NGUYỄN VĂN THUẦN Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre Meretrix lyrata Sowerby, 1851 giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con gi
Trang 1
NGUYỄN VĂN THUẦN
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến sinh trưởng, tỷ lệ
sống của nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn ương
con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền Bắc
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ XUÂN THU
Bắc Ninh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN I
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thuần
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia khóa học này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Thu, là giáo viên hướng dẫn đề tài đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên Trung tâm giống hải sản Nam Định – Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, các chủ trang trại sản xuất nghêu giống tại Nam Định là anh Nguyễn Hồng Quân và anh Nguyễn Thanh Khiết đã
hỗ trợ tôi về mặt trang thiết bị nghiên cứu để hoàn thành các nội dung của đề tài
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình tôi, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
2 Chi cục KT&BVNLTS Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi
4 Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện tự nhiên của địa điểm nghiên cứu 3
2.1.1 Khí hậu 3
2.1.2 Thủy văn 4
2.1.3 Độ mặn 5
2.1.4 Độ pH 5
2.1.5 Độ đục 6
2.1.6 Chất đáy 6
2.2 Đặc điểm sinh học nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) 7
2.2.1 Vị trí phân loại 7
2.1.2 Đặc điểm phân bố 8
2.1.3 Tập tính sống 10
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 11
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 12
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 14
2.1.7 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng nghêu M lyrata 16
2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới 17
2.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam 21
2.4 Tình hình nuôi nghêu tại Việt Nam 27
PHẦN III - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
Trang 63.1.1 Thời gian nghiên cứu 32
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 32
3.2 Đối tượng nghiên cứu 32
3.3 Vật liệu nghiên cứu 32
3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 33
3.4.1 Thí nghiệm mật độ ương 33
3.4.2 Thí nghiệm về chất đáy 36
3.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu cần theo dõi 38
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 39
PHẦN IV - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 40
4.2 Kết quả theo dõi sinh trưởng & Tỷ lệ sống của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 42
4.2.1 Kết quả theo dõi sinh trưởng của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 42
4.2.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 46
4.3 Kết quả theo dõi sinh trưởng & Tỷ lệ sống của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 48
4.3.1 Kết quả theo dõi sinh trưởng của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ bùn/cát khác nhau 48
4.3.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ cát/bùn khác nhau 50
PHẦN V - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề xuất 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 58
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam Định (trạm Văn Lý) theo
các tháng trong năm (tính trung bình 5 năm 2005-2009) 4
Bảng 2.2: Độ mặn trung bình biển Nam Định các tháng trong năm 5
Bảng 2.3: Độ đục nước biển Nam Định 6
Bảng 2.4: Diện tích & Sản lượng nghêu nuôi tại các tỉnh miền Bắc 29
Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 40
Bảng 4.2: Kết quả theo dõi sinh trưởng của nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 43
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở các mật độ khác nhau 45
Bảng 4.4: Kết quả thí nghiệm ương nghêu giai đoạn con giống cấp 1 lên cấp 2 46
Bảng 4.5: Kết quả theo dõi sinh trưởng của con giống nghêu M lyrata ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 48
Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 ở nền đáy có tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 49
Bảng 4.7: Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của nghêu ương ở các nghiệm thức nền đáy với tỷ lệ cát/bùn khác nhau 51
Bảng 4.8: Tỷ lệ cát/bùn trong các bãi nuôi nghêu M lyrata khu vực Tiền Hải – Thái Bình 53
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Nghêu Bến Tre M lyrata (Sowerby, 1851) 7
Hình 3.1: Công thức pha độ mặn nước biển 33
Hình 3.2: Sơ đồ thí nghiệm mật độ ương giống nghêu M lyrata 35
Hình 3.3: Sơ đồ thí nghiệm chất đáy ương giống nghêu M lyrata 37
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diến tỷ lệ sống của nghêu M lyrata thí nghiệm ở các mật độ ương khác nhau 47
Hình 4.2: Tỷ lệ sống của nghêu thí nghiệm ở các nền đáy với tỷ lệ phần trăm trọng lượng cát/bùn khác nhau 52
Trang 9PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ
(Bivalvia) Ở Việt Nam chúng phân bố tự nhiên tại các khu vực vùng triều cửa sông ven biển các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Gò Công Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Bình Đại, Ba Tri, Thạch Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng) (Nguyễn Chính, 1996) Từ năm 1999 trong việc tìm
kiếm đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu của miền Bắc, nghêu M lyrata
được người dân đưa vào nuôi thử nghiệm ở một số vùng cửa sông ven biển các tỉnh như Thái Bình, Nam Định và đã cho kết quả tốt (Nguyễn Kim Độ, 1999)
Hiện nay, nghêu M lyrata là một trong những đối tượng nuôi thuỷ sản
chủ lực ở Việt Nam phục vụ xuất khẩu, diện tích và sản lượng nuôi khá lớn; Một
số vùng nuôi tập trung đã đáp ứng được tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) và chứng chỉ MSC của Hội đồng Biển Quốc tế (Marine Stewardship Council) nên sản phẩm được xuất khẩu sang nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có cả các thị trường khó tính như EU, Nhật, Mỹ Bên cạnh
đó, kỹ thuật nuôi nghêu M lyrata đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác của
người dân Do đặc tính ăn lọc, sử dụng thức ăn trong môi trường tự nhiên nên nghêu có khả năng làm sạch môi trường và sinh trưởng tốt trong điều kiện ao đầm, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Đây là cơ sở thúc đẩy
sự phát triển, mở rộng diện tích vùng nuôi đối với đối tượng này trong thời gian tới, nhằm mục đích nâng cao sản lượng, cũng như góp phần làm sạch môi trường ao nuôi
Nuôi nghêu M lyrata ở nước ta hiện nay chủ yếu theo phương thức quảng
canh và quảng canh cải tiến dựa vào nguồn giống tự nhiên Việc khai thác con giống một cách ồ ạt, thiếu trách nhiệm đã làm cho nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm Vì vậy, vấn đề bức thiết được đặt ra hiện nay là nghiên cứu sản xuất
Trang 10nhân tạo giống nghêu M lyrata để đáp ứng nhu cầu nuôi của người dân và góp
phần vào việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên
Ở nước ta, nghiên cứu sản xuất giống nghêu M lyrata đã được thực hiện bởi Nguyễn Đình Hùng & CTV (2002) nhưng tỷ lệ sống của nghêu M lyrata
giống giai đoạn sau khi xuống đáy thấp (8-24%) Chu Chí Thiết & Martin S Kumar
(2008) đã bước đầu thành công trong việc ương nuôi nghêu M lyrata giống cấp 1 lên
cấp 2 trong bể hoặc trong ao có kiểm soát thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp
để tăng tỷ lệ sống, chủ động cung cấp con giống cho người nuôi, tuy nhiên có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống giai đoạn này là mật độ ương và chất đáy còn chưa được nghiên cứu làm rõ
Xuất phát từ thực tế trên và nhằm bổ sung thêm những thông tin cần thiết
để xây dựng quy trình sản xuất nhân tạo nghêu M lyrata theo quy mô hàng hóa
tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương và chất đáy đến
sinh trưởng, tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn ương con giống cấp 1 lên con giống cấp 2 tại miền Bắc ”
Mục tiêu của đề tài:
Xác định mật độ và chất đáy phù hợp để ương nghêu M lyrata giai đoạn
từ con giống cấp 1 (chiều dài vỏ khoảng 850µm) lên con giống cấp 2 (chiều dài
vỏ khoảng 2500µm), góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo
nghêu M lyrata ở quy mô hàng hóa
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của
nghêu M lyrata giai đoạn ương con giống từ cấp 1 lên cấp 2
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất đáy lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của
nghêu M lyrata giai đoạn ương con giống từ cấp 1 lên cấp 2
3 Theo dõi biến động một số yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm (như nhiệt độ, oxy hòa tan, độ mặn)
Trang 11PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tự nhiên của địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Khí hậu
Khí hậu Nam Định mang tính chất vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh với các đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng ven biển miền Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa hè (mùa mưa) từ tháng 5 đến tháng 10 thời tiết nóng
ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ nước mùa hè dao động từ 23-300C tương đối thuận lợi
cho việc sản xuất giống và nuôi nghêu M lyrata; Mùa đông (mùa khô) thường
kéo dài từ tháng 11, 12 năm trước đến tháng 4 của năm sau, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc Đặc điểm chính là khô, lạnh hay có mưa phùn Trong mùa này, nhiệt độ xuống thấp nên không thuận lợi đối với sản xuất giống và
nuôi nghêu M lyrata, ngao dầu M meretrix, nuôi tôm…
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm tại khu vực vùng biển Nam Định – Thái Bình vào khoảng 23,80C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng ven biển miền Bắc là không đáng kể (Vũ Đình Thịnh, 2001)
Theo TTKTQG (2010), số giờ nắng hàng năm ở các tỉnh ven biển miền Bắc là 1.596 giờ Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 5 (184,4 giờ) Tháng có giờ nắng thấp nhất là tháng 2 (45,9 giờ) Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.689,2mm; trung bình tháng là 129,9mm Tháng có lượng mưa cao nhất thường
là tháng 9 (301,3mm), tháng thấp nhất thường là tháng 1 (17mm) Nói chung, lượng mưa trung bình hàng năm lớn, nhưng phân bố không đều trong năm, thường tập trung từ tháng 8-10 Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% lượng mưa hàng năm Theo Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định (2010) hiện tượng nghêu
M lyrata nuôi ngoài bãi triều chết hay gặp nhất vào thời gian mùa mưa, mưa nhiều cũng làm gây thiệt hại lớn cho sản xuất giống nghêu M lyrata, giai đoạn
nghêu còn nhỏ đang được ương trong ao
Trang 122.1.2 Thủy văn
Đặc điểm thủy văn cơ bản của hệ thống sông Hồng là: mực nước trung bình 1,52m, mực nước cao nhất tới 5,77m (lũ năm 1971) Mực nước tối thiểu 0,32m Lưu lượng trung bình 896m3/giây
Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam Định (trạm Văn Lý)
theo các tháng trong năm (tính trung bình 5 năm 2005-2009)
Tháng trong
năm
Nhiệt độ ( o C)
Lượng mưa (mm)
Giờ nắng (giờ)
Độ ẩm (%)
Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2009
Thủy triều tại vùng biển Nam Định là chế độ nhật triều tương đối thuần nhất, hầu hết số ngày trong tháng trên dưới 25 ngày, hầu như mỗi ngày chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng Tuy vậy trong tháng, số ngày có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng có khoảng 5-7 ngày Kỳ nước cường thường xảy ra 2-3
Trang 13ngày sau ngày mặt trăng có độ xích vĩ lớn nhất: mực nước lên xuống nhanh, có thể 0,5m/1giờ Độ cao thủy triều tới 3,6m, độ chênh lệch triều có thể tới 3m
Do ảnh hưởng của thủy triều và với chế độ thủy văn của các sông thuộc Nam Định (hệ thống sông Hồng), vào mùa cạn, nước mặn có thể xâm nhập sâu vào vùng của sông hàng chục kilomet, gây bất lợi cho việc lấy nước cho trồng trọt, nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ vùng cửa sông, ven sông (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2010)
2.1.3 Độ mặn
Độ mặn vùng bờ biển các tỉnh ven biển miền Bắc nói chung biến thiên rộng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, độ mặn vùng cửa sông thấp thường từ 5-15‰ Vùng ven biển ổn định từ 19-20,9‰ Một số điểm có độ mặn từ 25-34‰ Mùa khô nước ven bờ cao hơn từ 22-23‰ (Nguyễn Hữu Phụng, Võ Sĩ Tuấn & Nguyễn Huy Yết, 2001)
Theo trạm thủy văn Văn Lý năm 2009 độ mặn trung bình các tháng trong năm tại bờ biển khu vực Nam Định như sau:
Bảng 2.2: Độ mặn trung bình biển Nam Định các tháng trong năm
pH này là phù hợp cho sinh trưởng của nghêu M lyrata
Trang 142.1.5 Độ đục
Theo Đỗ Văn Khương (1991), nước vùng biển Nam Định (nhất là cửa sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Hồng) chịu ảnh hưởng của vùng châu thổ sông Hồng nên có độ đục cao Theo số liệu điều tra của Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định (2009) cho thấy hàm lượng phù sa trung bình tại vùng triều Nam Định có trong nước mùa mưa và mùa khô như sau:
Bảng 2.3: Độ đục nước biển Nam Định
Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định, 2009
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Địa chất – Viện Khoa học Việt Nam (1992) hàm lượng các muối dinh dưỡng (NH+4; NO3
-; NO-2; SiO2-2; PO4
3-) ở vùng biển châu thổ sông Hồng cao hơn các vùng biển khác Độ đục cao, hàm lượng các
muối dinh dưỡng lớn đã tạo nguồn thức ăn đa dạng cho nghêu M lyrata phát triển
tốt tại các địa điểm nuôi ở Nam Định (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định)
2.1.6 Chất đáy
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục (1994) đã chỉ ra rằng các bãi triều khu vực các tỉnh Nam Định, Thái Bình có tỷ
lệ cát/bùn khoảng 65-85%, thời gian phơi bãi từ 2-8giờ/ngày là thích hợp cho
nghêu M lyrata sinh trưởng
Tuy nhiên, đặc trưng của các bãi nghêu M lyrata phân bố ở Nam Định là
biến đổi theo mùa rõ rệt, chúng phụ thuộc vào dòng chảy của thủy triều, phụ thuộc mùa… Qua theo dõi của Chi cục KT&BVNLTS Nam Định cho thấy có
một phần diện tích mới được đưa vào sử dụng để nuôi nghêu M lyrata, bên cạnh
đó cũng có một số diện tích trước đây đã nuôi nghêu M lyrata hiện nay bị bùn
phù sa bồi lắng gây ra sự xáo trộn tỷ lệ bùn/cát dẫn đến không còn phù hợp
Trang 15Tóm lại, với những điều kiện tự nhiên thuận lợi về khí hậu, thủy văn và các điều kiện kinh tế, xã hội khác đã tạo tiềm năng cho phát triển nuôi trồng thủy
sản nói chung, nuôi nghêu M lyrata ở Nam Định nói riêng Theo Bộ NN&PTNT (2010) Nam Định có 1.500ha bãi triều nuôi nghêu M lyrata thuộc 2 huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng, là tỉnh có diện tích nuôi và sản lượng nghêu M lyrata lớn
nhất miền Bắc Ngoài ra, cần phải tìm cách khắc phục được những khó khăn do khí hậu như lựa chọn mùa vụ nuôi hợp lý, địa điểm nuôi phù hợp, phát triển đầu ra cho sản phẩm, quy hoạch vùng nuôi hợp lý (Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định)
2.2 Đặc điểm sinh học nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
2.2.1 Vị trí phân loại
Nghiên cứu của các tác giả Habe và Sadao (1996), Nguyễn Chính (1996),
đã sắp xếp Nghêu M lyrata theo hệ thống phân loại như sau:
Loài: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng Anh: Hard Clam, Lyrate Asiatic
Tên khoa học: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng Việt: Nghêu Bến Tre
Trang 16Các tác giả Nguyễn Chính, 1996; Kappner & Bieler (1997), Trương Quốc
Phú (1999) đã mô tả hình thái cấu tạo ngoài của nghêu M lyrata (Sowerby,
1851) như sau: cơ thể nghêu được bao bọc bởi hai mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), vỏ dày chắc, cạnh trước ngắn hơn (chỉ bằng 2/3 chiều dài cạnh sau), dính chặt nhau bằng một bản lề và góc vỏ có răng khớp rất khít
Mặt trong của vỏ nghêu M lyrata có màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình
bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau to hình bầu dục Hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nội tạng của nghêu Phía mép của 2 màng áo gần bụng dính lại hình thành 2 vòi nước (vào và ra) hay còn gọi là vòi xi phông Vòi nước vào nằm ở phía bụng, vòi nước ra nằm ở phía lưng Vòi xi phông của nghêu to và ngắn
Chân nghêu to hình lưỡi dùng để đào cát, chân nằm ở phía bụng Nghêu M lyrata có miệng là một rãnh nằm ngang ở phía trước cơ thể, trong miệng có tấm
môi ngoài, môi trong và tiêm mao để vận chuyển và lựa chọn thức ăn Mang là
cơ quan hô hấp chủ yếu Ngoài ra các vi mạch trên môi và màng áo ngoài cũng
có tác dụng bổ trợ cho quá trình hô hấp
Theo Nguyễn Đình Hùng (2000) nghêu M lyrata có hình dạng rất giống ngao dầu M meretrix, nhưng kích thước nhỏ hơn ngao dầu Nghêu M lyrata lớn
có chiều dài 40-50mm, chiều cao 40-45mm và chiều rộng 30-35mm; Mặt trong
vỏ nhẵn trơn, màu trắng, có các vết in của cơ khớp vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước; Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trắng xám hoặc nâu, trên mặt vỏ có nhiều đường gân lồi gần như song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và thưa dần về phía mặt bụng là những vòng sinh trưởng đồng tâm
2.1.2 Đặc điểm phân bố
* Phân bố theo địa lý:
Trên thế giới họ nghêu có tới 500 loài, phân bố rộng ở vùng bãi triều ven biển của các nước ôn đới và nhiệt đới (Nguyễn Hữu Phụng & Võ Sỹ Tuấn,
1996); trong đó nghêu M lyrata phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm Tây Thái Bình
Trang 17Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam; Nguyễn Thế Ánh & CTV (1999) cũng
cho rằng nghêu M lyrata phân bố ở vùng biển nhiệt đới và Á nhiệt đới
Ở Việt Nam, nghêu M lyrata phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ
như: Cần Giờ (Tp.HCM), Gò Công (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) và Cầu Ngang, Duyên Hải của Trà Vinh (Nguyễn Chính, 1996)
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX do quá trình di nhập giống ra miền Bắc nên đã xuất hiện nghêu ở các bãi ven biển, cửa sông của các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Tại Nam Định, diện
tích nuôi nghêu M lyrata năm 2010 là 1.500 ha, tập trung ở 2 huyện Giao Thủy
và Nghĩa Hưng, là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi nghêu M lyrata lớn nhất
miền Bắc (Bộ NN&PTNT, 2011)
* Phân bố theo sinh thái:
Theo Trương Quốc Phú (1999) thì nghêu phân bố chủ yếu ở vùng trung
triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng Thường gặp nghêu M lyrata ở nền đáy cát hay cát bùn trong đó cát phải chiếm từ 60-90% với kích cỡ
hạt từ 0,006-0,25mm (Nguyễn Hữu Phụng, 1996) Trong tự nhiên chưa gặp loài này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát (Nguyễn Thế Ánh & CTV 1999)
Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) cho rằng nghêu phân bố
ở vùng thời gian phơi bãi từ 2 – 8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu M lyrata lúc nước ròng là 2,5m Nghêu M lyrata phân bố ở vùng có nền đáy cát
mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10 – 18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi nghêu (1,5 - 2,5cm) Độ mặn đặc trưng cho bãi nghêu dao động từ 7 – 25‰; pH nước 6,5 – 8,5 và nhiệt độ là 26 – 32oC
Theo Nguyễn Văn Hảo & CTV (1999) bãi nghêu M lyrata thường phân
bố ở gần cửa sông có gió nhẹ, có nguồn nước ngọt chảy vào Chúng phân bố từ vùng trung triều, hạ triều, cho đến độ sâu 1-2m nước, có khi bắt gặp ở cả độ sâu
Trang 18Nghêu M lyrata là loài thân mềm 2 mảnh vỏ sống rộng nhiệt, chúng có
thể sống trong điều kiện nhiệt độ từ 5 – 350C, khoảng nhiệt độ thích hợp cho
nghêu M lyrata phát triển là 28-310C, tốc độ dòng chảy 0,1-0,25m/s, hàm lượng
oxy hòa tan khoảng 4-6mg/l, pH 6-9, khoảng độ muối phù hợp cho nghêu M lyrata phát triển là 22-25‰ (Rubi, 2000)
2.1.3 Tập tính sống
Nghêu M lyrata là loài sống đáy, ở điều kiện bình thường nghêu dùng
chân đào bới, vùi mình trong đáy cát/bùn sâu từ 2-4cm, khi gặp điều kiện không thuận lợi như nhiệt độ giảm, độ muối thay đổi đột ngột chúng thường tiết nhớt nổi thành lớp váng trên bề mặt nước và di chuyển đi nơi khác có điều kiện thích hợp hơn (Calin, 1951) Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999) cũng chỉ ra rằng khi độ muối giảm xuống còn 5ppm thì hầu hết nghêu di chuyển tới
vùng mới nơi có độ muối cao hơn Do vậy, bãi nghêu M lyrata ngoài tự nhiên
có xu hướng dịch chuyển từ bờ ra xa vào mùa mưa và mùa khô có xu hướng tiến lại gần bờ nên diện phân bố của nghêu vào mùa khô rộng hơn so với mùa mưa
Theo Quayle & Newkirt (1989) trong quá trình sinh trưởng và phát triển
của nghêu M lyrata nói riêng và ĐVTM hai mảnh vỏ nói chung, hầu hết phải
trải qua hai giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và xuống đáy: Sau khi trứng nở chuyển sang giai đoạn ấu trùng phù du gồm các giai đoạn nhỏ: Trochophore, Veliger và
ấu trùng Umbo Giai đoạn này, ấu trùng trôi nổi trong nước, sự phân bố của chúng phụ thuộc rất lớn vào dòng chảy và thủy triều Theo Walne (1979) cho rằng, kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du là giai đoạn sống đáy, lúc này đã hình thành chân, màng áo và cơ khép vỏ Giai đoạn này ấu trùng có thể vừa bơi vừa
bò còn gọi là ấu trùng bò lê, chúng có thể kéo dài trong vài ngày cho đến khi tìm được vật bám, đáy thích hợp, nếu không chúng sẽ chết ở ngày thứ 4
- Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn trưởng thành nghêu M lyrata sống
vùi mình trong đáy Để hô hấp và lấy thức ăn trong nước, nghêu thò vòi lên mặt
Trang 19bãi Vòi nghêu ngắn nên chúng không thể chui sâu, thường chỉ cách đáy vài centimet Vào mùa lạnh nghêu vùi mình xuống sâu, nhưng không quá 10cm
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của nghêu M lyrata của Trương
Quốc Phú (1999) chỉ ra rằng nghêu thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu Mùa
hạ nghêu sống ở vùng triều cao, thời gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên nghêu phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn Mùa thu nhiệt
độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh nghêu cũng phải di
chuyển xuống vùng sâu Hiện tượng nghêu M lyrata di chuyển cũng liên quan
tới sinh sản, khi nghêu thành thục sinh dục thường di chuyển nhiều hơn thời kỳ tiền trưởng thành
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng & CTV (2001); Trương Quốc Phú (1999) đều cho thấy nghêu là loài ăn lọc thành phần thức ăn tự nhiên của nghêu là mùn bã và các mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong nước khoảng 75-90%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ thấp khoảng 10-25% về số lượng cũng như tần số bắt gặp, chủ yếu là tảo silic (tảo khuê) Theo Trần Thái Bái & CTV (1978) thì nhóm Bivalvia bắt mồi theo cách lọc nhờ hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước qua mang Quá trình bắt mồi diễn ra một cách thụ động, chỉ có những hạt thức ăn có kích thước phù hợp được chọn lọc (Quayle & Newkirk, 1989)
Cùng quan điểm với tác giả Thái Trần Bái (1978); Elizabeth Gosling (2003) cho rằng hoạt động bắt mồi của loài hai mảnh vỏ được thực hiện theo cách lọc nhờ vào hoạt động của các tấm mang trong quá trình hô hấp, nước mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các tiêm mao nằm trên tia mang Tuy nhiên, chúng vẫn có sự chọn lựa thức ăn theo kích thước Các kết quả này giống
với kết luận của Tammes & Dral (1950) rằng nghêu M lyrata thường chọn các
mảnh vụn hữu cơ, các loài thực vật phù du có kích cỡ < 10 µm
Trang 20Theo Purchon (1977) cho rằng thức ăn của giai đoạn ấu trùng của nhóm Bivalvia là vi khuẩn, tảo khuê, mùn bã hữu cơ và nguyên sinh động vật có kích thước nhỏ khoảng 10µm hoặc nhỏ hơn Nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho thấy sinh vật phù du hiện diện trong ống tiêu hóa của nghêu chiếm khoảng 10%, trong khi hàm lượng mùn bã hữu cơ chiếm đến 90% Các giống tảo thường bắt
gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể đến Coscinodiscus (9loài), Pleurosigma (3 loài), Cyclotella (3 loài), Rhizosolenia (3 loài)
Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) khi nghiên cứu thành phần thức ăn của
nghêu Meretrix lyrata giai đoạn đã trưởng thành được nuôi ở tỉnh Trà Vinh thì
thành phần thức ăn chính của nghêu là mùn bã hữu cơ chiếm 75-90%, tảo chiếm 10-25% Trong thành phần tảo thì tảo silic (Baciloriophyta) chiếm 90-95%, tảo giáp (Pyrophyta) chiếm 3,3-6,6%, tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (Chlorophyta)
và tảo vàng ánh (Chrysophyta) chiếm 0,8-1%
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Theo nghiên cứu của Gilbert (1973) cho thấy nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý và chi phối sinh trưởng đến nhóm Bivalvia, kích thước tối đa và sinh trưởng giảm, tuổi thọ tăng khi đi từ vĩ độ thấp đến vĩ độ cao Nghiên cứu
của McDonald & Thomson (1988) cho thấy kết quả quần thể nghêu M lyrata
sống ở vùng nước sâu có kích cỡ nhỏ hơn vùng nước nông trong cùng thời gian sinh trưởng
Angell (1986) chỉ ra rằng trong điều kiện đầy đủ thức ăn thì tốc độ sinh trưởng nhanh khi nhiệt độ tăng Kết quả nghiên cứu của Quayle & Newkirk (1989) cũng chỉ ra rằng vào mùa xuân và mùa hè khi nhiệt độ nước ấm lên, thức
ăn dư thừa thì sự sinh trưởng tăng lên nhanh chóng Sự sinh trưởng thường dừng lại vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp và nguồn dinh dưỡng trong nước kém
Nghêu M lyrata phân bố tự nhiên ở vùng biển miền Bắc Việt Nam sinh trưởng
nhanh từ tháng 5-9 và sinh trưởng chậm từ tháng 10-4 năm sau và tốc độ sinh
Trang 21trưởng về khối lượng nhanh hơn sinh trưởng về chiều dài (Trương Quốc Phú,
1999 & 1996)
Theo Nguyễn Ngọc Lâm & CTV (1994) cho rằng khả năng lọc thức ăn
của nhóm nghêu M lyrata có kích thước nhỏ lọc tốt hơn nhóm nghêu có kích
thước lớn
Các tác giả Nguyễn Thế Ánh & CTV, 1999; Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục (1994) tiến hành thí nghiệm so sánh tốc độ sinh trưởng riêng theo ngày
ở các kích cỡ nghêu M lyrata khác nhau và cũng có cùng kết quả ở kích cỡ nhỏ,
nghêu có tốc độ sinh trưởng riêng theo ngày (SGR) lớn hơn so với nghêu thí nghiệm ở kích cỡ lớn
Qua kết quả phân tích tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của nghêu
M lyrata của các tác giả Trần Quang Minh (1999); Ngô Trọng Lư (2006) cũng
có cùng nhận định trên
Nguyễn Thế Ánh & CTV (1999); Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục
(1994) đã tiến hành sinh sản nhân tạo và ương giống nghêu M lyrata cùng đưa
ra kết quả trong điều kiện tương đối thuận lợi, từ giai đoạn trứng đến nghêu cám (khoảng 10.000con/kg) mất khoảng 2 tháng, từ nghêu cám đến nghêu giống (800-1000 con/kg) khoảng 6-8 tháng và từ nghêu giống đến nghêu thịt (50 con/kg) từ 10-11 tháng) Tổng thời gian từ khi sinh ra đến lúc nghêu được thu hoạch khoảng 18-20 tháng Tuy nhiên theo Nguyễn Tác An & Nguyễn Văn Lục (1994) cho rằng ở các vùng biển khác nhau, tốc độ sinh trưởng của nghêu cũng khác nhau Điều này được Hà Đức Thắng & CTV (1994) chứng minh khi so
sánh nghêu M lyrata cùng một năm tuổi kích cỡ 20 mm ở Trà Vinh nặng trung
bình 2,7 g/con, ở Thanh Hóa, Nghệ An là 3,7 g/con và ở Tiền Giang nặng trung bình 2,8 g/con Lý do của sự khác nhau trong sinh trưởng của nghêu là do ở các vùng biển khác nhau có nguồn thức ăn và các điều kiện sống như chất đáy, nhiệt độ khác nhau
Trang 222.1.6 Đặc điểm sinh sản
Sinh sản là phương thức bổ sung các cá thể mới cho quần thể sinh vật, đảm bảo sự bảo tồn và phát triển nòi giống Đối với động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) sinh sản và thụ tinh ngoài môi trường nước nên quần thể mới phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường
Nghêu M lyrata lớn có thể sinh sản đến 6 triệu trứng/năm, nghêu có khối lượng 5,4g mỗi lần đẻ 400.000 trứng; Phương thức sinh sản của nghêu M lyrata
là phần sau của thân thò vòi lên mặt nước; nghêu M lyrata đẻ trứng phân theo
đợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi tới một tháng (Chu Chí Thiết, 2005)
Đối với Bivalvia thì nhìn hình dạng bên ngoài rất khó xác định được giới tính, chỉ có thể phân biệt được đực cái khi quan sát tuyến sinh dục của chúng Tuy nhiên tác giả Nguyễn Văn Hảo & CTV (1999) quan sát tuyến sinh dục của
nghêu M lyrata trưởng thành đã khẳng định nghêu M lyrata có hiện tượng
lưỡng tính, tuy nhiên chỉ có một số lượng ít Trương Quốc Phú, (1999) có cùng nhận định trên khi phát hiện hiện tượng lưỡng tính xảy ra vào mùa sinh sản (từ tháng 2 đến tháng 8) và hình dạng cá thể lưỡng tính không có gì khác biệt về hình dạng, kích thước và màu sắc so với các cá thể đơn tính Theo các tác giả
Nguyễn Đình Hùng & CTV, 2002; Hà Quang Hiến (1964) tỷ lệ nghêu M lyrata
đực cái trong tự nhiên thường là 1,56 đực:1cái
Theo nghiên cứu của Vakily (1989) trên Vẹm Xanh (Perna viridis) cho
thấy khi thành thục sinh dục con cái có tuyến sinh dục cái có màu vàng hay màu
cam, con đực có màu trắng đục Trong khi đó Sò huyết (Anadara granosa), khi
thành thục con đực tuyến sinh dục có màu vàng nhạt, con cái có màu đỏ hồng (Broom, 1985) Nghiên cứu của Chu Chí Thiết (2005) chỉ ra rằng với đối tượng
nghêu M lyrata khi thành thục sinh dục tuyến sinh dục cái thường có màu vàng
nhạt hay màu cam nhạt; tuyến sinh dục đực có màu trắng đục Tuy nhiên, quan sát bằng mắt thường có thể xác định giới tính nhưng không thể đánh giá mức độ
Trang 23thành thục, để đánh giá chính xác cần quan sát tế bào sinh dục (trứng và tinh trùng) và quan sát tiêu bản lát cắt (Quayle & Newkirk, 1989)
Mùa vụ sinh sản: Nghêu M lyrata có 2 mùa sinh sản trong năm, mùa
chính từ tháng 5-7 và mùa phụ vào tháng 11-1 năm sau Tùy theo điều kiện khí
hậu từng vùng mà nghêu M lyrata có thể thành thục sớm hoặc muộn Khi thành
thục tuyến sinh dục đực thường có màu trắng, tinh trùng có kích thước rất nhỏ 4µm chuyển động rất nhanh trong nước và chết sau khi phóng tinh từ 1-2 giờ Trứng nghêu có đường kính từ 75-80µm, ban đầu trứng có hình quả lê nhưng sau khi tiếp xúc với môi trường nước trứng bị trương nước và chuyển sang hình cầu (Nguyễn Đình Hùng & CTV (2002); Hà Quang Hiến (1964); Chu Chí Thiết
3-& Martin Skumar (2008)
* Sức sinh sản:
Sức sinh sản của nghêu Meretrix lyrata tương đối cao, sức sinh sản tuyệt
đối bình quân đạt 6.453.910 trứng/cá thể Sức sinh sản tuyệt đối phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, khối lượng cá thể càng lớn, sức sinh sản tuyệt đối càng tăng (Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002); Chu Chí Thiết & Martin Skumar (2008)
* Phương thức sinh sản:
Sau khi trứng và tinh trùng phóng ra, quá trình thụ tinh xảy ra trong nước
Có 5-10 tinh trùng bám trên bề mặt trứng Màng thụ tinh xuất hiện, các tinh trùng yếu bị màng nhầy bên ngoài vỏ trứng chặn lại không xâm nhập được vào bên trong Đường kính trứng thụ tinh 78,87±1,06µm, 20 phút sau khi thụ tinh nhân tế bào tan biến, ở cực động vật xuất hiện cực diệp thứ nhất, 5 phút sau cực diệp thứ 2 xuất hiện, sau đó trứng bắt đầu phân cắt 2,4,8 tế bào Quá trình phát triển phôi nang, phôi vị kéo dài trong 12 giờ, lúc này đã có rất nhiều tế bào được hình thành Màng nhầy bị phá vỡ Ấu trùng trochophore chuyển động mạnh dần
và có khả năng bơi lên tầng nước mặt
Trang 242.1.7 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng nghêu M lyrata
Theo nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002); Chu
Chí Thiết & Martin Skumar (2008) quá trình phát triển của ấu trùng nghêu M lyrata được chia thành các giai đoạn sau đây:
+ Ấu trùng Morula: xuất hiện 5-7 giờ sau khi thụ tinh, ấu trùng nghêu có
dàng hình tròn hoặc hơi bầu dục, tiêm mao bao phủ kín Ấu trùng nghêu hoạt động tăng dần từ chậm đến nhanh và vận động xoay tròn xoắn ốc, thường vận động ngược chiều kim đồng hồ Kích thước ấu trùng 87±2,03µm * 82,7±1,48µm
+ Ấu trùng Veliger (ấu trùng chữ D): ấu trùng có dạng hình chữ D, có 2 nắp
vỏ và vành tiêm mao nằm giữa 2 nắp vỏ, ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao quanh miệng Kích cỡ ấu trùng 97,08±2,06 * 87,7±3,13µm
+ Ấu trùng Umbo: giai đoạn ấu trùng tiềm Umbo (sau khi thụ tinh 2
ngày) xuất hiện mầm cơ khép vỏ, trên kính hiển vi có thể thấy được cơ quan tiêu hóa, kích cỡ ấu trùng 115,88±3,13µm Giai đoạn giữa Umbo (sau 4 ngày) ấu trùng xuất hiện đỉnh vỏ với kích thước ấu trùng đạt 124,73±2,06µm Giai đoạn cuối Umbo (8-9 ngày) chân bò hình thành ở ngày thứ 9 đây là dấu hiệu kết thúc
giai đoạn bơi chuyển sang giai đoạn sống đáy của ấu trùng nghêu M lyrata
+ Ấu trùng spat: sau khi thụ tinh 9-12 ngày vành tiêm mao của ấu trùng
nghêu M lyrata thoái hóa dần, hoạt động bơi giảm, ấu trùng chuyển sang sống
bò dưới đáy với đặc trưng hình thành chân, mang, màng áo, cơ khép vỏ Ấu trùng nghêu chuyển hoàn toàn từ đời sống bơi lội sang sống vùi Kích thước ấu trùng nghêu tăng nhanh, đầu giai đoạn spat kích thước 203,13±4,62 * 150±3µm (ngày thứ 11); giữa giai đoạn spat 412,07±6,23 * 354,43±3,93µm (ngày thứ 15); cuối giai đoạn spat 760±29,33 * 7,09±27,47µm
+ Juvenile (nghêu giống): nghêu giống có hình dạng tương tự nghêu
trưởng thành, kích thước đạt 1000µm sau 30 ngày ương, giống nhỏ có kích thước 1800-2000µm sau 60 ngày, giống lớn đạt 4000µm sau 100 ngày
Trang 25Theo Sở NN&PTNT Nam Định, hiện nay nghêu M lyrata cỡ con giống
có kích thước 2000-2500µm phù hợp với vụ nuôi thả nghêu ngoài bãi triều, để
ương nghêu M lyrata đạt kích cỡ nghêu 3000-4000µm đòi hỏi thời gian ương
dài con giống dài hơn, giá thành con giống cũng cao hơn nhiều
2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới
Trên thế giới, có nhiều tài liệu được công bố liên quan đến kết quả nghiên cứu sản xuất giống và nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và nghêu nói
riêng Các loài đã nghiên cứu thành công là hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu đá Sedney (Saccostrea commercialis), nghêu dầu (Meretrix meretrix), nghêu mật (Meretrix lusoria), nghêu Manila (Mercenaria mercenaria) Các công trình nghiên cứu về loài M lyrata mới chỉ tập trung
chủ yếu vào mô tả hình thái, phân loại, phân bố, như các công trình nghiên cứu của Shintaro Hirase (1939), Trưng Nhĩ (1965), Habe & CTV (1966); Garcia H.K (1968); Tetsuaki Kira (1976), Kappner & Bieler, (1997)
Các công trình nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất nhân tạo loài M lyrata hầu hết dựa trên các công trình nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống ngao M meretrix của Loosanoff & Davis (1963); Galtsoff (1964); Sastry (1979); Mackie
(1984); Eversole (1989) trong đó đề cập nhiều đến các biện pháp kích thích sinh
sản nhân tạo ngao M meretrix như gây sốc nhiệt, sốc độ muối, sử dụng ánh sáng
mặt trời, dùng hóa chất serotonin (5 Hydroxytryto Amine) tiêm vào cơ chân ngao, xử lý ngâm dung dịch NH4OH vv
Năm 1989 Quayle & CTV nghiên cứu về đặc điểm sinh học và phương pháp sản xuất giống, nuôi một số loài ĐVTM và đã chỉ ra rằng biến đổi một số yếu tố môi trường theo mùa cũng góp phần kích thích quá trình thành thục và
sinh sản nhân tạo một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trong đó có loài M lyrata, từ đó các tác giả cho rằng yếu tố quan trọng là nhiệt độ và nồng độ muối
Năm 2005 Whetstone & CTV đã nghiên cứu sinh sản nghêu M lyrata
Trang 26xuân, khi nhiệt độ nước ấm dần lên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng và phát triển tuyến sinh dục ở mùa đông Con đực phóng tinh ra ngoài môi trường trước, tinh dịch đóng vai trò là như chất feromol kích thích con khác trong quần thể phóng trứng và tinh theo, trứng được thụ tinh bên ngoài môi trường nước Kết luận của Whetstone & CTV (2005) cũng phù hợp với kết luận trước đó của Quayle & CTV (1989) vào mùa xuân nhiệt độ ấm áp hơn, độ mặn có chiều hướng thay đổi đã thúc đẩy quá trình phát triển của tuyến sinh dục Vì vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay đổi các yếu tố môi trường được mô phỏng theo
tự nhiên là phương pháp đang sử dụng để kích thích quá trình phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thích sinh sản đối với các đối tượng nhuyễn thể Theo Whetstone & CTV (2005) nghiên cứu nuôi vỗ nghêu Manila bố mẹ
cho sinh sản nhân tạo hỗn hợp các loài tảo Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis, Tahitial isochrysis, với hàm lượng 1 lít/0,5 kg nghêu/1 giờ và so sánh với việc nuôi vỗ loài hầu Thái Bình Dương C gigas đã
phát hiện đối với nghêu Manila không có khả năng chuyển hóa glycogen dự trữ thành sản phẩm sinh dục trong thời gian nuôi vỗ, do vậy cần thiết phải bổ sung một lượng lớn hỗn hợp các loài tảo vào trong nguồn nước tự nhiên để nuôi vỗ nghêu
Thức ăn là yếu tố quan trọng quyết định trong sản xuất giống loài nghêu M lyrata, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng tảo tốt để ương nuôi nghêu M lyrata
sẽ cho tỷ lệ cao nghêu M lyrata bố mẹ thành thục Trong sản xuất giống theo
hướng hàng hóa, sử dụng các loài tảo nuôi được để làm thức ăn cho ấu trùng và
con giống nghêu M lyrata thì thức ăn là yếu tố then chốt quyết định tỷ lệ sống
của ấu trùng, con giống
Ngao M meretrix cũng cần thiết phải có lượng lớn hỗn hợp nhiều loài tảo
để nuôi vỗ ngao bố mẹ Tang & CTV (2006) cũng có cùng nhận định với Quayle
& CTV, (1989) khi nghiên cứu sử dụng 5 loài tảo khác nhau làm thức ăn đơn và
Trang 27phối hợp với nhau và cho thấy ở những lô cho ngao M meretrix ăn hỗn hợp nhiều loài tảo thì tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao M meretrix cũng cao hơn Tuy nhiên theo Liu và CTV (2006) khi ương ấu trùng ngao M meretrix có thể sử dụng tảo Chlorella sp thay thế 50% tảo Isochrysis spp để làm thức ăn cho
ấu trùng nghêu mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng
Các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã nghiên cứu sâu hơn về mật độ
ương nuôi một số loài có giá trị kinh tế cao như ngao M meretrix, nghêu Manila, Ruditapes philippinarum điển hình như nghiên cứu của Liu & CTV (2006) nhằm xác định mật độ ấu trùng nghêu M meretrix phù hợp trong ương
nuôi Thí nghiệm đã tiến hành ở các mật độ 5, 10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ D-veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger) Kết quả cho thấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất thì có kích thước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này
có ý nghĩa thống kê bắt đầu từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống đáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên, tỷ lệ sống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng Nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn thì tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật độ 10 đến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy
Trang 28mô hàng hóa ương ở mật độ từ 5 – 10 con/ml sẽ thu được số lượng ấu trùng nhiều, có thời gian biến thái sớm hơn, tỷ lệ sống cao hơn
Theo Zhuang & CTV (2004), tốc độ lọc (CR) và tốc độ tiêu hoá (IR) của
nghêu M meretrix theo hàm số mũ đối với kích thước cơ thể (W) của chúng,
theo công thức CR=0,47 W0,63 và IR=0,95 W0,60 Kích thước cơ thể nghêu không ảnh hưởng tới hiệu quả lọc ở nhiệt độ 10, 16 và 220C, nhưng trong khoảng nhiệt
độ này, hiệu suất lọc tăng theo sự tăng của nhiệt độ
Baojun & CTV (2006) cũng đã tiến hành thí nghiệm bỏ đói ấu trùng
nghêu M meretrix trong thời gian dài để theo dõi sinh trưởng bù từ giai đoạn bắt
đầu của phát triển, ở 250C Kết quả chỉ ra rằng nghêu M meretrix có thể sống
trong thời gian dài không cho ăn, thậm chí chúng còn sống đến giai đoạn biến thái, mặc dù sự bỏ đói ảnh hưởng đến sinh trưởng Kết quả này có thể khẳng
định rằng nghêu M meretrix có khả năng chịu đói thông qua việc sử dụng nguồn
năng lượng khác Điều này cho thấy sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của
nghêu M meretrix còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bên cạnh chất lượng
và số lượng thức ăn
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan, các chất kim loại nặng, ánh sáng vv trong sinh sản nhân tạo ĐVTM nói chung và trong sinh sản
nghêu Meretrix sp nói riêng cũng rất quan trọng Các yếu tố này ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả của sản xuất giống ở quy mô lớn Điều này đã được khẳng định trong các nghiên cứu của Quayle & CTV (1989); Whetstone & CTV (2005) Zhuang & CTV (2004) nhận định rằng chất đáy là yếu tố môi trường
nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố của nghêu M lyrata ngoài tự nhiên, trong sinh sản nhân tạo ngao M meretrix nền đáy ảnh hưởng tới thời gian xuống
đáy của ấu trùng, tỷ lệ sống của con giống cũng nhận thấy nền đáy ảnh hưởng đáng kể đến biến thái của ấu trùng nghêu Tuy nhiên theo Baojun & CTV (2006) hình dáng và kích thước hạt cát làm giá thể không ảnh hưởng đến tỷ lệ biến thái của chúng
Trang 29Theo Zhuang & CTV (2004) nền đáy cũng ảnh hưởng đến tốc độ lọc, tốc
độ tiêu hoá thức ăn của ngao M meretrix Nghêu nuôi ở bể có nền đáy cát, tốc
độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn cao hơn từ 2-3 lần so với chúng nuôi ở nơi đáy
trơ (đáy bể) Ngao M meretrix nuôi trong bể có đáy cát ở nhiệt độ 220C, thì tốc
độ lọc và tiêu thụ thức ăn là cao nhất
Baojun & CTV (2006) đã nghiên cứu chế độ chiếu sáng cho ngao M meretrix và đưa ra kết luận điều kiện che mát một phần (cường độ ánh sáng từ
1000 – 5000 lx) và chế độ che mát toàn phần (cường độ ánh sáng < 500 lx) ấu trùng đều phát triển nhanh hơn so với điều kiện ánh sáng ngoài tự nhiên
Theo Baojun & CTV (2006) chế độ thay nước trong ương nuôi với tỷ lệ 50% bể sau 2 ngày/lần là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng nghêu
và ấu trùng phát triển nhanh hơn trong điều kiện nước không qua lọc cát
Độ mặn của nước trong quá trình sản xuất giống cũng hết sức quan trọng, mặc dù bản thân nghêu có thể điều chỉnh được áp suất thẩm thấu để thích nghi với môi trường Baker & CTV (2007) nhận thấy đối với nghêu Manila, trong khoảng độ mặn từ 20 – 300/00 là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Kết luận của Baker & CTV (2007) phù hợp với kết luận của các tác giả trước đó như Loosanoff & Davis (1963); Galtsoff (1964); Sastry (1979); Mackie (1984); Eversole (1989)
Trong khoảng độ mặn này, tốc độ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt
động khác của chúng diễn ra một cách tối đa nhất, riêng ở loài ngao M meretrix đã
được Zhuang & CTV (2005) chứng minh khi nhận thấy tốc độ biến thái của ấu
trùng nghêu M meretrix lại liên quan đến nhiệt độ nước theo hàm sỗ mũ
2.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, kỹ thuật sinh sản nhân tạo nghêu (Meretrix sp) được biết đến
từ năm 2003, do Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I và II tiến hành, dựa trên việc nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo một số loài
Trang 30Garcia H.K (1968); Tetsuaki Kira (1976), Kappner & Bieler, (1997) và những
nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sinh sản nhân tạo loài ngao M meretrix của các tác giả như Loosanoff & Davis (1963); Galtsoff (1964); Sastry
(1979); Mackie (1984); Eversole (1989)
Hiện nay ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học,
sinh sản nhân tạo loài M meretrix như nghiên cứu của Dương Văn Hiệp (2005); Trương Văn Thượng (2007); Vũ Đình Thịnh (2008) Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo nghêu M lyrata cũng nhiều hơn do đây là loài đối tượng chủ lực, có
giá trị cao tại Việt Nam Điển hình là các nghiên cứu của Trương Quốc Phú
(1998) về một số đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi nghêu Meretrix lyrata đạt năng suất cao Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng (1996) về đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi nghêu M lyrata Tài liệu kỹ thuật sản xuất giống và nuôi nghêu M lyrata của Trung tâm bảo tồn tài nguyên biển MCD (2007) Tài liệu kỹ thuật sản xuất giống nghêu M lyrata của Chu Chí Thiết và
sản, công nghệ sản xuất giống nghêu M lyrata quy mô sản xuất hàng hóa ở
miền Bắc
Theo Trương Quốc Phú (1998), nghêu M lyrata phân tính đực cái riêng
biệt Trong quần thể tự nhiên, tỷ lệ đực/cái của nghêu thay đổi theo thời gian Số
cá thể đực tăng trong mùa sinh sản, nhưng số cá thể cái lớn hơn nhiều trong thời gian trước và sau mùa sinh sản Nguyên nhân của sự thay đổi tỷ lệ giới tính cũng như tỷ lệ tuyến sinh dục lưỡng tính theo thời gian có thể là do sự khác nhau về
Trang 31tốc độ phát triển của tuyến sinh dục đực và cái Thường thì tuyến sinh dục cái có thời gian phát triển dài hơn do phải tích luỹ vật chất dinh dưỡng cho quá trình tạo noãn hoàng, trong khi tuyến sinh dục đực không phải tích luỹ nhiều vật chất dinh dưỡng nên thời gian phát triển nhanh hơn Đây là hiện tượng phát triển lệch pha ở các quần thể có số lượng cá thể lớn, đặc biệt trong thời gian sớm của mùa
vụ sinh sản Ngoài ra, trong quần thể cũng xuất hiện một số cá thể không xác định được giới tính (6,82% số mẫu phân tích), tỷ lệ này giảm trong mùa sinh sản
và ngược lại Cũng theo Trương Quốc Phú (1998), nghêu kích thước 1,6cm (500mg) sau 12 tháng nuôi đạt trung bình 3,5cm, có thể thành thục và tham gia sinh sản đầu tiên Sức sinh sản tuyệt đối của nghêu đạt từ 2.747.000 đến 4.031.000 trứng/cá thể
Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học và
kỹ thuật ương nuôi nghêu M lyrata đã phân tích được thành phần thức ăn chính
của nghêu vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75-90%, tảo chiếm từ 25% Trong thành phẩn tảo thì tảo silic chiếm 90-95%, tảo giáp chiếm 3,3-6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8-1% Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1998) khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ
10-thuật nuôi nghêu M lyrata đã xác định được thành phần thức ăn trong dạ dày
nghêu tại vùng biển Tân Thành cũng cho thấy hàm lượng mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82 – 90,38%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ 9,62 – 21,18%, với 44 loài khác nhau Trong thành phần tảo, đa số là tảo silíc Bacillariophyta (chiếm 93,18%) với một số giống thường gặp là Coscinodiscus, Cycltella, Nitzschia… tảo giáp chiếm 2,27% và tảo lam chiếm 4,55% Đây là thông tin quan trọng, là cơ sở để nghiên cứu loại thức ăn và dinh dưỡng phù hợp cho nghêu trong việc nghiên cứu xuất giống, đặc biệt là công nghệ sản xuất ở quy mô đại trà
Nguyễn Ngọc Lâm & CTV (1994) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng khả năng
lọc thức ăn của nhóm nghêu M lyrata có kích thước nhỏ lọc tốt hơn nhóm
Trang 32Nghiên cứu của Như Văn Cẩn & CTV (2005) cũng cùng đưa đến kết luận với Nguyễn Ngọc Lâm & CTV (1994) khi thực hiện thí nghiệm so sánh và nhận
thấy tốc độ tăng trưởng chậm hơn của nghêu M lyrata ở những lô thí nghiệm
kích cỡ có chiều dài vỏ là 1,7cm so với những lô có kích cỡ chiều dài vỏ 1cm Như vậy ở giai đoạn còn non tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các giai đoạn sau Điều này đã được Trần Quang Minh, 1999 & Ngô Trọng Lư, 2006 một lần
nữa khẳng định trong nghiên cứu tốc độ sinh trưởng của nghêu M lyrata giai
đoạn nghêu nhỏ và nghêu lớn
Về mật độ ương con giống:
Một số tài liệu tìm được chủ yếu đề cập đến mật độ ương loài ngao M meretrix, hoặc ương nghêu M lyrata ở giai đoạn ấu trùng chưa xuống đáy, ương nghêu M lyrata ngoài bãi triều Hiện nay chưa có nhiều tài liệu đề cập đến mật
độ ương nghêu M lyrata giai đoạn con giống cấp 1 lên cấp 2 phù hợp nhất trong công nghệ sản xuất giống nghêu M lyrata theo hình thức sản xuất hàng hóa
Tuy nhiên, việc lựa chọn mật độ phù hợp nhất để ương trong bể hoặc ngoài ao
(trước khi thả ngoài bãi triều) con giống nghêu M lyrata cấp 1 (có chiều dài vỏ
khoảng 800µm) lên giai đoạn giống cấp 2 (chiều dài vỏ khoảng 2500µm) rất
quan trọng trong quy mô sản xuất hàng hóa nghêu M lyrata giống khu vực các
tỉnh miền Bắc như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng
Chu Chí Thiết, Martin Skuma & CTV (2008) tại Phân viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung bộ đã thử nghiệm ương ấu trùng nghêu M lyrata ở các mật độ khác nhau khác nhau, kết quả cũng cho thấy ở những mật độ
cao sẽ thu được số lượng sản phẩm nhiều hơn, tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ sống
và tốc độ tăng trưởng thì ở những lô ương với mật độ cao thường có tỷ lệ sống thấp, kích thước nghêu thu được cũng nhỏ hơn
Theo khuyến cáo của Trung Tâm Bảo tồn Sinh vật biển & Phát triển Cộng
đồng – MCD (2009) con giống nghêu M lyrata cấp 1 có kích thước khoảng
800µm (khoảng 20.000-30.000con/kg) nên ương ở mật độ 5.000con/m2
Trang 33Những nghiên cứu về nền đáy:
Chất đáy là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến phân bố của các loài hai mảnh vỏ nói chung Các khu hệ sinh vật thường phản ánh rất chính xác nền đáy mà nó sinh sống (Odum, 1963) Theo Walne, 1979; Quayle & Newkirt, 1989) cho rằng chất đáy không chỉ là giá đỡ, bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây hại
mà quan trọng hơn cả nó là nơi cung cấp dinh dưỡng, tạo nên những biến đổi về thủy lý, hóa và sinh vật tạo điều kiện cho nhiều giống loài cùng sinh sôi, phát
triển trong môi trường nước Theo Trương Quốc Phú (1999) nghêu M lyrata chỉ
phân bố nhiều ở vùng có chất đáy bùn/cát trong đó cát chiếm tỷ lệ 86-91% và bùn chiếm 9-14% Những bãi có thành phần cát chiếm tỷ lệ 98-99% thì không
có nghêu phân bố hoặc có thì mật độ rất thấp (từ 0,05-0,1con/m2) những cá thể này do sóng biển đưa đến
Những nghiên cứu trên nghêu M lyrata trưởng thành, phân bố ngoài tự nhiên cho thấy: đáy nơi nghêu M lyrata sinh sống ngoài tự nhiên phải có thời gian phơi bãi từ 2 – 8 giờ/ngày Nghêu M lyrata sinh sống ở vùng có nền đáy
cát mịn đến cát trung có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10 – 18%), vào mùa mưa bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi Nghêu (1,5 - 2,5 cm) Độ mặn đặc trưng cho bãi nghêu dao động từ 7 – 25‰; pH nước 6,5 – 8,5 và nhiệt độ là 26 –
32oC (Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục, 1994)
Theo Trương Quốc Phú (1999), nghêu M lyrata phân bố chủ yếu ở vùng
trung triều và dưới triều, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, có nền đáy cát hay cát bùn trong đó cát phải chiếm từ 60-90% với kích cỡ hạt từ 0,006-0,25mm (Nguyễn Hữu Phụng, 1996) Trong tự nhiên chưa gặp loài này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát (Nguyễn Thế Ánh & CTV 1999)
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển & Phát triển Cộng đồng – MCD (2009),
bãi nuôi loài nghêu M lyrata nên có tỷ lệ cát chiếm từ 90-95%, đối với những
bãi có tỷ lệ bùn cao trên 20% hoặc những khu vực bãi triều gần cửa sông – nơi
Trang 34Trong sản xuất giống nghêu M lyrata, người ta có thể tạo nền đáy cho nghêu M lyrata sinh sống, điển hình là nghiên cứu của tác giả Chu Chí Thiết, Martin Skumar & CTV (2008) đã tiến hành nghiên cứu ương nghêu M lyrata trong các lô thí nghiệm có nền đáy khác nhau, kết quả cho thấy trong nghêu M lyrata ưa sống ở đáy có tỷ lệ cát cao 85-90%, với lô có đáy là bùn chiếm tỷ lệ 100% nghêu M lyrata không sống được
Hiện nay ở các tỉnh miền Bắc giai đoạn ương nghêu M lyrata giống cấp 1
lên con giống cấp 2 được tiến hành chủ yếu trong ao lót bạt lylon không có mái
che hoặc trong bể xi măng có mái che, như vậy việc tạo nền đáy cho nghêu M lyrata sống được người dân tiến hành phối trộn tỷ lệ cát/bùn hợp lý Tuy nhiên ở các kích cỡ nghêu M lyrata tốt nhất để nuôi thả ngoài bãi triều ở mỗi vùng
khác nhau cũng có sự khác nhau; Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), kích thước
giống loài nghêu M lyrata nuôi ngoài bãi triều phù hợp nhất từ 1800-2500µm,
vì ở kích thước này vỏ của ngao đã đủ cứng, giảm được tỷ lệ dập nát trong quá trình khai thác và vận chuyển, kích thước đủ lớn để quan sát bằng mắt thường
do vậy sẽ dễ dàng kiểm soát được mật độ nuôi phù hợp nhất là khi trộn ngao giống với tạp chất để vãi, thả trên bãi triều
Nghiên cứu về sinh trưởng của nghêu M lyrata:
Năm 2008, Như Văn Cẩn, Chu Chí Thiết, Lê Thanh Ghi & CTV đã cho
sinh sản nhân tạo thành công nghêu M lyrata ở quy mô sản xuất hàng hóa tại
Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung bộ và tiến hành nghiên
cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của nghêu M lyrata ở cỡ giống có
chiều dài 1,7cm Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng riêng theo ngày của nghêu
M lyrata chiều dài vỏ 1cm (dao động từ 0,94-1,25%.ngày-1) và 1,7cm (dao động
từ 0,32-0,62%.ngày-1) Tuy nhiên ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì nghêu
M lyrata có tốc độ sinh trưởng khác nhau, cụ thể là ở giai đoạn còn nhỏ nghêu
M lyrata có tốc độ tăng trưởng cao hơn ở các giai đoạn sau, điều này đã được
Trang 35các tác giả như Nguyễn Hữu Phụng & CTV (1996); Baojun & CTV (2006) khẳng định
2.4 Tình hình nuôi nghêu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghề nuôi ĐVTM xuất hiện từ những năm 1960 nhưng được phát trển mạnh mẽ trong vòng hơn 15 năm qua Tuy nhiên nghề nuôi ĐVTM đã mang lại nguồn thu lớn, không chỉ góp phần cải thiện sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho các địa phương (Bộ NN&PTNT, 2010)
Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2011), các đối tượng nuôi phổ biến hiện nay
là hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu cửa sông (Crassostrea
rivularis), tu hài (Lutraria philippinarum), vẹm xanh (Perna viridis) trai ngọc
(Pinctada sp), trai ngọc nước ngọt (Hyriopsis sp), ngao dầu (Meretrix meretrix)
và nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) Ở miền Nam, chủ yếu nuôi 3 đối tượng là nghêu (Meretrix lyrata) ở Bến Tre, Tiền Giang và sò huyết (Anadara granosa) ở Kiên Giang và hầu tròn Belcheri (Crassostrea belcheri) ở Cần Giờ, Đồng Nai,
Vũng Tàu
Theo Trương Quốc Phú (1998), từ năm 1982 nghề nuôi nghêu M lyrata
phát triển mạnh mẽ, thu hút được nhiều nguồn đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã tham gia Theo thống kê Bộ NN&PTNT, hiện nay sản phẩm
nghêu M lyrata được xuất sang hơn 10 nước và vùng lãnh thổ, thị trường lớn nhất là Nhật vì nghêu M lyrata là thức ăn truyền thống của người Nhật Bên
cạnh đó còn các nước nhập khẩu lớn khác như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và nước có tiềm năng phát triển như Mỹ
Theo Bộ NN&PTNT (2011) những nguyên nhân chính để nghêu M lyrata
được xem là đối tượng nuôi chủ lực hiện nay ở Việt Nam là do có giá trị kinh tế cao, thị trường xuất khẩu rộng lớn và đáp ứng được tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) của các nước nhập khẩu Đặc biệt vùng nuôi
Trang 36(Marine Stewardship Council) nên được nhiều nước chú ý Bên cạnh đó, kỹ
thuật nuôi nghêu M lyrata khá đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác của người dân Ngoài ra theo các nghiên cứu gần đây cho thấy, nghêu M lyrata là
đối tượng ăn lọc, có khả năng làm sạch môi trường và sinh trưởng tốt trong điều kiện ao đầm, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Đây là những cơ
sở để thúc đẩy nghề nuôi nghêu M lyrata phát triển nhằm mục đích nâng cao
sản lượng, cũng như góp phần làm sạch môi trường ao nuôi Theo Cục Nuôi
trồng Thuỷ sản (2010) tổng diện tích nuôi nghêu M lyrata trên cả nước năm
2010 là 17.722 ha, sản lượng ước đạt 86.031 tấn
Theo Bộ NN&PTNT (2010) ở khu vực phía Nam, vùng khai thác và phân bố
tự nhiên của nghêu M lyrata khoảng 12.000 ha kéo dài dọc theo vùng ven biển
từ huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) tới Cà Mau, tập trung nhất là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang (Gò Công Đông), Bến Tre (Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú) và Trà Vinh (Cầu Ngang, Duyên Hải) Năm 2010, do nguồn cung cấp nghêu giống tự nhiên ở các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng giảm, nên vùng nuôi tại khu vực cửa sông bị thu hẹp, hiện chỉ còn khoảng 10.800ha, giảm 1.193ha so với năm 2008 Do vậy, các tỉnh hiện đang ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, phấn đấu đạt năng suất ít nhất 7 tấn/ha, sản lượng nghêu đạt 114.500 tấn, sò huyết đạt 25.500 tấn Bên cạnh đó là nhân rộng mô hình nuôi nghêu bền vững sang những vùng có nguồn lợi nghêu phong phú; thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học về sản xuất nhân tạo giống nghêu, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của toàn vùng cũng như cung cấp cho các tỉnh khác trong nước trong những năm tới
Trang 37Bảng 2.4: Diện tích & Sản lượng nghêu nuôi tại các tỉnh miền Bắc
Từ năm 1996, nghêu M lyrata được một số ngư dân Nam Định chuyển từ
miền Nam ra Nam Định nhằm tìm kiếm loài nuôi mới có khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt hơn so với loài bản địa Diện tích
vùng nuôi và sản lượng nghêu M lyrata nuôi tăng nhanh sau đó và hầu hết các vùng nuôi đã chuyển sang nuôi nghêu M lyrata thay vì nghêu bản địa M meretrix và M lusoria
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT (2010), hiện nay Nam Định là địa phương có diện tích nuôi nghêu lớn nhất miền Bắc, với hơn 1.500 ha bãi triều
thuộc hai huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng, trong đó diện tích nuôi nghêu M lyrata của huyện Giao Thủy là 1.400ha Tại Nam Định nuôi nghêu đã trở thành
sinh kế mang lại thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo đồng thời có tác động tích cực bảo vệ và phát triển các vùng sinh thái tự nhiên
Vì những lợi ích to lớn trên mà hoạt động này cũng đã nhận được sự ủng hộ của các tổ chức trong nước và quốc tế như Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 (RIA1)
Các tỉnh ven biển miền Bắc bên cạnh những thuận lợi như có diện tích bãi
triều, bãi gần cửa sông, nguồn thức ăn phong phú thích hợp cho nghêu M lyrata
Trang 38sinh trưởng và phát triển, nghề nuôi nghêu tại các tỉnh miền Bắc nói chung cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức đó là:
- Miền Bắc thường hứng chịu những đợt gió mùa Đông Bắc, mùa đông thường diễn ra kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ thường thấp 10-170C Với ngưỡng nhiệt độ thấp sẽ làm chậm quá trình sinh
trưởng và phát triển của nghêu M lyrata Mùa vụ sản xuất giống nghêu M lyrata chỉ tập trung trong khoảng 3 tháng từ cuối tháng 5 đến hết tháng 8, khi
nhiệt độ đã cao đạt trung bình 25-300C Cũng chính thời vụ sản xuất giống nghêu
M lyrata, ở miền Bắc hay xảy ra mưa rào làm ảnh hưởng đến chất lượng nghêu M lyrata bố mẹ tham gia sinh sản, ảnh hưởng xấu đến con giống, đặc biệt những trại giống cho đẻ nghêu M lyrata ngoài đầm không có mái che, nghêu M lyrata mới
xuống đáy gặp mưa rất dễ bị chết gây thiệt hại lớn cho trại sản xuất giống Các tỉnh như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa cũng thường xuyên chịu đựng các cơn bão (trung bình 5-7 cơn bão/năm) gây thiệt hại lớn cho
Nuôi trồng Thủy sản nói chung và nuôi nghêu M lyrata nói riêng
- Các tỉnh Nam Định, Thái Bình có diện tích bãi bồi cửa sông rất lớn, đây
cũng là khu vực nghêu M lyrata bố mẹ sinh sản ngoài tự nhiên Tuy nhiên
những năm gần đây hiện tượng ô nhiễm do nước thải mà dòng nước sông mang theo đổ ra khu vực cửa sông đã làm ô nhiễm chất lượng nước, nền đáy khu vực bãi bồi gần cửa sông ảnh hưởng xấu đến phân bố nguồn lợi thủy sản tự nhiên, sức khỏe của động vật thủy sản được nuôi bằng nguồn nước đó
- Trong những năm gần đây, bệnh trên nghêu M lyrata bùng phát làm cho
nghêu nuôi chết cục bộ với số lượng nhiều tại các tỉnh Nam Định, Thái Bình gây thiệt hại rất lớn về kinh tế Viện NCNTTS1 đã tiến hành thu mẫu, xét nghiệm
phát hiện sự hiện diện của ký sinh trùng đơn bào nội ký sinh Perkinsus sp, là
loại ký sinh trùng thường gây chết trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn cao
Tóm lại, Nghêu M lyrata là một trong những đối tượng nuôi chủ lực hiện
nay ở Việt Nam do có giá trị kinh tế cao, thị trường xuất khẩu rộng lớn Bên
Trang 39cạnh đó, kỹ thuật nuôi nghêu M lyrata khá đơn giản, phù hợp với trình độ canh tác của người dân Ngoài ra theo các nghiên cứu gần đây cho thấy, nghêu M lyrata là đối tượng ăn lọc, có khả năng làm sạch môi trường và sinh trưởng tốt
trong điều kiện ao đầm, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Tuy
nhiên những nghiên cứu về nghêu M lyrata còn hạn chế, quy trình kỹ thuật nuôi
nghêu còn chưa được hoàn thiện, người dân chủ yếu nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến, nguồn cung cấp con giống nghêu chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, vấn đề dịch bệnh diễn biến khá phức tạp Vì vậy, cần có thêm nhiều
các nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống nghêu M lyrata theo
hướng sản xuất hàng hóa, các nghiên cứu về bệnh