1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh

129 555 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Trung ương 5 Khoá VIII “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ra đời đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng của n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

NGUYỄN VĂN ĐỊNH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG VĂN HOÁ Ở HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Kim Chung

Hà Nội - 2012

Trang 2

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để công bố, bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Văn Định

Trang 3

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình

và sự đóng góp quý báu của nhiều của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc GS.TS Nguyễn Kim Chung thày giáo trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học, Khoa kinh tế & PT nông thôn, Bộ môn Phân tích chính sách đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND huyện Gia Bình, UBND các xã, thị trấn huyện Gia Bình đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn

Cảm ơn gia đình cùng toàn thể bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Định

Trang 4

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… iii

MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3.1 Mục tiêu chung 3

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu 4

1.5 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu 4

1.5.2 Phạm vi thời gian 4

1.5.3 Phạm vi không gian 4

1.6 Kết cấu luận văn 4

2 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN LÀNG VĂN HOÁ 5

2.1 Cơ sở lý luận về phát triển làng văn hoá 5

2.1.1 Một số khái niệm 5

2.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xây dựng Làng văn hóa 14

2.1.3 Vai trò của phát triển làng văn hoá 15

2.1.4 Các tiêu chuẩn công nhận làng văn hoá 19

2.1.5 Các nội dung nghiên cứu phát triển làng văn hóa 21

Trang 5

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… iv

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển làng văn hoá trong giai đoạn hiện nay 31

2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển làng văn hóa 35

2.2.1 Tổng quan về quá trình phát triển làng văn hóa ở nước ta trong thời gian qua 35

2.2.2 Một số kinh nghiệm phát triển làng văn hoá trong nước 42

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 49

3.1.1 Quá trình hình thành huyện Gia Bình 49

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hoá - xã hội của huyện Gia Bình 51

3.2 Phương pháp nghiên cứu 53

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 53

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 53

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 55

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 55

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 56

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61

4.1 Thực trạng phát triển làng văn hóa huyện Gia Bình 61

4.1.1 Những chủ trương xây dựng làng văn hóa ở huyện

Gia Bình 61

4.1.2 Về tổ chức thực hiện việc phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình 62

4.1.3 Những kết quả trong việc phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình 76

4.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình 89

4.1.5 Đánh giá chung 91

4.2 Giải pháp phát triển làng văn hóa huyện Gia Bình 95

Trang 6

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… v

4.2.1 Những giải pháp chung 96

4.2.1.1 Tiến hành rà soát lại hệ thống làng văn hóa ở huyện Gia Bình nhằm xây dựng kế hoạch phát triển toàn diện 96

4.2.1.2 Xây dựng cơ chế điều hành thống nhất 96

4.2.1.3 Thực hiện lồng ghép các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, môi trường và các chương trình khác vào trong quá trình triển khai kế hoạch 97

4.2.1.4 Phát huy nội lực, đẩy mạnh xã hội hóa, tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ xây dựng làng văn hóa 98

4.2.1.5 Xây dựng mô hình và phương pháp thực hiện phù hợp cho từng làng 100

4.2.1.6 Đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền 101

4.2.2 Những giải pháp riêng cho từng nhóm làng 104

4.2.2.1 Nhóm làng thuần nông 104

4.2.2.2 Nhóm làng bán đô thị 107

4.2.2.3 Nhóm làng nghề 108

4.3 Một số kiến nghị nhằm phát triển làng văn hoá ở huyện Gia Bình 109

4.3.1 Đối với Trung Ương 109

4.3.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh 110

5 KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 116

Trang 7

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Bảng số lượng đối tượng điều tra theo các nhóm làng 54

Bảng 3.2 Bảng số lượng phiếu điều tra giành cho đại diện hộ gia đình

và đại diện thôn làng 54

Bảng 3.3 Bảng điểm xét công nhận danh hiệu làng văn hóa 57

Bảng 4.1 Bảng so sánh về kinh tế giữa các làng đã được công nhận

và các làng chưa được công nhận là LVH ở huyện Gia Bình 81

Bảng 4.2 Bảng đánh giá sự phát triển về mặt kinh tế của các làng khi

mới đăng ký và khi được công nhận danh hiệu LVH ở huyện Gia Bình 82

Bảng 4.3 Bảng đánh giá sự phát triển làng văn hóa về mặt chất lượng

theo từng nhóm làng 87

Trang 8

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ đánh giá của người dân về sự cần thiết của

phong trào xây dựng LVH 76

Hình 4.2 Biểu đồ số lượng làng đăng ký và làng được công nhận

danh hiệu LVH của huyện Gia Bình từ năm 2000 đến 2010 77

Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ các làng văn hóa theo nhóm làng 77

Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ LVH trong các nhóm làng 78

Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ làng được công nhận mới và làng bị tước danh

hiệu LVH của huyện Gia Bình qua các năm 79

Trang 9

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Trong giai đoạn hiện nay, với đường lối đúng đắn của Đảng, văn hoá Việt Nam tiếp tục được phát huy đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ra đời đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng của nhân dân, đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được xã hội nhiệt tình hưởng ứng, thực hiện, gắn kết chặt chẽ hơn văn hoá với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tựu về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của đất nước

Năm 2000, Chính phủ triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Đây là một trong bốn nhóm giải pháp lớn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trên địa bàn huyện Bắc Ninh từ khi phát động đến nay, phong trào đã được triển khai thực hiện ngày càng sâu rộng, có tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Huyện Gia Bình là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh - Kinh Bắc là cái nôi văn hoá của người Việt cổ, với gần một trăm lễ hội văn hoá lớn nhỏ Diện tích tự nhiên 107,5km2, dân số khoảng 92.300 người (tính

đến 1/4/2009); gồm 14 xã, thị trấn; 74 thôn, làng, nhân dân chủ yếu sống

Trang 10

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 2

bằng nghề nông Với truyền thống lao động cần cù, ý chí tự lực tự cường, nhiều thế hệ con người Gia Bình đã vượt khó khăn, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, khai thác tiềm năng, thế mạnh của quê hương để làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội, đồng thời chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng - Pháp luật của Nhà nước Đặc biệt, nhân dân trong huyện vẫn giữ được nhiều quy định về thuần phong - mỹ tục, sống với nhau chan hoà, tình làng, nghĩa xóm mang những nghĩa cử cao đẹp của một vùng quê nông thôn Việt Nam

Trong sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động mang tính văn hoá - xã hội như: “xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá”, phong trào “xoá đói giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” Đã được toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện tích cực triển khai, hưởng ứng đem lại nhiều hiệu quả thiết thực, tạo nên nhiều nét mới trong giá trị đạo đức, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ kinh tế

- xã hội của địa phương, với mục tiêu xây dựng huyện Gia Bình giàu mạnh - văn minh

Tuy nhiên, trong việc xây dựng làng văn hoá còn gặp nhiều khó khăn trở ngại nhất là tình hình lao động, việc làm, an ninh trật tự ở một vài địa bàn dân

cư là thách thức tác động trực tiếp đến việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương:

- Phong trào xây dựng làng văn hoá triển khai chưa được đồng bộ, ở một

số xã còn biểu hiện hình thức chạy theo thành tích, quan tâm phát triển phong trào về bề rộng hơn là chiều sâu nên chất lượng phong trào còn hạn chế và thiếu bền vững

- Việc hướng dẫn, chỉ đạo và triển khai thực hiện phong trào, chưa xây dựng được mô hình chuẩn làm điển hình tiên tiến để nhân rộng; kinh phí đầu

tư xây dựng các thiết chế văn hoá ở một số nơi chưa được quan tâm thích

Trang 11

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 3

đáng, việc đầu tư trang thiết bị và phương tiện phục vụ cho hoạt động còn

khiêm tốn nên hiệu quả trong tổ chức hoạt động chưa cao

- Tình hình tệ nạn xã hội như cờ bạc, số đề, ma tuý vẫn diễn biến phức

tạp, có chiều hướng gia tăng

- Tỷ lệ làng được công nhận là làng văn hoá còn thấp, chiếm 55% số

thôn làng trong tổng số các thôn, làng trong huyện

Mặc dù vậy, với mục tiêu xây dựng làng văn hoá ngày càng phát triển đi

vào chiều sâu, đạt hiệu quả rõ rệt, thiết thực, góp phần phát triển bền vững

kinh tế - xã hội của huyện Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi tiến hành

nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát

triển làng văn hoá ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Tiêu chuẩn nào để đánh giá, công nhận làng văn hoá ?

- Tại sao phải nghiên cứu vấn đề xây dựng làng văn hoá ở huyện Gia Bình?

- Tồn tại nào trong vấn đề xây dựng làng văn hoá hiện nay ở huyện

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng xây dựng làng văn hoá hiện nay ở

huyện Gia Bình, đề xuất các giải pháp phát triển làng văn hoá huyện Gia Bình

trong những năm tới

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng văn hoá

- Tìm hiểu thực trạng phát triển làng văn hoá huyện Gia Bình giai đoạn

2000 - nay

Trang 12

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 4

- Đề xuất các giải pháp phát triển làng văn hoá huyện Gia Bình trong những năm tới

1.4 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận về làng, văn hoá làng, xây dựng làng văn hoá

- Những vấn đề thực tiễn về phát triển làng văn hoá ở huyện Gia Bình

1.5 Phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

- Phân tích thực trạng xây dựng làng văn hoá huyện Gia Bình từ năm 2000 đến nay

- Các giải pháp chủ yếu để phát triển làng văn hoá huyện Gia Bình trong những năm tới

1.5.2 Phạm vi thời gian

+ Thời gian làm luận văn: Từ tháng 08/2010 đến tháng 04/2011

+ Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu: 10 năm (2000 - 2009)

1.5.3 Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành trên phạm vi huyện Gia Bình

1.6 Kết cấu luận văn

1 Mở đầu

2 Một số cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển văn hóa

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

5 Kết luận

Trang 13

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 5

2 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN LÀNG VĂN HOÁ 2.1 Cơ sở lý luận về phát triển làng văn hoá

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Làng

Làng là một trong bốn đơn nguyên lưu giữ kho tàng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam Bốn đơn nguyên đó gồm: Con người Việt Nam, gia đình Việt Nam, làng Việt Nam, đất nước Việt Nam Trong bốn đơn nguyên này, làng là một đơn nguyên văn hóa mang đủ các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quân sự,… đóng vai trò cầu nối giữa con người, gia đình với đất nước, giữa nước với nhà

Làng, như nhiều học giả đã xác nhận, đó là từ thuần Việt Đây là điều thật đáng lưu ý Khác với xã, thôn là những từ Hán - Việt, làng có cội nguồn

từ chính đời sống Việt Nam và được biểu đạt trong ngôn ngữ thuần Việt Thuật ngữ này phản ánh sự tồn tại của một kiểu cộng đồng cấu kết trên cơ sở một vùng địa lý với các thành viên riêng biệt của nó Những thành viên được phân định vai trò của mình thông qua vị trí là dân bản quán hay dân ngụ cư, gắn kết về mặt huyết tộc nhiều hay ít với các cư dân khác trong làng Cộng đồng này có lối sống riêng và thường là đặc trưng riêng về tâm lý, đạo đức và truyền thống so với các cộng đồng khác

Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, làng được hiểu là : “Làng là khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến”

Trong cuốn “Đại từ điển tiếng Việt” từ làng được giải thích là: “Nơi

sinh sống làm ăn lâu đời của nông dân vùng đồng bằng, trung du, thường có phạm vi và những đặc trưng riêng biệt”

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: “Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp Theo quan niệm của người Việt, làng

Trang 14

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 6

là một gia đình lớn, là một xã hội thu nhỏ Quốc gia là hình ảnh mở rộng của gia tộc, người ta coi toàn quốc như một đại gia đình Làng là một trong ba hằng số văn hoá Việt Nam (nhà - làng - nước) Là tụ cư được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý, cùng cội nguồn và cùng chỗ ở Là hình thức công xã nông thôn với những đặc thù riêng của mình Những đặc thù riêng ấy, thể hiện ở chế độ ruộng đất, chế độ công điền, chế độ tổ chức xã hội, các điều lệ, tập tục của làng, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội làng” [Cơ sở văn hoá Việt Nam]

Không phải tự nhiên mà chúng ta có làng Trong quá trình lịch sử dài lâu của sự tồn tại và phát triển, cùng với việc xử lý những tình huống gay go của nhu cầu chống thiên tai, địch họa mà cộng đồng làng được hình thành Làng Việt là kết quả tiến triển tự nhiên của tổ chức công xã Làng thường có nhiều chòm, xóm (chòm, xóm cũng là những từ thuần Việt) Nhưng cộng đồng chòm, xóm không có được những đặc trưng độc lập về văn hóa, do vậy chòm, xóm chỉ là những thành phần của cộng đồng làng

Trong lịch sử, làng không phải là một đơn vị hành chính Xã, trải qua nhiều thể chế chính trị, mới là đơn vị hành chính Xã không phải là từ thuần Việt mà là từ Hán - Việt Xã có thể chỉ bao gồm một làng Nhưng thường thường xã bao gồm vài ba làng Xã không phải là cái gì đó cao hơn hoặc quyền uy hơn làng, mà là một thực thể xã hội khác, mang cấu trúc chính trị -

xã hội khác với làng

Về phương diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý Còn đối với người dân, người nông dân bình thường của hàng bao thế kỷ, thì người ta chỉ biết có làng Các chỉ, dụ, luật pháp của triều đình; các thể chế, quy định của xã, thôn hết thảy đều thể hiện sức mạnh thông qua làng Tập tục làng, truyền thống làng là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng Dù dưới triều đại nào, dù phải ứng xử với người cai trị là bản địa

Trang 15

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 7

hay ngoại bang, theo văn minh phương Đông hay phương Tây, làng vẫn tồn tại một cách tự nhiên với sự cố kết cộng đồng đầy bản sắc của nó

Có thể nói trong sinh hoạt của nhân dân ta, khái niệm làng đã ăn sâu vào nhiều khía cạnh tình cảm, suy nghĩ, tập quán và quan hệ xã hội Ngày nay, những ấn tượng sâu sắc về làng vẫn còn được mang theo trong tiềm thức của mỗi chúng ta, được tạo bởi những hình ảnh gần gũi như : hội làng, đường làng, đình làng, cổng làng, ao làng, luỹ tre làng…Từ những khái niệm ấy, con người đã gắn bó với nhau từ đời này qua đời khác trong quan hệ tập tục, nếp sống và những trật tự của cộng đồng

Tóm lại : Làng là hiện tượng đặc thù của xã hội Việt Nam Làng là đơn

vị cơ bản chiếm hữu và phân phối đất đai công cộng với nền kinh tế tiểu nông, tự cấp, tự túc Làng gắn liền với các nghề thủ công tinh xảo, truyền thống Làng cũng là đơn vị văn hoá, xã hội, nơi tập hợp cư dân quanh mái đình, ngôi chùa, nhà thờ với tín ngưỡng lễ giáo, tập tục riêng

Khái niệm văn hoá làng ngày nay được hiểu rất rộng, bao gồm cả văn hoá phi vật thể và văn hoá vật thể Bên cạnh những đình làng, còn có hội làng

và bao nhiêu phong tục tập quán tốt đẹp của các dân tộc, các địa phương đang được bảo tồn Trong văn hoá làng, tinh thần cộng đồng, tình nghĩa con người nhiều khi đã đạt đến đỉnh cao của giá trị

Trang 16

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 8

Văn hoá làng được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: từ cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước, tập tục, hội hè đình đám, tín ngưỡng, các nghề thủ công truyền thống, những làn điệu dân ca, dân vũ, những người giỏi văn, giỏi

võ, vv Văn hoá làng mang những giá trị đẹp giàu tính truyền thống, đồng thời cũng cần xoá bỏ những tập tục cổ hủ, lạc hậu

Tính chất khoa học của khái niệm văn hóa làng thể hiện ở chỗ, dù phân loại theo kiểu nào người ta cũng khó có thể đồng nhất phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống, phương thức hoạt động và ứng xử của cộng đồng làng với các cộng đồng văn hóa khác, kể cả những cộng đồng đặc biệt gần gũi như xã, hoặc các cộng đồng theo đơn vị hành chính, xã hội hoặc tôn giáo

Với đơn vị là làng, văn hóa đã hiện ra như là những khuôn thước ứng

xử nằm ở tầng sâu trong đời sống cộng đồng; như là hệ thống các giá trị đặc thù qui định và ngầm điều khiển các quan hệ cộng đồng; như là sự tổng hợp của những kinh nghiệm sống hình thành qua lịch sử của các cộng đồng

Mỗi con người Việt Nam, như chúng ta đều biết, nếu có được cái may mắn là sinh ra và lớn lên ở làng, thì dù đi đâu, về đâu; dù làm nghề này hay nghề kia; dù mang quốc tịch này hay quốc tịch khác cũng đều khó có thể thoát ly khỏi tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng cái đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân "Phép vua thua lệ làng" thành ngữ này hầu như mọi người Việt Nam đều biết Đành rằng thành ngữ này có cái dở của nó, như phản ánh sự tản mạn, cục Bộ của một xã hội tiểu nông, nhưng đừng nghĩ rằng ở đây không

hề có ý nghĩa tích cực nào Thông qua thành ngữ này, văn hóa làng luôn biểu đạt cái đặc trưng riêng, cái có ý nghĩa riêng, cái mang lại sức mạnh của làng Lịch sử cho thấy, tất cả những gì là ngoại nhập hay ngoại sinh, nếu muốn có chỗ đứng thực sự ở làng thì phải tìm cách "chung sống" với văn hóa làng

Chính từ thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt mà chúng ta nhận ra văn hóa làng Xác định sự tồn tại hiện thực của văn hóa làng là sự phát triển phù hợp

Trang 17

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 9

với sự tiến triển của các ngành tri thức về văn hóa Có lẽ chỉ khi đặt trong tương quan với các dạng thức văn hóa vùng và các loại văn hóa cộng đồng khác, chúng ta mới thấy rõ hơn tính đặc thù và ý nghĩa của văn hóa làng Với cộng đồng làng, tính tự lập và tự quản thể hiện rất rõ Mối quan hệ vừa gia trưởng vừa dân chủ (dân chủ làng xã) giữa các cá nhân thể hiện trong sự đan xen với các quan hệ huyết thống và vị trí của người bản quán và người ngụ

cư Nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên đối với làng cũng được căn cứ vào những quan hệ phức tạp này mà triển khai thực hiện

Về mặt kinh tế, do tính chất tự lập, tự quản mà làng là một đơn vị quản

lý rất có quyền lực (đương nhiên, quyền lực này dẫu lớn cũng không vượt ra khỏi trình độ chật hẹp của một nền sản xuất khép kín và có phần tự cấp, tự túc) Trong lịch sử, làng thường có công quỹ riêng, có công điền, công thổ riêng Và nhiều làng còn có nghề riêng gắn liền với các tổ chức phường hội,

có bí mật nhà nghề truyền từ đời này đến đời khác

Mỗi làng thường có đình, miếu, có làng về sau còn có chợ Những thiết chế nhà không đơn giản chỉ là nơi duy trì hoạt động bình thường của làng, mà còn là sự hiện diện, sự vật chất hóa đời sống tinh thần, đạo đức và tính cộng đồng của các thành viên trong làng Chính ở đây các hoạt động văn hóa tinh thần của làng cũng được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển Theo cố học giả Trần Đình Hượn thì "Tranh làng Hồ, hát quan họ không những có gốc làng mà còn có quy mô làng Ngay cả văn hóa cung đình cũng chỉ là tập hợp

kỹ xảo của các làng"

Làng, có thể nói là cộng đồng văn hóa rất riêng, nhưng cũng rất chung trong khuôn khổ của lề thói theo phương thức sản xuất châu Á Cái riêng của từng làng thì thể hiện tương đối rõ ở từng tập tục riêng, lễ hội riêng, cách thức ứng xử riêng Nhưng từng cái riêng ấy lại đều có một "mẫu số chung" làm nên khuôn thước văn hóa làng Khuôn thước văn hóa làng, dù hiện diện một

Trang 18

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 10

cách mờ nhạt hay rõ rệt thì cũng đều là hành trang cho sự tiến Bộ của con người Việt Nam hiện đại

2.1.1.3 Làng văn hóa

Khác với văn hoá làng, một giá trị truyền thống cần được bảo tồn, làng văn hoá lại nói lên ý chí, nguyện vọng của con người và cộng đồng cần vươn tới Nó như mục tiêu để phấn đấu mà nội dung vừa phải kế thừa có chọn lọc truyền thống xưa, đồng thời phải biết tiếp thu và sáng tạo những giá trị mới

Thực ra làng văn hoá là một khái niệm của riêng ngành văn hoá, nên việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề này mới chỉ nhận được sự quan tâm của một số ít nhà nghiên cứu trong ngành, chưa có sự tham gia đóng góp của các nhà nghiên cứu khoa học - xã hội trên phạm vi toàn quốc Làng văn hoá còn được hiểu là một nội dung công tác của Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở, vì thế nó mang tính chất công việc của cơ quan chỉ đạo nghiệp vụ này, chủ yếu

là hỗ trợ - hướng dẫn nông dân xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn trên phương diện những hoạt động văn hoá mới, vì thế chúng ta không lấy làm lạ

khi gặp một loạt những từ nếp sống mới, gia đình văn hoá mới, hương ước

mới… [5]

Thế nào là làng văn hoá ? Trong cuốn « Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, nếp sống văn hoá tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống » có viết : «Làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc…là cộng đồng dân cư nông thôn có chung lãnh thổ, tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, cảnh quan ; là đơn vị cấu thành địa bàn hành chính của chính quyền cấp xã

Xây dựng làng văn hoá là xây dựng cộng đồng dân cư như trên, có đời sống kinh tế và văn hoá tinh thần phát triển lành mạnh phong phú Vì vậy, làng văn hoá là danh hiệu vinh dự của những cộng đồng dân cư ở nông thôn phấn đấu đạt được các yêu cầu trên Tuỳ theo kết cấu dân cư truyền thống của địa phương, có thể gọi là làng văn hoá, ấp văn hoá, thôn bản văn hoá » [13]

Trang 19

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 11

Chúng ta nên hiểu khái niệm làng văn hoá là một khái niệm công tác, nhưng mục đích xây dựng làng văn hoá thì không chỉ xây dựng những cái mới, mang tính thời đại mà toàn diện và sâu sắc hơn, đó là : Phát huy cao độ các giá trị tiềm ẩn của văn hoá làng, đồng thời thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội ở nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Hai khái niệm văn hoá làng và làng văn hoá giống nhau ở chỗ đều lấy

làng làm đơn vị cơ sở Tuy nhiên, văn hoá làng mang tính chất tự nhiên, phổ

biến Văn hóa làng gắn với sự hình thành và phát triển của làng trong lịch sử với những đặc điểm chung và riêng do môi trường địa lý, tự nhiên và con người chi phối

Làng văn hoá khởi thuỷ ít nhiều mang tính tự nhiên nhưng không đầy

đủ, không phổ biến Trong cách hiểu hiện nay, làng văn hoá là một mô hình mang tính chủ quan của con người bao gồm sự toàn vẹn về mọi mặt trên cơ sở những đặc điểm tích cực Về mặt lý thuyết, nếu như văn hoá làng có những mặt yếu kém thì làng văn hoá phải được hiểu hoàn toàn ngược lại

2.1.1.4 Bản sắc văn hóa làng với việc xây dựng làng văn hóa và xây dựng đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn hiện nay

Trong quá trình đổi mới, văn hóa làng có tác động sâu sắc đến quá trình xây dựng đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay Chính vì vậy, phát huy bản sắc văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay là một nội dung

quan trọng trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước: "Phát huy bản sắc

văn hóa làng xã là làm cho bản sắc văn hóa ấy sáng lên, tức là làm cho nó ngày một đa dạng và phong phú tốt đẹp hơn Phát huy bản sắc văn hóa làng

xã là khai thác vai trò, sức mạnh của nó vào sự phát triển kinh tế - xã hội của làng xã và của cả đất nước" [Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn

ở đồng bằng Bắc Bộ, tr 10], tạo ra chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở nông thôn nước ta hiện nay

Trang 20

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 12

Văn hóa truyền thống làng xã đóng vai trò là nền tảng cho sự lựa chọn

mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn phù hợp với đặc thù đất nước

ta Bài học thực tế ở hàng trăm làng xã Thái Bình và một số tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ mấy năm vừa qua đã cho thấy: Muốn phát triển kinh tế - xã hội bền

vững ở vùng nông thôn thì phải thực hiện CNH, HĐH theo kiểu mới: "Thực

chất kiểu mới đó là phải hướng tới mục tiêu kép: vừa giảm nghèo, tăng giàu lại vừa đảm bảo công bằng xã hội, vừa hướng tới tiến Bộ văn hóa văn minh, vừa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bằng giải pháp kép: vừa đẩy mạnh kinh tế thị trường vừa kiên trì chủ nghĩa xã hội, vừa tiếp thu giải phóng

cá nhân vừa bảo vệ lợi ích công cộng" [Nông thôn trong bước quá độ sang

kinh tế thị trường Tr 20]

Như vậy, mô hình kinh tế - xã hội mà chúng ta lựa chọn hiện nay cần phải thực hiện hai mục tiêu là tăng trưởng kinh tế và tiến Bộ xã hội (trong đó vấn đề cốt lõi là dân chủ và công bằng xã hội), có chiều sâu từ bản sắc văn hóa làng xã CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bao gồm những nội dung rất rộng Và, sẽ góp phần tích cực của văn hóa làng xã vào quá trình CNH, HĐH hiện nay ở nông thôn được biểu hiện thông qua việc tham gia vào các quy

trình như: "Chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, đưa khoa

học công nghệ, máy móc, kỹ thuật vào nông nghiệp làm thay đổi cơ bản nền sản xuất nông nghiệp nước ta, hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hiện đại

và trên cơ sở đó mà hiện đại hóa nông thôn (bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống vật chất và đời sống tinh thần) hướng tới trình độ văn hóa văn minh hiện đại trên nền tảng bản sắc văn hóa truyền thống" [Bản sắc văn hóa làng trong

xây dựng nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ, tr 11]

Nghiên cứu sự phát triển kinh tế của những làng xã như: Duy Sơn II (Duy Xuyên, Quảng Nam), Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội), Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Vân Tràng (Hà Tây) cho thấy rằng, để phù hợp với xu thế phát triển mới cần phải phát triển một nền kinh tế mang tính tổng hợp, đa dạng và vươn

Trang 21

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 13

tới sản xuất hàng hóa đáp ứng thị trường vùng, khu vực cả nước và với nước ngoài Thực tế sự phát triển kinh tế của những làng xã tiêu biểu nêu trên cho thấy người ta có thể dựa vào truyền thống kinh nghiệm của mình được tích lũy trong văn hóa làng xã để tìm ra phương thức, mô hình cho sự phát triển

Vai trò của văn hóa làng xã cổ truyền trong quá trình xây dựng làng

văn hóa hiện nay là hết sức to lớn "Văn hóa làng xã là cơ sở để xây dựng

làng văn hóa (thực chất là phát triển văn hóa làng xã lên một trình độ mới, cao hơn)" [Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn ở đồng bằng Bắc

Bộ, tr 14] Toàn bộ thiết chế văn hóa làng xã xưa: Cổng làng, chợ làng, nghề làng, chùa làng, đình làng, trường làng, hội làng và kết hợp với thiết chế văn hóa mới hôm nay như: hệ thống điện đến từng hộ dân và cơ sở sản xuất, trạm

y tế, bưu điện văn hóa xã, thư viện là tài sản chung của làng văn hóa hiện nay Chính vì vậy, cần có giải pháp thích hợp để tạo ra mối quan hệ bền chặt giữa thiết chế văn hóa cổ truyền và thiết chế văn hóa hiện đại trong từng làng văn hóa để tạo ra sức mạnh chung

Bên cạnh đó, những vấn đề như: quan hệ gia đình, dòng họ, dân chủ trong văn hóa làng xã cổ truyền vẫn đang diễn ra và có vai trò quan trọng trong cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở nông thôn nước ta hiện nay

Như vậy, nghiên cứu về bản sắc văn hóa làng để khẳng định vai trò của nó trong quá trình xây dựng làng văn hóa và xây dựng đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay có ý nghĩa quan trọng GS.TS Nguyễn Duy Quý

rất xác đáng khi cho rằng: "Văn hóa làng như vậy đã góp nên sự bền vững

của cộng đồng dân cư ở cơ sở của xã hội nước ta đã vượt qua bao thử thách khó khăn Mong muốn xây dựng văn hóa cơ sở ở làng xã thì cần phải phát huy những cái hay và khắc phục những mặt bất cập của văn hóa làng" [Mộ số vấn

đề xây dựng làng văn hóa, ấp văn hóa hiện nay, tr 65]; và "Làng văn hóa

không thể là làng nghèo, không thể có quá nhiều hội hè, đình chùa khang trang rực rỡ mà trường học, trạm xá thì mái dột tường xiêu" [tr 66-67] Đây cũng

Trang 22

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 14

chính là những nội dung lớn mà cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở nước

ta đang nghiên cứu giải quyết trong những năm tiếp theo

2.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xây dựng Làng văn hóa

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH Nông nghiệp và kinh tế nông thôn là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị - xã hội, sự phát triển hài hòa và bền vững theo định hướng XHCN của đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến những vấn đề của làng văn hóa và của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Các chủ trương, Nghị quyết của Đảng được Nhà nước thể chế hóa bằng các chính sách và được các cấp, các ngành triển khai trong thực tế Chỉ tính riêng trong giai đoạn 1998 -

2010 đã có trên 40 Nghị định và quyết định về chính sách đầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành và áp dụng:

- Chỉ thị 27/CT-TW ngày 12/1/1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong cưới, lễ tang, lễ hội

14/CT Quyết định số 62/2006/QĐ14/CT BVHT ngày 23/6/2006 của Bộ VHTT về

việc ban hành quy chế công nhận danh hiệu: “Gia đình văn hóa”, “Làng văn

hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”

- Năm 1998, Bộ VHTT vận động xây dựng “Nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc”

- Năm 1999, Uỷ ban MTTQVN vận động “Toàn dân đoàn kết xây

dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”

Trang 23

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 15

- Năm 2000, một số UBND tỉnh đã sát nhập hai cuộc vận động trên

thành cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng Đời sống mới

văn hóa”

- Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 5/8/2009 của BCH TW Đảng khóa X

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Nghị quyết số 24NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Thông tư số 54/2009/ TT-BNNPTNT ngày 21/ 2009 của Bộ NNPTNT về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Công văn số 7598/BTC-NSNN ngày 28/5/2009 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn nguồn vốn, đối tượng và mức hỗ trợ các dự án, nhiệm vụ trong việc xây dựng đề án nông thôn mới cấp xã

Như vậy, từ năm 1998 - 1999 đến nay đã diễn ra 3 cuộc vận động quy

mô lớn nhằm xây dựng một môi trường mới, một cuộc sống mới ở nông thôn,

đó là những cuộc vận động sau:

- Cuộc vận động “Xây dựng gia đình văn hóa”

- Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở”

- Cuộc vận động “Xây dựng nông thôn mới”

Ba cuộc vận động trên nối tiếp nhau, bổ sung cho nhau, góp phần tạo

nên sự biến đổi mạnh mẽ của làng xã trên mọi phương diện

2.1.3 Vai trò của phát triển làng văn hoá

Chúng ta đều biết văn hoá và phát triển có mối quan hệ biện chứng Nếu phát triển tách rời nhu cầu văn hoá và môi trường văn hoá thì sẽ mất cân đối và gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Xét cho cùng, mục đích

Trang 24

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 16

phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng là phải tạo ra được các giá trị văn hoá Vì vậy, xây dựng làng văn hoá là phù hợp với sự phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Làng xã, mường bản Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời Chính từ những làng bản đơn vị cơ sở này mà đất nước tồn tại và ghi được nhiều thành tựu, tạo nên một văn hoá làng có nhiều nét riêng Ngày nay, muốn đất nước có một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc như Đảng ta luôn nhấn mạnh, thì trước hết phải quan tâm tới văn hoá làng

Từ bao đời nay, làng xã Việt Nam đã trở thành đơn vị hành chính cơ

sở, nơi cộng đồng dân cư sinh sống , gắn bó chặt chẽ với nhau trong các quan hệ kinh tế, dòng tộc và văn hoá

Trong quá trình phát triển của dân tộc, làng xã Việt Nam đã khẳng định được vị trí, vai trò to lớn của mình qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước

Công cuộc đổi mới đất nước trong những năm qua cũng bắt đầu từ cơ

sở đổi mới nông nghiệp, nông thôn trước hết cũng diễn ra ở làng xã Ngày nay, 75% dân cư ở nước ta là nông dân, ở nông thôn, làm nông nghiệp, chiếm 70% lực lượng lao động toàn quốc Đây cũng là nơi trực tiếp biến mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước thành hiện thực sinh động của cuộc sống

Chính vì vậy, nông dân, nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề chiến lược hàng đầu, được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm Điều đó được thể hiện trong nhiều chính sách kinh tế và chủ trương chăm lo cho tổ chức, xây dựng các cộng đồng làng, xã, thôn, bản nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Bằng nhiều hình thức khác nhau, sinh hoạt cộng đồng làng xã đang từng bước được tổ chức lại Một số cộng đồng làng xã đã đạt được những thành tích quan trọng

Trang 25

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 17

trong phát triển kinh tế, xã hội, kế thừa và phát huy được những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc

Về phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nghị quyết đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ : « Xây dựng gia đình văn hoá có ý

nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất ổn định và cải thiện cuộc sống, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức văn hoá tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người, kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, của đoàn thể nhà trường, tập thể lao động, và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hoá »

Từ những quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn, chúng ta thấy làng văn hoá có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của quá trình này

Trước hết, vị trí của làng văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn hiện nay tập trung ở việc thay đổi những quan niệm, những nhận thức của nông thôn truyền thống sang nông thôn hiện đại Văn hoá cung cấp tri thức, những kinh nghiệm chuyển sản xuất tự cung tự cấp dựa trên sơ sở lao động thể thực với công cụ thô sơ sang nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần với cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế Nền sản xuất tự cung tự cấp gắn liền với nếp sống, nếp nghĩ ổn định, không chú ý cạnh tranh để phát triển Nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường là nền sản xuất năng động, nhạy cảm, chú ý khai thác mọi nguồn lực về trí tuệ, tài năng, nguồn vốn…để cạnh tranh phát triển

Nông thôn cổ truyền của chúng ta có truyền thống trọng tình cảm, yêu thương, đùm bọc lấy nhau Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, cần phải bổ sung vào đó tinh thần trọng khoa học, phát triển

Trang 26

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 18

tư duy trong sản xuất và trong sinh hoạt cộng đồng Làng văn hoá phải góp phần nâng cao sự hiểu biết, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, kỹ năng sản xuất, chống lại đầu óc bè phái, cục bộ, bản vị, coi thường ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực sản xuất

Từ các kết quả thu được từ địa phương và cơ quan nghiên cứu khoa học Nhà nước, đến nay có thể khẳng định : Chủ trương của Bộ Văn hoá - Thông tin về xây dựng làng văn hoá là phù hợp với đặc điểm xã hội ta hiện nay Bởi vì, hiện nay nông thôn nước ta, đặc biệt là trong khu vực sản xuất nông nghiệp, mỗi người dân, mỗi gia đình đã tự chủ trong sản xuất và sinh hoạt văn hoá xã hội Mọi vấn đề như : sản xuất, đi lại, ở, hoạt động văn hoá, tập quán… đều được giải quyết phù hợp với yêu cầu của mỗi người dân, gia đình, dòng họ trong làng, thôn, ấp…Do vậy, xây dựng làng văn hoá là nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của người dân và của gia đình trong sản xuất, tổ chức sinh hoạt và hưởng thụ văn hoá, đáp ứng yêu cầu thiết thực của nhân dân, phù hợp với sự đổi mới về cơ chế tổ chức và quản lý kinh tế, chính trị, xã hội nông thôn

Xây dựng làng văn hoá là thực hiện các Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nhằm tạo dựng một môi trường văn hoá lành mạnh, để mỗi người dân, gia đình, dòng họ có điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, bảo vệ, giữ gìn và phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp, loại

bỏ các hiện tượng dị loạn, cờ bạc, rượu chè… Xây dựng làng văn hoá là thiết thực xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư

Xây dựng làng văn hoá là vấn đề rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước nói chung và việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc nói riêng… Đại hội Đảng lần thứ VIII đã ghi vấn đề xây dựng làng văn hoá vào chương trình phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thì làng văn hoá, gia đình văn hoá

Trang 27

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 19

được ghi thành chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu trong 5 năm tới Gia đình văn hoá phải đạt 80%, làng văn hoá đạt 50% trên phạm vi toàn quốc Như vậy, xây dựng làng văn hoá không còn là vấn đề tranh luận nữa, mà là mục tiêu phải phấn đấu để chúng ta có làng thực sự là đơn vị văn hoá

2.1.4 Các tiêu chuẩn công nhận làng văn hoá

Tiêu chuẩn công nhận danh hiệu “Làng văn hóa” đối với vùng đồng bằng (cận đô thị) thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi đua, khen thưởng, với những tiêu chuẩn cụ thể như sau:

Tiêu chuẩn 1: Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển

- Có từ 85% hộ trở lên có đời sống kinh tế ổn định ; nhiều hộ sản xuất, kinh doanh giỏi ; dưới 5% hộ nghèo, không có hộ đói ;

- Có từ 80% hộ trở lên có nhà xây mái bằng hoặc lợp ngói, xoá nhà tranh tre, dột nát ;

- Trên 85% đường làng, ngõ xóm được đổ bêtông, lát gạch hoặc làm bằng vật liệu cứng ;

- Trên 90% số hộ được sử dụng điện

Tiêu chuẩn 2: Đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú

- Có các thiết chế văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, giáo dục, y tế phù hợp, hoạt động thường xuyên;

- Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng;

- Không có người mắc tệ nạn xã hội, tàng trữ văn hoá phẩm thuộc loại cấm lưu hành;

- Có từ 75% trở lên số hộ được công nhận danh hiệu "Gia đình văn hoá"; khu dân cư hoặc trên 70% số khu dân cư được công nhận danh hiệu

"Khu dân cư tiên tiến" 3 năm liên tục trở lên;

- 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trở lên; không có người mù chữ;

Trang 28

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 20

- Không có dịch bệnh, đông người bị ngộ độc thực phẩm; giảm hàng năm 1,5% tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi; trên 90% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ theo quy định, phụ nữ có thai được khám thai định kỳ

Tiêu chuẩn 3: Môi trường cảnh quan sạch đẹp

- Đường làng, ngõ xóm phong quang, sạch sẽ; thu gom xử lý rác thải;

- Có từ 85% hộ trở lên được sử dụng nước sạch, có nhà tắm, hố xí hợp

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân;

- Thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; xây dựng và thực hiện tốt quy ước, hương ước cộng đồng;

- Đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; không có khiếu kiện tập thể vượt cấp kéo dài;

- Chi Bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể được xếp loại khá trở lên;

- Chăm lo các đối tượng chính sách, đảm bảo có mức sống trung bình trở lên ở cộng đồng;

Trang 29

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 21

2.1.5 Các nội dung nghiên cứu phát triển làng văn hóa

Trên cơ sở các tiêu chí lớn nói trên của Bộ Văn hóa - Thông tin, theo chúng tôi, một làng văn hóa được xây dựng trên cơ sở đảm bảo các nội dung chủ yếu sau đây:

2.1.5.1 Nghiên cứu chủ trương xây dựng làng văn hóa

Ngày 17/7/1998, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 nhóm giải pháp lớn để xây dựng và phát triển văn hoá, trong đó nhóm giải pháp số 1 có ý nghĩa then chốt là “Mở cuộc vận động giáo dục Chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) nhằm thể chế hoá chủ trương của Đảng bằng quyết sách cụ thể, ngày 21/4/2000, tại tỉnh Quảng Nam - Ban chỉ đạo Trung ương phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã ra mắt Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã trực tiếp chỉ đạo và thay mặt Chính phủ phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (TDĐKXDĐSVH) trong toàn quốc Phong trào này kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm, kết quả đạt được từ các phong trào “Đời sống mới” (năm 1961), xây dựng “gia đình văn hoá”, “làng văn hoá” (năm 1991) và phong trào

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” (năm 1995) Phong trào là sợi dây đan kết các phong trào hiện có về xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở Mục tiêu chung của phong trào là: Đoàn kết xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống tốt đẹp; Đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá phong phú, lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội Với 5 nội dung cơ bản của Phong trào là: Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xoá đói giảm nghèo; Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh; Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật; Xây dựng môi trường văn hoá

Trang 30

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 22

sạch - đẹp - an toàn; Xây dựng các thiết chế về văn hoá - thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá thể thao cơ sở

Trên đây là những chủ trương chung, mang tính định hướng cho toàn

bộ phong trào phát triển làng văn hóa trên khắp cả nước Với mỗi vùng miền, mỗi tỉnh, huyện, xã lại có những đặc điểm kinh tế chính trị, xã hội, văn hóa không giống nhau Do đó, trên cơ sở những chủ trương chung này, mỗi địa phương lại phải xây dựng cho mình những chủ trương phát triển Làng văn hóa một cách phù hợp, hiệu quả

Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình, vấn đề đầu tiên cần phải tìm hiểu đó là chủ trương xây dựng làng văn hóa của huyện Chỉ có những chủ trương đúng đắn, trên cơ sở thực thi các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời phù hợp với đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện mới phát huy được hiệu quả và mang lại động lực để phát triển phong trào làng văn hóa của huyện

1.1.5.2 Nghiên cứu tình hình phát triển làng văn hóa

* Công tác xây dựng kế hoạch

Xây dựng kế hoạch là việc xác định các mục tiêu của tổ chức, hình thành các chiến lược chung để đạt được những mục tiêu đó, và xây dựng các phương pháp chi tiết để kết hợp và điều phối công việc của tổ chức Xây dựng

kế hoạch đề cập tới cả kết quả (những gì sẽ được thực hiện?) và phương tiện (những công việc đó được thực hiện như thế nào?) Hay nói một cách khác, xây dựng kế hoạch được hiểu là việc lựa chọn trước một phương án hành động trong tương lai cho tổ chức, bộ phận hay cá nhân trên cơ sở xác định các mục tiêu cần đạt được và phương pháp để đạt được mục tiêu đó Như vậy, nghiên cứu việc xây dựng kế hoạch phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình

là nghiên cứu quá trình xác định mục tiêu của phong trào và phương pháp cũng như hành động mà BCĐ cùng với các cơ quan đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội và toàn bộ người dân cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu này

Trang 31

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 23

Công tác xây dựng kế hoạch có vai trò quan trọng trong phát triển làng văn hóa và là mối quan tâm đầu tiên khi đánh giá thực trạng phát triển của phong trào Xây dựng kế hoạch giúp cho BCĐ cùng các cấp chính quyền ứng phó tốt hơn với những tình huống bất định Do việc xây dựng kế hoạch đòi hỏi người lập phải có các dự báo về tương lai nên bản thân quy trình xây dựng

kế hoạch đã giúp cho các cán bộ văn hóa thấy được các tình huống bất định

có thể xảy ra trong tương lai và dự báo trước phương hướng khắc phục nếu các tình huống đó xảy ra Nếu như hệ thống kế hoạch phát triển làng văn hóa

ở Gia Bình được xây dựng một cách linh hoạt thì trước sự thay đổi trong tương lai, người làm công tác phát triển cũng có cơ sở để tìm biện pháp phù hợp nhất nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra

Xây dựng kế hoạch phát triển làng văn hóa giúp định hướng cho cán bộ

và người dân Bản thân việc xây dựng kế hoạch là việc xác định mục tiêu cho phong trào Để đạt được mục tiêu đó thì cần phải có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức xã hội và người dân Mỗi thành phần này phải đảm nhận các chức năng và nhiệm vụ khác nhau Khi các thành phần liên quan biết được phong trào sẽ đi về đâu và họ sẽ phải làm những gì để đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu, họ có thể điều phối công việc của mình, hợp tác với nhau, và thực hiện những nhiệm vụ cần thiết Nếu không xây dựng kế hoạch, sẽ không tập trung được nguồn lực để phát triển phong trào

Xây dựng kế hoạch phát triển làng văn hóa giúp giảm thiểu những trùng lặp và lãng phí trong quá trình thực hiện Khi các hoạt động phát triển được điều phối thì thời gian, các nguồn lực không cần thiết và sự trùng lặp giữa các thành phần được giảm tối đa Hơn nữa, khi các phương thức thực hiện và kết quả được làm rõ, sẽ dễ nhận thấy những bất hợp lý để khắc phục

và loại bỏ

Xây dựng kế hoạch phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình còn là việc xây dựng các mục tiêu và các tiêu chuẩn được sử dụng trong quá trình

Trang 32

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 24

kiểm tra, đánh giá phong trào Ngoài ra, còn là sự kế thừa của những mô hình làng văn hóa và những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình phát triển làng văn hóa trên địa bàn huyện cũng như trên cả nước

* Công tác chỉ đạo điều hành

Chỉ đạo điều hành phát triển làng văn hóa là quá trình phát động và duy trì phong trào theo kế hoạch đề ra bằng cách tác động lên các thành phần liên quan và phối hợp hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và người dân để hoàn thành các nhiệm vụ của mình và mục tiêu chung của phong trào

Chỉ đạo điều hành không chỉ là việc chỉ huy, điều khiển những người tham gia công tác phát triển làng văn hóa hướng vào những mục tiêu nhất định mà còn bao gồm cả việc phối hợp hoạt động

của các thành phần liên quan để đạt đến mục tiêu chung của phong trào

Công tác chỉ đạo điều hành được thể hiện ở các quyết định của BCĐ phong trào đưa ra, là việc tổ chức truyền đạt và thực hiện các quyết định bằng các giao nhiệm vụ, ra lệnh, động viên, khen thưởng… giúp cho phong trào làng văn hóa ngày càng phát triển

Trên cơ sở cơ cấu kinh tế đã được xác định, từng địa phương tiến hành chỉ đạo các ngành, các cấp khai thác triệt để các nguồn lực, quyết định cơ cấu vốn đầu tư và động viên nhân dân ra sức phát triển sản xuất kinh doanh theo

Trang 33

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 25

hướng từng bước tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra nguồn lực mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và ổn định

Trong những năm qua, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn nông thôn, các cấp lãnh đạo đã và đang hỗ trợ người lao động đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, tích cực sử dụng các loại giống mới, nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi Mặt khác, chú ý sản xuất tiểu thủ công nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ khôi phục các làng nghề truyền thống, thúc đẩy mở rộng các hoạt động thương mại, dịch vụ phục vụ sản xuất và sinh hoạt Nhờ vậy, kinh

tế ở nhiều làng đã có những chuyển biến rõ rệt, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện Phong trào đẩy mạnh phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới ở các làng xã nước ta đang được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng Theo đó việc vận động xây dựng làng văn hóa đã huy động được

cả nhân lực, vật lực, tài lực của các cá nhân và cộng đồng cho hoạt động của phong trào Các địa phương cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa lợi thế này để quá trình xây dựng làng văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu và đạt kết quả cao hơn

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của cuộc vận động xây dựng làng văn hóa

Khác với công chức Nhà nước, cán bộ xã có sự kết hợp chặt chẽ cả bốn yếu tố: người dân, người cùng họ hàng, người đại diện của cộng đồng và người đại diện cho Nhà nước ở địa phương Bốn yếu tố này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, xung đột nhau trong con người cán bộ xã, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân và cộng đồng

Một thực tế đáng quan tâm là, cán bộ xã nói chung chưa được đào tạo

cơ bản về văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ Hầu hết cán bộ trưởng thành trong

số những thanh niên "không thoát ly được", hoặc là bộ đội xuất ngũ và một số

ít cán bộ Nhà nước đã nghỉ hưu Do vậy, trình độ kiến thức và năng lực công tác còn yếu về nhiều mặt Số cán bộ cơ sở có trình độ văn hóa dưới phổ thông

Trang 34

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 26

cơ sở chiếm khoảng 50% Do vậy, năng lực tổ chức các hoạt động còn lúng túng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Mặt khác, đội ngũ cán bộ cơ

sở ngày càng tăng làm cho bộ máy quá cồng kềnh Trong cả nước với 10.500 đơn vị cơ sở có tới trên 2 triệu cán bộ xã, trong đó trên 50% cán bộ do Chính phủ quy định Hiện nay xu hướng tăng thêm cán bộ xã được hưởng các khoản phụ cấp ngày càng phổ biến ở các địa phương nhưng cuộc vận động xây dựng làng văn hóa không vì thế mà được quan tâm tạo thêm nguồn cán bộ phục vụ phong trào Điều này đòi hỏi cuộc cải cách bộ máy nhà nước phải quan tâm khắc phục để tạo ra sự vận hành đồng bộ trong chương trình chung

Ba là, tổ chức xây dựng thiết chế văn hóa và tổ chức an ninh của dân

Xây dựng làng văn hóa là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân Vì vậy mô hình làng văn hóa mới, những thiết chế, cách thức tổ chức hoạt động và mức đóng góp của từng hộ gia đình phải được nghiên cứu và thảo luận kỹ để giành được sự đồng tình, thống nhất cao trong cộng đồng làng, biến thành nhiệm vụ chính trị của địa phương và của từng gia đình, dòng họ, cá nhân

Những thiết chế văn hóa cơ bản như: trường học, nhà văn hóa, thư viện, các câu lạc bộ (câu lạc bộ văn hóa dân gian, câu lạc bộ khuyến học ) y tế, đội thông tin, đội văn nghệ, các đội bóng, các hội, đoàn mang màu sắc văn hóa

do nhu cầu ở làng xã cần thiết phải thành lập Các thiết chế văn hóa này rất cần thiết cho việc khôi phục và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong các cộng đồng làng

Để duy trì phong tục và tín ngưỡng, mỗi làng có một số tổ chức của dân

đã tồn tại lâu đời Ngày nay nhân dân một số làng xã đang có yêu cầu khôi phục lại một số tổ chức còn phù hợp và có tác dụng Thực tế ở nhiều nơi đã khôi phục lại một phần (ví dụ Hội bảo thọ) các tổ chức ấy để dân tự quản, tự

lo liệu lấy công việc nội bộ như cúng bái đình chùa, tổ chức tang ma, cưới

Trang 35

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 27

xin, giải quyết xích mích, duy trì phong tục đạo đức, ổn định trật tự an ninh theo qui ước của làng

Lực lượng bảo vệ an ninh làng xóm do dân tự quản lý, có sự chỉ đạo của chính quyền cấp xã sẽ có nhiều thuận tiện trong công việc Khả năng "tác chiến" mau lẹ, kịp thời, hiệu quả hơn là chờ đợi sự chỉ huy từ cấp trên

Tổ chức chung của dân này cần được đặt một cái tên thích hợp hơn, có thể gọi là "Hội đồng quản trị làng"

Bốn là, xây dựng hương ước, qui ước làng văn hóa

Cách đây hơn 40 năm, vào năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tiếp đoàn cán bộ huyện Thái Bình tại Phủ Chủ tịch đã phê bình các cán bộ địa phương đã "quá tả", xóa bỏ quỹ nghĩa thương và hương ước Người khẳng định:

"Hương ước là những khoản ước trong làng, người ta quy định với nhau

không được để trâu bò phá lúa, gà qué ăn mạ đó là những phong tục hay của nông thôn nước ta trước đây Từ sau cách mạng, các chú đem xóa bỏ cả, thế là không đúng Cách mạng chỉ xóa cái xấu, cái dở còn giữ lại cái tốt, cái hay" [Hương ước và pháp luật, tr 48]

Ngày nay, mặc dù bên cạnh xây dựng luật pháp thống nhất với khẩu hiệu "Sống và làm việc theo pháp luật", Đảng và Nhà nước ta vẫn khuyến khích các làng (thôn, bản, ấp) xây dựng và thực hiện quy ước văn hóa (hương ước mới) để phát huy tinh thần tự quản của nhân dân ở cơ sở Thực tiễn đang đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải nhìn nhận lại hương ước từ góc độ văn hóa

để nó phục vụ sự nghiệp xây dựng nền văn hóa theo định hướng XHCN nói chung và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn nói riêng

Năm là, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với sự đổi mới về chính trị đang diễn ra ở các cộng đồng làng xã hiện nay Có thể nói, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là sự quyết tâm chiến lược của Đảng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống nông thôn hiện nay Chủ chương trên đã đem lại cho người dân

Trang 36

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 28

quyền bàn bạc, quyết định và giám sát tất cả những gì liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ Thực tế, thông qua thực hiện quy chế dân chủ, nông dân được thức hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong cộng đồng làng xã cũng như trong toàn xã hội Có từ 80% đến 90% nông dân trong mọi miền đất nước tham gia vào học tập và triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở Nhờ

đó đã thúc đẩy nông dân phát huy quyền làm chủ và sáng tạo xây dựng cộng đồng làng xã và đất nước Ở nông thôn từng cộng đồng làng xã đã tự bàn bạc

và quyết định góp vốn, góp công sức xây dựng mới ở nông thôn như đường, trường, điện, nước, nhà ở, kênh mương, tạo ra đà phát triển mới ở nông thôn Mọi tiềm năng trong cộng đồng đều được chú ý khai thác hoặc sẽ khai thác trong thời gian không xa Mọi sự huy động xã hội để tạo ra sức mạnh chung cho nông dân thật sự đang diễn ra với hiệu quả và triển vọng đáng khích lệ

Sáu là, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa

Mỗi làng cần thường xuyên thực hiện cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa với bốn nội dung đã được xác định:

- Gia đình thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình

- Xây dựng gia đình ấm no, hòa thuận, hạnh phúc và tiến bộ

- Đoàn kết, tương trợ xóm làng

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân

Thực hiện 6 vấn đề cơ bản nói trên có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến

xu thế vận động và phát triển của phong trào xây dựng làng văn hóa ở nước ta nói chung và ở Gia Bình nói riêng

Xây dựng làng văn hóa là một công việc đa dạng và không ít phức tạp; việc tổ chức thực hiện không thể có một mô hình chung, lý tưởng mà phải phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của từng vùng, miền Điều đặc biệt quan trọng là chúng ta phải huy động được sức mạnh của đông đảo nông dân, cùng với những định hướng và những kinh nghiệm đã và đang có ở một số địa

Trang 37

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 29

phương để tiến hành xác lập cơ chế tổ chức thực hiện Làng văn hóa sẽ trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển ở nông thôn Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Việc lựa chọn làng là đơn vị cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở khu vực nông thôn là mô hình thích hợp và đúng đắn trong thời kỳ mới Làng văn hóa là sức sống mới của nông thôn Việt Nam trên chặng đường CNH, HĐH Xây dựng làng văn hóa phải gắn liền với xây dựng thiết chế văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng và thực hiện hương ước, qui ước văn hóa, thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị tích cực của văn hóa làng truyền thống, nhằm thực sự phát huy vai trò của văn hóa trong quá trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn

* Công tác lồng ghép, phối kết hợp với các chương trình kinh tế - xã hội,

phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình trong thời gian vừa qua

* Công tác xã hội hóa, tập trung các nguồn lực

Phát triển làng văn hóa là một cuộc vận động lâu dài và sâu sắc trên qui

mô lớn nên đòi hỏi phải có sự nỗ lực và đóng góp chung của toàn xã hội Để đánh giá thực trạng phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình cần phải nghiên cứu và đánh giá được thực trạng công tác xã hội hóa và tập trung nguồn nhân lực cho phong trào Cụ thể là mức độ tham gia và ủng hộ của người dân, các

tổ chức kinh tế, xã hội và của chính bộ máy chính trị của các xã, huyện Sự

Trang 38

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 30

tham gia này là sự ủng hộ về mặt tinh thần cũng như kinh tế của các thành phần liên quan Trên cơ sở đánh giá mức độ tham gia và ủng hộ của xã hội đối với phong trào trong 10 năm qua, các giải pháp để tăng cường công tác xã hội hóa, tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ phát triển phong trào trong thời gian tới sẽ được đưa ra và thực hiện

* Việc xây dựng mô hình và phương pháp thực hiện phù hợp cho từng làng

Báo cáo tổng kết công tác văn hóa thông tin năm 1996 của Bộ Văn hóa

- thông tin về công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở có viết: "Các địa phương tiếp tục tìm tòi và áp dụng các hình thức hoạt động thích hợp với cơ

sở ở từng vùng, từng khu vực, địa phương"; điều này chứng tỏ việc xác định

mô hình hoạt động, nội dung và tiêu chí cụ thể để xây dựng đời sống văn hóa

ở cơ sở nói chung và ở làng văn hóa nói riêng là rất quan trọng Chỉ khi tìm ra

mô hình thích hợp, những nội dung và tiêu chí cụ thể cho mỗi thôn, làng thì phong trào mới phát huy được hiệu quả

* Công tác vận động tuyên truyền

Vận động tuyên truyền là một trong những hoạt động quan trọng của công tác phát triển làng văn hóa, là động lực thúc đẩy phong trào đi vào đời sống người dân, tạo nên sự thống nhất hành động của các cấp chính quyền, đoàn thể, sự đồng thuận của xã hội, cổ vũ quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra của phong trào

Trong quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển làng văn hóa ở huyện Gia Bình, nhất thiết phải nghiên cứu và đánh giá được những việc đã làm được và chưa làm được trong công tác vận động tuyên truyền phát triển phong trào Cụ thể là trả lời cho các câu hỏi về hiệu quả thực hiện vận động tuyên truyền, công tác này đã được tiến hành như thế nào, mức độ bao phủ và tiếp cận đến người dân và những thành phần liên quan ra sao, nội dung vận động tuyên truyền có theo đúng các mục tiêu của phong trào chưa,

Trang 39

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 31

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển làng văn hoá trong giai đoạn hiện nay

Phát triển làng văn hóa là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Sau 10 năm, phong trào đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đem đến cho nông thôn Việt Nam một làn gió mới, làm cho đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của từng hộ dân ngày càng phát triển

Hiện nay, phong trào đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không

ít thách thức Có rất nhiều yếu tố tích cực, ảnh hưởng thuận lợi đến sự phát triển của phong trào nhưng cũng có tồn tại nhiều yếu tố tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của làng văn hóa

Về các yếu tố ảnh hưởng tích cực, có thể nhận thấy đó là một chủ trương đúng đắn, được quán triệt từ Trung ương đến địa phương, được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện; được các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng mạnh mẽ, nên phong trào ngày càng phát triển sâu rộng trong cả nước, đạt nhiều thành tựu quan trọng

Trong thời kỳ kinh tế bao cấp nông dân gặp nhiều khó khăn: Không được tự do lao động trên chính mảnh ruộng của mình về cơ chế quản lý thời, lạc hậu, kìm hãm sức sản xuất của người dân dẫn đến tình trạng đói kém nhiều năm, một số nơi tình hình xã hội không ổn định, nội bộ mất đoàn kết, dân kéo nhau đi khiếu kiện vượt cấp tố cáo lãnh đạo địa phương vì thiếu trách nhiệm trong quản lý, lao động, vì tư lợi tham nhũng của nhà nước và của nhân dân

Từ năm 1986, khi Đảng ta phát động phong trào đổi mới đã làm cho tình hình nông thôn nhanh chóng ổn định Nông dân đồng tình thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng vì họ nhận thấy sự nghiệp đổi mới của Đảng đề ra là con đường cho nhiều nông dân thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, đói kém

để tiến lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Trang 40

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……… 32

Từ chỉ thị khoán 100 của Đảng, mỗi hộ nông dân đã trở thành một đơn

vị sản xuất hoàn toàn độc lập Người nông dân toàn quyền sử dụng quỹ thời gian cũng như nhân lực trong gia đình mình để thực hiện những mục tiêu đã

đề ra Họ đã trở thành những người chủ thực sự của ruộng đồng và của xã hội,

do đó ngày đêm họ suy nghĩ, trăn trở, lăn lộn với công việc đồng áng để tìm

ra hướng đi cụ thể cho gia đình mình Trồng cây gì? Nuôi con gì? Để nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu bằng chính mồ hôi, sức lao động và trí tuệ của mình

Đường lối đúng đắn của Đảng trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy làng quê nghèo nàn, buồn tẻ, ảm đạm trước đây thành một vùng kinh tế năng động, hiệu quả đóng góp cho đất nước những vụ mùa bội thu, đưa nước ta trở thành nước sản xuất lúa gạo có uy tín trên thế giới và xuất khẩu gạo đứng thứ

2 trên thế giới

Theo quy luật chung của thế giới, đất nước muốn phát triển không thể duy trì nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, bởi vì: kinh tế nông nghiệp phụ thuộc quá chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, chu kỳ thời gian để cho hạt lúa, củ khoai, con lợn trưởng thành đến mùa thu hoạch quá dài, mặt khác, nền kinh tế nông nghiệp lại bấp bênh, thường bị bão tố, lũ lụt, sâu bệnh tàn phá, do đó tiến hành Công nghiệp hóa - Đô thị hóa - Hiện đại hóa là một nhiệm vụ quan trọng

và một việc làm tất yếu để thúc đẩy kinh tế - xã hội vươn lên

Nhờ thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa - mà vùng núi, vùng nông thôn đã nhanh chóng thay đổi Hàng chục nghìn km đường giao thông quốc gia, liên tỉnh, liên huyện đã được nâng cấp và làm mới tạo thành một mạng lưới đường giao thông thủy bộ thuận lợi, khắc phục tình trạng phân tán, chia cắt giữa các vùng kinh tế trước đây Sản phẩm của người nông dân làm

ra đã dễ dàng lưu thông phân phối, trao đổi, lan tản ra các khu vực lân cận làm có giá trị nông sản cao hơn, tăng thêm thu nhập cho nông dân

Ngày đăng: 22/11/2014, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.Lê Như Hoa (Chb) (1996). Phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Văn Mạnh (1999). Văn hoá làng và làng văn hoá ở Quảng Nam. Nxb Thuận Hoá, Huế Khác
5. Trần Bình Minh (2000). Mô hình xây dựng làng văn hoá ở nông thôn Bình Định. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác
6. Hoàng Anh Nhân (1996). Văn hoá làng và làng văn hoá xứ Thanh. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
7. Trần Thị Kim Quế (2004). Xây dựng làng văn hoá ở huyện Hải Hậu – Nam Định trong thời kỳ đổi mới. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác
8. Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh (1995). Văn hoá và xây dựng làng văn hoá - kỷ yếu hội thảo khoa học – Hà Tĩnh. Hà Tĩnh Khác
9. Trần Hữu Tòng (Chb), Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy Quỳ (1997). Một số vấn đề xây dựng làng văn hoá, ấp văn hoá hiện nay. Nxb Hà Nội, Hà Nội Khác
10. Lê Quang Trấn (Chb), Nguyễn Văn Tâm, Trần Thị Ánh Tuyểt (2001). Hội nông dân Việt Nam với phong trào xây dựng gia đình nông dân văn hoá, thôn, ấp, bản, làng văn hoá. Nxb Lao Động, Hà Nội Khác
11. Viện Văn Hoá (1986). Vấn đề xây dựng văn hoá trên địa bàn huyện. Hà Nội Khác
12. Trần Quốc Vượng (1997). Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
13. Huỳnh Khải Vinh (2001). Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Bảng số lượng phiếu điều tra giành cho đại diện hộ gia đình và  đại diện thôn làng - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2. Bảng số lượng phiếu điều tra giành cho đại diện hộ gia đình và đại diện thôn làng (Trang 62)
Bảng 3.1. Bảng số lượng đối tượng điều tra theo các nhóm làng  Đối tượng điều tra  Nhóm làng - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1. Bảng số lượng đối tượng điều tra theo các nhóm làng Đối tượng điều tra Nhóm làng (Trang 62)
Bảng 3.3. Bảng điểm xét công nhận danh hiệu làng văn hóa - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3. Bảng điểm xét công nhận danh hiệu làng văn hóa (Trang 65)
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ đánh giá của người dân về sự cần thiết của   phong trào xây dựng LVH - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ đánh giá của người dân về sự cần thiết của phong trào xây dựng LVH (Trang 84)
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ các làng văn hóa theo nhóm làng - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ các làng văn hóa theo nhóm làng (Trang 85)
Hình 4.2. Biểu đồ số lượng làng đăng ký và làng được công nhận danh  hiệu LVH của huyện Gia Bình từ năm 2000 đến 2010 - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Hình 4.2. Biểu đồ số lượng làng đăng ký và làng được công nhận danh hiệu LVH của huyện Gia Bình từ năm 2000 đến 2010 (Trang 85)
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ LVH trong các nhóm làng - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ LVH trong các nhóm làng (Trang 86)
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ làng được công nhận mới và làng bị tước danh  hiệu LVH của huyện Gia Bình qua các năm - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ làng được công nhận mới và làng bị tước danh hiệu LVH của huyện Gia Bình qua các năm (Trang 87)
Bảng 4.1. Bảng so sánh về kinh tế giữa các làng đã được công nhận và các  làng chưa được công nhận là LVH ở huyện Gia Bình - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.1. Bảng so sánh về kinh tế giữa các làng đã được công nhận và các làng chưa được công nhận là LVH ở huyện Gia Bình (Trang 89)
Bảng 4.2. Bảng đánh giá sự phát triển về mặt kinh tế của các làng khi  mới đăng ký và khi được công nhận danh hiệu LVH ở huyện Gia Bình - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2. Bảng đánh giá sự phát triển về mặt kinh tế của các làng khi mới đăng ký và khi được công nhận danh hiệu LVH ở huyện Gia Bình (Trang 90)
Bảng 4.3. Bảng đánh giá sự phát triển làng văn hóa về mặt chất lượng  theo từng nhóm làng - Nghiên cứu giải pháp phát triển làng văn hoá ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3. Bảng đánh giá sự phát triển làng văn hóa về mặt chất lượng theo từng nhóm làng (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w