LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở thành phố Bắc Ninh” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn chỉ bảo
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo TrƯờng đại học nông nghiệp hà nội
………
Trần thị hải
Nghiên cứu các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của
cá nhân tôi
Tác giả thực hiện luận văn
Trần Thị Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các hình thức hợp tác
trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở thành phố Bắc Ninh” tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình, trách nhiệm của các thầy cô giáo thuộc khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, trường Đại học nông nghiệp Hà Nội, một số cơ quan, ban ngành, các đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Trần Văn Đức đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND thành phố Bắc Ninh, Phòng Kinh tế thành phố Bắc Ninh, Phòng thống kê thành phố Bắc Ninh và các cơ quan, đơn
vị có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu một cách hệ thống trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình và bè bạn đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian tôi tiến hành viết luận văn
Tác giả thực hiện luận văn
Trần Thị Hải
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ và biểu đồ viii
Danh mục các kỹ hiệu chữ viết tắt ix
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm 4
2.1.2 Sự cần thiết hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 8
2.1.3 Các loại hình hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 10
2.1.4 Hợp tác đa ngành, đa thành phần kinh tế 19
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 25
2.1.6 Những nội dung cơ bản của hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 27
2.2 Cơ sở thực tiễn 28
2.2.1 Kinh nghiệm một số nước về các hình thức hợp tác 28
Trang 52.2.2 Một số nhận xét và bài học rút ra từ việc tham khảo HTX một
số nước trên thế giới 40
2.3 Tổng quan tài liệu các công trình đã nghiên cứu liên quan đến đề tài 42
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 44
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
3.1.3 Điều kiện văn hóa- xã hội 56
3.2 Phương pháp nghiên cứu 58
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 58
3.2.2 Phương pháp phân tích kinh tế 59
3.2.3 Phương pháp chuyên gia 59
3.3 Một số chỉ tiêu nghiên cứu về các hình thức hợp tác 59
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của thành phố Bắc Ninh 61
4.2 Thực trạng các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 65
4.2.1 Các loại hình hợp tác sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 65
4.2.2 Quy mô các hình thức hợp tác sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 66
4.2.3 Đánh giá các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 69
4.2.4 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến các hoạt động hợp tác ở thành phố Bắc Ninh 80
4.2.5 Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân 88
Trang 64.3 Định hướng và các giải pháp tăng cường hợp tác trong sản xuất
và tiêu thụ nông sản 93
4.3.1 Định hướng 93
4.3.2 Giải pháp 94
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
5.1 Kết luận 106
5.2 Kiến nghị 108
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các hình thức HTX của Thái Lan 37Bảng 3.1: Đất đai và tình hình sử dụng đất đai của TP Bắc Ninh giai
đoạn 2008 – 2010 47Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu về phát triển KTXH thành phố Bắc Ninh giai
đoạn từ năm 2006 - 2010 49Bảng 3.3: Đối tượng và mẫu điều tra 58Bảng 4.1: Tình hình diện tích, năng suất cây trồng của TP Bắc Ninh qua
3 năm 2008 – 2010 62Bảng 4.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố Bắc Ninh (2008 -
2010) 63Bảng 4.3: Số lượng HTX, tổ hợp tác trên địa bàn TP Bắc Ninh (2008 –
2010) 67Bảng 4.4: Số hộ tham gia HTX, tổ hợp tác trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh qua 3 năm 2008 – 2010 68Bảng 4.5: Nhu cầu hộ tham gia hợp tác sản xuất, tiêu thụ nông sản trên
địa bàn thành phố Bắc Ninh 70Bảng 4.6: Nhu cầu và đánh giá của các hộ về sự giúp đỡ, hướng dẫn của
các tổ chức xã hội về một số hoạt động trong sản xuất, tiêu
thụ nông sản 72Bảng 4.7: Khối lượng nông sản hàng hóa của hộ nông dân được tiêu
thụ qua các kênh 73Bảng 4.8: Đánh giá của các hộ về vai trò HTX, tổ hợp tác trong thực
hiện một số hoạt động chủ yếu 74Bảng 4.9: Dự định và nguyện vọng khác của hộ nông dân 75Bảng 4.10: Các loại hình kinh tế hợp tác ký kết hợp đồng với các doanh
nghiệp về hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản 77
Trang 8Bảng 4.11: Tình hình tổ chức dịch vụ của HTX, tổ hợp tác năm 2010 78
Bảng 4.12: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, tổ hợp tác năm 2010 79
Bảng 4.13: Một số chỉ tiêu cơ bản của nhóm hộ điều tra 81
Bảng 4.14 Đánh giá của nhóm hộ điều tra về thực hiện các chính sách trong nông nghiệp, nông thôn 82
Bảng 4.15: Năng lực cán bộ quản lý của HTX, tổ hợp tác 83
Bảng 4.16: Tình hình tập huấn cho cán bộ chủ chốt HTX, tổ hợp tác 84
Bảng 4.17: Tình hình tài sản - vốn của HTX, tổ hợp tác 86
Bảng 4.18: Thu nhập bình quân/tháng của chủ nhiệm HTX, tổ trưởng tổ hợp tác năm 2010 87
Bảng 4.19: Phân phối lãi của HTX, tổ hợp tác năm 2010 88
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ B IỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Hợp tác gián tiếp thông qua trao đổi trên thị trường 20
Sơ đồ 2.2: Hợp tác trực tiếp trên cơ sở hợp đồng cá nhân 22
Sơ đồ 2.3: Hợp tác trực tiếp trên cơ sở hợp đồng theo nhóm 23
Sơ đồ 2.4: Hợp tác trực tiếp trên cở hợp đồng với hợp tác xã 24
Biểu đồ 3.1: Tốc độ phát triển giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp của TP Bắc Ninh qua
Biểu đồ 3.3: Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GTSX Giá trị sản xuất
DVNN Dịch vụ nông nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn KTXH Kinh tế xã hội
KHKT Khoa học kỹ thuật
Trang 111 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hoá luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo từng bước nâng cao hiệu quả giá trị sản xuất nông nghiệp góp phần quan trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, cải thiện đời sống cho người nông dân góp phần ổn định an sinh xã hội
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn và yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá lớn theo hướng tập trung, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế hộ nông dân với quy mô còn nhỏ bé, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông sản chưa được phổ biến rộng rãi và thường xuyên, năng lực kinh doanh và tiếp cận thị trường thấp đang bộc lộ nhiều hạn chế Đặc biệt, yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông sản hàng hoá ở nông thôn theo định hướng nhu cầu thị trường nhằm tiêu thụ nông sản đang đặt ra những đòi hỏi cho sự phát triển của các hình thức hợp tác để chúng thực sự trở thành cầu nối dẫn dắt các hộ sản xuất nông nghiệp chủ động hơn trong việc tiếp cận và thâm nhập vững chắc vào thị trường tiêu thụ nông sản góp phần nâng cao thu nhập của các hộ sản xuất nông nghiệp Mặt khác, các hình thức hợp tác là một trong những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chỉ thị số 25/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về việc "Tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản qua hợp đồng"
Thành phố Bắc Ninh đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với đô thị hóa phấn đấu đến năm 2015 cùng tỉnh Bắc Ninh đạt tiêu chí đô thị loại 2 đến năm 2020 trở thành thành phố trực thuộc trung ương, dẫn đầu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Thành phố Bắc Ninh vẫn đang tiếp tục triển khai phát triển mô hình nông thôn mới phấn đấu đến năm
2015 sẽ có 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới Thành phố Bắc Ninh với vị
Trang 12trí địa lý thuận lợi, thời tiết ôn hòa, đất đai mầu mỡ thuộc vùng châu thổ bờ nam sông Cầu, tiếp giáp với Hà Nội cũng là nơi có nhiều lợi thế đầu mối giao thông thuận tiện với Hà Nội và các địa phương lân cận Tuy nhiên tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh trong thời gian vừa qua dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố ngày càng bị thu hẹp Nhưng thành phố Bắc Ninh cũng là địa phương có lợi thế nhất và là địa bàn sản xuất nông sản hàng hóa lớn nhất trong số 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh Đặc biệt,
có nhiều vùng chuyên canh trồng các loại nông sản rau mầu hàng hóa được đầu tư cả về cơ sở hạ tầng, giống, vốn, kỹ thuật Việc nghiên cứu các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn thành phố là vấn
đề đặt ra không chỉ với các hộ nông dân, các nhà sản xuất và tiêu thụ nông sản
mà còn đặt ra với các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm không ngừng phát huy lợi thế cạnh tranh tạo ra hiệu quả lớn trong sản xuất nông nghiệp
Câu hỏi đặt ra cần giải quyết là:
- Thực trạng các hình thức hợp tác ở địa bàn thành phố Bắc Ninh trong những năm qua diễn biến như thế nào ?
- Nguyên nhân nào ảnh hưởng đến sự phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản?
Để phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất tiêu thụ nông sản một cách có hiệu quả cần có những giải pháp nào? Có những kiến nghị gì?
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài "Nghiên cứu các hình thức hợp tác trong
sản xuất và tiêu thụ nông sản ở thành phố Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, phân tích các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản một cách có hiệu quả trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Trang 131.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về các hình thức hợp tác, kinh tế hợp tác, liên kết kinh tế, hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp Các hình thức hợp tác giữa chủ thể là hộ nông dân với các đơn vị tham gia sản xuất và tiêu thụ nông sản, các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nội dung: Nghiên cứu thực trạng các hình thức hợp tác trong sản xuất
và tiêu thụ nông sản hàng hoá trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Thời gian: Các tài liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2008 đến năm
2010 và khảo sát thực trạng hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông sản tại thành phố Bắc Ninh năm 2010
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm
Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo nên sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được, hoặc thực hiện được cũng kém hiệu quả so với hợp tác [5]
Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh
tế của con người Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung, của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con người
Do vậy, sự phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác dụng làm tăng năng suất lao động Sự phát triển của các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế
Hợp tác lao động được thực hiện từ khi loài người xuất hiện và ngày càng phát triển Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, do đó nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng Nó không bị giới hạn trong phạm vi từng đơn
vị, từng ngành, từng địa phương, trong một nước, mà còn mở rộng trên phạm
vi quốc tế
Hợp tác có nhiều hình thức với các đặc điểm, tính chất, trình độ khác nhau: hợp tác ngẫu nhiên, nhất thời; hợp tác thường xuyên, ổn định; hợp tác lao động như Mác đã phân tích về ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp; hợp tác giữa các đơn vị, các ngành; v.v…
Trang 15Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992, “Hợp tác là hoạt động có mục tiêu cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm mục đích chung” Hợp tác được hiểu là sự cộng tác, phối hợp cùng nhau tiến hành một công việc nào đó vì lợi ích chung
Có thể nói, hợp tác là một hoạt động diễn ra phổ biến trong đời sống hàng ngày của con người, trong các công việc từ giản đơn đến phức tạp ở mọi lĩnh vực: từ việc khiêng một vật nặng đến nghiên cứu khoa học chinh phục tự nhiên; từ lao động sản xuất, tổ chức đời sống trong mỗi gia đình đến toàn xã hội… Sự hợp tác này xuất phát từ tính cộng đồng của con người và tính xã hội của cuộc sống Có nhiều việc mỗi người có thể làm được nhưng vẫn muốn
có người khác làm cùng, có nhiều việc một người không thể làm được bắt buộc phải có người khác cộng tác, giúp đỡ mới có thể thực hiện được
Để làm rõ hơn khái niệm về hợp tác, trong cuốn Danh từ Kinh tế - Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội, 1987 đưa ra hai định nghĩa về hợp tác lao động và hợp tác giản đơn:
- “Hợp tác lao động” là hình thức tổ chức lao động xã hội của nhiều người cùng tham gia một quá trình lao động hay những quá trình lao động khác nhau, nhưng có liên quan với nhau trong quá trình sản xuất
- “Hợp tác giản đơn” là hình thức tổ chức lao tập thể mà trong đó tất cả những người lao động tham gia cùng nhau thực hiện những thao tác giống nhau để hoàn thành một loại công việc như nhau
“Biểu hiện đặc trưng của hợp tác là sự liên kết Đối với bất kỳ một hình thức hợp tác nào cũng yêu cầu cần có một khoảng không gian và thời gian nhất định, đủ để phát huy sức mạnh của liên kết”.[2]
Như vậy, hợp tác của con người thật phong phú và đa dạng Sự hợp tác này xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau và bảo vệ cho nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập tới hợp tác trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
Trang 16Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan Đó là con đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp,
từ đơn ngành đến đa ngành Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự hình thành và phát triển hợp tác
xã của các hộ, trang trại gia đình nông dân còn xuất phát từ nhu cầu kết hợp
để làm tăng sức mạnh giúp đỡ lẫn nhau chống lại sự chèn ép, lũng đoạn của tư bản độc quyền lớn nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ và trang trại gia đình nông dân Đây là tầng lớp người có khó khăn hơn và chịu nhiều thiệt thòi, rủi ro hơn trong xã hội tư bản Từ góc độ này mà kinh tế hợp tác của nông dân còn được coi là loại hình kinh tế mang bản chất xã hội – nhân đạo Nó là hình thức kinh tế cần thiết cho những người nghèo có tiềm lực kinh tế yếu hơn trong xã hội chống lại xu hướng chèn ép, “cá lớn nuốt cá bé” trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh tàn khốc
Mặc dù các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin không có nhiều điều kiện nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; song, khi nói đến nhiệm vụ đưa nông nghiệp, nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội, các ông đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của hình thức kinh tế hợp tác và coi đó là con đường để đưa nông dân đi tới chủ nghĩa xã hội Kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác, Ăngghen về nông nghiệp, nông dân và hợp tác hóa vào hoàn cảnh cụ thể của nước Nga, Lênin đã giành sự quan tâm đặc biệt đến quá trình nghiên cứu về con đường hợp tác hóa để đưa nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong tác phẩm Bàn về chế độ hợp tác xã, Lênin đã nêu lên những vấn
đề lý luận cơ bản về chế độ hợp tác dưới chủ nghĩa xã hội Người chỉ rõ vai
Trang 17trò quan trọng của hợp tác xã và cho rằng đó là “bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường giản đơn nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân”
Cũng trong tác phẩm này, Người đã nêu lên phương châm, nguyên tắc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, về vai trò, trách nhiệm của Chính quyền Xô viết đối với hợp tác xã Đó là những chỉ dẫn quý báu cho việc đề ra đường lối, chiến lược, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn của các Đảng Cộng sản sau khi giành chính quyền [21]
Vận dụng tư tưởng của Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Người khẳng định, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải bắt đầu từ nông dân Việt Nam là một nước sống
về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, nông nghiệp một phần lớn Muốn cho nông nghiệp và nông dân giàu lên cần phải xây dựng hợp tác xã
Nói về sự cần thiết khách quan, ý nghĩa của hợp tác xã trong nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Tuy cách làm thì có khác nhau ít nhiều, nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau… trong lời tuyên ngôn của hợp tác xã Anh đã nói: “Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hóa ra anh em… làm giùm nhau, nhờ lẫn nhau Bỏ hết thói tranh cạnh Làm sao cho ai trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây… Tục ngữ An Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Lý luận hợp tác xã đều ở trong những điều ấy Từ ý nghĩa đó, Người kêu gọi nông dân: “Muốn làm hòn núi cao, phải vào tổ đổi công và hợp tác xã”, vì nhiều người họp lại thì làm được
Trang 18nhiều, được tốt, “nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất Do đó mà đưa nông thôn… đến chỗ ấm no, sung sướng”
Thực tế lịch sử thế giới hơn 100 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm về sự cần thiết khách quan của kinh tế hợp tác trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
2.1.2 Sự cần thiết hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản là quá trình không thể tách rời nhau đặc biệt với sản xuất nông sản hàng hóa vì quan hệ hợp tác có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ nông dân Trong nền kinh tế thị trường quan hệ hợp tác giúp hộ nông dân làm được những việc mà từng người, từng nông hộ không thể làm được hoặc làm không có hiệu quả; Nâng cao được năng suất lao động, tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong đầu tư cho sản xuất kinh doanh; Huy động được nhiều nguồn vốn, nhân lực, hạn chế được ảnh hưởng của thiên tai, những yếu tố khách quan bất khả kháng, đáp ứng kịp thời yêu cầu về sản xuất và tiêu thụ nông sản Quan hệ hợp tác góp phần thực hiện chuyên môn hóa, tập trung hóa, phát triển hợp lý các lĩnh vực sản xuất nông sản, dịch vụ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển sản xuất hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông sản hàng hóa, mở rộng thị trường trong nước cũng như xuất khẩu, đảm bảo các yếu tố
về cạnh tranh và điều tiết thị trường một cách hợp lý và hiệu quả giữa quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản với các ưu thế vượt trội so với sản xuất đơn thuần, tự cung tự cấp, cụ thể như sau:
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản sẽ phát huy được thế mạnh nội lực của các hộ nông dân trong việc đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ sản xuất, lựa chọn giống có năng suất và hiệu quả kinh tế cao về việc tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất đặc biệt chính việc
tự điều tiết của thị trường so yêu cầu về chất lượng của hàng hóa nông sản mà
Trang 19các hộ nông dân phải tự điều tiết sản xuất ra sản phẩm nông sản đáp ứng yêu cầu của thị trường Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản cũng đồng thời phát huy ưu thế của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường, trong việc quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch sản xuất nông sản phát huy được những thế mạnh lợi thế của địa phương từ đó chỉ đạo, định hướng và triển khai thực hiện sản xuất nông sản hàng hóa tới các hộ nông dân tạo thành những vùng chuyên canh nông sản của địa phương
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản sẽ hạn chế tối đa rủi ro, thiệt hại mà các hộ nông dân gặp phải khi gặp các yếu tố bất lợi, bất khả kháng về thiên tai, dịch bệnh trên cơ sở hỗ trợ của doanh nghiệp và Nhà nước
về cơ sở hạ tầng, giống, vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Nếu trong sản xuất nông sản hộ nông dân gặp phải những rủi ro do các yếu tố khách quan đem lại thì Nhà nước, doanh nghiệp sẽ là những đối tác hỗ trợ, tạo điều kiện khắc phục nhằm hạn chế phần nào đó những khó khăn của hộ nông dân Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản cũng đồng thời hướng đến khắc phục những manh mún trong tiêu thụ tự phát của các hộ nông dân qua đó tránh được tình trạng các hộ nông dân bị tư thương ép giá, ép thời gian trong tiêu thụ sản phẩm nông sản
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa nông dân và các tổ chức kinh tế hợp tác sẽ yên tâm hơn trong sản xuất khi sản phẩm của người nông dân sản xuất ra được ký hợp đồng tiêu thụ, được bao tiêu sản phẩm, đồng thời hộ nông dân không phải tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm Đối với các tổ chức kinh tế hợp tác thì việc hợp tác với nông dân sẽ giúp họ yên tâm về đầu vào sản phẩm, chất lượng sản phẩm theo đơn đặt hàng của mình từ đó cũng giúp họ yên tâm thực hiện hợp đồng cam kết với chính đối tác của họ
Từ những phân tích trên cho thấy việc hợp tác giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản là việc hợp tác tất yếu giữa hộ nông dân và các tổ chức kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, hiệu quả kinh tế của
Trang 20việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quyết định khẳng định
sự cần thiết của quá trình hợp tác này trong giai đoạn hiện nay
2.1.3 Các loại hình hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Từ thực tế của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới cho thấy mối quan
hệ nói trên có thể thực hiện dưới các dạng sau:
2.1.3.1 Kinh tế hợp tác giản đơn
a Tổ, hội nghề nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay đang tồn tại các loại tổ, hội nghề nghiệp như: tổ nuôi ong, tổ làm vườn, tổ nuôi cá, tổ nuôi tôm, tổ trồng rừng, tổ trồng cây cảnh v.v…
Tổ, hội nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập có hình thức và mục đích hoạt động kinh doanh giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất- kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mỗi thành viên (ở đây không nói đến các tổ, hội hoạt động, vì thú vui không
có mục tiêu lợi nhuận)
Tổ, hội nghề nghiệp gồm từ 5- 30 thành viên tự nguyện gia nhập, hoặc rút khỏi tổ Thông thường, các tổ loại này có xây dựng quỹ hội do các thành viên tự thỏa thuận Tổ, hội nghề nghiệp hoạt động không có điều lệ, không có
tư cách pháp nhân Quan hệ ràng buộc giữa các thành viên chủ yếu được xây dựng trên cơ sở quan hệ tình cảm, tập quán, truyền thống cộng đồng, không mang tính pháp lý
Nội dung hoạt động mang tính khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư:
họ giúp nhau trao đổi kinh nghiệm hoạt động sản xuất, chăm sóc, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh, chọn giống, giúp nhau về thông tin tiếp cận thị trường: về nhu cầu, giá cả, nơi tiêu thụ, về quan hệ cung - cầu, phối hợp trong khâu cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm để giảm chi phí lưu thông…
Trang 21Hoạt động của tổ, hội nghề nghiệp có tác dụng hạn chế mức độ rủi ro cho người sản xuất, góp phần tích lũy kinh nghiệm, tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất và tăng tỷ suất lợi nhuận cho các thành viên
Hiện nay, hình thức này đang phát triển và có tác dụng tốt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm: nông, lâm, ngư nghiệp (nuôi trồng thủy sản) ở nhiều địa phương trong cả nước
b Tổ, nhóm hợp tác
Đây là loại hình kinh tế hợp tác giản đơn do các chủ thể kinh tế độc lập
tự nguyện thành lập, xuất phát từ nhu cầu của các thành viên Các tổ, nhóm hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, gia nhập hoặc ra khỏi tổ, thành lập hoặc giải thể tổ chức, quản lý dân chủ, cùng có lợi Tổ, nhóm hợp tác rất
đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau
+ Tổ, nhóm hợp tác "đơn mục đích": là loại tổ, nhóm hợp tác của
những chủ thể hoạt động kinh doanh giống nhau, như tổ trồng rừng, tổ trồng nấm, tổ nuôi cá lồng v.v…
+ Tổ, nhóm hợp tác "đa mục đích": là loại tổ, nhóm hợp tác của những
chủ thể hoạt động sản xuất - kinh doanh tổng hợp, như trồng trọt kết hợp với chăn nuôi, chế biến, làm dịch vụ v.v…
+ Tổ, nhóm hợp tác có quy mô nhỏ (từ 5-10 thành viên): quan hệ hợp
tác không mang tính ổn định thường xuyên, không xây dựng quy chế hoạt động thành văn bản, không mang tính pháp lý, không có tư cách pháp nhân Quan hệ hợp tác giữa các thành viên được xây dựng trên cơ sở quan hệ tình cảm, truyền thống cộng đồng, làng, xóm Họ tự nguyện thỏa thuận “quy ước nội bộ” và chỉ hợp tác khi có nhu cầu như: hợp tác đổi công cho nhau trong khâu gieo trồng, thu hoạch để bảo đảm tính thời vụ Quan hệ hợp tác không tính đến giá trị ngày công Các thành viên trong tổ tự thỏa thuận lịch đổi công cho nhau Khi không có nhu cầu thì tổ hợp tác hầu như không hoạt động
Trang 22Đây là loại hình hợp tác giản đơn nhất Nó đã có từ xa xưa trong nông thôn nước ta Hiện nay, hình thức này vẫn phát huy tác dụng, đặc biệt ở những nơi sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cấp tự túc Nông dân hợp tác để giúp cho công việc của họ kịp thời vụ, cùng nhau khắc phục thiên tai, sâu bệnh v.v… Loại hình tổ, nhóm hợp tác kiểu này cũng thường gặp ở những nơi sản xuất cây công nghiệp hàng hóa tập trung, như trồng chè, cà phê, mía, nguyên liệu giấy, v.v… Các chủ thể hợp tác đổi công cho nhau theo từng khâu công việc, phổ biến hơn cả là khâu thu hoạch, vận chuyển bán nguyên liệu cho cơ sở chế biến Tổ hợp tác kiểu này còn có tên gọi là tổ đổi công (không thường xuyên)
c Tổ kinh tế hợp tác, thường gọi tắt là “tổ hợp tác”
Đây là loại hình kinh tế hợp tác giản đơn, có quy mô lớn hơn, thường
từ 5 - 30 hộ thành viên Quan hệ hợp tác mang tính ổn định, thường xuyên, có
cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý lãnh đạo Tổ hoạt động theo quy chế được các thành viên thảo luận dân chủ và xây dựng thành văn bản So với hợp tác
xã thì tổ hợp tác loại này có nội dung, nguyên tắc hoạt động gần giống hợp tác
xã nhưng khác nhau ở chỗ tổ hợp tác hoạt động không có điều lệ, không có tư cách pháp nhân
Tổ hợp tác hoạt động đa dạng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ), với nhiều tên gọi: tổ kinh tế hợp tác có gắn với địa danh nơi tổ hoạt động, hoặc tính chất nghề nghiệp- lĩnh vực tổ hợp tác hoạt động như: tổ tín dụng, tổ đường nước, tổ đường điện, tổ nuôi cá, tổ trồng và bảo vệ rừng, tổ làm vườn, tổ sản xuất - kinh doanh v.v…
2.1.3.2 Hợp tác xã
Hợp tác xã là loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh tế hợp tác giản đơn Ở nhiều nước trên thế giới, hợp tác xã đã có lịch
Trang 23sử hình thành và phát triển hơn 100 năm Trong Luật Hợp tác xã của nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế đều có các định nghĩa về hợp tác xã
Liên minh hợp tác xã quốc tế (International cooperative alliance – ICA) được thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh, đã định nghĩa hợp tác xã như sau: “Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người
tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ
về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Năm 1895, định nghĩa này đã được hoàn thiện: “Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”[27]
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa hợp tác xã là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản
mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung v.v… Mặc dù, có nhiều định nghĩa khác nhau về hợp tác xã, cũng như sự khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động v.v… của các mô hình hợp tác xã ở các nước trên thế giới, song các loại hình hợp tác xã đều có một số đặc điểm chung sau đây:
- Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành Hoạt động của hợp tác xã chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính mình) Ngoài ra, hoạt động của hợp tác xã còn mang tính cộng đồng xã hội – tương trợ, giúp đỡ cộng đồng Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của hợp tác xã.[29]
Trang 24Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi
và quản lý dân chủ
Ở các nước tư bản, kinh tế hợp tác mặc dù chỉ là dòng “kinh tế phụ”, nhưng nó đặc biệt quan trọng đối với nông dân Hợp tác xã giúp đỡ các chủ trang trại nông dân tồn tại trước những tác động của kinh tế thị trường và ảnh hưởng của các tổ chức độc quyền lớn Do vậy, ngoài mục tiêu kinh tế, hợp tác
xã còn là loại hình kinh tế mang tính chất xã hội – nhân đạo
Ở Việt Nam, từ những quy định trong Luật Hợp tác xã năm 1996, gồm
10 chương, 56 điều và các nghị định dưới Luật, hướng dẫn triển khai Luật Hợp tác xã có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản về hợp tác xã kiểu mới như sau:
2.1.3.3 Những đặc điểm cơ bản của hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam
Thứ nhất, hợp tác xã kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những
người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có tổ chức chặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác
Thứ hai, về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
Khi xây dựng hợp tác xã kiểu mới phải bảo đảm năm nguyên tắc cơ bản: tự nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết (điều này khác với công ty cổ phần); tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của hợp tác xã, của cộng đồng và do Đại hội xã viên quyết định
Trang 25Thứ ba, quan hệ sở hữu và phân phối trong hợp tác xã
Khi gia nhập hợp tác xã, mỗi xã viên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của Điều lệ, vốn góp có thể nhiều hơn mức tối thiểu, nhưng không được vượt quá 30% tổng số vốn Điều lệ của hợp tác xã Cùng với vốn góp của xã viên, vốn hoạt động của hợp tác xã còn bao gồm vốn được tích lũy trong quá trình hoạt động và các nguồn vốn khác, như giá trị tài sản được cho, biếu, tặng v.v…
Thứ tư, xã viên hợp tác xã
Xã viên hợp tác xã có thể là cá nhân, hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thể đồng thời là thành viên của nhiều hợp tác xã, không phân biệt ngành, nghề, địa giới hành chính Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ bao gồm: quyền làm việc, hưởng lãi, tiếp nhận thông tin, đào tạo bồi dưỡng, hưởng phúc lợi của hợp tác xã, được phép chuyển các quyền lợi, nghĩa
vụ của mình cho người khác và xin ra khỏi hợp tác xã, được trả lại vốn góp và các quyền lợi khác khi ra khỏi hợp tác xã Mỗi xã viên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Điều lệ như: góp vốn vào hợp tác xã và chia
sẻ mọi rủi ro của hợp tác xã theo mức vốn đóng góp Thực hiện các cam kết kinh tế với hợp tác xã v.v…
Thứ năm, quan hệ giữa hợp tác xã và xã viên
Quan hệ giữa hợp tác xã và xã viên được xây dựng chủ yếu trên cơ sở quan hệ kinh tế Nó được xác lập từ nhu cầu phát triển sản xuất, tăng thu nhập của các thành viên hợp tác xã Hợp tác xã tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh
tế của xã viên Trong hợp tác xã nông nghiệp, xã viên là hộ, trang trại gia đình, hoặc đại diện hộ, đó là những đơn vị kinh tế tự chủ tham gia vào hợp tác
xã với trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích theo Điều lệ quy định Sự hình thành
và phát triển hợp tác xã nông nghiệp không phá vỡ tính độc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình Nó có tác dụng tạo điều kiện phát triển tăng thu
Trang 26nhập cho kinh tế của các hộ xã viên Trên cơ sở đó mà thúc đẩy sự phát triển của kinh tế hợp tác xã
Thứ sáu, điều kiện thành lập, hoạt động và giải thể hợp tác xã
Khi thành lập hợp tác xã cần phải có điều lệ, phương án sản xuất- kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được đại hội xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt
Trong trường hợp giải thể tự nguyện theo nghị quyết đại hội xã viên, hoặc bị buộc phải giải thể theo quyết định của pháp luật, hợp tác xã phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ quan có thẩm quyền
Thứ bảy, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do các thành viên có nhu cầu
tự nguyện lập ra, nó không phải là một tổ chức xã hội
Hợp tác xã hoạt động theo luật pháp quy định trước hết vì mục tiêu kinh tế Hợp tác xã chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội đối với các xã viên của chính hợp tác xã, không thể biến hợp tác xã thành tổ chức xã hội, hoặc bắt buộc hợp tác xã là nhiệm vụ như một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị của địa phương
2.1.3.4 Các loại hình hợp tác xã
Từ các tiêu thức phân loại khác nhau đã hình thành nhiều loại hình hợp tác xã với những đặc điểm về nội dung hoạt động, cơ cấu tổ chức, vai trò tác dụng, và tên gọi khác nhau tương ứng với những điều kiện cụ thể của từng loại hình hợp tác xã
Ở nhiều nước, người ta thường phân loại hợp tác xã theo mục đích, chức năng hoạt động, theo đặc điểm về quy mô, tính chất và hình thức pháp
lý Thông thường, có các loại hình hợp tác xã: Hợp tác xã tín dụng; ngân hàng; hợp tác xã sản xuất; hợp tác xã mua - bán; hợp tác xã đa chức năng; hợp tác xã dịch vụ; hợp tác xã sản xuất tập trung; hợp tác xã cấp I, cấp II, cấp III; hợp tác xã trách nhiệm hữu hạn; hợp tác xã trách nhiệm vô hạn v.v…
Trang 27Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, để phân loại hợp tác xã, thường căn cứ vào: chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hóa, quy mô và đặc điểm hình thành hợp tác xã
- Hợp tác xã dịch vụ: bao gồm ba loại: hợp tác xã dịch vụ từng khâu
Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp đa chức năng và hợp tác xã dịch vụ "đơn mục đích" hay hợp tác xã "chuyên ngành"
+ Hợp tác xã dịch vụ từng khâu còn gọi là hợp tác xã dịch vụ chuyên
khâu có nội dung hoạt động tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất Thí dụ, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã dịch vụ đầu vào, hợp tác xã dịch vụ đầu ra, hợp tác xã chuyên dịch vụ về tưới tiêu, hợp tác
xã chuyên phòng trừ sâu bệnh v.v…
+ Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp - đa chức năng có nội dung hoạt động
đa dạng, gồm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra), dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu, v.v… Tùy thuộc đặc điểm, điều kiện, trình độ phát triển sản xuất và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu của nông hộ đối với từng loại hình dịch vụ có khác nhau
+ Hợp tác xã dịch vụ "đơn mục đích" hay hợp tác xã "chuyên ngành"
Hợp tác xã loại này hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất - kinh doanh một loại hàng hóa tập trung, hoặc cùng làm một nghề giống nhau (hợp tác xã trồng rừng, hợp tác xã trồng mía, hợp tác xã trồng chè v.v…) Hợp tác xã thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế hộ như chọn giống, cung ứng vật
tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế biến, ngân hàng v.v…
- Hợp tác xã sản xuất kết hợp dịch vụ
Hợp tác xã loại này có đặc điểm: nội dung hoạt động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp
Trang 28- Hợp tác xã sản xuất- kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện
Đặc điểm cơ bản của mô hình hợp tác xã loại này là:
+ Cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế độ hạch toán, kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc của hợp tác xã kiểu mới
và tương tự một "doanh nghiệp" tập thể
+ Sở hữu tài sản trong hợp tác xã gồm hai phần: sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần Xã viên hợp tác xã tham gia lao động trong hợp tác xã được hưởng lương theo nguyên tắc phân phối theo lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tập thể của hợp tác xã)
+ Hợp tác xã hoạt động sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế hợp tác xã và đem lại lợi ích cho xã viên
+ Hợp tác xã loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thủy sản, nghề làm muối, đánh cá
2.1.3.5 Kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại gia đình và quan hệ giữa chúng với kinh tế hợp tác xã
Trong nông nghiệp, nông thôn kinh tế hộ nông dân (hay kinh tế nông hộ) là một phạm trù phản ánh một cách tổng hợp các hoạt động kinh tế của từng hộ nông dân với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ - tế bào kinh tế - xã hội Nói cách khác, kinh tế hộ nông dân là tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, kinh tế hộ nông dân tất yếu có sự biến chuyển Ngoại trừ sự thay đổi ngành, nghề hoạt động
do kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và những tác động khác Số còn lại gắn bó với nghề nông sẽ phát triển theo hướng hình thành các trang trại gia đình với quy mô lớn hơn và trình độ sản xuất - kinh doanh ngày càng phát triển
Trang 29Thực tế mấy năm gần đây, mô hình kinh tế trang trại đã phát triển nhanh chóng và trở thành tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở nước ta
2.1.4 Hợp tác đa ngành, đa thành phần kinh tế
Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, nếu xét theo mối
quan hệ đến quá trình tạo ra nông sản hàng hóa có giá trị thương phẩm cao, có
thể chia sản xuất nông nghiệp ra làm ba giai đoạn (ba khâu):
- Giai đoạn một, bao gồm toàn bộ các khâu sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
- Giai đoạn hai, bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất ra nông sản (chưa
qua chế biến)
- Giai đoạn ba, bao gồm chế biến và tiêu thụ sản phẩm Đây là giai
đoạn tiếp tục của quá trình sản xuất nông nghiệp Trong nền nông nghiệp hàng hóa, giai đoạn này có vị trí đặc biệt quan trọng
Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, sự hình thành và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế trong nội bộ từng giai đoạn và giữa các giai đoạn với nhau là một tất yếu khách quan
Trong nền nông nghiệp hàng hóa ứng với trình độ phân công chuyên môn hóa cao, mối quan hệ giữa giai đoạn hai và giai đoạn ba trở thành quan
hệ hợp tác giữa các ngành nông nghiệp - công nghiệp chế biến và dịch vụ Xét
về mặt xã hội đây là mối quan hệ giữa những người lao động nông nghiệp (nông dân) với công nghiệp (công nhân), các nhà khoa học - trí thức và lao động dịch vụ phục vụ cho toàn bộ quá trình tái sản xuất (trước hết đó là dịch
vụ tín dụng, ngân hàng, thông tin tiếp thị, quảng cáo v.v…)
Vì yêu cầu kỹ thuật và nhu cầu thị trường đòi hỏi nông sản hàng hóa buộc phải qua khâu chế biến tinh để nâng cao giá trị thương phẩm Do đó, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến có mối quan hệ chặt chẽ, tác động phụ thuộc lẫn nhau
Trang 30Tính không ổn định của mối quan hệ này ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Hơn nữa, nó có thể gây nên sự biến động cơ cấu sản xuất và lao động của từng vùng nông thôn chuyên sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
và làm sụp đổ toàn bộ hệ thống canh tác Sự tác động nói trên gây ảnh hưởng xấu không chỉ ở lĩnh vực kinh tế mà cả ở mặt xã hội Điều này nói lên tầm quan trọng của việc giải quyết, lựa chọn các hình thức kinh tế hợp tác giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ, trước hết là quan hệ hợp tác giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến
2.1.4.1 Hợp tác gián tiếp thông qua trao đổi trên thị trường
Đó là quan hệ giữa cơ sở chế biến với người sản xuất nông nghiệp được thực hiện thông qua thị trường Ở đó, người sản xuất nông nghiệp bán nông sản cho cơ sở chế biến Đó là hình thức "mua đứt, bán đoạn" Quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Hợp tác gián tiếp thông qua trao đổi trên thị trường
Với hình thức này, quan hệ giữa người sản xuất nông nghiệp và cơ sở chế biến hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ thị trường Giữa họ không có hợp đồng cam kết về thời hạn, số lượng, chất lượng nông sản mà họ cung cấp, không có cam kết chia sẻ mức độ rủi ro trong quan hệ giữa hai bên Hình thức
Trang 31quan hệ này có nhiều hạn chế, trước hết đó là tính không ổn định và mức độ rủi ro cao cho cả hai bên
2.1.4.2 Quan hệ hợp tác trực tiếp dựa trên cơ sở hợp đồng
Đây là hình thức kinh tế hợp tác trực tiếp Quan hệ giữa người sản xuất nông nghiệp và cơ sở công nghiệp chế biến bị ràng buộc bằng hợp đồng kinh
tế thỏa thuận giữa hai bên Do đó, hình thức này có tính ổn định hơn Nhìn chung, hình thức canh tác thông qua hợp đồng rất phổ biến trên thế giới, đối với những nông sản đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt về cung cấp nguyên liệu, quá trình sản xuất cần nhiều lao động, nông sản phải có chất lượng cao, điển hình là dùng cho thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra các trường hợp sau:
Thứ nhất, đối với một số loại sản phẩm, khi có bên thứ ba mua với giá
cao hơn, nông dân có thể bán nông sản phẩm mà không giao nộp cho bên mua trong hợp đồng Khi đó cơ sở chế biến sẽ thua thiệt, thậm chí nhà máy phải đóng cửa, phá sản Trong trường hợp này cơ sở chế biến phải chịu rủi ro
Thứ hai, khi cơ sở chế biến "độc quyền" tự ý không thực hiện hợp đồng
mua nông sản hoặc tự ý hạ giá mua v.v nếu không có sự can thiệp hữu hiệu của pháp luật thì nông dân sẽ thua thiệt, dẫn đến sụp đổ hoàn toàn cả hệ thống canh tác
Vì lý do nêu trên, hợp đồng nhất thiết phải có điều khoản kích thích đối với cả hai bên để họ chủ động thực hiện lâu dài hợp đồng Nền tảng cho việc thực hiện hợp đồng còn bao gồm cả hệ thống hữu hiệu về luật thương mại đối với việc xây dựng và cưỡng bức tuân thủ hợp đồng Hơn thế nữa, hợp đồng chỉ có thể thực hiện thành công chừng nào chúng đem lại lợi ích cho cả hai bên Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng
Quan hệ hợp tác trên cơ sở hợp đồng được thực hiện dưới hai hình thức sau:
Trang 32Hình thức thứ nhất: Hợp đồng trên cơ sở cá nhân
Đây là quan hệ hợp tác trực tiếp giữa những người sản xuất nông nghiệp với cơ sở chế biến Quan hệ này được thực hiện thông qua hợp đồng
ký kết giữa cơ sở chế biến với từng chủ thể (nông hộ và trang trại) sản xuất nông nghiệp Hình thức này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Nông phẩm
Từng chủ thể
sản xuất nông nghiệp Hợp đồng Cơ sở chế biến
Tiền
Sơ đồ 2.2: Hợp tác trực tiếp trên cơ sở hợp đồng cá nhân
Hình thức quan hệ này có nhiều hạn chế:
- Một là, về nguyên tắc, phần lớn các cơ sở chế biến không đủ điều kiện
ký được hợp đồng với số lượng lớn các nông hộ, trang trại có quy mô nhỏ trên cơ sở cá nhân Bởi vì, theo cách này chi phí giao dịch rất cao (chi phí ký kết, giám sát và cưỡng bức thi hành hợp đồng)
- Hai là, đa số nông hộ quy mô nhỏ còn có hạn chế về số lượng nông
phẩm, kiến thức đàm phán, điều kiện giao dịch v.v… nên sẽ gặp khó khăn trong giao dịch ký kết trực tiếp với cơ sở chế biến Từ thực tế đó đã nảy sinh nhu cầu tất yếu của hình thức hợp đồng trên cơ sở nhóm
Hình thức thứ hai: Hợp đồng trên cơ sở "nhóm"
Hợp đồng này được thực hiện với hai dạng chủ yếu sau:
Thứ nhất, hợp tác thông qua tập đoàn nhà sản xuất nông nghiệp (hiệp hội)
Nhiều nông hộ, trang trại tổ chức thành từng nhóm với các hình thức
"Tập đoàn những người sản xuất nông nghiệp", hoặc các "Hợp tác xã", "Hợp tác xã dịch vụ tiếp thị", "Hợp tác xã phát triển nông nghiệp", Hiệp hội các nhà
Trang 33sản xuất nông nghiệp - gọi tắt là Hiệp hội v.v… Tùy thuộc các điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng ngành, v.v mà quan hệ hợp tác có những biểu hiện khác nhau
Quan hệ hợp tác kiểu này được biểu hiện theo sơ đồ sau:
Cơ sở chế biến
Nông phẩm Tiền Hợp đồng chung
Nhà sản xuất Thực hiện tư cách thành viên Tập đoàn nhà sản xuất Nông nghiệp (nông dân) Giúp đỡ, giám sát nông nghiệp (Hiệp hội)
Sơ đồ 2.3: Hợp tác trực tiếp trên cơ sở hợp đồng theo nhóm
Theo sơ đồ này, các nhà sản xuất nông nghiệp đồng thời có quan hệ trực tiếp với cơ sở chế biến và Hiệp hội với tư cách là thành viên hiệp hội Hợp đồng bán nông phẩm cho cơ sở chế biến được bảo đảm và chịu sự giám sát của cơ sở chế biến và Hiệp hội (có ba chữ ký: nông dân, đại diện Hiệp hội và đại diện cơ sở chế biến)
Trong sản xuất nông nghiệp, quan hệ hợp tác được hình thành giữa các nhà sản xuất nông nghiệp với nhau được gọi là "hợp tác ngang" hay "hợp tác tầng thứ nhất" Quan hệ giữa nông dân (khâu thứ hai) với các cơ sở chế biến, tiêu thụ tiếp theo (khâu thứ ba) hoặc với các khâu có liên quan trước đó được gọi là "hòa nhập dọc" hay "hợp tác dọc" - "hợp tác tầng thứ hai"
Thứ hai, "hợp tác dọc" thông qua hợp tác xã dịch vụ
Khác với hình thức trên, thay cho hiệp hội quá trình hợp tác dọc được thực hiện thông qua hợp tác xã dịch vụ làm trung gian Hợp tác xã có nhiệm vụ thay mặt nông dân giao dịch ký kết hợp đồng và thanh toán nhận trả với cơ sở chế biến, nông dân quan hệ gián tiếp với cơ sở chế biến thông qua hợp tác xã
Quan hệ hợp tác dọc kiểu này được biểu hiện theo sơ đồ sau:
Trang 34Nhà sản xuất nông nghiệp (nông dân)
Sơ đồ 2.4: Hợp tác trực tiếp trên cở hợp đồng với hợp tác xã
2.1.4.3 Hợp tác thông qua cổ phiếu hoặc trái phiếu
Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, các cơ sở chế biến muốn liên kết chặt chẽ với các nhà sản xuất nông nghiệp, họ đã thực hiện việc chào mời các trái khoán với lãi suất hấp dẫn, hoặc bằng phát hành cổ phiếu cho nông dân Tuy nhiên, do đặc điểm ngành, nghề nông nghiệp trong quan
hệ hợp tác dọc được nói ở đây, công việc nói trên (trái phiếu, cổ phiếu) chỉ có hiệu quả khi được thực hiện đồng thời với hợp đồng mua bán nông phẩm Chúng không được sử dụng như là một phương tiện thay thế hợp đồng Từ đây cho phép phân biệt sự khác nhau giữa việc công ty cổ phần (cơ sở chế biến) phát hành cổ phiếu cho nông dân với các mô hình công ty cổ phần trong các ngành, nghề khác
Ở Việt Nam, các mô hình "hợp tác dọc" đã và đang tồn tại đều thuộc hình thức kinh tế hợp tác đa ngành, đa thành phần kinh tế Hai khâu chính trong mối quan hệ này là cơ sở chế biến hầu hết là doanh nghiệp nhà nước Các nhà sản xuất nông nghiệp gồm nông hộ, trang trại gia đình, hợp tác xã và nông trường quốc doanh Ngoài ra, trong một số mô hình còn có thêm các thành viên như tín dụng ngân hàng, thông tin tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm, các
Trang 35đơn vị sản xuất trang thiết bị, sửa chữa chuyên ngành, cơ quan nghiên cứu khoa học và đào tạo
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
2.1.5.1 Nhóm các nhân tố tác động chung
Đây là nhóm nhân tố thuộc về sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội như hội Nông dân, hội Liên hiệp phụ nữ, hội Cựu chiến binh, liên minh hợp tác xã Việt Nam, hiệp hội chế biến nông sản… Sự tác động của các nhóm nhân tố này được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống các chính sách vĩ mô và quá trình chỉ đạo thực hiện của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở [7]
Để hỗ trợ các hộ nông dân tăng cường các quan hệ hợp tác và hình thành nên các tổ chức hợp tác của mình, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác là nòng cốt”, “kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX đã thông qua 5 Nghị quyết về phát triển kinh tế và xây dựng Đảng, hoàn thiện hệ thống chính trị, khẳng định: “Đảng ta cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi giúp
đỡ cho kinh tế tập thể và HTX phát triển” [20]
Sự phát triển các mối quan hệ hợp tác và các loại hình hợp tác chịu sự ảnh hưởng rất lớn của nhân tố tác động chung, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về đất đai, thuế, ứng dụng đổi mới công nghệ, hỗ trợ đầu tư
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của cộng đồng… Các nhân tố này tạo điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ, các loại hình kinh tế hợp tác và HTX phát triển trong điều kiện các loại hình này còn non yếu về kinh nghiệm, trình độ và khả năng tài chính
Trang 362.1.5.2 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, những người nông dân tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường phải chấp nhận cạnh tranh Để tăng cường khả năng cạnh tranh, giữa những người nông dân đã hợp tác với nhau trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh từ mua sắm các yếu tố đầu vào, chăm sóc, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ Các mối QHHT giữa họ với nhau và với các tổ chức kinh tế xã hội khác chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố tự nhiên, kinh tế và xã hội Khi cần khắc phục những yếu tố môi trường về vật lý, sinh học, xã hội tác động đến mục đích của họ thì sẽ đẻ ra nhu cầu hợp tác [9]
Xét theo mối quan hệ đến sản xuất Nhà nước, quan hệ hợp tác chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi các yếu tố điều kiện tự nhiên về địa hình, thời tiết, khí hậu, quá trình hình thành phát triển sản xuất kinh doanh nông sản tại mỗi địa phương khác nhau Mỗi địa phương có đặc điểm riêng về tư duy sản xuất nông sản hàng hóa, trình độ dân trí, tập quán canh tác sản xuất điều kiện địa
lý, thời tiết, khí hậu, mật độ dân cư… Với thành phố Bắc Ninh là địa phương
có diện tích không lớn địa hình đồng bằng mầu mỡ, vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu ôn hòa ít gặp thiên tai rất phù hợp cho sản xuất nông sản hàng hóa chất lượng cao Phát huy những lợi thế này nông dân thành phố Bắc Ninh đã không ngừng tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất tạo ra những mặt hàng nông sản có uy tín chất lượng trở thành thương hiệu trong tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu Chính điều đó đã tạo nên sự khác biệt trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa trên địa bàn thành phố Bắc Ninh vượt lên so với các địa phương khác trong tỉnh đó là mối liên kết giữa hộ nông dân sản xuất nông sản với các tổ chức đứng ra tiêu thụ đồng thời nhiều hộ sản xuất cũng liên kết với các đơn vị doanh nghiệp tự tiêu thụ sản phẩm do mình sản xuất ra Từ góc độ này cho phép nhận thấy rõ sự khác nhau không chỉ trong sản xuất nông nghiệp, điều kiện sống của dân cư mà còn tạo nên sự khác nhau về quá trình
Trang 37hình thành, phát triển các mối quan hệ hợp tác và các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nông thôn nói chung, sản xuất nông sản hàng hóa nói riêng Đồng thời với những tác động nói trên đặc điểm truyền thống văn hóa địa phương, tâm lý, điều kiện sống, phong cách sống cũng ảnh hưởng không nhỏ tạo nên những nét đặc trưng về kinh tế hợp tác ở mỗi địa phương Nhìn chung, những nhân tố chung về hệ thống đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức chính trị xã hội có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển các quan hệ hợp tác và các hình thức hợp tác Các quan hệ hợp tác và kinh tế hợp tác chỉ có thể phát triển được khi có sự hỗ trợ và điều tiết kịp thời của cơ quan quản lý Nhà nước Các nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tạo nên sự khác biệt trong phát triển các mối quan hệ hợp tác và các hình thức hợp tác ở mỗi địa phương, đơn vị Chính vì vậy phát triển mối quan hệ hợp tác và các hình thức hợp tác trước hết phải căn
cứ vào đặc điểm của từng địa phương, của từng loại nông sản khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh của các hộ nông dân trong sản xuất nông sản hàng hóa
2.1.6 Những nội dung cơ bản của hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản các hộ nông dân đã thực hiện nhiều mối quan hệ hợp tác với nhau và với các tác nhân khác trong việc sản xuất cũng như tiêu thụ hàng hóa Quan hệ hợp tác giữa các hộ nông dân
và sản xuất nông sản đã được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Các hộ sản xuất nông sản đã có sự phân công lao động theo lĩnh vực, đã và đang có sự phân công trong nội bộ hiệp hội chế biến nông sản Nói cách khác, giữa họ đã có mối quan hệ hợp tác và phân công lao động theo cả chiều ngang và chiều dọc Sự phân công và sự hợp tác theo lĩnh vực thể hiện ở hầu hết các hộ sản xuất nông sản, việc sản xuất các loại cây trồng khác không phải nông sản và chăn nuôi chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng thu nhập của các hộ và mang tính phục vụ sản xuất nông sản hoặc phục vụ nhu
Trang 38cầu của gia đình (tự cung, tự cấp) Sự phân công và hợp tác trong nội bộ lĩnh vực thể hiện giữa các hộ đã hình thành nên các tổ, nhóm, đổi công trong chăm sóc, thu hoạch, các tổ bảo vệ thực vật, các tổ tiêu thụ sản phẩm …Tuy nhiên các quan hệ hợp tác theo chiều dọc này còn rất hạn chế, hầu hết các hộ nông dân sản xuất nông sản vẫn tự đảm nhiệm nhất là trong khâu tiêu thụ sản phẩm tự xây dựng thị trường, xây dựng thương hiệu… Nhìn chung, các quan hệ hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ thiếu tính bền vững, vì vậy rất cần thiết phải tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác theo hướng chuyên môn hóa các khâu, các dịch vụ trước, trong và sau sản xuất nông sản
Nội dung các mối quan hệ hợp tác là trao đổi công lao động, dịch vụ và kinh nghiệm, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ nông sản nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các hộ trong nền kinh tế thị trường Cụ thể là: Trao đổi công lao động trong trồng, chăm sóc, thu hoạch nông sản; trao đổi kinh nghiệm và thông tin trong sản xuất và tiêu thụ; cung ứng các dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, chuyển giao công nghệ, sử dụng chung công cụ máy móc, tưới tiêu, chế biến, hợp tác trong tiêu thụ sản phẩm thông qua uy tín của một hộ, một nhóm hộ, hợp tác xã
Ở Mỹ, HTX tiêu thụ nông sản của các trang trại giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống HTX phục vụ nông nghiệp vì kinh tế trang trại tạo ra một khối lượng nông sản vào loại lớn nhất thế giới và đi vào chuyên môn hóa sản xuất
Trang 39nông sản ở từng vùng rất cao, nên tiêu thụ nông sản là vấn đề sống còn của các trang trại Mỹ
Năm 1970, theo con số thống kê ở Mỹ có 4.763 HTX tiêu thụ trong tổng
số 7.719 các hình thức HTX (chiếm 62%) và đến năm 1980 có 4.609 HTX tiêu thụ trong tổng số 6.445 HTX các loại Như vậy, trong 10 năm số lượng HTX tiêu thụ hầu như vẫn giữ vững
Trong các HTX tiêu thụ nông sản thì các HTX sữa chiếm số lượng nhiều nhất, sau đó đến các HTX ngũ cốc, rau quả và bông Năm 1970, tỷ lệ HTX có bán sản phẩm sữa chiếm 69%, ngũ cốc 33%, rau quả 29%, gia súc 13%, gia cầm 9% Năm 1985, các HTX kinh doanh 80% sữa nước, 87% sữa bột, 67% bơ Các HTX tiêu thụ hạt cốc có tổ chức hoạt động ở khắp 50 bang của nước Mỹ Khoảng 50% số trang trại sản xuất hạt cốc tham gia vào một hoặc nhiều HTX Trong thập kỷ 80, các HTX đã đảm nhiệm tiêu thụ 39- 40% sản lượng lúa mì, 37-39 % sản lượng ngô, 40-42% đỗ tương, tính bình quân 40% tổng sản lượng hạt cốc của cả nước
HTX cung ứng cũng là hình thức HTX quan trọng trong hệ thống HTX phục vụ nông nghiệp của Mỹ Từ những năm 1930 đến nay các HTX cũng phục vụ trực tiếp yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Mỹ thông qua việc cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa nông nghiệp ở các trang trại chăn nuôi Các HTX cung ứng đã cung cấp cho các xã viên, chủ trang trại các loại vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị
Ở Mỹ, nhiều HTX có các hoạt động kết hợp dịch vụ cung ứng với dịch
vụ tiêu thụ
Trong những năm 1970, các HTX cung ứng đã đảm bảo cung cấp 33%
số lượng phân bón, 26% nhiên liệu dầu mỡ, 19% hạt giống và 17% thức ăn gia súc
Trang 40Trong thời gian qua, các chủ trang trại Mỹ đã đầu tư 45% tổng thu nhập
để trang bị tư liệu sản xuất, trong đó 25% là mua qua tuyến do các HTX cung ứng cung cấp
Hợp tác xã tín dụng ở Mỹ có 500 HTX ở cơ sở và 12 ngân hàng ở các vùng đã đảm bảo 15-20% các khoản tín dụng nhỏ, hàng năm làm lợi cho người vay trên 100 triệu USD
Hợp tác xã thủy nông có 7.500 HTX với 161.000 xã viên phục vụ gần 1/4 tổng diện tích đất đai được tưới nước của các trang trại nông nghiệp Mỹ Các HTX thủy nông tập trung nhiều nhất ở các bang Colarado, Uta, California v.v , chủ yếu phục vụ cho các xã viên của HTX đóng góp cổ phần, ít phục vụ trang trại ngoài HTX
Hợp tác xã chăn nuôi bò trên đồng cỏ của các chủ trang trại chăn nuôi Các xã viên - chủ trang trại gia nhập HTX chăn nuôi này vẫn trực tiếp quản lý đàn gia súc của riêng mình nhưng chưa được chăn thả trên những cánh đồng
cỏ và khu rừng do HTX đi thuê và nộp địa tô cho chủ đất, thời hạn 10 năm trở lên HTX còn phục vụ các trang trại xã viên các dịch vụ, thuê công nhân chăn thả, cung cấp nước uống cho đàn gia súc và dịch vụ thú y v.v , ở Mỹ hiện nay
có trên 600 HTX loại này
Thực tế cho thấy kinh tế hợp tác có tác động mạnh mẽ đến hoạt động mọi mặt của các trang trại nông nghiệp trong các công đoạn trước, trong và sau sản xuất:
- Các dịch vụ trước sản xuất bao gồm từ cung cấp vốn tín dụng, đến cải tạo và cung cấp giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thức ăn gia súc, thuốc phòng trừ sâu bệnh, dịch bệnh v.v
- Các dịch vụ kỹ thuật trong quá trình sản xuất các trang trại như tư vấn cho các chủ trang trại hoạch định kế hoạch sản xuất, dịch vụ phân tích đất đai
về nông hóa, thổ nhưỡng, dịch vụ cơ khí nông nghiệp: cải tạo đất, bón phân,