CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QLNN VỀ THƯƠNG MẠI1.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nhà nước QLNN về thương mại 1.1.1 Khái niệm: QLNN về thương mại là một bộ phận hợp thành c
Trang 1CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QLNN VỀ THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nhà nước (QLNN) về thương mại
1.1.1 Khái niệm:
QLNN về thương mại là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về kinh tế, đó là sựtác động có hướng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý về thương mại các cấp đến hệthống bị quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý nhằm đạt mục tiêu
đã đặt ra trong điều kiện môi trường xác định
- QLNN về thương mại bao giờ cũng là một quá trình thực hiện và phối hợp bốn loại chứcnăng cơ bản: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát của các cơ quan quản lý vĩ mô vềthương mại các cấp
- Thực chất của QLNN về thương mại là nhà nước sử dụng quyền lực của mình trong điềuhành và quản lý thương mại thông qua việc ban hành và sử dụng các công cụ kế hoạch hóa,chính sách, luật pháp và các quy định khác về thương mại để tác động tới các chủ thể người bán,người mua và các hoạt động, quan hệ trao đổi trên thị trường Sự tác động của hệ thống QLNN
về thương mại đến đối tượng trao đổi luôn đặt trong mối quan hệ với môi trường cụ thể, nhằmđạt mục tiêu đã xác định trong từng thời kỳ
1.1.2 Đặc điểm của QLNN về thương mại
QLNN về thương mại vừa tuân thủ những đặc điểm chung của QLNN về kinh tế là: Bao gồm 2 hệ thống, trung tâm của quản lý là con người, trao đổi thông tin và liên hệngược, tác động với môi trường và quản lý đều hướng tới mục tiêu cụ thể
Ngoài ra, nú cũn thể hiện những đặc điểm đặc thù của lĩnh vực thương mại (thể hiện ở hệthống quản lý và bị quản lý, mục tiêu và phương tiện, phương pháp để đạt mục tiêu, quan hệ lợiích kinh tế và công nghệ kỹ thuật kinh doanh, tính định hướng về thị trường và người tiêu dùng,tính đa phương diện và liên ngành, liên quốc gia)
1.1.3 Sự cần thiết của QLNN về thương mại
QLNN về thương mại trong nền kinh tế thị trường là cần thiết khách quan, do:
- Nhà nước phải thể hiện vai trò, trách nhiệm trong việc giảm thiểu những khuyết tật củakinh tế và cơ chế thị trường gây nên Mặt khác, do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việcđịnh hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung, cũng như kinh tế thương mại nói riêng trongtừng thời kỳ Nhà nước phải là người điều tiết kinh tế và thị trường, các quan hệ thương mạibằng các cơ chế chính sách khác nhau nhằm đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô
Trang 2theo mục tiêu đã xác định, ổn định thị trường và giá cả, cải thiện, nâng cao mức sống dân cư,thúc đẩy công bằng và tiến bộ xã hội.
- Do trong nền kinh tế thị trường, bản thân nó có nhiều mâu thuẫn mà tự nó không thể giảiquyết hay tự điều chỉnh được (chăng hạn, mâu thuẫn giữa mua và bán, xuất khẩu và nhập khẩu,giữa kinh doanh theo pháp luật và buôn bán, kinh doanh trái phép, hàng giả hàng nhái, trốn lậuthuế,…) Do đó cần thiết phải có vai trò quản lý của Nhà nước băng các công cụ chính sách vàpháp luật về kinh tế, thương mại mới giải quyết được
- QLNN về thương mại tạo ra sự thống nhất về thị trường nội địa và quốc tế, bảo đảm cácđiều kiện và yếu tố về môi trường cần thiết, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp, cho
sự thông suốt của lưu thông hàng hóa, đảm bảo tính liên tục của hoạt động trao đổi dịch vụ.Đồng thời, chỉ có sự quản lý thống nhất của Nhà nước về kinh tế, thương mại mới giúp cho việckhai thác thế mạnh của từng vùng, từng địa phương và phát huy lợi thế so sánh của quốc giatrong phát triển thương mại quốc tế
- Ngày nay, trong quá trình mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, các nước đềutìm mọi cách để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức Do vậy, vai trò của QLNN về thương mạicần phải được tăng cường Các quốc gia có xu hướng liên kết, hợp tác trong QLNN về kinh tếthương mại thể hiện ở việc xây dựng các chính sách, luật pháp theo khuôn khổ hợp tác songphương hoặc đa phương, tôn trọng và thực thi các điều ước quốc tế, phối hợp, hỗ trợ nhau trongquản lý và kiểm soát buôn bán để thúc đẩy thương mại phát triển, hạn chế và ngăn chặn nhữngtác động tiêu cực của kinh tế thị trường gây nên
1.2 Chức năng của QLNN về thương mại
1.2.1 Kế hoạch hóa thương mại.
Kế hoạch hoá thương mại là toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai thực hiện chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển thương mại của quốc gia trên phạm vicủa cả nước, của từng địa phương, từng vùng và theo từng ngành hàng, ngành dịch vụ phù hợpvới yêu cầu, mục tiêu của kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, của quá trình CNH, HĐH đất nước vàhội nhập quốc tế
Nhà nước thực hiện chức năng kế hoạch hoá để định hướng, hướng dẫn hoạt động kinhdoanh của các chủ thể tham gia thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế Giúp cácdoanh nghiệp có sự lựa chọn và quyết định đúng đắn về chiến lược, chính sách và kế hoạch đầu
tư, sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển
Trang 3Trong những năm qua, công tác kế hoạch hóa thương mại ở nước ta đã có nhiều thay đổitích cực đáp ứng yêu cầu của đổi mới QLNN theo kinh tế thị trường định hướng XHCN Thểhiện ở chỗ, nhà nước đã xây dựng nhiều văn bản kế hoạch hóa thương mại như:
Chiến lược phát triển thương mại Việt Nam và Chiến lược XNK giai đoạn 2001-2010 vàtầm nhìn 2020
Quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ trên phạm vi toàn quốc đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020
Đề án phát triển thương mại trong nước giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020
Đề án xây dung và phát triển thương hiệu quốc gia đến năm 2010
Đề án tiếp tục tổ chức thị trường trong nước và tập trung phát triển thương mại nông thônđến năm 2010
Chiến lược phát triển xuất khẩu dịch vụ Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến2015
Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch
vụ thời kỳ 2001-2010
Các chương trình xúc tiến thương mại xuất khẩu hàng năm, …
Đổi mới công tác kế hoạch hóa trong QLNN về thương mại, cần phải đổi mới cả về nhậnthức và tổ chức công tác kế hoạch hoá thương mại (không phải chỉ dừng lại ở việc hoạch định,
mà cần phải tổ chức thực hiện phù hợp với cơ chế thị trường để hiện thực hóa các mục tiêu của
kế hoạch hóa); cải tiến nội dung, phương pháp và hoàn thiện bộ máy kế hoạch hoá thương mại;tăng cường các phương tiện kỹ thuật và nâng cao trình độ nguồn nhân lực làm công tác chiếnlược, quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại, nhất là trong bối cảnh hội nhập và cạnhtranh quốc tế hiện nay
1.2.2 Ban hành các văn bản pháp luật và chính sách về quản lý thương mại.
Nhà nước thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý, sử dụng bộ máy này để soạnthảo và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý thương mại
Các văn bản QLNN về thương mại được soạn thảo và ban hành bao gồm các bộ Luật, cácluật chung và chuyên ngành, các pháp lệnh, các nghị định, quyết định, chỉ thị của chính phủhoặc thủ tướng chính phủ để cụ thể hoá văn bản luật, pháp lệnh, các thông tư hướng dẫn thực thichính sách luật pháp của các bộ ngành, các quyết định của UBND các cấp cụ thể hoá trong phạm
vi QLNN trong phạm vi phân cấp cho địa phương
1.2.3 Tổ chức và phối hợp hoạt động QLNN về thương mại.
Trang 4Nhà nước thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạchđịnh các chiến lược, qui hoạch, chính sách, các văn bản pháp quy khác về quản lý thương mại Đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để triển khai thực hiện những công việc thuộc
về chức năng quản lý nhà nước, nhằm đưa chính sách, pháp luật vào thực tiễn kinh doanh củadoanh nghiệp, biến chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển thương mại thành hiện thực
Hoạt động thương mại rất đa dạng, diễn ra trên phạm vi cả nước và từng địa phương, từngvùng, ở cả thị trường trong và ngoài nước, liên quan tới nhiều bộ, ngành Do vậy, nhà nước phải
có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý về thương mại các cấp Trung ương và tỉnh (Thànhphố), giữa các ngành thương mại, dịch vụ với các ngành sản xuất trong nền kinh tế, giữa chínhphủ, quốc hội, tòa án và cơ quan khác Trong thương mại quốc tế, chức năng này được thể hiện
ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ thương mại song phương hoặc trong quan hệ thươngmại của từng khối kinh tế nhằm đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký kết
Để thực hiện hiện chức năng này, nhà nước phải tạo lập cơ cấu tổ chức bộ máy quản lýthương mại thích hợp, phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các cơ quan, bộ ngành ở trung ươngcũng như các sở, ngành ở địa phương, quy định phân cấp quản lý và sự phối hợp chặt chẽ giữacác tổ chức đó Chức năng này còn bao gồm việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực đủ khảnăng đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý nhà nước về thương mại đặt ra và sửdụng có hiệu quả nguồn nhân lực đó trong từng thời kỳ phát triển
1.2.4 Thanh tra, kiểm soát các hoạt động thương mại, xử lý vi phạm và các tranh chấp
thương mại.
Các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải tuân thủ các quyđịnh chính sách và luật pháp của nhà nước về thương mại Nhà nước kiểm soát các quan hệ traođổi buôn bán trên thị trường giữa các bên thông qua bộ máy tổ chức và bằng việc sử dụng cácphương pháp, công cụ quản lý khác nhau Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinhdoanh cũng như việc chấp hành các chế độ quản lý của các chủ thể đó (như đăng ký kinh doanh,chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ, tình trạng môi trường, nghĩa vụ nộpthuế và chấp hành các quy định khác trong kinh doanh, ) Nhà nước kiểm soát trực tiếp hoạtđộng sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước để đảm bảo
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tài sản của quốc gia cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xãhội trong từng thời kỳ
Công tác thanh tra phải phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm phápluật và các qui định chính sách của Nhà nước như buôn bán hàng cấm, kinh doanh các dịch vụ
Trang 5không được phép, gian lận thương mại, buôn lậu, làm hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh, lậpcác báo cáo về tài chính sai sự thật, các hoạt động lừa đảo, các tranh chấp thương mại trên thịtrường trong vfa ngoài nước, Từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh (hoặc giải pháp phòngngừa, ngăn chặn hoặc xử phạt theo các quy định hành chính, luật pháp) thích hợp nhằm tăngcường hiệu quả của quản lý nhà nước về thương mại Đây chính là 2 mục tiêu cơ bản của chứcnăng kiểm soát và nội dung quan trọng của hoạt động thực thi pháp luật trong quản lý nhà nước
về thương mại
1.3 Vai trò của QLNN về thương mại
1.3.1 Định hướng, hướng đẫn đối với các chủ thể thương mại (doanh nghiệp)
Vai trò định hướng, hướng dẫn của nhà nước trong lĩnh vực thương mại được thể hiệnthông qua các chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu, các dự án, kế hoạch và chínhsách Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có cơ sở để tính toán, lựa chọn các quyết định đầu tư vàkinh doanh theo các ngành hàng, các nhóm sản phẩm dịch vụ, theo phạm vi thị trường và theo
độ dài thời gian cũng như liên kết, liên doanh với các đối tác một cách hợp lý
Để giúp doanh nghiệp có định hướng đầu tư và kinh doanh đúng đắn, các văn bản kế hoạchhoá và chính sách thương mại cũng như pháp luật của nhà nước cần phải minh bạch, rõ ràng,thống nhất và đồng bộ Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quan lý nhà nước để doanhnghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược, chính sách, quy hoạch, dự án , và thônghiểu các quyết định của nhà nước Chất lượng của công cụ kế hoạch hoá, chính sách và bộ máy
tổ chức trong quản lý nhà nước về thương mại được tăng cường mới tạo niềm tin, sự yên tâmcho các doanh nghiệp trong tính toán, quyết định phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh
1.3.2 Tạo lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Môi trường thương mại và cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, luật pháp và thủtục hành chính Các thông tin về kế hoạch hoá thương mại nếu bị thiên lệch trong quá trình phổbiến cho các doanh nghiệp, các quy định chính sách nếu phân biệt đối xử sẽ bóp méo cạnh tranh,thủ tục hành chính rườm rà, khung khổ pháp lý nếu không đầy dủ, đồng bộ, nhất quán và minhbạch sẽ gây trở ngại cho thương mại trên nhiều mặt, dẫn đến cả tổn thất về vật chất, tài chính vàtinh thần, văn hoá Do vậy quản lý Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập, cảithiện môi trường kinh doanh, nhất là trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn có sự vận độngbiến đổi không ngừng
Nhà nước tạo lập và cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp thông qua khaithông các quan hệ thương mại, làm thông thoáng sự giao lưu hàng hoá trong nước và quốc tế,
Trang 6nhờ thiết lập khung khổ pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, tiến bộ hơn và thuận lợi hơn tronglĩnh vực thương mại bao gồm các quy định pháp luật, các chính sách, ký kết các hiệp định, thựchiện các cam kết mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế
Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, các quy định, vừa là người chịu tráchnhiệm tổ chức thực hiện nhằm đưa chúng vào thực tiễn cuộc sống của các doanh nghiệp Trongquá trình đó, nhà nước đã sử dụng quyền lực, sứ mạng và khả năng của mình để kiến tạo môitrường kinh doanh Nếu môi trường kinh doanh phù hợp, nghĩa là có sự đồng thuận, thống nhấtgiữa nhà nước và doanh nghiệp, chính phủ trong trường hợp này đã ủng hộ thị trường, tôn trọng
và phát huy tính hiệu quả của thị trường
Để tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh ở mức độ cao hiệnnay, nhất là mục tiêu của doanh nghiệp là có nhiều di động, đòi hỏi các nhà quản lý vĩ mô cũngphải đổi mới nhận thức và tư duy về các công cụ, chính sách quản lý, nâng cao trình độ, nănglực và phẩm chất trong việc ra quyết định cũng như phối hợp lãnh đạo, điều hành hoạt động kinh
tế, thương mại
1.3.3 Điều tiết các hoạt động thương mại và thị trường.
Nhà nước một mặt hướng dẫn, khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động theo định hướngthông qua chiến lược, quy hoạch, các chương trình dự án và kế hoạch vĩ mô đã vạch ra Mặtkhác, nhà nước phải điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trìsức mạnh nền tài chính quốc gia, giữ vững sức mua của tiền tệ, bảo đảm lợi ích của người sảnxuất và người tiêu dùng
Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điều tiết thị trường vàthương mại, xử lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ trao đổi Những biện pháp khuyến khíchhay hạn chế thương mại thường được sử dụng là thuế quan và các biện pháp phi thuế Để điềutiết thị trường, trong nhiều trường hợp nhà nước phải sử dụng thực lực kinh tế nhà nước để điềuhoà cung cầu, ổn định giá cả thị trường, nâng cao sức mua xã hội Nhà nước còn sử dụng cácbiện pháp hành chính, các công cụ mang tính kỹ thuật khác để tác động vào thị trường và cácquan hệ trao đổi
Xu hướng Nhà nước sẽ dần thoát ly khỏi hoạt động kinh doanh, nhưng vai trò quản lýthương mại của Nhà nước phải được tăng cường để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường,đồng thời sử dụng thị trường và kinh tế thị trường phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xãhội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, khu vực tư nhân cũng sẽ được sử dụng nhiều
Trang 7hơn trong các biện pháp điều tiết thị trường, kể cả tham gia vào cung cấp các dịch vụ hạ tầngthương mại, các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội khác.
1.3.4 Hỗ trợ và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển.
Hoạt động thương mại đòi hỏi doanh gia phải có nhiều tố chất, điều kiện nhưng có nhữngvấn đề chỉ nhà nước mới có thể giải quyết được cho nhà kinh doanh như an ninh thương mạihoặc phần lớn do nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh doanh Nhà nước là chỗ dựa tin cậy vàtốt nhất cho các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh và đầu tư, cạnh tranh cùng tồn tại vàphát triển
Các doanh nghiệp đều là “một thực thế sống” trong nền kinh tế, họ cũng cần những sự trợgiúp nhất định Nhà nước bằng quyền lực, trách nhiệm và khả năng của mình hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp phù hợp với thực tiễn của đất nước trong từng thời kỳ Nhà nước có thể hỗ trợ chomọi người dân và doanh nghiệp về ý chí làm giàu, hỗ trợ về tri thức, về vốn, cơ sở vật chấtphương tiện kỹ thuật và thông tin, các hỗ trợ về xúc tiến thương mại, các thủ tục hành chính đểgiúp doanh nghiệp ở những giai đoạn, những hoàn cảnh và những trường hợp khác nhau trongquá trình họat động Đặc biệt, khi đối mặt với thách thức của môi trường kinh doanh luôn biếnđộng Tuy nhiên, những hỗ trợ mang tính trợ cấp bóp méo thương mại và cạnh tranh sẽ bị loại
bỏ trong xu hướng hội nhập và phát triển
1.4 Các nguyên tắc và phương pháp QLNN về thương mại.
1.4.1 Các nguyên tắc QLNN về thương mại
a/ Thống nhất lãnh đạo về chính trị và kinh tế
b/ Tập trung và dân chủ
c/ Phân cấp và phân quyền
d/ Kết hợp quản lý theo ngành, địa phương và vùng
e/ Tính hiệu lực và hiệu quả
g/ Khác (phối hợp liên ngành, liên quốc gia, quản lý theo pháp luật và thông lệ quốc tế, )
1.4.2 Các phương pháp QLNN về thương mại
a/ Giáo dục, tuyên truyền
b/ Kinh tế
c/ Hành chính
d/ Kết hợp các phương pháp
Trang 8CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI
ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM
Việt Nam vẫn đang là nước dẫn đầu trong hoạt động xuất khẩu gạo Với những lợi thế tuyệt đối về địa lý, lao động và thời tiết phù hợp cho cây lúa nước, nước ta đang ngày càng nâng cao giá trị của hạt gạo, từ đó nâng cao đời sống người nông dân Tuy nhiên, nguồn cung của hoạt động xuất khẩu và thương mại mặt hàng gạo lại chịu tác động từ hoạt động sản xuất ra chúng Việc trồng lúa gạo phụ thuộc vào tác động của thời tiết, thiên tai, do đó hoạt động
thương mại mặt hàng gạo cũng bị ảnh hưởng theo Cụ thể năm 2008, thị trường lương thực thế giới biến động mạnh mẽ do thời tiết xấu, gây mất mùa lúa gạo trên thế giới Đẩy giá lúa gạo tăng cao gấp 2 tới 3 lần trong thời điểm đó Do vấn đề an ninh lương thực, nên các ban ngành
đã ra quyết định hạn chế xuất khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Tuy nhiên vụ sau đó nông dân lại được mùa lớn, chính sách xuất khẩu không thay đổi kịp thời đã dẫn đến giá gạo giảm nhanh chóng, mất thị trường xuất khẩu gạo dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho đất nước
và người dân lao động
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vẫn là châu Á (chiếm khoảng gần 50%tổng xuất khẩu), và châu Phi chiếm khoảng trên 40%, còn lại là châu Mỹ và châu Âu chiếmkhoảng dưới 10% Hiện nay gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm 14,3% thị trường châu Á,17,5% thị trường châu Phi, 16,03% thị trường Mỹ Latinh và Caribê Mặc dù đến nay gạo ViệtNam có mặt trên 80 quốc gia thuộc các châu lục khác nhau, nhưng phần gạo xuất khẩu quakhâu trung gian vẫn chiếm tỷ trọng lớn Trong đó Pháp chiếm 30-40%, Hồng Kông chiếm 10
- 15%, Thái Lan 9%, Malaixia 10%, Indonesia 3 - 4% tổng lượng gạo xuất khẩu Hoặc xuấtsang Singapore để tái xuất vì không tìm được thị trường trực tiếp
Thực tế Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống bạn hàng trực tiếp tin cậy, doanh thuxuất khẩu giảm do phải chi khoản hoa hồng môi giới Để tăng cường xuất khẩu gạo trực tiếp được nhanh chóng, cùng với sự chủ động của bản thân doanh nghiệp trong việc tìm kiếm bạn hàng, Nhà nước cần hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng quan hệ cấp Chính phủ xung quanh việc buôn bán gạo
Sản lượng gạo xuất khẩu tăng mạnh, từ năm 1989 chỉ đạt 1,425 triệu tấn, năm 2000 là 3,476 triệu tấn thì đến năm 2011 sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta đã là trên 7,5 triệu tấn
Trang 9Đem về gần 4 tỷ USD cho quốc gia Trong đó tỷ lệ tấm gạo ngày càng giảm với chủ yếu gạo xuất khẩu là gạo 5%, 10% và 15% tấm Từ đó gia tăng giá trị gạo thương phẩm, thâm nhập được thị trường khó tính và tăng tính cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường.
Tuy chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, không còn bao cấp của Nhà nước,nhưng vai trò của Nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế ở tầm vĩ mô lại càng cần thiếthơn Bởi nếu để nền kinh tế vận hành theo quy luật cung-cầu dễ dẫn đến sự mất cân đối lớntrong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động xuất khẩu gạo nói riêng Chúng ta đều biếtkhông phải lúc nào quan hệ cung cầu cũng vận hành theo quy luật thực tế của thị trường, đôikhi nó lại tác động xấu đến nền kinh tế Lúc này cần có tác động kịp thời của con người, cụ thểNhà nước, vào nền kinh tế nhằm mục đích hướng nó có lợi cho nền kinh tế
Trong những năm gần đây xảy ra tình trạng mất cân đối trong sản xuất và xuất khẩu lúagạo Nguyên nhân do thiếu sự chỉ dẫn, và quy hoạch cụ thể từ Trung ương đến địa phương, cứmạnh ai nấy làm Lúc này Nhà nước đã có những quy hoạch tổng thể để hướng dẫn nông dâncăn cứ vào điều kiện về đất đai, khí hậu, và thời vụ nên phát triển giống cây nào là phù hợpnhằm phát huy tối đa lợi thế của từng vùng Chẳng hạn, đối với các tỉnh Nam Định, TháiBình, Hải Dương nên phát triển giống lúa thơm đặc sản, giảm giống lúa đại trà, trong khi cácvùng khác lại phát triển những giống lúa lai đại trà sẽ cho năng suất và chất lượng cao hơn.Bằng cách này, chúng ta sẽ nâng dần tỷ trọng xuất khẩu loại gạo thơm đặc sản, mà vẫn khônggiảm những chủng loại gạo khác, đa dạng hoá xuất khẩu gạo hiện nay
Ngoài ra, cứ sắp đến vụ sản xuất mới hay vào dịp cuối năm, người nông dân đa số cầntiền để mua sắm, lúc này số lượng lúa gạo bán ra rất lớn, dẫn đến cung vượt cầu Đây là cơ hộitốt để tư thương chèn ép giá người nông dân càng nhiều càng tốt, gây thiệt hại lớn cho họ -những người một nắng hai sương làm ra hạt thóc để rồi bị tư thương bắt chẹn mà không biếtkêu ai Trong trường hợp này, Nhà nước đã có chính sách bỏ tiền ra để mua tạm trữ cho vàokho quốc gia hoặc các đơn vị, nhằm tạo điều kiện ổn định giá cả tránh thua lỗ quá lớn chongười nông dân Bên cạnh đó chính phủ cũng chủ chương hỗ trợ người nông dân thông qua cácchương trình về hỗ trợ kỹ thuật trồng trọt, miễn thuế sử dụng đất với người trồng lúa…Hoặccho người nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi đề đầu tư và sẽ thanh toán vào vụ thu hoạch
Thực tế cho thấy nếu Nhà nước càng đầu tư lớn vào lĩnh vực này thì hiệu quả xuất khẩucàng cao Vì với sự cải tiến giống mới sẽ cho năng suất cao, phòng chống sâu bệnh, tăng chấtlượng gạo xuất khẩu Ví dụ, giai đoạn 1991 - 1995, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
đã công nhận 44 giống mới và cho áp dụng vào canh tác trên diện tích 440.000 ha Do năng
Trang 10suất tăng tối thiểu 0,50 tạ/ha, nên tổng sản lượng tăng là 220.000 tấn, với giá thóc 1.500 đồng/
kg, giá trị do sản lượng lúa mang lại là 1,5 triệu x 220.000 = 330.000 triệu đồng trong khi kinhphí đầu tư cho chương trình tạo giống lúa hàng năm chỉ khoảng 1 tỷ đồng
Hơn nữa, Nhà nước có thể đầu tư đồng bộ từ khâu sản xuất - thu hoạch - chế biến - vậnchuyển – bảo quản, vừa nâng cao chất lượng gạo vừa tránh tình trạng “tổn thất trong nhà” nhưhiện nay, tăng về lãi suất thấp để họ kịp tiến hành sản xuất vụ mới Như vậy, cả người nôngdân cũng có lợi và Nhà nước cũng góp phần nâng cao đời sống của người dân, giúp xoá đóigiảm nghèo
Hoặc sự quan tâm đầu tư của Nhà nước vào khoa học kỹ thuật, đặc biệt khâu lai tạogiống mới mặt sản lượng Năng suất lúa tăng từ khoảng 3 tấn/hecta nay là 6,2 – 6,3 tấn/hecta.Cũng theo theo kết quả điều tra của Viện Công nghệ sau thu hoạch và Tổng cục Thống kê, tỷ
lệ tổn thất bình quân sau thu hoạch lúa của Việt Nam như sau:
- Khâu thu hoạch: 1,2 - 1,7%
- Khâu vận chuyển: 1,2 - 1,5%
- Khâu đập (tuốt): 1,4 – 1,8%
- Khâu phơi (sấy): 1,9 – 21,%
- Khâu bảo quản: 3,2 –3,9%
- Khâu xay xát chế biến: 4,1 – 5,0%
- Tổng số: 13,0 – 16,0%
Mức tổn thất trong 3 khâu phơi, bảo quản, và xay xát chế biến chiếm 68 – 70%, trong khi
ở các nước tiên tiến chỉ chiếm 3,9 – 5,6% Như vậy, khi giảm được 30% tổn thất sau thu hoạch,chúng ta có thể tận thu thêm được một lượng thóc đáng kể, lên tới 850.000 tấn và tương đươngvới 135.000 ha canh tác lúa Do đó việc đầu tư vào chất lượng gạo, máy móc và quy trình hợp
lý sẽ thúc đẩy không chỉ sản lượng lúa gạo tăng mà chất lượng lúa gạo cũng tăng theo
Trái ngược với khoảng 10 năm trước đây, những người nông dân với những công cụ thô
sơ, thiếu thốn máy móc, khoa học công nghệ khi làm ruộng thì nay với chương trình hỗ trợ củachính phủ: hệ thống thủy lợi đã được xây dựng tương đối rộng khắp, cung cấp nước cho đồngruộng, máy gặt, máy cày giúp gia tăng năng suất, tiết kiệm thời gian và tăng hiệu quả cho ngườinông…Những chính sách của nhà nước hỗ trợ hoạt động sản xuất lúa gạo là thực sự cần thiết,
đã đem lại những tác động tích cực Chỉ khi có nguồn cung đảm bảo về chất lượng và số lượngthì khi đó lúa gạo của Việt Nam mới thực sự chiếm lĩnh thị trường thế giới, góp phần vào xóa
Trang 11đói giảm nghèo và thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.
Đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng như cảng biển, hệ thống thông tin phục vụ hoạtđộng xuất khẩu nhằm giảm chi phí vận chuyển, chi phí lưu thông gạo, góp phần hạ giá thànhxuất khẩu Về cảng xuất khẩu yêu cầu cơ bản là phải có cảng chuyên dùng cho hoạt độngxuất khẩu gạo với trang thiết bị hiện đại, có thể bốc xếp cả hàng rời và hàng đóng bao, nănglực bốc dỡ cao (từ 2000 tấn/ngày trở lên); khả năng tiếp nhận tàu lớn (tải trọng từ 20.000 –30.000 tấn); và phải có hệ thống trung chuyển quy mô lớn, kỹ thuật bảo quản hiện đại và đónggói ngay tại kho cảng trước khi giao hàng lên tàu Trên thực tế, chúng ta chưa có cảng chuyêndùng xuất khẩu gạo
Các năm qua, phần lớn gạo xuất khẩu (khoảng 80%) đều thông qua cảng Sài Gòn, mộtcảng xuất nhập hàng hoá tổng hợp, có năng lực thông quan hàng hoá hiện nay của cảng hơn7,3 triệu tấn/năm Trong đó riêng mặt hàng gạo xuất khẩu chiếm hơn 30% Tuy nhiên, năngsuất bốc xếp gạo của cảng chỉ đạt bình quân 800 – 1000 tấn/ngày Trong những năm đây,Ngành Giao thông Vận tải cũng đã cố gắng rất nhiều để đưa thêm cảng Cần Thơ vào hoạt độngxuất khẩu gạo, nhưng khả năng của cảng Cần Thơ chỉ tiếp nhận an toàn các tàu tải trọng từ
3000 – 5000 tấn (đối với tàu cỡ 10.000 tấn cập cảng không an toàn) Điều này chưa phù hợpvới tính hiệu quả trong vận tải hàng hải, nên cảng này mới đang trong giai đoạn thử nghiệm
Dự kiến trong vòng 10 - 20 năm tới, cảng Sài Gòn vẫn giữ vị trí quan trọng hàng đầu
Do vậy nếu giải quyết tốt các hoạt động phụ trợ nêu trên sẽ góp phần nâng cao đáng kểgiá bán sản phẩm Qua đó nâng cao hiệu quả và thu nhập ngoại tệ trong kinh doanh xuất khẩugạo
Hiện tại để đảm bảo hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp, Nghị định 109 quyđịnh về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo đi vào thực thi Tính đến ngày 20/12/2011 đã cấpphép cho 150 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu gạo, ngoài ra có 4 doanh nghiệp FDI cũngđược cấp phép Kỳ vọng ban đầu của những nhà hoạch định chính sách và cả các doanh nghiệplớn ngành gạo duy trì khoảng 80 doanh nghiệp xuất khẩu, tuy nhiên số lượng đăng ký đượccấp phép đã vượt xa dự kiến Nghị định 109 và quyết định 560 của Bộ Nông Nghiệp cũng nêu
rõ về các điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp được phép tham gia xuất khẩu gạo Việcquy định chặt chẽ như vậy nhằm đảm bảo sự quản lý của nhà nước về thị trường gạo, tránhhoạt động gian lận thương mại của các tiểu thương, con buôn, gây lũng loạn thị trường và thiệthại cho nền kinh tế Bên cạnh đó với những tiêu chuẩn như vậy sẽ đảm bảo cho hoạt động xuấtkhẩu thực sự hiệu quả với sản lượng, quy mô và chất lượng của gạo xuất khẩu
Trang 12Có thể thấy rằng sự phối hợp giữa các bộ ban ngành trong quản lý thương mại mặt hànggạo ngày đạt được hiệu quả Cụ thể trước thông tin xuất hiện gạo giả trên địa bàn Hà Nội: Chiềungày 5-4, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), Bộ Y tế đã có văn bản chính thức thôngbáo kết quả xác minh về thông tin xuất hiện “gạo giả” trên thị trường Hà Nội Qua xác minhcác mẫu nghi là gạo giả thì kết quả cho thấy rằng các tiêu chí về thành phần và dinh dưỡng đềuđảm bảo đây là gạo thật, và khẳng định là chưa phát hiện gạo giả trên thị trường Từ đó tạo sự
an tâm nơi người tiêu dùng và các thị trường xuất khẩu gạo của nước ta
Bên cạnh đó, Bộ Công thương vừa ban hành Thông tư số 37/2010/TT- BCT hướng dẫn về việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2010 và 2011 với thuế suất thuế nhập khẩu (NK) 0% đối với thóc gạo và lá thuốc lá có xuất xứ từ Campuchia và Trong năm 2012 sẽ có 3.000 tấn lá thuốc lá và 70.000 tấn gạo từ Lào nhập khẩu vào Việt Nam được hưởng thuế suất 0% Đây là những yếu tố thúc đẩy phát triển thương mại hai bên Việc nhập khẩu gạo từ Lào và Campuchia sẽ làm phong phú thị trường trong nước Đảm bảo sự cạnh tranh và cũng làm tăng sức mạnh xuất khẩu Song song với đó, đây cũng là chính sách chung trong phát triển kinh tế đất nước Đảm bảo hoạt động thương mại hai chiều và thúc đẩy kinh tế phát triển.
Việc xây dựng chính sách quốc gia với quản lý thương mại mặt hàng gạo không chỉ dựa trên hoạt động trong nước mà còn dựa trên những cam kết chung với các tổ thức kinh
tế, hiệp hội và chính sách mà các nước nhập khẩu đưa ra Ví dụ như các tiêu chí về tỷ lệ tấm gạo 5%, 10% hay các tiêu chí về gạo thơm, tỉ lệ chất bảo quản…Đây là những tiêu chí quyết định đến việc gạo của Việt Nam có thâm nhập vào thị trường nước bạn hay không Như việc ra chính sách hạn chế nhập khẩu của 4 nước Indonesia, philippin, Bangladesh và
Brazil sẽ buộc các nước xuất khẩu như Việt Nam phải tìm các thị trường mới nếu muốn tiếp tục duy trì sản lượng và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gạo hằng năm Hay việc sự trở lại của Ấn
Độ trong những nước xuất khẩu gạo làm giảm thị phần của Việt Nam và tăng sự cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu Với việc Ấn Độ xuất khẩu gạo chủ yếu có tỷ lệ tấm cao trên 10%, thì thị trường mà cạnh tranh với Việt Nam sẽ khác, đó là những thị trường ít đòi hỏi chất lượng hơn, dễ tính hơn như: Philipin, Indonesia…Cùng với Nga và một số nước khác tiến hành đánh thuế cao với gạo nhập khẩu cũng gây khó khăn trong xây dựng chính sách xuất khẩu gạo của nước ta
Trước tình hình đó, Chính phủ vẫn tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạodựa trên hoạt động trong quá trình xuất khẩu: miễn thuế, thủ tục, kèm theo đó cũng có chính
Trang 13sách đảm bảo nguồn cung gạo Quản lý thị trường, tránh lũng loạn của gian thương, đầu cơ tíchtrữ, đẩy giá cả lên cao Đảm bảo kho bãi, đảm bảo chất lượng gạo nhằm tạo thương hiệu cho gạoViệt Nam Việc lên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và đối tác nước ngoài thông qua về kỹthuật, ngôn ngữ, văn bản, các hội chợ, mời đầu tư, giới thiệu tới bạn bè quốc tế về gạo ViệtNam Các Website, hội chợ ảo: Thitruongluagao.com, nongnghiep.vn…giúp liên kết giữa doanhnghiệp xuất khẩu đối tác và người nông dân chặt chẽ hơn, nâng cao hiệu quả kinh tế và đời sốngcho người dân.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã có buổitrao đổi tại Hà Nội: Tại cuộc hội đàm, hai bên đã nhất trí tiếp tục khuyến khích hợp tác trong cáclĩnh vực có nhiều tiềm năng như nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, phát triển nguồn nhân lực,kết nối giao thông và hợp tác xuất khẩu gạo Kết quả của cuộc đàm phán giữa hai nguyên thủtướng đã đi đến những hướng mới cho hợp tác xuất khẩu gạo của hai quốc gia xuất khẩu gạohàng đầu thế giới, nhằm đạt được lợi ích cao nhất, và đảm bảo sự ổn định trên thị trường gạoquốc tế
Trang 14CHƯƠNG 3:CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GẠO
3.1.Định hướng và mục tiêu xuất khẩu gạo
3.1.1.Cơ chế mới
- Chính phủ quyết định chính thức bãi bỏ cơ chế giao hạn ngạch xuất khẩu gạo và việcquy định doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xuất khẩu Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế được xuất khẩu gạo nếu có đăng ký kinh doanh ngành hàng lương thực hoặc nông sản
- Những hợp đồng xuất khẩu gạo sang một số thị trường có sự thoả thuận của Chính phủ
ta với Chính phủ các nước (hợp đồng Chính phủ), sau khi trao đổi với Hiệp hội lương thực Việtnam được giao cho Bộ Thương mại chỉ định và chỉ đạo doanh nghiệp làm đại diện giao dịch, kíkết hợp đồng
- Việc xuất khẩu theo kế hoạch, trả nợ, viện trợ của Chính phủ, thực hiện theo cơ chế đấuthầu hoặc quyết định riêng của Thủ tướng chính phủ
- Để đảm bảo lợi ích nông dân, ổn định sản xuất nông nghiệp và thị trường trong nước,giảm bớt khó khăn đối với hoạt động sản xuất, lưu thông lúa gạo và phân bón khi thị trườngtrong ngoài nước có biến động, Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét, quyết định các biện pháp canthiệp có hiệu quả vào thị trường lúa gạo
Quy định trên của Thủ tướng Chính phủ đã mở rộng hướng đi cho các nhà xuất khẩu.Không còn các đầu mối nên mọi thành phần kinh tế đều có thể tự do ký kết hợp đồng với đối tácnước ngoài sau khi đã đăng ký kinh doanh Cơ chế mới đã thông thoáng hơn rất nhiều so với cơchế ban hành trước đây song cũng đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, đòi hỏi một sự quản lý chặt chẽ,thường xuyên của các ngành, các cấp, tránh tình trạng tranh mua, tranh bán, ép giá của cácdoanh nghiệp nhằm thao túng thị trường và thu lợi cao nhất
3.1.2.Định hướng mục tiêu xuất khẩu gạo
Cơ chế mới ban hành trong thời điểm chúng ta bước sang thế kỷ mới với những cơ hội vàthách thức mới là một công cụ để thực hiện các mục tiêu đặt ra với sản xuất gạo, tăng lượng gạoxuất khẩu, mở rộng thị trường và nâng cao chất lượng đảm bảo hiệu quả hơn trong xuất khẩu.Thực chất mục tiêu này hướng vào tăng số lượng, cải thiện chất lượng có nghĩa là tăng tổng kimngạch gạo xuất khẩu Bên cạnh đó việc mở rộng thị trường cũng được các nhà hoạch định chiến
Trang 15lược coi trọng vì thị trường là cái đích mà các nhà xuất khẩu hướng đến Ba mục tiêu trên đượctiến hành song song đảm bảo cho gạo sản xuất ra có thể xuất khẩu tạo thành một quá trình thôngsuốt đồng thời phù hợp với các mục tiêu của sản xuất lúa và xu thế phát triển chung của nềnkinh tế thị trường trong giai đoạn mới.
Cũng như trong sản xuất lúa gạo, trong xuất khẩu để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra cần
có các định hướng Cụ thể là:
- Thứ nhất: đa dạng hoá chủng loại gạo cấp cao xuất khẩu đáp ứng nhu cầu đa dạng của
thị trường thế giới
- Thứ hai: đa phương hoá thị trường tiêu thụ gạo trong đó tập trung vào những thị trường
tương đối ổn định về số lượng và chất lượng
- Thứ ba: đa dạng hoá hình thức tổ chức tham gia xuất khẩu gạo để có thể đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao và phức tạp của khách hàng
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo
3.2.1.Về phía chính phủ
3.2.1.1.Các giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức xuất khẩu
Những năm gần đây, gạo Việt Nam đã có mặt trên 80 nước và Việt Nam là nước xuấtkhẩu gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo xuất khẩu còn thiếu quyhoạch, chưa đa dạng hoá chủng loại hàng, hệ thống chế biến, bảo quản phục vụ xuất khẩu cònnhiều yếu kém, lại phân bổ không hợp lý Hệ thống nhà máy xay xát, đánh bóng còn ít, tập trungchủ yếu tại TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Mỹ Tho Đầu mối xuất khẩu bó hẹp trong khu vực TP
Hồ Chí Minh, làm tăng chi phí vận chuyển và các chi phí trung gian Bên cạnh đó, chúng ta vẫnchưa xác định được chiến lược về thị trường và chiến lược sản phẩm rõ ràng, chưa thiết lập được
hệ thống thị trường, bạn hàng lớn ổn định và vẫn còn tình trạng bán qua trung gian, tranh mua,tranh bán ở thị trường nước ngoài Khâu điều hành xuất khẩu tầm vĩ mô còn nhiều lúng túng,không kịp thời, gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu về nguồn hàng và ký kết hợp đồng
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới thì vấn đề đặt
ra hiện nay chính là hoàn thiện hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo
- Thứ nhất: đối với một số hợp đồng nhất là hợp đồng mua bán gạo cấp Chính phủ nên
duy trì trong cơ chế quy định khuyến khích doanh nghiệp tham gia đấu thầu và chỉ định tham gia
Trang 16đấu thầu khi cần thiết Đối với các trường hợp doanh nghiệp phải dừng hoặc hủy hợp đồng đểđảm bảo lợi ích của quốc gia thì nên có các hỗ trợ về tài chính khi có thiệt hại.
- Thứ hai: Chính phủ cần quản lý chặt chẽ các gian lận trong xuất khẩu gạo bằng cách
phối hợp các ngành có liên quan Hiện nay, gian lận thương mại được giấu dưới các hình thứctinh vi có sự phối hợp giữa các bên đối tác nhằm mục đích kiếm lời Việc hạn chế này sẽ đảmbảo chênh lệch giá gạo xuất khẩu của Việt Nam và thế giới
- Thứ ba: tích cực xúc tiến hình thành các trung tâm giao dịch và xuất khẩu gạo để hỗ trợ
cho việc điều hành xuất khẩu không theo đầu mối tạo điều kiện nâng cao trình độ xuất khẩu gạo,
là cơ sở để Nhà nước điều tiết các hoạt động này
Các giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức trên mới chỉ bao quát được tình hình quản lýxuất khẩu của Chính phủ ta trong giai đoạn mới Thực hiện các giải pháp trên đòi hỏi sự cố gắng
nỗ lực của các ngành các cấp đồng thời phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ nhằm đạt đượchiệu quả tối ưu nhất
3.2.1.2.Các giải pháp về luật pháp, chính sách
Để hướng tới một ngành gạo xuất khẩu đồng bộ, ổn định trong tương lai gần, chúng tacần có một hệ thống luật pháp với các quy định được ban hành cụ thể rõ ràng tạo một môitrường kinh doanh lành mạnh với khả năng cạnh tranh cao của mặt hàng Cụ thể là:
- Thứ nhất: thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu như xin giấy phép xuất
khẩu, các thủ tục hải quan, thuế cần được cải cách triệt để, tránh phiền hà sách nhiễu, tạo sựthông thoáng trong hoạt động và các bước đi của các doanh nghiệp, giảm thiểu thời gian, chi phíkhông cần thiết và các hiện tượng tiêu cực khác Cần quy định rõ chức năng, quyền hạn của cáccán bộ quản lý các cấp từ Trung ương tới địa phương, nâng cao chất lượng làm việc trong các cơquan nhà nước, xoá bỏ tệ hách dịch, cửa quyền trong xuất nhập khẩu, đồng thời đẩy mạnh côngtác trau dồi trình độ chuyên môn và ngoại ngữ cho cán bộ công chức hành chính Nhà nước tronglĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như đạo đức và trách nhiệm trong công việc
- Thứ hai: hướng dẫn các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới tham gia xuất
khẩu gạo tham gia ký kết các hợp đồng kinh doanh gạo, tránh tình trạng bị giá quy định quá caohoặc quá thấp