Tuy vậy, người chăn nuôi hiện nay còn có rất ít kiến thức về chăn nuôi thỏ, thức ăn chủ yếu cho thỏ vẫn dựa vào các cây cỏ tự nhiên nên khẩu phần ăn thường không phát huy hết tiềm năng d
Trang 1- -
PHÙNG HUY THẮNG
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG RAU LANG VÀ RAU MUỐNG PHỐI HỢP VỚI CỎ HÒA THẢO ĐỂ NUÔI THỎ THỊT
NEW ZEALAND SINH TRƯỞNG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRẠCH
HÀ NỘI - 2012
Trang 2- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Phùng Huy Thắng
Trang 3
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Xuân Trạch người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa - Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản; các cán bộ của Viện sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Phùng Huy Thắng
Trang 4
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
2.1.6 Các loại thức ăn cho thỏ dùng trong thí nghiệm 14
2.2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THỎ Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 17
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 22
Trang 53.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 24
4.1 THÀNH PHẦN, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA THỨC ĂN VÀ KHẨU
4.4.1 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ voi bằng rau muống đến tăng trọng và
4.4.2 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ setaria bằng rau lang đến tăng trọng và
4.5.1 Thí nghiệm thay thế cỏ setaria bằng rau lang ở các mức khác nhau 49
4.5.1 Thí nghiệm thay thế cỏ voi bằng rau muống ở các mức khác nhau 46
Trang 6Bảng 2.1: Tỷ lệ các bộ phận đường tiêu hóa của gia súc (%) 4
Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ qua các thời kì 8
Bảng 2.4: Thành phần hóa học của thân lá khoai lang 15
Bảng 3.1: Nhiệt độ trung bình qua các tuần thí nghiệm 22
Bảng 4.1 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 27
Bảng 4.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm được thay thế
Bảng 4.3 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm được thay thế
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các khẩu phần ăn đến lượng thức ăn thu nhận khi thay thế
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các khẩu phần ăn đến lượng thức ăn thu nhận khi thay thế
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ voi bằng rau muống đến tiêu hoá thức ăn
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ Setaria bằng rau lang đến tỷ lệ tiêu hoá thức
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ voi bằng rau muống đến tăng trọng và
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ Setaria bằng rau lang đến tăng trọng và
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ Setaria bằng rau lang đến thành phần cơ
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mức thay thế cỏ voi bằng rau muống đến thành phần cơ thể
Trang 7Hình 2.1: Phân thường và phân vitamin
Đồ thị 4.1 Khối lượng tích lũy của thỏ qua các tuần tuổi khi thay thế cỏ setaria bằng rau
Đồ thị 4.2 Khối lượng tích lũy của thỏ qua các tuần tuổi khi thay thế cỏ voi bằng rau
Trang 8X: Trung bình
ADF: Xơ không tan trong dung dịch axit
ADG: Tăng trọng bình quân hàng ngày
Trang 91 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nhiều giống thỏ ngoại đã được nhập vào nước ta nhằm tăng nhanh năng suất chăn nuôi và đã được nông dân ưa chuộng Tuy vậy, người chăn nuôi hiện nay còn có rất ít kiến thức về chăn nuôi thỏ, thức ăn chủ yếu cho thỏ vẫn dựa vào các cây cỏ tự nhiên nên khẩu phần ăn thường không phát huy hết tiềm năng di truyền của các giống thỏ nhập nội có tốc độ sinh trưởng nhanh Khẩu phần ăn cho thỏ nhập nội sinh trưởng cần có hàm lượng protein cao, trong khi đó thì phần lớn các loại cỏ lá bình thường có tỷ lệ protein thấp hơn nhu cầu của thỏ rất nhiều Do vậy, việc bổ sung protein là rất cần thiết Tuy nhiên, khác với động vật nhai lại, không thể bổ sung protein cho thỏ dưới dạng nitơ phi protein
Việc sản xuất và bổ sung thức ăn dạng viên hỗn hợp giàu đạm là một giải pháp dinh dưỡng tốt về mặt kỹ thuật được áp dụng rộng rãi tại các nước tiên tiến Tuy nhiên, nuôi thỏ bằng thức ăn viên hỗn hợp hoàn chỉnh có thể không kinh tế
và không bền vững trong điều kiện chăn nuôi nông hộ ở nước ta
Một số loại cỏ có năng suất chất xanh cao và giàu chất xơ như cỏ Voi
(Pennisetum purpureum), cỏ Lông Para (Brachiaria mutica), cỏ Setaria (Setaria sphacelata), cỏ Guinea (Panicum maximum) vv…thường được người
nông dân trồng để nuôi thỏ Tuy nhiên, hàm lượng protein của các loại cỏ này thấp (trên dưới 10% CP), thấp hơn nhiều so với nhu cầu của thỏ nhập nội sinh trưởng nên không đáp ứng được nhu cầu của thỏ
Một trong những loại cây lá có hàm lượng protein cao hay được sử
dụng trong chăn nuôi là cây rau muống (Ipomoea aquatica Forsk) Khoai lang (Ipomoea batatas) cũng là một loài cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứa
nhiều tinh bột có vị ngọt, là một nguồn cung cấp rau, củ quan trọng, được sử dụng với vai trò của cả rau lẫn lương thực Các lá non và thân non cũng được
Trang 10sử dụng như một loại rau với hàm lượng protein cao (18% vật chất khô).(Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2005) [6]
Việc nghiên cứu tìm các khẩu phần ăn hợp lý cho các loại thỏ nhập nội trên cơ sở phối hợp các nguồn cây cỏ thuộc nhóm giàu xơ và protein cao là hết sức cần thiết nhằm khai thác được tối đa các nguồn thức ăn có thể sản xuất tại chỗ và nhằm đáp ứng tốt nhu cầu thực tiễn sản xuất chăn nuôi thỏ hiện nay ở nước ta, đặc biệt là chăn nuôi thỏ nông hộ
Xuất phát từ những vấn đề đó chúng tôi tiến hành đề tài:“Nghiên cứu
sử dụng rau Lang và rau Muống phối hợp với cỏ hòa thảo để nuôi thỏ thịt New Zealand sinh trưởng ”
- Đánh giá hiệu quả kỹ thuật của việc thay thế, bổ sung các khẩu phần
cơ sở là các loại cỏ giàu xơ thông dụng (cỏ voi và cỏ setaria) bằng các nguồn thức ăn xanh có hàm lượng protein cao (rau muống, rau lang )
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thay sử dụng thức ăn có hàm lượng
protein cao nói trên
- Tìm ra tỷ lệ phối hợp thích hợp giữa các loại thức ăn xanh giàu protein và thức ăn giàu xơ trong khẩu phần nuôi thỏ New Zealand
Trang 112 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Tiêu hóa và hấp thu của thỏ
2.1.1.1 Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của thỏ
Thỏ là động vật có vú nhỏ (Mamalia) lớp phụ động vật có vú chính thức (Theria), thuộc nhóm động vật có vú bậc cao (Eutheria), bộ gặm nhấm (Glires) Thỏ có dạ dày đơn nhưng manh tràng lại rất phát triển, chính vì vậy
nó sử dụng thức ăn xanh làm thức ăn chính (Đinh Văn Bình và cộng sự, 2007) [4]
Cơ quan tiêu hoá của thỏ bao gồm: miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già
- Thực quản thỏ: Chạy dài song song với các đốt sống cổ và tận cùng đến dạ dày Chức năng của thực quản là để nuốt và dẫn thức ăn từ miệng xuống dạ dày
- Dạ dày: Thỏ có dạ dày đơn giống ngựa, co giãn tốt nhưng co bóp yếu
Dạ dày thỏ luôn luôn chứa đầy thức ăn Nếu dạ dày lép kẹp hoặc chứa tạp chất thể lỏng là thỏ bị bệnh, phân thải nhão không thành viên Vì vậy khi nuôi thỏ phải chú ý cung cấp thức ăn thường xuyên
- Ruột non: Có chiều dài 4 - 6m, đường kính 0,8 - 1cm, gồm có: Tá tràng, không tràng và hồi tràng Đây là nơi tiêu hóa và hấp thu protein, bột đường và lipit
- Manh tràng: Manh tràng của thỏ là một túi mù thông với đoạn nối giữa ruột non và ruột già Dung tích manh tràng lớn gấp 5 – 6 lần dạ dày và
có khả năng tiêu hóa xơ nhờ hệ vi sinh vật cộng sinh gồm: protoza, nấm và vi khuẩn có lợi Nếu một yếu tố nào đó làm mất cân bằng của hệ vi sinh vật này (như stress, uống kháng sinh, khẩu phần nhiều mỡ nghèo xơ hay quá nhiều đường bột v.v…) thì các loại vi khuẩn gây hại sẽ phát triển và sản sinh độc tố
Trang 12gây hại cho thỏ Nếu thiếu thức ăn thô xơ thì dạ dày và manh tràng trống rỗng gây cho thỏ có cảm giác đói cũng gây rối loạn hệ vi sinh vật Nếu ăn thức ăn nghèo xơ hoặc ăn rau xanh, củ quả chứa nhiều nước, nẫu nát, dễ phân huỷ thì làm thỏ rối loạn tiêu hoá như tạo ra nhiều khí, phân không tạo thành viên cứng, đường ruột căng khí, đầy bụng gây ỉa chảy
- Ruột già: gồm kết tràng và trực tràng Kết tràng được chia ra làm 2 phần, một phần lồi, tròn và nổi lên, một phần hẹp có hình ống nối liền với trực tràng nằm trong xoang chậu
Tỷ lệ dung tích các bộ phận đường tiêu hóa của thỏ cũng khác so với của các gia súc khác (bảng 2.1) Manh tràng ở thỏ chiếm dung tích rất lớn (49%)
Bảng 2.1: Tỷ lệ các bộ phận đường tiêu hóa của gia súc (%)
2.1.2 Sơ lược về giống thỏ New Zealand White
Thỏ New Zealand có nguồn gốc từ New Zealand, được nuôi phổ biến ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ Giống thỏ này được nhập vào Việt Nam từ
Trang 13Hungari lần đầu tiên vào năm 1978 Sau 25 thế hệ nuôi nhân thuần tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, đàn thỏ ít nhiều bị cận huyết, khối lượng giảm xuống đáng kể so với lúc mới nhập về, trưởng thành con đực nặng 4,2 - 4,5kg; con cái nặng 3,3 - 4kg (Đinh Văn Bình và Ngô Tiến Dũng 2005) [3]
Năm 2000 thỏ Newzealand trắng được nhập lại lần 2 về nuôi nhân thuần và để làm tươi máu đàn thỏ cùng giống trước đây Thỏ Newzealand trắng là giống thỏ tầm trung, mắn đẻ, sinh trưởng nhanh, thành thục sớm, nhiều thịt Giống thỏ này là giống phù hợp với phương thức chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi gia đình ở nước ta Thỏ có đặc điểm ngoại hình: Lông dày, màu trắng tuyền, mắt hồng Khối lượng trưởng thành từ 5 – 5,5kg/con Tuổi động dục lần đầu 4 - 4,5 tháng tuổi và tuổi phối giống lần đầu từ 5,5 – 6 tháng tuổi, khối lượng phối giống lần đầu đạt 3 – 3,2kg/con (Đinh Văn Bình
và cộng sự, 2007) [4]
Đàn thỏ giống này nhập về Việt Nam năm 2000 có khả năng sinh sản
và sinh trưởng cao hơn hẳn so với các giống thỏ Việt Nam: Một năm đẻ từ 6 –
7 lứa, mỗi lứa 6 - 8 con, khối lượng con sơ sinh 55 – 60g/con, khối lượng con cai sữa 650 – 700g/con, khối lượng thỏ lúc 3 tháng tuổi 2,8 – 3kg, tỷ lệ thịt xẻ
52 – 55% Giống thỏ này đã thích ứng tốt với điều kiện chăn nuôi gia đình ở khắp các vùng trong cả nước Hàng triệu con thỏ giống này đã được đưa ra chăn nuôi đạt kết quả tốt ở nhiều vùng nước ta
2.1.3.2 Đặc điểm tiêu hoá của thỏ
Quá trình tiêu hoá thức ăn được bắt đầu từ miệng Thức ăn được nghiền bởi răng và trộn nước bọt rồi theo thực quản xuống dạ dày Ở dạ dày protein thức ăn được tiêu hoá nhờ tác dụng của dịch vị mà chủ yếu là pepsine Men này được hoạt hoá bởi HCl, là một axit vô cơ, hàm lượng phụ thuộc vào lượng muối NaCl cung cấp hàng ngày Nếu thiếu muối trong khẩu phần ăn thì dịch vị tiết ra ít, thỏ sẽ không sử dụng hết protein trong thức ăn Chính vì vậy, muốn quá trình tiêu hoá protein đạt hiệu quả cao thì trong khẩu phần ăn của thỏ không được thiếu muối ăn Cấu tạo dạ dày thỏ không thích ứng với việc
Trang 14tiêu hoá chất xơ Trong dạ dày thức ăn được xếp thành từng lớp và cứ thế chuyển dần xuống ruột non Các chất protein, gluxit, lipit có trong thức ăn được tiêu hoá phần lớn ở tá tràng của ruột non nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột Các chất dinh dưỡng cũng được hấp thu chủ yếu ở đây Nếu ruột non bị viêm do vi trùng, cầu trùng thì các chất dinh dưỡng sẽ không hấp thu được hết, do đó thỏ sẽ gầy yếu
Phần thức ăn không được tiêu hoá ở ruột non sẽ được đẩy tiếp xuống ruột già, ở đó các mẫu thức ăn được phân loại tuỳ theo kích thước Những mảnh thức ăn xơ kích thước lớn hơn không tiêu hoá được đẩy xuống ruột già, các tiểu phần nhỏ hơn có khả năng tiêu hoá được đẩy ngược trở lại vào manh tràng Những tiểu phần thức ăn không tiêu hoá sau đó được đẩy ra ngoài theo các viên phân thường (còn gọi là phân cứng) Manh tràng bắt đầu tiêu hoá thức ăn xơ nhờ vi sinh vật cộng sinh và tạo ra một loại phân đặc biệt gọi là phân mềm, phân đêm hay phân vitamin
Phân cứng có dạng viên tròn, thỏ không ăn Phân mềm gồm nhiều viên nhỏ, mịn, dính vào nhau, được thải ra vào ban đêm, khi thải ra đến hậu môn thì thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày và các chất dinh dưỡng được hấp thụ lại ở ruột non Như vậy, thỏ ăn phân trong môi trường yên tĩnh Dựa vào đặc tính này người ta gọi thỏ là loài “nhai lại giả” Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân Hiện tượng này chỉ bắt đầu hình thành khi thỏ được 3 tuần tuổi Thành phần hóa học của 2 loại phân này cũng khác nhau rõ rệt (bảng 2)
Bảng 2.2: Thành phần hoá học của 2 loại phân thỏ
Trang 15Hình 2.1: Phân thường và phân vitamin Hình 2.2: Thỏ ăn phân vitamin
Vi sinh vật cộng sinh ở manh tràng phân giải chất xơ yếu, đồng thời các quá trình gây thối cũng xảy ra và có chất độc hình thành Vì vậy không nên cho thỏ ăn thức ăn khó tiêu và không cho ăn thức ăn có hàm lượng bột đường cao hoặc dễ lên men gây bệnh ỉa chảy Do ruột già nhu động yếu nên thức ăn dừng lại ở đây khá lâu Từ khi thức ăn đưa vào miệng đến lúc chuyển hoá thành phân thải ra ngoài cơ thể mất khoảng 72 giờ ở thỏ trưởng thành và 60 giờ ở thỏ non Ruột già chủ yếu hấp thu các muối và nước
2.1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ
Thỏ là loài động vật ăn thực vật, có khả năng tiêu hoá nhiều chất xơ, cho nên có thể nuôi thỏ bằng các loại rau, cỏ , củ quả và các loại phế phụ phẩm Tuy nhiên muốn tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi thỏ cần phải bổ sung thêm thức ăn tinh bột, protein, khoáng, vitamin ở dạng premix hoặc ở dạng thức ăn giàu dinh dưỡng về chất đó Ở các thời kỳ phát triển khác nhau thì nhu cầu về dinh dưỡng của thỏ cũng khác nhau Theo INRA (1999) thì nhu cầu của thỏ về bột đường, protein và chất xơ thể hiện qua bảng sau:
Trang 16Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ qua các thời kì
Nhu cầu các chất dinh dưỡng
(g/con/ngày) Giai đoạn nuôi
- Sau cai sữa - vỗ béo 22-24 + 0,5-1,0 kg 15-35 2,5-9
Bột đường có nhiều trong hạt ngũ cốc, khoai, sắn… Chất này trong quá trình tiêu hóa sẽ được phân giải thành đường, cung cấp năng lượng cho cơ
thể Nhu cầu bột đường có thể tham khảo ở bảng 2.3 trên đây Tinh bột nếu
được tiêu hóa ở ruột non sẽ tạo thành đường đơn, tuy nhiên nếu tiêu hóa ở manh tràng thì sẽ tạo ra axit béo bay hơi Cả hai loại này đều tạo ra năng lượng cung cấp cho cơ thể Đối với thỏ sau cai sữa đến vỗ béo cần tăng dần lượng tinh bột Đối với thỏ hậu bị (4 – 6 tháng tuổi) và thỏ cái giống không sinh đẻ thì phải khống chế lượng tinh bột để tránh hiện tượng vô sinh do béo quá Đến khi thỏ đẻ và nuôi con trong vòng 20 ngày đầu phải tăng lượng tinh bột lên 2 – 3 lần so với khi có chửa, bởi vì thỏ mẹ cần nhiều tinh bột để tạo
Trang 17năng lượng hồi phục cơ thể và tạo sữa cho thỏ con bú Đến giai đoạn sức tiết
sữa giảm (sau khi đẻ 20 ngày) nhu cầu tinh bột cũng cần ít đi
2.1.4.2 Nhu cầu protein
Protein đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và sinh trưởng của cơ thể Nếu thỏ mẹ trong thời kì có chửa mà thiếu protein thì con non được tạo ra nhỏ, sức đề kháng yếu, sữa mẹ ít, dẫn đến tỷ lệ nuôi sống của đàn con thấp Sau cai sữa, cơ thể thỏ non phát triển chưa hoàn hảo, nếu thiếu protein thỏ dễ bị còi cọc Trong giai đoạn vỗ béo thì protein đóng vai trò tạo các mô, nhất là cơ vân Thức ăn đầy đủ protein hay không được đánh giá bằng chỉ tiêu tăng trọng nhiều hay ít Thỏ sử dụng protein của xác vi khuẩn là chủ yếu, điều này rất có ý nghĩa vì như vậy nó sẽ không cần nguồn protein có chất lượng cao Tuy nhiên, khác với động vật nhai lại, không thể thay thế bằng nitơ phi protein như urê, cacbanmid…
2.1.4.3 Nhu cầu chất xơ
Do đặc điểm sinh lý tiêu hóa của thỏ, thức ăn thô vừa là chất chứa của
dạ dày và manh tràng, vừa có tác dụng chống đói, đảm bảo sinh lý tiêu hóa bình thường, đồng thời là nguồn thức ăn cung cấp thành phần xơ chủ yếu để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đối với cơ thể Chất xơ như là nguồn cung cấp năng lượng, tác động tốt tới quá trình lên men của vi khuẩn manh tràng Nếu cho thỏ ăn ít rau, lá cỏ mà không đáp ứng 8% vật chất khô là chất xơ thì thỏ
dễ bị ỉa chảy; ngược lại nếu tỷ lệ đó cao quá 16% thì thỏ sẽ tăng trọng chậm,
dễ bị táo phân Khi khẩu phần ăn của thỏ không đủ chất xơ hay quá nhiều bột đường thì đường tiêu hóa sẽ kém nhu động, gây cứng ruột, làm cho thỏ đau bụng và chết Nhu cầu tối thiểu về xơ thô là 12% trong khẩu phần ăn của thỏ
Tỷ lệ chất xơ từ 13 – 14% là thích hợp nhất cho thỏ (Nguyễn Quang Sức, Đinh Văn Bình, 2000) [8]
Trang 182.1.4.4 Nhu cầu vitamin
Trong chăn nuôi thỏ rất cần thiết phải cung cấp vitamin, đặc biệt là thỏ nuôi nhốt và có năng suất cao Đối với thỏ sinh sản và thỏ con sau cai sữa hệ
vi sinh vật trong manh tràng còn yếu chưa thể tổng hợp nên vitamin từ thức
ăn nên rất hay thiếu, nhất là vitamin A, D, E Cũng như các động vật khác, khi thiếu vitamin A thỏ sinh sản kém hoặc rối loạn sinh lý sinh sản, thỏ con sinh trưởng chậm và có các hội chứng viêm da, viêm kết mạc, niêm mạc và viêm đường hô hấp thường xảy ra Vitamin E thường gọi là sinh tố sinh sản, nếu thiếu thai phát triển kém hoặc chết khi sơ sinh, thỏ đực giống giảm tính hăng, tinh trùng kém hoạt lực dẫn đến tỷ lệ thụ thai thấp Đối với thỏ sinh sản cần thiết phải cung cấp vitamin A và E nếu đầy đủ thì tỷ lệ đẻ có thể đạt 70 - 80%, nếu thiếu thì tỷ lệ này có thể là 40 - 50% và tỷ lệ nuôi sống là 30 - 40% (Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Thị Kim Đông 2009) [9] Nếu thiếu vitamin nhóm
B, thỏ thường bị viêm thần kinh, bại liệt, nghiêng đầu, chậm lớn, kém ăn, thiếu máu Thiếu vitamin D thỏ dễ bị còi cọc, mềm xương
Đối với thỏ trưởng thành, hệ vi sinh vật trong manh tràng phát triển có thể cung cấp một lượng lớn vitamin tan trong nước và được cung cấp cho thỏ bằng việc tạo ra phân mềm Như vậy, các vitamin tan trong dầu như A, D, E,
K là đáng quan tâm và cần bổ sung
Đối với thỏ sinh sản, vitamin A giúp cho thỏ không bị rối loạn sinh lý sinh sản, bảo bệ niêm mạc đường sinh dục Vitamin E, giúp thai phát triển, làm hăng tính đực
2.1.4.5 Nhu cầu khoáng
Các chất khoáng cũng là thành dinh dưỡng quan trọng đối với thỏ, nhất
là đối với thỏ nuôi nhốt (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 1999) [2] Nếu thiếu canxi, phốtpho sẽ làm thỏ còi xương, sinh sản kém, thai hay chết Khi cung cấp canxi và phốtpho phải chú ý bổ sung vitamin D để nâng cao hiệu quả việc hấp thu hai loại khoáng này Muối NaCl đóng vai trò rất quan
Trang 19trọng trong quá trình tiêu hóa của thỏ, nó giúp quá trình tạo dịch vị diễn ra bình thường, nên nếu thiếu muối thỏ sẽ rối loạn tiêu hóa và chậm lớn
2.1.4.6 Nhu cầu nước uống
Thỏ là loài gia súc có nhu cầu nhiều nước Có hai nguồn nước cung cấp chủ yếu cho thỏ: nước có trong thức ăn và nước uống thông thường Nhu cầu nước uống phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ của môi trường ngoài, hàm lượng vật chất khô có trong thức ăn Vào mùa hè, thời tiết nóng nực thỏ cần lượng nước gấp 3 lần bình thường Thỏ có tầm vóc trung bình thì cần 0,4 – 0,6 lít/ngày (Sandford, 1996) [16] Ngoài ra nhu cầu về nước của thỏ còn phụ thuộc vào lứa tuổi và các thời kỳ sản xuất khác nhau:
- Thỏ vỗ béo và thỏ hậu bị: 0,2 - 0,5 lít/ngày
- Thỏ chửa: 0,5 - 0,6 lít/ngày
- Sau khi đẻ: 0,6 - 0,8 lít/ngày
- Khi tiết sữa tối đa: 0,8 - 1,5 lít/ngày
Nếu cho thỏ ăn bằng rau, củ, quả thì đã cung cấp 60 - 80% nhu cầu nước của thỏ, nhưng vẫn cần cho thỏ uống nước Thỏ thiếu nước uống còn nguy hiểm hơn thiếu thức ăn Thỏ nhịn khát được đến ngày thứ hai là bỏ ăn, đến ngày 10 – 12 gầy dần rồi chết Trong thực tế chăn nuôi nếu cho thỏ lai ăn các loại rau củ có nhiều nước, người ta không cho thỏ uống nước thỏ vẫn sống bình thường, tuy nhiên nên cho thỏ có nước uống sẵn sàng thì thỏ sẽ tăng trọng và sức khỏe tốt hơn (Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Thị Kim Đông 2009) [9] Ngày nay, trong chăn nuôi thỏ người ta thường cho thỏ uống nước một cách tự do, miễn nước cung cấp phải đảm bảo sạch, lành, mát
Trong nhu cầu dinh dưỡng của thỏ không hề nhắc đến hàm lượng chất béo Xét về mặt cung cấp năng lượng, chất béo rất có ý nghĩa vì năng lượng trong chất béo gấp đôi tinh bột, nhưng về mặt kinh tế thì không có hiệu quả Thực tế người ta thấy có một số bệnh đi kèm khi bổ sung thêm chất béo vào khẩu phần
Trang 202.1.5 Các loại thức ăn sử dụng cho thỏ
2.1.5.1 Thức ăn xanh
Đây là nguồn thức ăn chính của thỏ, có thể chiếm đến 90% trong khẩu phần ăn hàng ngày của thỏ Chăn nuôi theo quy mô công nghiệp thì tỷ lệ này thấp hơn, tuy nhiên không thể dưới 50% (Đinh Văn Bình và cộng sự 2007) [4] Phân loại theo Irma (1983); Richard và Church (1998) thì thức ăn xanh là tất cả các loại rau, cỏ trồng, cỏ tự nhiên cho ăn tươi như cỏ voi, ghi nê, lá mít, keo dậu, stylo, Flemingia,… Thức ăn thô khô bao gồm các loại cỏ tự nhiên, cỏ trồng được cắt phơi khô, có hàm lượng xơ thô > 18% (Irma, 1983; Richard và Church, 1998) (trích theo Tôn Thất Sơn, 2005) [7] Thức ăn xanh bao gồm các loại sau:
+ Các loại cỏ: Thỏ có thể ăn nhiều loại cỏ, đặc biệt là các loại thuộc họ hòa thảo hay họ đậu Ở giai đoạn còn non thì cỏ có nhiều nước nên dễ gây bệnh đau bụng, nếu già thì xơ quá nhiều (do có quá trình lignin hóa) làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, tốt nhất là cho thỏ dùng trước khi cỏ ra hoa (bánh tẻ) Ta nên cho ăn phần ngọn, phần thân sát mặt đất thường dính đất bẩn chứa phân hay vi khuẩn, kí sinh trùng gây bệnh cho thỏ Các loại cỏ cho thỏ gồm:
Cỏ gấu, cỏ gà, cỏ lồng vực, cỏ mật, cỏ lá tre… là các loại cỏ mọc tự nhiên Một vài loại cỏ trồng cho năng suất cao như là: Cỏ voi, cỏ pangola, cỏ stilô,
cỏ xuđăng…
+ Các loại rau: Có rất nhiều các loại rau mọc tự nhiên quanh năm, vụ
hè thu có nhiều loại mọc kế tiếp nhau Nhưng ta nên sử dụng các rau mọc nơi khô cạn, loại rau này không sợ bị nhiễm trứng sán lá gan dễ gây bệnh cho thỏ, gồm các loại rau như: Rau sam, rau dền dại, rau dệu, vòi voi, nhọ nồi…Các loại rau mọc dưới nước như: rau ngổ, rau lấp, thài lài nước… khi sử dụng cần phải rửa nhiều lần với nước sạch để hạn chế trứng sán lá gan
Đối với rau trồng như: su hào, cải bắp, rau cải, rau dền, súp lơ, cải cúc, rau ngót, rau muống, khoai lang thường chứa quá nhiều nước và bón phân hữu cơ nên có nguy cơ gây đau bụng cho thỏ, nên khi cho thỏ ăn thì cần phơi tái cho giảm hàm lượng nước và một phần tiêu diệt các ký sinh trùng gây hại
Trang 21+ Các loại lá cây dại, cây trồng thân cao và dây leo như: Lá dâm bụt, lá tre, lá mít… là thức ăn tốt cho thỏ Tuy nhiên nhóm cây này có vật chất khô
và tỷ lệ protein biến động rất lớn đòi hỏi chúng ta phải có kiến thức khi sử dụng làm thức ăn cho thỏ
2.1.5.2 Thức ăn tinh
Bao gồm các loại hạt như: ngô, gạo, mì, lạc và các loại thức ăn động vật như bột cá, bột thịt, bột sữa… Trong chăn nuôi thỏ thì phải có một lượng thích hợp trong khẩu phần nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, giảm công cắt cỏ Như đã trình bày ở phần đặc điểm giải phẫu và sinh lý của hệ tiêu hóa, nơi lên men tiêu hóa thức ăn nằm sau dạ dày và ruột non, điều đó làm giảm năng liệu tiêu hóa các chất dễ tiêu nhất là thức ăn tinh trong mang tràng, chính điều này làm cho giúp cho thỏ tăng trọng nhanh khi có khẩu phần ăn nhiều thức ăn tinh
Tuy nhiên do đặc tính sinh lý manh tràng và dạ dày luôn dòi hỏi một lượng lớn chất xơ nên thỏ không sử dụng quá 50% thức ăn tinh (Đinh Văn Bình và cộng sự 2007) [4]
2.1.5.3 Thức ăn viên
Đối với thỏ nuôi con và thỏ mang thai, đồng thời với việc cho ăn tự do thức ăn thô xanh các loại, cần bổ sung thêm thức ăn viên, hàm lượng các chất dinh dưỡng cần đạt được :
Năng lượng trao đổi 2500 Kcal/kg
Trang 222.1.5.4 Thức ăn củ quả
Thỏ đặc biệt thích loại thức ăn này Những củ quả giàu đường như cà rốt,
củ cải đường, củ đậu được thỏ rất thích Các loại củ quả trên có nhiều tinh bột, nhiều đường, ít đạm, hàm lượng xơ thấp Chúng chứa một lượng đường đơn và đường đôi rất lớn, có nhiều vitamin như A, C Đây là nguồn thức ăn rất cần thiết, tuy nhiên ta phải chú ý đến nhược điểm của nó là chứa rất nhiều nước Khi cho thỏ ăn nhiều các loại củ quả dễ gây bệnh chướng bụng, ỉa chảy Chỉ cho thỏ ăn với tỷ lệ nhất định, không cho ăn tự do như những loại cỏ và lá cây
2.1.6 Các loại thức ăn cho thỏ dùng trong thí nghiệm
2.1.6.1 Cây Rau lang (Ipomea batatas)
Khoai lang ngoài mục đích trồng lấy củ là chính còn có thể trồng để cung cấp thức ăn thô xanh cho vật nuôi Khoai lang nếu được chăm sóc tốt có khả năng tái sinh nhanh Thu cắt được nhiều lần trong năm và cho năng suất cao Thân lá khoai lang chứa hàm lượng cacbonhydrat thấp nhưng hàm lượng protein và xơ cao, đồng thời chứa phần lớn các axit amin Protein trung bình 18% (tính theo vật chất khô), hàm lượng xơ thô đạt 16 – 17% thấp hơn so với
cỏ hòa thảo Trong củ khoai, cacbohydrat chiếm 80 – 90% vật chất khô nhưng tinh bột của củ còn tươi khó bị amylaza thủy phân Hàm lượng các chất kháng tryxin trong củ tươi làm giảm tỷ lệ tiêu hoá protein trong khẩu phần có củ khoai Thân lá khoai lang không chứa nhiều các chất này Giá trị dinh dưỡng chủ yếu của thân lá khoai lang là protein và vitamin Đây là nguồn thức ăn rất tốt với gia súc nhai lại và ngay cả dạ dày đơn (Lê Đức Ngoan và cộng sự 2005) [6]
Trang 23Bảng 2.4: Thành phần hóa học của thân lá khoai lang
Năng lượng thô, MJ/kg VCK 14,4
Nguồn: Dominguez,1990 (trích theo Lê Đức Ngoan, 2005) [6] 2.1.6.2 Cây Rau muống (Ipomoea aquatica)
Rau muống (Ipomoea aquatica) là một loài thực vật nhiệt đới bán thủy sinh thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) Phân bố tự nhiên chính xác của loài
này hiện chưa rõ do được trồng phổ biến khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Ở nước ta, rau được trồng và sử dụng rộng rãi ở nhiều vùng
vì giá trị dinh dưỡng và năng suất cao Có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau: Từ đất khô, ẩm đến sình lầy hay ngập nước Thân lá rau muống tương đối giàu protein, ít xơ hơn cỏ hòa thảo Đặc biệt trong rau muống chứa nhiều đường nên gia súc, đặc biệt là lợn rất thích ăn Hàm lượng chất khô của rau muống trung bình là 100g/kg rau tươi Trong 1kg chất khô có 2450- 2500 kcal (10,3-10,5 MJ) năng lượng trao đổi; 170 – 250g protein thô; 130 – 200g đường; 110 – 115g khoáng tổng số… Có hai loại rau muống chính: trắng và đỏ Rau muống trắng có thể trồng cạn và gieo bằng hạt Giá trị dinh dưỡng của rau muống đỏ cao hơn rau muống trắng (Viện
Chăn nuôi Quốc Gia,2000) [11]
Trang 242.1.6.3 Cỏ hòa thảo
Điều kiện khí hậu nước ta thuận lợi cho sự phát triển cây hòa nhiệt đới Nếu đảm bảo đầy đủ phân bón, tưới nước nhất là trong mùa khô cỏ hòa thảo phát triển quanh năm và đạt năng suất cao (Lê Đức Ngoan và cộng sự 2005) [6]
Hầu hết cỏ hòa thảo sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết quả vào
vụ thu và gần như ngừng sinh trưởng vào vụ đông Đến mùa xuân cỏ hòa thảo lại phát triển nhanh và cho năng suất chất xanh cao Cỏ hòa thảo có ưu điểm
là sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng nhược điểm cơ bản là hóa xơ, giá trị dinh dưỡng theo đó giảm nhanh
Nhìn chung giá trị dinh dưỡng của cỏ hòa thảo thấp hơn cỏ họ đậu Hàm lượng protein chiếm khoảng 9 – 10%, xơ thô 30 – 32% (theo vật chất khô Tuy nhiên, nếu bón phân đầy đủ, đúng kỹ thuật và thu hoạch giai đoạn còn non (khoảng cách giữa 2 lứa cắt 25 - 30 ngày) thì protein thô có thể đạt 14-15%, xơ thô giảm còn 27-28% và có thể dùng làm thức ăn cho lợn Hiện nay, một số giống cỏ hòa thảo năng suất cao đang được sử dụng để phát triển chăn
nuôi bò thâm canh, đặc biệt là bò sữa như: Cỏ voi (Pennisetum purpureum), cỏ
sả (Panicum maximum) (Lê Đức Ngoan và cộng sự 2005) [6]
Theo Tôn Thất Sơn (2005) [7], lượng protein thô trong cỏ hòa thảo ở Việt Nam trung bình 9,8% (75 – 145 g/kg chất khô), hàm lượng xơ khá cao (269 – 372 g/kg chất khô) Khoáng đa lượng và vi lượng ở cỏ hòa thảo đều thấp, đặc biệt là nghèo Ca và P Trong một kg chất khô, hàm lượng khoáng trung bình ở cỏ hòa thảo là: Ca: 4,7g; P: 2,6g; Mg: 2,0g; K: 19,5g; Zn: 24mg; Mn: 110mg; Cu: 8,3mg và Fe: 450mg (Viện Chăn nuôi Quốc Gia, 2000) [11]
2.1.6.4 Thóc
Thóc là thức ăn tinh được bổ sung trong thí nghiệm với hàm lượng dinh dưỡng cao làm cho khả năng tăng trưởng của thỏ tăng nhanh Trong thí nghiệm này ta sử dụng kết hợp thức ăn tinh và thức ăn xanh giúp cho khả năng tiêu hóa của thỏ dễ dàng hơn là chỉ ăn một loại thức ăn
Trang 25Cấu tạo hạt thóc gồm các bộ phận chủ yếu sau:
Vỏ trấu: chiếm 19-21% khối lượng hạt, gồm các tế bào rỗng có thành hoá gỗ cấu tạo từ cellulose kết chặt lại nhờ chất khoáng và lignin
Vỏ quả: chiếm 5-6% khối lượng hạt, gồm một vài lớp tế bào
Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng Hạt gạo chính là nhân của thóc sau khi tách bỏ vỏ trấu và vỏ cám (vỏ hạt), là phần được sử dụng lớn nhất của hạt lúa, gồm các tế bào lớn có thành mỏng, chứa đầu các hạt tinh bột, protein, một ít cellulose, chất béo, tro và đường,trong nội nhũ thóc tinh bột chiếm tới 80% Trong thóc có hàm lượng vật chất khô của các thành phần tương ứng là: trấu chiếm 88,87% và gạo 86,93%
Thành phần hoá học trung bình của hạt thóc như sau: tinh bột 48 - 68%; protein 6 - 10%; cenllulose 9 - 12%; chất khoáng 5,8% ; đường 3,2% ; chất béo 2,0%
2.2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THỎ Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
2.2.1 Tình hình chăn nuôi thỏ ở Việt Nam
Chăn nuôi thỏ ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng chưa được quan tâm nhiều Trước năm 1975 chăn nuôi thỏ chủ yếu tập trung tại các gia đình nuôi thỏ truyền thống nhiều năm ở các thành phố như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, Huế và một số gia đình vùng ngoại ô các thành phố lớn Sau ngày miền năm giải phóng, chăn nuôi thỏ phát triển nhanh hơn Năm 1976 ước tính cả nước có khoảng 315000 con thỏ Năm 1982 cả nước có 400000 con thỏ Sau đó số lượng thỏ lại giảm xuống cho đến đầu những năm 1990 mới tăng trở lại Từ năm 1995 đến nay chăn nuôi thỏ ở Việt Nam phát triển mạnh theo cơ chế thị trường do nhu cầu tiêu thụ thịt thỏ trong nước liên tục tăng Hiện nay, ước tính trên cả nước có trên 6 000 000 con thỏ, trong đó miền bắc gần 4 000 000 con Giá bán thỏ thịt tăng từ 12.000 đ/kg thỏ hơi lên 18.000 đ/kg năm 2000, 25.000 đ/kg năm 2004 và 30.000đ năm 2006 (Đinh Văn Bình và cộng sự, 2007) [4]
Trang 26Tuy nhiên, trong các vật nuôi ở nước ta, các nghiên cứu về thỏ là rất hạn chế Việc nghiên cứu về phát triển chăn nuôi thỏ chỉ được tăng cường kể
từ khi Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây của Viện chăn nuôi được thành lập (năm 1993) Năm 1999 Trung tâm này đã nhập 3 giống thỏ mới có năng suất cao từ Hungari về nuôi nhân thuần và làm tươi máu đàn thỏ New Zealand (nhập từ năm 1978) đem lại hiệu quả tốt, tăng năng suất đàn thỏ giống cũ lên 35 – 40%, đáp ứng nhu cầu con giống thỏ ngoại cao sản cho năng suất cao, nên đã thúc đẩy người dân quan tâm, chú ý đến việc phát triển chăn nuôi thỏ ở khắp nơi trong cả nước Từ đó đã có những nghiên cứu được thực hiện, nhằm phát triển ngành chăn nuôi thỏ ở nước ta
Tuy vậy, nghề chăn nuôi thỏ ở nước ta mặc dù đã có từ lâu đời nhưng người dân chăn nuôi hoàn toàn theo lối tự phát, tận dụng, tự cung tự cấp, công tác nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn nuôi thỏ chưa được tiến hành nhiều, đặc biệt là thỏ nhập nội Một số nghiên cứu về dinh dưỡng của Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây (Viện Chăn nuôi) cũng mới tập trung vào sử dụng cây mía và một số loại củ quả làm nguồn thức ăn nuôi thỏ phối hợp với
một số loại lá giàu protein như lá dâu, chè khổng lồ (Trichanthera gigantea)
Gần đây trong khuôn khổ của chương trình Mekarn-Sareck một số nghiên cứu về nuôi dưỡng thỏ trên cở sở khai thác các nguồn thức ăn sẵn có
của địa phương cũng đã được tiến hành Nguyen Thi Kim Dong và cộng sự
(2006) [16] thay thế cỏ lông para (12,9% CP) trong khẩu phần ăn cơ sở của thỏ lai bằng rau muống (26,3% CP) ở các mức khác nhau Kết quả cho thấy rằng nhờ có hàm lượng protein cao nên việc thay thế rau muống cho cỏ lông para trong khẩu phần đã giúp làm tăng rõ rệt tỷ lệ tiêu hoá thức ăn và tốc độ tăng trọng của thỏ Doan Thi Giang và cộng sự (2007)[13] nghiên cứu bổ
sung lá cây keo củi (Calliandra), là một loại thức ăn mới tại Việt Nam có tỉ lệ
protein là 23%, vào các khẩu phần ăn cơ sở cho thỏ New Zealand dựa trên rau muống và cỏ Ghinê Kết quả cho thấy tăng trọng của thỏ là 17,2g/ngày,
Trang 2716,6g/ngày và 18,8g/ngày lần lượt với các khẩu phần là rau muống, rau muống trộn với cỏ Ghinê và rau muống bổ sung thêm lá cây keo củi Như vậy, có thể thấy rằng khẩu phần có nguồn protein cao và xơ cao có tác dụng trong việc cải thiện tốc độ tăng trọng của thỏ New Zealand
Doan Thi Giang và cộng sự (2007) [13] nghiên cứu trên thỏ Newzealand White để xem tác động của việc bổ sung thêm nguồn xơ thô (cỏ Ghinê) vào khẩu phần ăn có cám tổng hợp với lượng bằng 5% trọng lượng thỏ (thành phần gồm 15% bột đỗ tương, 25% tinh bột sắn, 20% cám gạo, 5% khoáng và 35% là đường) , rau muống hoặc rau khoai, hoặc trộn lẫn rau muống và sau khoai thì thu được một số kết quả như sau:
- Khẩu phần chỉ có rau muống và cám bổ sung cho tăng trọng 21,9 g/ngày và nếu bổ cỏ Ghinê sung thêm thì tăng lên 26,4 g/ngày, tuy nhiên tỉ lệ tiêu hóa lại giảm từ 86,1% xuống còn 79,3%, lượng thức ăn thu nhận tăng lên
Như vậy, việc tăng xơ vào trong khẩu phần có tác tụng làm tăng tăng trọng đáng kể, tuy nhiên lại giảm tỷ lệ tiêu hóa
Để cải thiện sự cân bằng dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở dựa trên nền rau muống, việc bổ sung lượng Hydratcacbon dễ tiêu bằng gạo đã không thành công trong thí nghiệm được báo cáo bởi HongThong Phimmmasan và cộng sự (2004) [15] Ngược lại, trong một thí nghiệm khác, các loại thức ăn
Trang 28bổ sung giàu xơ đã cho những kết quả hơn hẳn so với thỏ chỉ nuôi bằng rau muống Do đó mà một giả thuyết đã được đặt ra là thóc nhờ có sự kết hợp cả chất xơ và tinh bột nên có thể là thức ăn bổ sung thích hợp hơn vào các khẩu phần ăn cơ sở là các loại rau giàu protein
2.2.2 Chăn nuôi thỏ ở các nước trên thế giới
Đầu thế kỷ 19, việc chăn nuôi thỏ trong chuồng được phát triển khắp các vùng nông thôn và ven đô thị các nước Tây Âu Người Châu Âu đã giới thiệu chăn nuôi thỏ tới các nước khác như Australia, New Zealand và sau đó được lan tỏa khắp thế giới Năm 1996 thế giới sản xuất khoảng 1,2 triệu tấn thịt thỏ, đến năm 1998 con số này ước tính khoảng 1,5 triệu tấn Bình quân đầu người tiêu thụ 280 gram thịt thỏ/năm (Đinh Văn Bình và cộng sự 2007) [4]
Ở các nước phát triển, các nghiên cứu về thức ăn chủ yếu để nuôi theo quy trình nuôi công nghiệp, thức ăn chủ yếu là thức ăn viên hỗn hợp Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, các nghiên cứu lại tập trung vào việc sử dụng thức ăn thô xanh Trong các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào việc bổ sung nguồn protein và nguồn xơ thực vật vào khẩu phần ăn sử dụng nguồn đạm vô cơ để bổ sung vào khẩu phần đều không đạt được kết quả, vì theo Viện nghiên cứu Rowett, Aderbeen (2007) thỏ có quá trình lên men ở phía sau dạ dày nên nếu bổ sung đạm vô cơ thì pH dạ dày sẽ tăng cao, làm rối loại dạ dày, nguy cơ chết là rất cao
Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc xác định các khẩu phần ăn phù hợp cho thỏ nhằm tận dụng các loại thức ăn sẵn có, dễ trồng, nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi thỏ Trong đó, rau muống và khoai lang đã được các nhà nghiên cứu nhắc đến nhiều và vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu sử dụng vào khẩu phần ăn cho thỏ
Nghiên cứu của Nguyen Thi Kim Dong và cộng sự (2006) [16] tiến hành thay thế các mức khác nhau của rau muống, lấy khẩu phần ăn cơ sở là cỏ
Trang 29lông para, cho thỏ lai ăn Khi phân tích thành phần hóa học như vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô là 16,6%, 87,6%, 12,9% và 76,6% đối với cỏ lông para và 10,8%, 90,6%, 36,3%, và 40,2% đối với rau muống Khi cho ăn, lượng thức ăn thu nhận của khẩu phần ăn 100% cỏ lông para là cao nhất 99,9VCK/ngày cho tăng trọng 13g/ngày, trong khi khẩu phần 75% rau muống với lượng thức ăn thu nhận là 76,0g/ngày cho mức tăng trọng là 19g/ngày Khẩu phần 50% cỏ lông para có lượng thức ăn thu nhận là 80,8g/ngày cho tăng trọng là 17,3g/ngày Tác giả này kết luận lượng protein cao của rau muống đã làm nâng cao tốc độ tăng trọng của thỏ Từ đây ta cũng suy ra rằng với những khẩu phần có hàm lượng protein cao thì tăng tăng trong của thỏ cũng cao lên
Cũng trong báo cáo này, các tác giả cũng tính tỉ lệ tiêu hóa của các khẩu phần ăn theo phương pháp Mc Donald ( in vivo) Tỉ lệ tiêu hóa vật chất khô của các khẩu phần bổ sung 0%, 25%, 50%, 75% rau muống lần lượt có kết quả là 62,7%, 70,5%, 71,7% và 73% Như vậy với tỉ lệ protein cao, xơ
thấp thì thỉ lệ tiêu hóa sẽ tăng dần
Nghiên cứu của Supharoek Nakkitset và cộng sự (2007) [17] cho biết thỏ New Zealand có tăng trọng lần lượt khi cho ăn của cỏ Ruzi, cây trinh nữ,
và rau muống là 14,8g/ngày, 18,5 g/ngày và 18,4g/ngày Rau muống có lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả thức ăn cao nhất (66gVCK/ngày và 3,6kg VCK/ kg tăng trọng)
Qua các thí nghiệm cho thấy rằng việc kết hợp các thức ăn giàu đạm và nhiều xơ đem lại hiệu quả rõ rệt trong chăn nuôi thỏ thịt: tăng trọng tăng, hệ
số chuyển hóa thức ăn giảm
Trang 303 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trên thỏ đực New Zealand khoảng 1,5 tháng tuổi nhập từ Trại thỏ của Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Viện chăn nuôi
3.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 9 năm 2010 đến 9 năm 2011
- Địa điểm: Trại chăn nuôi của khoa Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản – Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Bảng 3.1: Nhiệt độ trung bình qua các tuần thí nghiệm
Thời gian Tuần nuôi Nhiệt độ
TB/ngày (0C)
Độ ẩm không khí
(%) 28/2 - 1/03/2011 0 17 87
(Thống kê từ bản tin thời tiết của http://thoitiet.net) [1]
Qua bảng 3.1 có thể thấy nhiệt độ môi trường qua các tuần thí nghiệm tương đối thích hợp với thỏ Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này đã có những đợt gió mùa làm cho trời mưa nhiều, điều này cũng ảnh hưởng tương đối lớn đến quá trình cung cấp nguồn thức ăn cho thỏ
Trang 313.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Lượng thu nhận thức ăn
- Tăng trọng bình quân hàng ngày (ADG):
- Hệ số chuyển hoá thức ăn (FCR):
- Tỷ lệ tiêu hoá:
- Chất lượng thân thịt:
3.2.2 Thiết kế thí nghiệm
Thí nghiệm 1 Xác định tỷ lệ thích hợp giữa cỏ Voi (Pennisetum
purpureum) và rau muống (Ipomoea aquatica) trong khẩu phần nuôi thỏ
thịt New Zealand
Tổng số 30 thỏ đực New Zealand 1,5 tháng được phân ngẫu nhiên đều vào 5 lô, mỗi lô 6 con, để cho ăn 5 khẩu phần ăn:
Lô 1: Cho ăn tự do chỉ một loại cỏ giàu xơ là cỏ Voi (Đối chứng)
Lô 2: Thay thế 25% (theo VCK) cỏ Voi bằng rau muống
Lô 3: Thay thế 50% (theo VCK) cỏ Voi bằng rau muống
Lô 4: Thay thế 75% (theo VCK) cỏ Voi bằng rau muống
Lô 5: Thay thế 100% (theo VCK) cỏ Voi bằng rau muống
Thí nghiệm 2 Xác định tỷ lệ thích hợp giữa cỏ Setaria (Setaria
sphacelata ) và rau lang (Impoea batatas) trong khẩu phần nuôi thỏ thịt
New Zealand
Tổng số 30 thỏ đực New Zealand 1,5 tháng được phân ngẫu nhiên đều vào 5 lô, mỗi lô 6 con, để cho ăn 5 khẩu phần ăn:
Lô 1: Cho ăn tự do chỉ một loại cỏ giàu xơ là cỏ Setaria (Đối chứng)
Lô 2: Thay thế 25% (theo VCK) cỏ Setaria bằng rau lang
Lô 3: Thay thế 50% (theo VCK) cỏ Setaria bằng rau lang
Lô 4: Thay thế 75% (theo VCK) cỏ Setaria bằng rau lang
Lô 5: Thay thế 100% (theo VCK) cỏ Setaria bằng rau lang
Trang 32Ngoài thức ăn xanh như trong các khẩu phần trên, thỏ ở tất cả các lô thí nghiệm đều được cho ăn bổ sung thóc ở mức 2% thể trọng để đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu năng lượng cho thỏ có tốc độ sinh trưởng nhanh này
3.2.3 Nuôi dưỡng và quản lý
Trước khi bắt đầu thí nghiệm thỏ được tiêm vacxin chống bại huyết và tẩy ký sinh trùng đường ruột Thời gian theo dõi thí nghiệm là 8 tuần sau khi cho ăn thích nghi 7 ngày Các loại thức ăn trong thí nghiệm được cắt ngắn 5-10cm và trộn đều theo tỷ lệ thí nghiệm trước khi cho ăn Thỏ được cho ăn tự
do (ad libitum) các hỗn hợp thức ăn xanh 3 lần/ngày vào các thời điểm 8:00,
14:00 và 20:00h trong các lồng chuồng cá thể Thóc được cho ăn 1 lần/ngày vào lúc 11:00h sáng Nước uống được cung cấp tự do suốt ngày đêm
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu
Thức ăn trong thí nghiệm được cắt ngắn 5 -10 cm, được phơi dưới bóng dâm cho ráo nước
Các loại thức ăn được cân và chia đếu theo các khẩu phần thí nghiệm tương ứng (25, 50, 75, 100 %)
3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
- Lượng thu nhận thức ăn: Thức ăn cho ăn được cân trước mỗi bữa ăn
và thức ăn thừa được cân vào buổi sáng hàng ngày trước khi cho ăn bữa đầu tiên Mẫu thức ăn cho ăn và mẫu thức ăn thừa được lấy để phân tích thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng Từ đó lượng thu nhận vật chất khô, năng lượng và protein hàng ngày của thỏ sẽ được tính toán theo khối lượng tuyệt đối và theo phần trăm thể trọng
TĂTN = Kg TĂ cho ăn – Kg TĂ còn thừa (tính theo VCK)
- Tăng trọng bình quân hàng ngày (ADG): Toàn bộ thỏ thí nghiệm được cân cá thể vào lúc bắt đầu thí nghiệm và hàng tuần trong quá trình thí nghiệm cho đến lúc kết thức thí nghiệm Tăng trọng bình quân được tính bằng cách phân tích hồi quy tuyến tính giữa thể trọng và thời gian (tìm hệ số hồi quy)