là do có giá trị kinh tế cao, thị trường xuất khẩu rộng lớn và đáp ứng được tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) của các nước nhập khẩu Đặc biệt vùng nuôi

Trang 36

(Marine Stewardship Council) nên được nhiều nước chú ý Bên cạnh đó, kỹ

thuật nuôi nghêu M lyrata khá đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác của người dân Ngoài ra theo các nghiên cứu gần đây cho thấy, nghêu M lyrata là

đối tượng ăn lọc, có khả năng làm sạch môi trường và sinh trưởng tốt trong điều kiện ao đầm, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Đây là những cơ

sở để thúc đẩy nghề nuôi nghêu M lyrata phát triển nhằm mục đích nâng cao

sản lượng, cũng như góp phần làm sạch môi trường ao nuôi Theo Cục Nuôi

trồng Thuỷ sản (2010) tổng diện tích nuôi nghêu M lyrata trên cả nước năm

2010 là 17.722 ha, sản lượng ước đạt 86.031 tấn

Theo Bộ NN&PTNT (2010) ở khu vực phía Nam, vùng khai thác và phân bố

tự nhiên của nghêu M lyrata khoảng 12.000 ha kéo dài dọc theo vùng ven biển

từ huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) tới Cà Mau, tập trung nhất là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang (Gò Công Đông), Bến Tre (Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú) và Trà Vinh (Cầu Ngang, Duyên Hải) Năm 2010, do nguồn cung cấp nghêu giống tự nhiên ở các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng giảm, nên vùng nuôi tại khu vực cửa sông bị thu hẹp, hiện chỉ còn khoảng 10.800ha, giảm 1.193ha so với năm 2008 Do vậy, các tỉnh hiện đang ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, phấn đấu đạt năng suất ít nhất 7 tấn/ha, sản lượng nghêu đạt 114.500 tấn, sò huyết đạt 25.500 tấn Bên cạnh đó là nhân rộng mô hình nuôi nghêu bền vững sang những vùng có nguồn lợi nghêu phong phú; thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học về sản xuất nhân tạo giống nghêu, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của toàn vùng cũng như cung cấp cho các tỉnh khác trong nước trong những năm tới

Trang 37

Bảng 2.4: Diện tích & Sản lượng nghêu nuôi tại các tỉnh miền Bắc

Từ năm 1996, nghêu M lyrata được một số ngư dân Nam Định chuyển từ

miền Nam ra Nam Định nhằm tìm kiếm loài nuôi mới có khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt hơn so với loài bản địa Diện tích

vùng nuôi và sản lượng nghêu M lyrata nuôi tăng nhanh sau đó và hầu hết các vùng nuôi đã chuyển sang nuôi nghêu M lyrata thay vì nghêu bản địa M meretrix và M lusoria

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT (2010), hiện nay Nam Định là địa phương có diện tích nuôi nghêu lớn nhất miền Bắc, với hơn 1.500 ha bãi triều

thuộc hai huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng, trong đó diện tích nuôi nghêu M lyrata của huyện Giao Thủy là 1.400ha Tại Nam Định nuôi nghêu đã trở thành

sinh kế mang lại thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo đồng thời có tác động tích cực bảo vệ và phát triển các vùng sinh thái tự nhiên

Vì những lợi ích to lớn trên mà hoạt động này cũng đã nhận được sự ủng hộ của các tổ chức trong nước và quốc tế như Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 (RIA1)

Các tỉnh ven biển miền Bắc bên cạnh những thuận lợi như có diện tích bãi

triều, bãi gần cửa sông, nguồn thức ăn phong phú thích hợp cho nghêu M lyrata

Trang 38

sinh trưởng và phát triển, nghề nuôi nghêu tại các tỉnh miền Bắc nói chung cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức đó là:

- Miền Bắc thường hứng chịu những đợt gió mùa Đông Bắc, mùa đông thường diễn ra kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ thường thấp 10-170C Với ngưỡng nhiệt độ thấp sẽ làm chậm quá trình sinh

trưởng và phát triển của nghêu M lyrata Mùa vụ sản xuất giống nghêu M lyrata chỉ tập trung trong khoảng 3 tháng từ cuối tháng 5 đến hết tháng 8, khi

nhiệt độ đã cao đạt trung bình 25-300C Cũng chính thời vụ sản xuất giống nghêu

M lyrata, ở miền Bắc hay xảy ra mưa rào làm ảnh hưởng đến chất lượng nghêu M lyrata bố mẹ tham gia sinh sản, ảnh hưởng xấu đến con giống, đặc biệt những trại giống cho đẻ nghêu M lyrata ngoài đầm không có mái che, nghêu M lyrata mới

xuống đáy gặp mưa rất dễ bị chết gây thiệt hại lớn cho trại sản xuất giống Các tỉnh như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa cũng thường xuyên chịu đựng các cơn bão (trung bình 5-7 cơn bão/năm) gây thiệt hại lớn cho

Nuôi trồng Thủy sản nói chung và nuôi nghêu M lyrata nói riêng

- Các tỉnh Nam Định, Thái Bình có diện tích bãi bồi cửa sông rất lớn, đây

cũng là khu vực nghêu M lyrata bố mẹ sinh sản ngoài tự nhiên Tuy nhiên

những năm gần đây hiện tượng ô nhiễm do nước thải mà dòng nước sông mang theo đổ ra khu vực cửa sông đã làm ô nhiễm chất lượng nước, nền đáy khu vực bãi bồi gần cửa sông ảnh hưởng xấu đến phân bố nguồn lợi thủy sản tự nhiên, sức khỏe của động vật thủy sản được nuôi bằng nguồn nước đó

- Trong những năm gần đây, bệnh trên nghêu M lyrata bùng phát làm cho

nghêu nuôi chết cục bộ với số lượng nhiều tại các tỉnh Nam Định, Thái Bình gây thiệt hại rất lớn về kinh tế Viện NCNTTS1 đã tiến hành thu mẫu, xét nghiệm

phát hiện sự hiện diện của ký sinh trùng đơn bào nội ký sinh Perkinsus sp, là

loại ký sinh trùng thường gây chết trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn cao

Tóm lại, Nghêu M lyrata là một trong những đối tượng nuôi chủ lực hiện

nay ở Việt Nam do có giá trị kinh tế cao, thị trường xuất khẩu rộng lớn Bên

Trang 39

cạnh đó, kỹ thuật nuôi nghêu M lyrata khá đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác của người dân Ngoài ra theo các nghiên cứu gần đây cho thấy, nghêu M lyrata là đối tượng ăn lọc, có khả năng làm sạch môi trường và sinh trưởng tốt

trong điều kiện ao đầm, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Tuy

nhiên những nghiên cứu về nghêu M lyrata còn hạn chế, quy trình kỹ thuật nuôi

nghêu còn chưa được hoàn thiện, người dân chủ yếu nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến, nguồn cung cấp con giống nghêu chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, vấn đề dịch bệnh diễn biến khá phức tạp Vì vậy, cần có thêm nhiều

các nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống nghêu M lyrata theo

hướng sản xuất hàng hóa, các nghiên cứu về bệnh

Ngày đăng: 22/11/2014, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tác An, Nguyễn Văn Lục (1994). Nghiên cứu các nguồn lợi Hải sản và các điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý các thủy vực ven bờ tỉnh Trà Vinh. NXB Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nguồn lợi Hải sản và các điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý các thủy vực ven bờ tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Nguyễn Tác An, Nguyễn Văn Lục
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
2. Thái Trần Bái &amp; CTV (1978). Động vật không xương sống (tập 1), NXB Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật không xương sống
Tác giả: Thái Trần Bái &amp; CTV
Nhà XB: NXB Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1978
3. Bộ NN&amp;PTNT, 2010. Tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản từ năm 2005-2010 của Việt Nam. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nuôi trồng và khai thác thủy sản từ năm 2005-2010 của Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
4. Như Văn Cẩn &amp; CTV, 2008. Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của 2 cỡ nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) nuôi ở bãi triều. Báo cáo nghiệm thu Dự án CARD: VIE 027/05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của 2 cỡ nghêu Meretrix lyrata" (Sowerby, 1851) "nuôi ở bãi triều
5. Nguyễn Chính, 1996. Một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalve Mollusc) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam. NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. 132 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalve Mollusc) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. 132 tr
6. Nguyễn Đình Hùng &amp; CTV (2003). Nghiên cứu sản xuất giống nghêu M. lyrata. Tuyển tập hội thảo toàn quốc lần thứ 3 về ĐVTM, tr100-tr111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản xuất giống nghêu M. "lyrata
Tác giả: Nguyễn Đình Hùng &amp; CTV
Năm: 2003
8. Trương Quốc Phú, 1999. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật nuôi nghêu M. Lyrata đạt năng suất cao. Luận án tiến sỹ khoa học Nông nghiệp, tr30-tr60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật nuôi nghêu "M". Lyrata đạt năng suất cao
9. Nguyễn Hữu Phụng, 1996. Đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi ấu trung nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby). Tạp chí Khoa học và công nghệ số 7 và 8, tr 13-21 và 14 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi ấu trung nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby)
10. Trần Quang Minh, 2001. Một số đặc tính sinh học chính dưới ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái môi trường tự nhiên. Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo thân mềm toàn quốc lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc tính sinh học chính dưới ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái môi trường tự nhiên
11. Hà Đức Thắng &amp; CTV (2005). Báo cáo đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và xây dựng quy trình sản xuất giống vẹm xanh và nghêu ở miền Bắc – Việt Nam. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và xây dựng quy trình sản xuất giống vẹm xanh và nghêu ở miền Bắc – Việt Nam
Tác giả: Hà Đức Thắng &amp; CTV
Năm: 2005
12. Hà Đức Thắng, 2005. Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và xây dựng quy trình sản xuất giống nghêu M. meretrix ở miền Bắc. Báo cáo tổng kết đề tài của dự án DANIDA, Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&amp;PTNT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và xây dựng quy trình sản xuất giống nghêu" M. "meretrix ở miền Bắc
13. Chu Chí Thiết và Martin S Kumar, 2008. Tài liệu về kỹ thuật sản xuất giống nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851). Báo cáo dự án CARD 027/05 VIE, lưu trữ tại cơ sở dự liệu của chương trình CARD. www.card.vn.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu về kỹ thuật sản xuất giống nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
14. Nguyễn Thị Xuân Thu, 2003. Tổng quan về tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi ĐVTM ở Việt Nam – Định hướng phát triển. Tuyển tập hội thảo toàn quốc về nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong Nuôi trồng Thủy sản, tr 63-tr 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tình hình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi ĐVTM ở Việt Nam – Định hướng phát triển
15. Nguyễn Thị Xuân Thu, 2011. Kỹ Thuật sản xuất giống &amp; nuôi ĐVTM. Giáo trình giảng dạy cao học Nuôi trồng Thủy sản, 153tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ Thuật sản xuất giống & nuôi ĐVTM
16. Lương Đình Trung, Ngô Trọng Lư, Lê Thị Kim Cúc (1997). Kỹ thuật nuôi trồng đặc sản biển. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi trồng đặc sản biển
Tác giả: Lương Đình Trung, Ngô Trọng Lư, Lê Thị Kim Cúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
17. Trung tâm Bảo tồn Sinh vật Biển &amp; Phát triển Cộng đồng (2009). Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật sản xuất giống và nuôi nghêu M. lyrata. NXB Hà Nội, tr6- tr14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật sản xuất giống và nuôi nghêu M. lyrata
Tác giả: Trung tâm Bảo tồn Sinh vật Biển &amp; Phát triển Cộng đồng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
1. Baker, S., Hoover, E. and Sturmer, L., 2007. The role of salinity in Hard clam. Aquaculture, CIR1500. University of Florida Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of salinity in Hard clam. Aquaculture, CIR1500
2. Helm, M.M. and Bourne, N., 2004. Hatchery culture of bivalves, a practical manual. FAO fisheries technical paper 471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hatchery culture of bivalves, a practical manual
3. Jones, G.G., Sanford, C.L., Jones, B.L., 1993. Manila clam: Hatchery and Nursery Methods. Innovative Aquaculture Products Ltd. www.InnovativeAqua.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manila clam: Hatchery and Nursery Methods
4. Quayle D.B &amp; Newkirk G.F (1989). Farming bivalve molluscs methods study and development. Advance in world aquaculture, pp 1-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Farming bivalve molluscs methods study and development
Tác giả: Quayle D.B &amp; Newkirk G.F
Năm: 1989

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam Định (trạm Văn Lý)  theo các tháng trong năm (tính  trung bình 5 năm 2005-2009) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam Định (trạm Văn Lý) theo các tháng trong năm (tính trung bình 5 năm 2005-2009) (Trang 12)
Bảng 2.2: Độ mặn trung bình biển Nam Định các tháng trong năm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 2.2 Độ mặn trung bình biển Nam Định các tháng trong năm (Trang 13)
Bảng 2.4: Diện tích &amp; Sản lượng nghêu nuôi tại các tỉnh miền Bắc  Tỉnh  Diện tích (ha)  Sản lượng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 2.4 Diện tích &amp; Sản lượng nghêu nuôi tại các tỉnh miền Bắc Tỉnh Diện tích (ha) Sản lượng (Trang 37)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ: - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm mật độ: (Trang 43)
Sơ đồ thí nghiệm chất đáy: - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Sơ đồ th í nghiệm chất đáy: (Trang 45)
Bảng 4.1: Kết quả theo dừi cỏc yếu tố mụi trường trong quỏ trỡnh thớ nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 4.1 Kết quả theo dừi cỏc yếu tố mụi trường trong quỏ trỡnh thớ nghiệm (Trang 48)
Bảng 4.2: Kết quả theo dừi sinh trưởng của nghờu M. lyrata ương từ giai  đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 4.2 Kết quả theo dừi sinh trưởng của nghờu M. lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau (Trang 51)
Bảng 4.4: Kết quả thí nghiệm ương nghêu giai đoạn con giống cấp 1 lên cấp 2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 4.4 Kết quả thí nghiệm ương nghêu giai đoạn con giống cấp 1 lên cấp 2 (Trang 54)
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diến tỷ lệ sống của nghêu M. lyrata thí nghiệm ở các  mật độ ương khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Hình 4.1 Biểu đồ biểu diến tỷ lệ sống của nghêu M. lyrata thí nghiệm ở các mật độ ương khác nhau (Trang 55)
Bảng 4.5: Kết quả theo dừi sinh trưởng của con giống nghờu M. lyrata ương  từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 4.5 Kết quả theo dừi sinh trưởng của con giống nghờu M. lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng (Trang 56)
Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu ương từ giai đoạn  giống cấp 1 lên cấp 2  ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Bảng 4.6 Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn (Trang 57)
Hình  4.2  là  biểu  diễn  sự  biến  động  theo  thời  gian  thí  nghiệm  tỷ  lệ  sống  của nghêu trong các nghiệm thức nền đáy khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
nh 4.2 là biểu diễn sự biến động theo thời gian thí nghiệm tỷ lệ sống của nghêu trong các nghiệm thức nền đáy khác nhau (Trang 59)
Hình 4.2: Tỷ lệ sống của nghêu thí nghiệm ở các nền đáy với tỷ lệ phần  trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu bến tre (meretrix lyrata sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền bắc
Hình 4.2 Tỷ lệ sống của nghêu thí nghiệm ở các nền đáy với tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w