1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận Truyện kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời kỳ đổi mới

102 603 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 748,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chuyên khảo Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục in tại Việt Nam năm 2004,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG

TIẾP NHẬN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

CỦA NGUYỄN DỮ THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô giáo trong khoa Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo của PGS TS Nguyễn Hữu Sơn, người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn Qua đây, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hữu Sơn và toàn thể thầy cô trong Khoa, những người đã tạo điều kiện cho tôi

và chỉ bảo cho tôi suốt hai năm vừa qua

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân, những người đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện tốt nhất trong thời gian qua

Thái Nguyên, / 04 / 2013

Học viên

Hoàng Thị Huyền Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Hữu Sơn

Luận văn chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào

Xác nhận của người hướng dẫn

PGS TS Nguyễn Hữu Sơn

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Huyền Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn

Lời cam đoan

MỤC LỤC i

Quy ước các chữ viết tắt iii

PHẦN MỞ ĐẦU iii

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

Chương 1 LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN TRUYỀN KÌ MẠN LỤC 11

1.1 Khái lược về lý thuyết tiếp nhận 11

1.2 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ cơ sở lịch sử - văn hóa 15

1.3 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ vai trò chủ thể tiếp nhận 20

1.4 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ sự thay đổi của các phương pháp nghiên cứu 23

Chương 2 CÁC NHÀ VIỆT HỌC Ở NƯỚC NGOÀI TIẾP NHẬN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC THỜI KÌ ĐỔI MỚI 26

2.1 Khái lược về vấn đề tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục và đội ngũ các nhà nghiên cứu ở nước ngoài 26

2.2 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Nga 26

2.3 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Hàn Quốc 29

2.4 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Nhật Bản 32

2.5 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Trung Quốc và lục địa Đài Loan 35

Trang 5

Chương 3 TIẾP NHẬN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC THỜI KÌ ĐỔI MỚI

Ở VIỆT NAM 39

3.1 Khái quát về đội ngũ các nhà nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục ở Việt Nam 39

3.2 Tiếp nhận các phương diện nội dung Truyền kỳ mạn lục 41

3.3 Tiếp nhận các phương diện nghệ thuật Truyền kỳ mạn lục 46

3.4 Nghiên cứu so sánh Truyền kỳ mạn lục 56

3.5 Truyền kỳ mạn lục trong nhà trường 80

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng tôi chọn đề tài Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời

kì Đổi mới bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan,

nhưng chủ yếu vẫn là xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của đề tài với một số lý do như sau:

Truyền kỳ mạn lục phản ánh tình hình tư tưởng của thời đại Nguyễn Dữ

viết tác phẩm cơ bản theo quan điểm Nho giáo Bên cạnh tư tưởng Nho giáo còn có ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và ảnh hưởng văn hóa dân gian Chúng tôi tiến hành nghiên cứu những quan điểm tiếp nhận của các nhà nghiên cứu tác phẩm trong và ngoài nước để thấy được sự mới mẻ, khác biệt

của Truyền kỳ mạn lục so với các tác phẩm khác

Giới nghiên cứu thế kỉ XX xem Truyền kỳ mạn lục như là sự mở đầu và

mẫu mực của sáng tác truyền kì trong văn học Việt Nam trung đại, tác động vào sự phát triển của đề tài này, với sự xuất hiện sau nó những tác phẩm như

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Lan trì kiến văn tiểu lục của Vũ Trinh

và nhiều tác phẩm khác Trong chương trình hiện nay, một số thiên truyện của tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy chính thức hoặc đọc thêm ở trường phổ

thông Điều này khẳng định giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa giáo dục của Truyền kỳ mạn lục Tác phẩm đã được tuyển chọn giảng dạy ở nhiều cấp học: Chuyện Người con gái Nam Xương được học ở lớp 9, Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên được học ở lớp 10, toàn bộ 20 thiên truyện được giới thiệu trong chương

trình giảng dạy Đại học và Cao đẳng

Thời kì Đổi mới cũng là thời kì mà cái nhìn cũng rộng mở, tự do ngôn luận hơn Sự tiếp nhận các tác phẩm trong và ngoài nước có phần thuận lợi

hơn Cũng vì thế mà chúng ta biết đến Truyền kỳ mạn lục không chỉ được các

nhà nghiên cứu trong nước quan tâm mà các nhà Việt học nước ngoài cũng đặc biệt chú ý Trong thời kì Đổi mới, họ đưa ra khá nhiều công trình nghiên cứu,

Trang 8

chuyên luận… đối với tác phẩm Về phía giới nghiên cứu trong nước cũng có điều kiện thuận lợi khi tiếp cận với những lý giải mới mẻ của các nhà Việt học

về Truyền kỳ mạn lục, giúp chúng ta hiểu được các nhà Việt học nước ngoài có

khảo sát, đánh giá gì khác với các nhà nghiên cứu trong nước và cũng phần nào

nhìn nhận được vị trí của Truyền kỳ mạn lục nói riêng cũng như văn học Việt Nam trên tầm mức khu vực và thế giới Truyền kỳ mạn lục cũng được nhiều

độc giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Như vậy, chúng tôi

muốn tìm hiểu việc tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở trong nước cũng như một số

quốc gia trên thế giới, việc tiếp nhận tác phẩm trong nhà trường mà chủ thể là các em học sinh, sinh viên

trình Đổi mới các phương hướng nghiên cứu văn học, trong đó có nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam - giai đoạn từ khoảng 1986 đến nay – đã đã đưa đến những đóng góp và thành tựu mới trong hoạt động nghiên cứu và tiếp nhận

Truyền kỳ mạn lục ở Việt Nam cũng như ở một số nước trong khu vực và thế giới

Truyền kỳ mạn lục có tiếng vang lớn trong giới nho sĩ sáng tác gần như

ngay từ khi sinh thời tác giả (thế kỷ XVI) Việc Nguyễn Thế Nghi, người cùng thời với Nguyễn Dữ, đem dịch Nôm đã chứng tỏ điều này Ở các thời sau nhiều người như Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Khuyến có các bài thơ vịnh các nhân vật trong

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Trong lời đề tựa, tác giả Bùi Duy Tân gọi

đây là “áng văn hay của bậc đại gia”, là “thiên cổ kỳ bút”, tuy chưa tính đến mức độ vay mượn, cũng cho thấy sự đánh giá cao

Trang 9

Trong Hội thảo quốc tế “90 năm nghiên cứu về văn hóa và lịch sử Việt Nam”, do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia và Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp tổ chức tại Hà Nội vào tháng 12 năm 1992, Giáo sư Xuyên Bản (Kawanmoto Kurunie), Đại học Tổng hợp Keio đã có bài tham luận với

tựa đề “Những vấn đề khác nhau liên quan đến “Truyền kỳ mạn lục” (Lịch sử sáng tác, xuất bản và sự nghiên cứu tập truyện theo cách nhìn của văn học so sánh) (Bản tiếng Pháp, Ngân Xuyên dịch) Ngoài việc đi sâu nghiên cứu tác giả

và văn bản Truyền kỳ mạn lục, tác giả cũng so sánh phương pháp cải biên của Truyền kỳ mạn lục với Ca tỳ tử và đưa ra những nhận xét về sự khác biệt trong

quan điểm của tác giả thuộc hai quốc gia với hai nền văn hóa khác nhau

Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam trong công trình nghiên cứu có ý nghĩa

tổng thành Phiên dịch học lịch sử - văn hóa: trường hợp Truyền kỳ mạn lục đã vận dụng lý thuyết phiên dịch học vào khảo sát Truyền kỳ mạn lục điểm qua

bản phiên Nôm của Nguyễn Thế Nghi (Thế kỉ XVI-XVII), Trần Gia Du (1876)

và các bản trích dịch, lược dịch, tuyển dịch, tổng dịch ra chữ Quốc ngữ của

Trần Đại Học trên Gia Định báo (1891) ở Sài Gòn, của học giả người Pháp E Nordeman trong bộ Quảng tập viêm văn (1898) ở Hà Nội, sau đó là nhiều bản

dịch Việt ngữ trong thế kỉ XX của các dịch giả Cát Thành Trần Thúy, Phan Kế Bính, Cao Thiện Khánh, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Thứ Lang Bùi Xuân Trang… Với mỗi bản dịch, nhà nghiên cứu đều có phân tích, đánh giá quan niệm văn bản, dịch thuật, nhu cầu xã hội về tác phẩm, phương thức in ấn, truyền bá, tâm lý tiếp nhận của độc giả, đặc điểm nghệ thuật truyền đạt ngôn từ, mức độ thành công và những hạn chế Tất cả những điều đó hợp lại không chỉ

cung cấp lịch sử vấn đề dịch bản Truyền kỳ mạn lục mà còn giúp người đọc

hình dung đầy đủ hơn mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, mức độ tiến triển nghệ thuật phiên dịch và khả năng tự ý thức về đối tượng qua các thời đại, giai đoạn, thời kì Chiều sâu tư duy nghiên cứu và biên giới khoa nghiên cứu văn

Trang 10

học được mở rộng chính bởi ngày càng có thêm nhiều những khảo luận chuyên sâu như thế

Sau khi nghiên cứu so sánh hai tác phẩm Tiễn đăng tân thoại và Truyền

kỳ mạn lục, nhà nghiên cứu ở Đài Loan Trần Ích Nguyên nhận xét: “Mạn lục chịu ảnh hưởng rõ rệt của Tân thoại song không phải là sự sao chép cứng nhắc

mà là kết tinh của việc Nguyễn Dữ vận dụng trí tuệ để gia công sáng tác Sách vừa tiếp thu thành phần ưu tú của dân tộc nước ngoài, vừa không quên bắt rễ ở mảnh đất nước mình, vì vậy mặc dù sáng tác bằng Hán văn song sách vẫn không mất đi phần có giá trị là văn học dân tộc Việt Nam” [54;285]

Phạm Tú Châu đánh giá về công trình nghiên cứu của tác giả Trần Ích

Nguyên trong cuốn Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, tác giả cũng bỏ nhiều công sức để tìm nguồn gốc của Truyền kỳ mạn lục Ngoài ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại ra, tác giả còn đưa ra nhiều dẫn

chứng để khẳng định Nguyễn Dữ đã vay mượn thần thoại, chí quái của nước nhà, đưa cả truyền thuyết dân gian địa phương vào truyện của mình Chính sự ham hiểu biết nền văn hóa trong và ngoài nước, Nguyễn Dữ đã nhào nặn vốn kiến thức và sự sáng tạo của chính bản thân sáng tác thành những thiên truyện hay, có giá trị trong lịch sử truyền kì nước nhà và đóng góp cho cả lịch sử thể loại truyền

kì thế giới

Trong chuyên khảo Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục in tại Việt Nam năm 2004, nhà nghiên cứu Hàn Quốc Jeon Hye Kyung (Toàn Huệ Khanh) xác định hai tác phẩm Kim Ngao tân thoại và Truyền kỳ mạn lục đều chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, nhưng

tác giả cũng lý giải hai tác phẩm đó không hoàn toàn là sự mô phỏng vay mượn một cách đơn giản mà chịu ảnh hưởng một cách toàn thể từ phương diện thể loại tiểu thuyết truyền kỳ để sáng tạo nên tác phẩm truyền kỳ của riêng mỗi nước - vừa mang những đặc điểm thể loại tác phẩm chung, vừa mang những

Trang 11

nét riêng về tác giả cũng như văn hóa, địa lý mỗi quốc gia Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để làm sáng tỏ đặc trưng của tác phẩm, trong

đó lấy Tiễn đăng tân thoại làm thước đo để xem xét diện mạo biến đổi của Kim Ngao tân thoại và Truyền kỳ mạn lục về tác giả, tác phẩm và văn hóa, từ đó nêu

ý nghĩa văn học sử của tiểu thuyết truyền kỳ ba nước Tác giả có kết luận sự giống nhau và khác nhau trên các phương diện thể loại, cốt truyện, nhân vật, môtip, truyền thống văn hóa dân tộc Từ những dẫn giải trên, học giả Jeon Hye

Kyung đi đến kết luận: “Về quan hệ ảnh hưởng, ta thấy Truyền kỳ mạn lục và Kim ngao tân thoại có nhiều chỗ được coi là chứng cứ chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, nhưng Truyền kỳ mạn lục có thể được coi là chịu ảnh hưởng toàn diện về nhiều mặt của Tiễn đăng tân thoại; còn Kim ngao tân thoại đã mô phỏng nhiều phần các mô típ của các truyện cá biệt trong Tiễn đăng tân thoại

nhưng về mặt phương pháp sáng tác, tác giả đã sử dụng lối viết một cách nhất quán để thể hiện tư tưởng của mình nên đã thể hiện rõ động cơ sáng tác và ý thức sáng tác của tác giả trong ba tác phẩm” [18; 187-188]

Qua thời gian dài tiếp cận Truyền kỳ mạn lục, nhiều vấn đề học thuật đã

được đặt ra, mở rộng và nâng cao, ngày càng toàn diện, hệ thống và chuyên sâu

hơn Từ việc chỉ khảo sát, giới thiệu riêng tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đã tiến

tới nghiên cứu so sánh tập truyện “thiên cổ kỳ bút” này với các tác phẩm cùng

trong vùng Đông Á như Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc), Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (Hàn Quốc), Ca tỳ tử của Nhật Bản nhằm

cho thấy những ảnh hưởng và vay mượn, tiếp nhận và sáng tạo, tiếp nối và phát triển giữa Nguyễn Dữ với Cù Hựu Theo nhiều mức độ khác nhau, do trình độ nghiên cứu ngày một nâng cao, ngày càng tiếp nhận được những phương pháp mới và kinh nghiệm từ các nhà nghiên cứu nước ngoài tác động mạnh mẽ đến

giới nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục trong nước Bước sang giai đoạn Đổi mới từ

1986 đến nay có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, giới thiệu, tiếp nhận

Truyền kỳ mạn lục tiêu biểu ở trong nước như: Nguyễn Phạm Hùng với Tìm

Trang 12

hiểu khuynh hướng sáng tác trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ Tạp chí Văn học, số 2- 1987, tr.65-76 (In lại trong Trên hành trình văn học trung đại Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.487-506); Phạm Tú Châu: Về mối quan hệ giữa “Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kỳ mạn lục” Tạp chí Văn học, số 3- 1987, tr.71-78; Thanh: Những biến đổi của yếu tố “kỳ” và

“thực” trong truyện truyền kỳ Việt Nam Tạp chí Văn học, số 6-1994, tr.25-42; Trần Đình Sử: So sánh văn học và văn hoá - Nguyễn Dữ và tiên thoại Trung Quốc qua truyện Từ Thức lấy vợ tiên Tạp chí Văn học, số 5-2000, tr.21- 26; Quá trình truyền nhập và lưu hành “Tiễn đăng tân thoại” ở Việt Nam Tạp chí Văn học, số 5- 2001, tr.65-71; Nguyễn Nam: Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương”) Nghiên cứu Văn học, số 4-2004, tr.49-63; Đinh Phan Cẩm Vân: Góp thêm vài suy nghĩ về mối quan hệ giữa “Chuyện cây gạo” và “Chiếc đèn mẫu đơn” Nghiên cứu Văn học, số 6-2005, tr.50-55; Nguyễn Nam: Phiên dịch học lịch sử - văn hoá: Trường hợp “Truyền kỳ mạn lục” (Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh,

2002, 474 trang); Vũ Thanh: Chương VI- Truyền kỳ mạn lục, trong sách Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp – Chân dung (Nxb Giáo dục, H., 2007, tr.172-215; Trần Nho Thìn: Truyền kỳ mạn lục, trong sách Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục Việt Nam, H., 2012, tr.372-410)…

Cùng với các tác giả trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn cũng có một số bài

viết như: Đọc Phiên dịch học lịch sử - văn hóa: trường hợp Truyền kỳ mạn lục Tạp chí Văn học, số 1-2004, tr.123-126; Đọc Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam Giáo dục và thời đại, số 15, ra ngày 3-2-2005, tr.9; “Văn học sử Hàn Quốc - Từ cổ đại đến cuối thế kỷ XIX” Giáo dục và thời đại, số 47, ra ngày 20-4-2006, tr.9; Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên, trong sách Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 10 nâng cao (Nguyễn Khắc Phi chủ biên) Nxb Giáo dục, H., 2006, tr.155-159; So sánh kiểu truyện “người lạc cõi tiên” trong văn học Việt Nam với tiểu thuyết Cửu

Trang 13

vân mộng (Hàn Quốc) Nghiên cứu Văn học, số 6-2008, tr.78-86; Tác phẩm Kim Ngao tân thoại của Hàn Quốc và quá trình tiếp nhận, nghiên cứu tại Việt Nam, trong sách Thúc đẩy Hàn Quốc học ở Việt Nam Nxb Thế giới, H., 2010, tr.199-211; Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục – từ điểm nhìn văn học so sánh, bàn

về mối quan hệ giữa truyền thống và giáo lưu, hội nhập văn hóa, trong sách Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 50 năm Trường Đại học Vinh, Tập II, tháng 10-2009, tr.105-210; Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Nghiên cứu văn học, số 1-2010, tr.30-40…

Lịch sử nghiên cứu của Truyền kỳ mạn lục đã hình thành lâu dài, nhiều

vấn đề cơ bản về nội dung và nghệ thuật đã được đề cập đến Trong giai đoạn

Đổi mới từ 1986 đến nay, việc nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục đã có bước tiến

vượt bậc và bản thân tiến trình nghiên cứu ấy đã đủ làm thành lịch sử của những khuynh hướng tiếp nhận khác nhau, từ đó đặt ra yêu cầu cần đánh giá lại một quá trình tiếp nhận, nói khác đi là vấn đề tiếp nhận, nghiên cứu về một giai

đoạn nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục Kế thừa những công trình nghiên cứu của các thế hệ đi trước, luận văn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời kì Đổi mới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài: Việc tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

thời kì Đổi mới

Phạm vi luận văn của chúng tôi là sơ bộ tiếp cận một số vấn đề liên

quan đến tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ trong thời kì Đổi mới

Những vấn đề mà chúng tôi đề cập đến trong luận văn này không phải là toàn

bộ các vấn đề liên quan đến lý thuyết tiếp nhận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mà chỉ quan tâm mức giới hạn hoạt động nghiên cứu, tiếp nhận tác phẩm trong thời kì Đổi mới Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn chính là những những nhận định, phản ứng trực tiếp hoặc gián tiếp của giới

nghiên cứu và người đọc đối với tác giả, tác phẩm Truyền kỳ mạn lục Đặc

Trang 14

biệt với thành tựu nghiên cứu, tiếp nhận của giới Việt học người nước ngoài, chúng tôi dựa chủ yếu vào các công trình nghiên cứu, dịch thuật của họ đã được giới thiệu, xuất bản tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời kì Đổi mới, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp cơ bản sau

- Phương pháp thống kê

Trên cơ sở tập hợp, khảo sát các công trình nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục từ khoảng năm 1986 đến nay, luận văn tiến hành thống kê và phân loại các

định hướng nghiên cứu và tiếp nhận tác phẩm Đó là cơ sở khoa học chứng

minh cho những luận điểm mà chúng tôi sẽ trình bày trong luận văn của mình

- Phương pháp phân tích

Luận văn vận dụng phương pháp này để phân tích cụ thể các cứ liệu đã thống kê, từ đó đưa ra nhận xét cho các đặc điểm nêu ở luận điểm Kết quả thu được từ sự phân tích này sẽ là những luận cứ khảo chứng cho các luận điểm mà chúng tôi đề xuất trong đề tài

- Phương pháp tổng hợp và hệ thống

Bên cạnh việc thống kê, phân loại, phân tích, chúng tôi còn tiến hành so

sánh đối chiếu hoạt động tiếp nhận giữa Truyền kỳ mạn lục với một số tác

phẩm truyền kỳ xuất hiện ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Dựa trên các sự phân tích còn có những thao tác tổng hợp, xem xét, đánh giá tác phẩm trong hệ thống văn học trung đại

Qua phân tích, so sánh, chúng tôi có điều kiện mở rộng nghiên cứu tiếp

nhận Truyền kỳ mạn lục không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Trung Quốc, lục địa

Đài Loan, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản Mở rộng so sánh như vậy, chúng tôi hy

vọng sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Việt Nam và

trên thế giới

Trang 15

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ trong thời kì Đổi mới, chúng tôi tiến hành tiếp cận trên một số vấn đề sau:

Chúng tôi đề cập một số nét cơ bản tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp

nhận tác phẩm Truyền kỳ mạn lục trên thế giới và ở Việt Nam thời kì Đổi mới

như thế nào? Và dựa vào những khái niệm cơ bản và tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận để thấy được giá trị đích thực cũng như vị trí của tác phẩm đối với nền văn học Việt Nam nói riêng và nền văn học thế giới nói chung Trên cơ

sở những tiếp nhận của các nhà Việt học trong nước và ngoài nước, chúng tôi muốn sử dụng lý thuyết tiếp nhận để tiến hành nghiên cứu các quan điểm về tác phẩm, tìm hiểu những yếu tố mới, các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu trong thời kì Đổi mới ở Việt Nam và trên thế giới

Với đề tài Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ trong thời kì Đổi mới, chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ tiến trình tiếp nhận Truyền

kỳ mạn lục của độc giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam mà chỉ tiếp cận một

số vấn đề có liên quan đến việc độc giả tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ để sơ bộ lý giải và làm cơ sở định hướng cho những nghiên cứu dài hơn Những vấn đề như công việc dịch, vấn đề chuyển mã văn bản sang chữ Quốc ngữ không được đề cập chi tiết trong đề tài này

Với kết quả nghiên cứu trên đây, chúng ta có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên và nhiều đối tượng khác có nhu cầu tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến lý thuyết tiếp nhận và một số vấn đề nổi bật trong tiến trình tiếp nhận

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ trong thời kì Đổi mới

Ngoài việc vay mượn tác phẩm của Cù Hựu, ta còn thấy dấu vết của các truyền thuyết dân gian, tác phẩm vẫn chứng tỏ một ý thức về quyền hư cấu nghệ thuật của tác giả Ông sáng tạo các truyện lạ chứ không chỉ là ghi lại những truyền thuyết, những chi tiết huyền hoặc xung quanh các nhân vật

Trang 16

Việc nghiên cứu đề tài còn để thấy được cách tiếp nhận tác phẩm từ cơ

sở văn hóa của các quốc gia khác nhau thời kì Đổi mới nói chung cũng như ở

Việt Nam nói riêng đối với một tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kì bút”

trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3

chương như sau:

Chương 1- Lý thuyết tiếp nhận và những nhân tố tác động đến quá trình

tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục

Chương 2- Các nhà Việt học ở nước ngoài tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục

thời kỳ Đổi mới

Chương 3- Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Trang 17

Chương 1

LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ

TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN TRUYỀN KÌ MẠN LỤC

1.1 Khái lược về lý thuyết tiếp nhận

Tiếp nhận văn chương là hoạt động tiêu dùng, thưởng thức, phê bình

văn học của độc giả thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau Có sáng tác văn học thì dĩ nhiên có tiếp nhận văn học và chính sự tiếp nhận văn học đã tác động ngược trở lại sáng tác, khiến cho cả hai thực sự góp phần làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của con người trong cuộc sống

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Tiếp nhận văn học là quá trình chiếm

lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn… đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch

Tiếp nhận văn học có liên quan đến các khái niệm: Đọc văn bản, đọc văn chương, tiếp nhận văn chương, cảm thụ văn chương, tiếp thu, thưởng thức…

Khác với “Tiếp nhận” là khái niệm chỉ hoạt động tiếp thu (đọc, nghe, xem) tác phẩm (gồm cả sáng tác văn học và khoa học) với nhiều mục đích khác nhau, để hiểu biết, giải trí, thưởng thức, khảo cứu… Tiếp nhận văn học là khái niệm chỉ việc tiếp thu những sáng tác văn học, là chỉ cách tiếp thu thiên vể thưởng thức, cảm thụ Tuy vậy, tiếp nhận văn học cũng khác với cảm thụ văn học Cảm thụ văn học là sự nhận biết bằng cảm tính trực cảm, nó là tiền đề để

đi vào tác phẩm Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự bộc lộ của cá tính, thị hiếu, lập trường xã hội, sự tán thành hay phản đối… Do đó, khái niệm tiếp nhận văn học bao quát hơn và bao hàm các khái niệm “Cảm thụ”, “Thưởng thức”, “Lý giải văn học”

Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo, nó làm cho tác phẩm không đứng yên mà luôn luôn lớn lên, phong phú thêm Tính sáng tạo của tiếp

Trang 18

nhận văn học đã được khẳng định từ lâu, nhà ngữ văn Nga Pôlepnhia đã nói: Chúng ta có thể hiểu được tác phẩm thi ca chừng nào chúng ta tham gia vào việc sáng tạo nó.

Nói tóm lại, với tư cách là phương pháp luận, tiếp nhận văn học đã đem lại ánh sáng mới, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu văn chương, mở thêm một lối đi cho khảo sát văn chương khiến nó không bị đóng khung trong việc xem xét mối quan hệ nhà văn và tác phẩm

Hoạt động văn học từ xưa đến nay vận hành theo ba khâu: Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc đã từ rất lâu được người ta ít nhiều đề cập Hoạt động tiếp nhận chỉ thực sự được đặt ra một cách

có hệ thống từ khi văn học thành văn ra đời Lý luận tiếp nhận văn chương theo kiểu truyền thống quan niệm tiếp nhận văn chương ở hai dạng: tri âm và ký thác

Tiếp nhận theo kiểu tri âm: Là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của tác

giả Sự cắt nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của tác giả

ký gởi vào tác phẩm từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm trong cùng một vòng tròn đồng tâm Tri âm là biểu hiện tột cùng của sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau Tiếp nhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ quan, người ta quan niệm rằng tác phẩm được viết là để dành riêng cho những người sánh văn chương, có khả năng đi sâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi lòng của tác giả, chứ không phải viết ra cho đông đảo độc giả công chúng ngoài xã hội thưởng thức, tiếp nhận Quan điểm tiếp nhận theo kiểu tri âm đòi hỏi sự gặp gỡ, đồng điệu tuyệt đối giữa người sáng tác và bạn đọc, nhưng trên thực tế việc này rất khó khăn

Tiếp nhận theo kiểu ký thác: Là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác

phẩm để biểu lộ nỗi lòng của mình đối với cuộc đời Do đó, tác phẩm văn chương được coi như là một phương tiện để người đọc giải bày tấm lòng, gửi gắm những quan niệm nhân sinh, những cảm xúc về thế cuộc hoặc những vấn

Trang 19

đề bức thiết của cuộc sống mà trong một chừng mực nào đó người đọc không

có điều kiện để nói ra một cách trực diện

Tiếp nhận theo kiểu tri âm và ký thác gặp nhau ở tính đồng cảm giữa tác phẩm và bạn đọc

Với lý luận tiếp nhận, văn chương hiện đại thừa nhận tác phẩm văn chương là một loại hàng hóa đặc thù Đó là một loại hàng hóa tinh thần do nhà văn sáng tạo nên nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của con người trong xã hội Nó có những thước đo chất lượng và giá trị tiêu dùng rất khác nhau giữa mọi người Do tác phẩm văn chương được xem như một loại hàng hóa nên tiếp nhận văn chương vượt ra ngoài tính cá thể riêng biệt, nó mang tính xã hội cao

Tiếp nhận văn chương hiện đại xác định đối tượng bạn đọc là tầng lớp công chúng rộng rãi, có nhu cầu và sở thích khác nhau Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thực ra không phải là sự phủ nhận lý luận tiếp nhận truyền thống, mà là sự bổ sung thêm bình diện xã hội và văn hóa lịch sử Lý luận tiếp nhận hiện đại vừa kế thừa những mặt tích cực của tiếp nhận truyền thống, vừa không ngừng mở rộng giới hạn nghiên cứu của mình: Đi sâu khám phá những cấp độ khác nhau, lý giải về tính quy luật của hoạt động tiếp nhận… Nhờ vậy

mà cơ chế phức tạp của hoạt động này ngày càng được nhận thức một cách khoa học và đầy đủ hơn

Tác phẩm văn chương mang tính đa nghĩa, mỗi người đứng ở góc độ khác nhau để khám phá, phát hiện những điểm khác nhau Do vậy sẽ tạo ra chân trời tự do cho việc tiếp nhận

Ngoài ra, tác phẩm không phải là sản phẩm cố định mà là một quá trình, một sự đi tìm, một sự khám phá chứ không phải là sự minh họa cho một kết luận có sẵn Chính vì vậy sẽ tạo cơ hội cho những lý giải, những tiếp nối, những kết luận khác nhau

Người đọc đa dạng dẫn đến sự đa dạng trong tiếp nhận văn học Mỗi loại người đọc có một cách tiếp nhận khác nhau Có người đọc để thưởng

Trang 20

thức, nghiên cứu, phê bình… Có người quan tâm đến nội dung tư tưởng, có người quan tâm đến hình thức nghệ thuật Vì vậy, cùng một tác phẩm có thể

có nhiều cách cảm nhận khác nhau, đánh giá khác nhau (người tán đồng, người phê phán) Người đọc đa dạng về trình độ, lứa tuổi, kinh nghiệm, nghề nghiệp, giới tính, địa vị xã hội… cũng sẽ dẫn đến tiếp nhận khác nhau trong cùng một tác phẩm

Tiếp nhận văn học mang đậm dấu ấn chủ quan, gắn liến với thị hiếu, tình cảm của mỗi người Giá trị của tác phẩm không phải là cố cộng cách tiếp nhận

nó, có cách tiếp nhận đúng nhưng lại có cách tiếp nhận sai lệch Trong các cách tiếp nhận tác phẩm có chỗ đúng, chỗ sai nhưng không có nghĩa là chỉ có một cách tiếp nhận nào đó là duy nhất đúng Một tác phẩm có thể có nhiều cách tiếp nhận khác nhau và có thể đều tỏ ra hợp lý, điều này gắn với sự đa nghĩa của tác phẩm văn học

Vấn đề lý luận tiếp nhận đã gây được sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình Đã có những bài nhiên cứu về vấn đề này xuất hiện trên các báo, tạp chí:

Năm 1974, trên Tạp chí Văn học số 4, Nguyễn Văn Hạnh đã đề cập vấn đề này

như một “khâu thường thức” Năm 1980, Hoàng Trinh tìm hiểu vấn đề tiếp nhận văn học trong mối quan hệ với văn học so sánh Ông đã đưa ra các „hình

thái” và “cấp độ tiếp nhận” (Tạp chí Văn học, số 4/1980)

Ở nước ta khi mà giáo trình Lý luận văn học đã có bài “Tiếp nhận văn

học” thì công chúng tiếp nhận văn học từ năm 1986 trở về đây đã khác so với công chúng tiếp nhận văn học trước năm 1985 rất nhiều Người ta không còn đến với tác phẩm văn học như là đến với bản sao của hiện thực để xem các nhân vật trong tác phẩm có giống ngoài hiện thực, “ngang tầm” với hiện thực hay không, mà chủ yếu để xem tác phẩm văn học nói gì về hiện thực, có tư tưởng gì mới về hiện thực

Trang 21

1.2 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ cơ sở lịch sử - văn hóa

Chế độ phong kiến Việt Nam thời Lê sơ hưng thịnh suốt thế kỷ XV và đạt đến đỉnh cao vào thời Lê Thánh Tông Nhưng, bước sang thế kỷ XVI và tiếp đến thế kỷ XVII, nó bắt đầu khủng hoảng và rơi vào tình trạng suy thoái Đến năm 1527, nhà Mạc thay thế nhà Lê vẫn tiếp tục giương cao ngọn cờ Nho giáo, coi Nho giáo là cơ sở cho mọi hoạt động chính trị của mình Nhưng trước

sự thay thế vương triều Lê bằng vương triều Mạc, thái độ của các Nho sĩ có sự phân hoá Nhiều Nho sĩ kiên quyết bộc lộ sự trung thành với triều Lê bằng việc chống đối hoặc phỉ báng Mạc Đăng Dung, rồi sẵn sàng nhận lấy cái chết Có những Nho sĩ bỏ quan về ẩn cư nơi thôn dã Nhưng cũng có một bộ phận Nho

sĩ tiếp tục làm việc trong bộ máy chính quyền nhà Mạc

Trong thời Mạc, Nho giáo dù vẫn được coi là đạo trị nước chủ yếu, nhưng giai cấp thống trị, tầng lớp Nho sĩ cũng như dân thường đã giảm sút niềm tin vào Nho giáo và sự biện hộ của Nho giáo đối với những nguyên tắc cơ bản của chế độ quân chủ tập quyền Lúc này, Nho giáo tỏ ra không đủ sức giúp nhà vua trị nước, yên dân, đưa mọi người tới cảnh thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền, nhân dân hoà mục Vì thế, nhiều Nho sĩ ít hứng thú với mục đích trị quốc, bình thiên hạ, bởi mục đích này thường gắn với sự tôn quân và trung quân Nói cách khác, giới Nho sĩ đang phân vân phải theo ai để trị quốc, bình thiên hạ Điều này là do, vào thế kỷ XVI, ở nước ta, chính quyền đã chuyển từ tay tập đoàn phong kiến này sang tay tập đoàn phong kiến khác, nên quan niệm trung quân trong kinh điển của Nho giáo phải được giải thích lại cho phù hợp với thực tế biến động của thời đại

Không những giới Nho sĩ mà cả đông đảo những người bình dân cũng tin vào số trời, thần thánh và những lực lượng siêu nhiên Quả thật, trong thời loạn, Nho giáo không giúp con người giải thích được mọi hiện tượng phức tạp trong

Trang 22

xã hội, không tạo được niềm tin và thoả mãn được đời sống tinh thần của họ

Vì thế, Phật giáo, Đạo giáo lại có dịp phục hưng và phát triển bên cạnh sự sa sút của Nho giáo

Chiến tranh và bạo lực đã trở thành một thủ đoạn phổ biến để “tranh bá

đồ vương” và thanh toán lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến Vì vậy, nguyện vọng được sống trong hoà bình, ổn định của nhân dân cũng được phản ánh trong tư tưởng của các nhà Nho đương thời, thể hiện ở những quan điểm về

đức trị, về nhân nghĩa Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ viết: “Kẻ làm vua

chúa nên lấy sự chính lòng mình để làm gốc chính triều đình, chính trăm quan,

chính muôn dân” (Câu chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na)

Việc tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục cũng diễn ra trong quy luật như sáng

tạo trong một từ trường lịch sử - văn hóa thống nhất và có chung một quan niệm về nghệ thuật và con người, về vai trò của nhà văn trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ Sự chi phối của các hệ tư tưởng như là nhà nho, những trí thức đầu thế kỉ XX, quan niệm văn học vô sản và những tư tưởng của thời Đổi mới cũng phần nào ảnh hưởng đến sự tiếp nhận tác phẩm

Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm là tư tưởng Nho gia Nhà văn phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều lý tưởng khác trong tương lai, phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu,

thủy chung Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không chỉ thể hiện tư tưởng nhà Nho,

mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến

Theo quan điểm Nho giáo thì tiêu chuẩn để làm người phụ nữ (người vợ, người mẹ) mẫu mực của Nho giáo là “công, dung, ngôn, hạnh”, chữ “dung”

Trang 23

giữ sắc đẹp, mà là giữ cho nét mặt luôn dịu dàng, thùy mị, không kiêu kì Trong

Truyền kỳ mạn lục, sắc đẹp của người phụ nữ được miêu tả theo hai hướng, một

là người một phụ nữ có sắc đẹp nhưng lại là yêu ma, quỷ quái, tinh của các loài

hoa (Chuyện cây gạo, Chuyện kì ngộ ở Trại Tây, Chuyện yêu quái ở Xương Giang), hướng thứ hai là người phụ nữa sắc đẹp không được chú trọng nhưng

lại chứa đựng những phẩm chất cao quý và hành động tốt đẹp nhưng lại bị chồng phụ bạc, ăn chơi sa đọa, thiếu sáng suốt gây ra cái chết cho người vợ của

họ khiến họ phải hàm oan mà chết (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu)

của họ được làm nổi bật để minh họa cho tính cách nhân vật

Học thuyết Nhân nghĩa là một nội dung cốt yếu của Nho giáo, của văn học nhà Nho Có chủ trương yêu thương con người, nhưng không phải là con người bình đẳng như nhau, mà là con người nằm trong quan hệ cha con, anh

em, vua tôi, bạn bè – tức là quan hệ ngũ luân Đức Nhân ở đây không phải là đức của tất cả mọi người, mà là đức tính của đẳng cấp quân tử, là đức tính của người cầm quyền, nó đòi hỏi xuất phát từ lòng thương người, ra sức làm việc cho dân Nho giáo cũng khuyến khích điều thiện của con người trong gia đình gia trưởng (quy tắc về hiếu đễ) và ngoài xã hội (khuyến khích điều nghĩa, khuyến dụ sự trung thứ)

Nhân vật nhà sư được tác giả khắc họa rõ nét, hiện tượng các nhà sư vừa nhập thế hướng về cõi tục, vừa xuất thế hướng về tâm linh, tu luyện bản ngã chân tâm Cả hai định hướng này vừa đồng thời diễn ra trong cuộc đời một vị thiền sư, hoặc cũng có vị trước sau vẫn triệt để tuân theo một cách sống ẩn dật Xem xét trong mối liên hệ với nhân sinh thế tục, ngoài các công việc xây chùa, dựng tháp, giáo hóa chúng sinh thì chính mối ràng buộc với giới quan triều đình có thể được xem là một tiêu chí để minh định xu hướng “nhập thế” này Các cách thức “nhập thế”, hướng về cõi tục có thể biểu hiện trực tiếp ở việc tham gia chính sự, xây dựng vương quyền, giúp vua đánh giặc, cứu nước,

Trang 24

cứu giúp nhân dân (Chuyện nghiệp oan Đào Thị) thực hiện phương thức cầu

mưa thuận gió hòa, trợ giúp việc “kinh bang tế thế” và cảm hóa, dẫn họ theo

về với Phật giáo

Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo du nhập vào nước ta từ lâu, và đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa xã hội trong dân ta từ bao đời nay Đạo giáo tuy không ảnh hưởng sâu sắc như Phật giáo và Nho giáo, nhưng nó cũng đã để lại đến ngày nay không ít những đạo quán, những địa danh, mang ý nghĩa Đạo giáo, những đạo sĩ được thờ phụng

Đạo giáo là một hiện tượng tôn giáo hết sức phức tạp Nó không hiện rõ

ra một thuyết lý về sáng thế và cứu thế, con người từ đâu mà ra, con người chết

đi về đâu Mà hoạt động của Đạo giáo lại phù phép, bùa chú, luyện đan cầu trường sinh bất tử Khi du nhập vào nước ta kết hợp với pháp thuật, ma thuật trong tín ngưỡng thần linh bản địa, lại lồng vào trong đó không ít những yếu tố

Phật giáo Trong Chuyện cây gạo, Chuyện yêu quái ở Xương Giang đạo sĩ ra

tay cứu giúp người dân bằng pháp thuật, lá bùa loại trừ yêu ma gây nhiễu loạn cuộc sống bình an của nhân dân

Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Na, văn xuôi tự sự Việt Nam phát triển theo ba xu hướng chính:

Một là, sưu tầm, ghi chép, cải biên truyện dân gian, gọi tắt là xu hướng dân gian Mở đầu cho thời kỳ này là tác phẩm Lĩnh Nam chích quái của Trần

Thế Pháp (cuối thế kỷ XIV), các câu chuyện được dựa trên sự phát triển của dân tộc Việt Nam từ xưa với nguồn gốc, quá trình chinh phục tự nhiên, mở mang bờ cõi, đánh giặc giữ nước… Và sau đó được các tác giả về sau tiếp tục bảo lưu, sưu tập thêm hoặc có những cải biên Đối với Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ, hai tác giả dựa trên các mô típ của truyện dân gian từ thế kỷ X –

Trang 25

vật, tiên…), “phép thần phù trợ”, “gặp gỡ người chết”, “thăm địa phủ”, “xuống thủy cung”… mà tạo nên những truyện mới, mang tính thời sự của xã hội

Hai là, sưu tầm ghi chép chuyện về nhân kiệt, địa linh đất Việt, bao gồm

các nhân vật lịch sử (người, thần) và các sự kiện lịch sử, gọi tắt là xu hướng lịch sử Với xu hướng này bao gồm các tác phẩm như: Báo cực truyện (khuyết danh), Viện điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, Thiền uyển tập anh (khuyết danh), Tam Tổ thục lục (khuyết danh)… Đặc điểm của những tác phẩm trên

đều phải bám sát với lịch sử, lấy nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử làm đối tượng phản ánh Và những sự kiện, những nhân vật ấy phải có tác động đến lịch sử của cả dân tộc Xu hướng dân gian và xu hướng lịch sử tuy được chia ra làm hai xu hướng khác nhau những trên thực tế hai xu hướng này luôn có sự đan xen, tác động lẫn nhau Đây cũng là một đặc điểm của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại

Ba là, viết về chuyện thế tục, gọi tắt là xu hướng thế tục, ra đời sau và là

xu hướng phát triển chủ đạo ở thế kỷ XV, XVI Các tác giả làm cho xu hướng thế tục trở thành một xu hướng phát triển trong văn xuôi tự sự chính là Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ Đối tượng ở xu thế này tập trung vào con người với những khát khao về hạnh phúc, về tình yêu, những ân ái thế tục… Lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh và trần tục hóa thánh thần, nâng cao vai trò của con người trong thế giới trần tục Để khẳng định sự khác biệt giữa xu hướng lịch sử, Nguyễn Dữ đã hướng ngòi bút của mình vào việc phản ánh số phận của con người, chủ yếu về bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Và chủ nghĩa nhân đạo ra đời từ những sáng tác đó Đưa con người với những số phận cay đắng làm đối tượng của nghệ thuật là cuộc cách mạng trong văn xuôi tự sự thế kỷ XV – XVI Tuy nhiên, văn xuôi tự sự thời này vẫn không đoạn tuyệt với truyện dân gian, nó vẫn dựa vào những tích truyện, những

mô típ trong truyện dân gian để sáng tạo ra những truyện mới Và hình thức truyện truyền kỳ đã phản ánh một cách rõ nét nhất với những sáng tạo đó [40]

Trang 26

Trong đời sống xã hội, “thời kì Đổi mới” ở Việt Nam được tính từ năm

1986 Đây là năm diễn ra Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Trên diễn đàn của Đại hội này, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói”, “Đổi mới tư duy”, với rất nhiều “việc cần làm ngay” So sánh là con đường tốt nhất

để khám phá chân lý Để thấy được quan điểm khác nhau trong việc tiếp nhận tác phẩm chúng ta cần phải so sánh luận điểm của các tác giả với các giai đoạn văn học trước và sau 1975, so sánh văn học Việt Nam sau 1975 với đối tượng rộng lớn hơn là văn học trên thế giới Ngoài phương pháp so sánh, chung ta còn

sử dụng bằng nhiều phương pháp khác nhau

1.3 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ vai trò chủ thể tiếp nhận

Chủ thể tiếp nhận là người đọc tác phẩm, là đối tượng tiếp nhận tác phẩm, một văn bản tác phẩm có tồn tại lâu bền với thời gian hay không, có vị trí như thế nào trong tiến trình văn học đều nhờ vào sự đánh giá, lưu truyền của chủ thể tiếp nhận

Trong cuốn Lý luận văn học, Phương Lựu có ghi: “Người đọc bình

thường bao gồm tất cả công chúng thuộc mọi lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần và địa vị xã hội, thị hiếu thẩm mĩ, khuynh hướng

tư tưởng … Trong điều kiện của sinh hoạt văn hóa hiện đại, bên cạnh ti vi, điện ảnh… “thời gian đọc” của công chúng nói chung bị rút ngắn hơn “Tâm thế đọc” cũng do không khí xã hội, truyền thống nghệ thuật hoặc khuynh hướng thời thượng nào đó quy định …Công chúng đông đảo tiếp nhận văn học thường xuất phát từ thực tiễn đời sống và nhu cầu tự nhiên của tình cảm Đặc điểm của nó là sự đa dạng muôn màu như sự đa dạng muôn màu của cá tính Nhưng sự tiếp nhận của công chúng cũng có sự thống nhất Các sáng tác chân thực, tài nghệ, lột tả được nỗi niềm và ước ao của công chúng đều được đón nhận nhiệt tình [33; 236]

Như chúng ta đã biết chủ thể tiếp nhận từ cơ sở lịch sử - văn hóa khác nhau thì chủ thể tiếp nhận cũng có cái nhìn khác nhau ở từng giai đoạn khác

Trang 27

nhau, ở đây chủ thể tiếp nhận có thể là nhà văn, nhà phê bình và là một loại người đọc đặc biệt Loại người này cũng bị xã hội quy định như mọi người đọc khác, nhưng sự tiếp nhận của họ lại có sự khác biệt ở tính chất nghề nghiệp và

độ chuyên sâu Tác giả vừa là người sáng tạo, vừa là người đọc thực tế Với nhu cầu sáng tạo ra những tác phẩm mới độc đáo về nghệ thuật, sự tiếp nhận văn học của nhà văn thường gắn liền với sự tìm tòi những khía cạnh tư duy nghệ thuật mới, sự phân tích có tính chất nghề nghiệp, độ chuyên sâu Họ tiêu biểu cho sự tự ý thức nội tại của quá trình sáng tạo văn học Tiếp nhận văn học của nhà văn nhiều khi khó tránh khỏi yếu tố chủ quan phiến diện như thường bão hòa cảm xúc, và có nhiều phát hiện sắc sảo lý thú

Tiếp nhận văn học của nhà nghiên cứu, phê bình cũng mang tính chất chuyên nghiệp, nhưng ở tư cách khác Nhà nghiên cứu, phê bình đại diện cho các nhu cầu xã hội, thẩm mĩ của người đọc để tiếp nhận tác phẩm Đó là ý thức

về văn học trên cấp độ ý nghĩa xã hội, xuất phát từ lập trường xã hội nhất định,

từ nhu cầu phát triển những trào lưu văn học nhất định

Nhà nghiên cứu Phương Lựu đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của môi trường

và chủ thể tiếp nhận văn học ở giai đoạn Đổi mới:

“Sự phân biệt như trên chỉ có ý nghĩa tương đối Chủ yếu là tiếp nhận của nhà văn và nhà phê bình có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển năng lực tiếp nhậncủa người đọc nói chung

Nói đến vai trò tiếp nhận đối với đời sống lịch sử của sáng tạo văn học không thể bỏ qua các vấn đề của tiếp nhận Hoạt động tiếp nhận có nhiều cấp

độ như đã nói ở trên Nhưng vai trò sáng tạo của người nhận còn ở chỗ mở rộng các giới hạn Đọc tác phẩm là đưa tác phẩm vào văn cảnh mới, quan hệ mới, phát hiện ý nghĩa mới…” [33; 236]

“… Hoạt động tìm nghĩa trong tiếp nhận văn học phù hợp với khát vọng của con người lịch sử muốn nhận thức các mối liên hệ, các quy luật, các cấu trúc, ý nghĩa và cái có ý nghĩa Khát vọng đó là một bộ phận của hoạt động

Trang 28

thực tiễn chiếm lĩnh thực tại Điều kiện để phân biệt ý nghĩa khách quan và ý nghĩa chủ quan tùy tiện của người đọc là phải xác định đúng mối liên hệ khách quan giữa các tác phẩm và đời sống thực tại, vốn là cội nguồn của ý nghĩa Đời sống lịch sử của các tác phẩm cho thấy, không phải ý muốn chủ quan của người đọc mang lại nghĩa mới cho tác phẩm, mà là tiến trình đời sống khách quan Nhưng mặt khác phải có tính năng động sáng tạo của người đọc mới phát hiện

ra ý nghĩa mới Ở đây người đọc phải có bản lĩnh cao để có thể cắt nghĩa tác phẩm một cách mới mẻ theo những bình diện mới, góc độ mới khắc phục những động hình đã mòn

Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rõ việc giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ đọc của công chúng có một ý nghĩa bức thiết để biến tài sản văn học trở thành sở hữu của mỗi người Trong xã hội của chúng ta hôm nay công việc đó rõ ràng có một ý nghĩa quan trọng và bức thiết” [33; 238]

Trong tiếp nhận, “đồng sáng tạo” của người đọc được hiểu là hoạt động cùng sản xuất sản phẩm tinh thần với tác giả, hoàn thành chu trình sản xuất mà tác giả đã khởi đầu, và chủ yếu là nói đến sự đồng thể nghiệm, đồng cảm, cùng biểu diễn để làm sống dậy cái điều mà nhà văn muốn nói [34; 229]

Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm là để truyền đạt những khái quát, cảm nhận về cuộc đời cho người đọc, ngay khi viết cho mình thì mình cũng là một người

đọc Do đó chỉ khi người đọc tiếp nhận thì quá trình sáng tạo kia mới hoàn

thành Vai trò chủ thể tiếp nhận vô cùng lớn lao Sự tiếp nhận là một giai đoạn tồn tại của hình tượng nghệ thuật, là một khâu không thể thiếu được của sáng tạo nghệ thuật

Trong khi tiếp nhận một tác phẩm đòi hỏi người đọc (chủ thể tiếp nhận) trước hết phải biết tri giác, cảm thụ tác phẩm, phải hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thể cảm nhận hình tượng trong toàn vẹn các chi tiết liên

hệ Cấp độ thứ hai, người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm tác

Trang 29

giả Cấp độ thứ ba, đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm và đồng cảm, cuối cùng nâng cấp, lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật Tiếp nhận văn học đòi hỏi

sự bộc lộ toàn bộ nhân cách của con người – tri giác, cảm giác, tưởng tượng, liên tưởng, suy luận – đòi hỏi sự bộc lộ cá tính, thị hiếu và lập trường xã hội, sự tán thành và phản đối…

Người đọc là yếu tố nội tại của quá trình sáng tác văn học Tác phẩm văn học chỉ có được đời sống khi được người đọc tiếp nhận và chiếm lĩnh các giá trị

tư tưởng, thẩm mỹ của nó, nhờ đó người đọc được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng, tình cảm, năng lực cảm thụ và tư duy Chỉ khi được người đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo của nhà văn mới hoàn tất

1.4 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ sự thay đổi của các phương pháp

nghiên cứu

Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau lại có sự chuyển biến văn hóa, từ đó dẫn đến sự vận động, thay đổi, bổ sung phương pháp nghiên cứu khác nhau Mỗi phương pháp lại tiếp cận một vấn đề chúng ta sẽ phát hiện những cái mới, nhìn thấy sự biến đổi bên trong tác phẩm qua các thời kì khác nhau mà vẫn mới, vẫn mang giá trị đặc biệt Nói một cách văn chương thì đó như là “bình cũ rượu mới”

Trước đây, phương pháp phân tích, bình giảng theo nội dung chủ đề, tính cách nhân vật, tư tưởng đấu tranh giai cấp được sử dụng nhiều để lý giải tác

phẩm Truyền kỳ mạc lục Từ thời kỳ Đổi mới đến nay, việc vận dụng các

phương pháp so sánh và lý thuyết tiếp nhận đã góp phần quan trọng làm thay đổi tư duy nghiên cứu và đưa đến những đóng góp mới mẻ trong việc tiếp cận

Truyền kỳ mạn lục Bên cạnh đóng góp của các nhà nghiên cứu Việt Nam cần

đặc biệt nhấn mạnh công sức của các nhà nghiên cứu người nước ngoài trong việc vận dụng các phương pháp so sánh và tiếp nhận vào khai thác các phương

diện nội dung và nghệ thuật Truyền kỳ mạn lục như M Tkachev, K I

Trang 30

Golyghina, N I Niculin, B Riftin (Nga), Jean Hyae Kyeong, Kim Seona (Hàn Quốc), Kawamoto Kurivé (Nhật Bản), Trần Ích Nguyên (Đài Loan)… Theo khảo sát của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn thì, nhờ việc vận dụng những phương pháp mới, nhiều vấn đề học thuật đã được đặt ra, mở rộng và nâng cao, ngày càng toàn diện, hệ thống và chuyên sâu hơn Từ việc chỉ khảo sát, giới

thiệu biệt tập Truyền kỳ mạn lục đã tiến tới nghiên cứu so sánh tập truyện

“thiên cổ kỳ bút” này với tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung

Quốc) nhằm cho thấy những ảnh hưởng và vay mượn, tiếp nhận và sáng tạo, tiếp nối và phát triển giữa Nguyễn Dữ với Cù Hựu Một đối sánh khác là đặt

Truyền kỳ mạn lục bên cạnh Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (Hàn Quốc) vốn là hai tác phẩm cùng chịu ảnh hưởng từ Tiễn đăng tân thoại để xem

xét các chiều hướng tiếp thu, khả năng khúc xạ hệ thống cốt truyện, nhân vật và hình thức thể hiện cũng như đặc điểm mỗi nền văn hoá bản địa đã qui định, chi phối như thế nào đến chính quá trình tiếp thu đó Thêm nữa là sự so sánh cả hai

tác phẩm trên (phần nào liên hệ với tác phẩm mô phỏng và cải biên Otogi Bohko – “Tấm bùa cho trẻ con” của Nhật Bản) trong hệ qui chiếu và mối giao lưu văn hoá với Tiễn đăng tân thoại, từ đó đi sâu phân tích, lý giải hiện tượng

du nhập và ảnh hưởng của tác phẩm Trung Quốc tới Hàn Quốc và Việt Nam

Có thể nói việc lựa chọn điểm nhìn văn hoá đã giúp các nhà Việt học chỉ rõ mối liên hệ giữa bối cảnh ra đời tác phẩm và tác giả, mẫu số tư tưởng Nho giáo và điều kiện đặc thù dân tộc, chiều sâu truyền thống văn hoá và khả năng tiếp nhận cái mới Đó cũng chính là cơ sở để các tác giả khảo sát tác phẩm theo lịch

sử sáng tác, quá trình truyền bản, đề tài tình yêu, truyện luận đề; phân chia

thành loại diễm tình (gồm các chùm truyện viết về ly - hợp của nam nữ ở thế giới hiện thực, truyện viết về sự ly hợp của nam nữ ở thế giới phi hiện thực, truyện viết về sự ly hợp của nhân vật nam nữ hồn ma) và loại kỳ quái (gồm

kiểu truyện được viết trong bối cảnh không gian của thế giới thực tại và truyện viết về sự giao du hay diệt trừ giữa các nhân vật ở thế giới khác), từ đó tiến

Trang 31

hành lập bảng phân loại sắp xếp cốt truyện các truyện kỳ quái của ba tác phẩm theo mô tip giao du và diệt trừ trong từng bối cảnh không gian cụ thể (thế giới long cung, địa giới, thế giới thần tiên, thiên giới)

Tiểu kết: Qua những điều trình bày trên có thể thấy rõ việc nghiên cứu

Truyền kỳ mạn lục theo những phương pháp mới sẽ cho phép thấy rõ hơn

những phương diện thuộc về quan niệm sáng tác và bút pháp tác giả, những khía cạnh thuộc về chiều sâu tư duy nghệ thuật như vai trò cốt truyện và lời bình luận ngoại đề của tác giả, khung cốt truyện và sự biến cải các chi tiết, hình thức hỗn dung thể loại với việc đan xen tản văn và vận văn, hình thức không - thời gian nghệ thuật mang tính hiện thực và hư ảo Về cơ bản, từ lý thuyết tiếp nhận, từ việc nắm vững cơ sở lịch sử - văn hóa cùng với chiều sâu kinh nghiệm của chủ thể tiếp nhận và khả năng nắm bắt những phương pháp nghiên cứu mới

đã đưa đến sức sống mới cho tiến trình nghiên cứu Những sự so sánh, đối

chiếu đó đã đưa đến nhận thức sâu sắc hơn về đặc điểm Truyền kỳ mạn lục đặt

trong loại hình truyện truyền kỳ phương Đông, về khả năng biến đổi tác phẩm nguồn theo ý đồ sáng tác của mỗi tác giả, về đặc điểm văn hoá và tín ngưỡng bản địa cũng như thực lực truyền thống văn học của mỗi dân tộc

Trang 32

Chương 2 CÁC NHÀ VIỆT HỌC Ở NƯỚC NGOÀI

TIẾP NHẬN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC THỜI KÌ ĐỔI MỚI

2.1 Khái lược về vấn đề tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục và đội ngũ các nhà

nghiên cứu ở nước ngoài

Việc nghiên cứu tác phẩm Truyền kỳ mạn lục ở giai đoạn Đổi mới

khoảng 1986 đến nay, bên cạnh nhiều tác giả người Việt Nam còn có nhiều tác

giả thuộc các quốc gia khác nhau như Nga (Marian Tkachev: Bậc thầy của những chuyện kỳ diệu sáng tạo từ đất Hải Dương ), Hàn Quốc (Jeon Hye Kyung: Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc – Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục…), Nhật Bản (Kawamoto Kurivé: Những vấn đề khác nhau liên quan đến Truyền kỳ mạn lục…), Trung Quốc và lục địa Đài Loan (Trần Ích Nguyên: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục…) Chúng tôi được biết tác phẩm Truyền kỳ mạn lục còn được dịch sang tiếng Pháp, tiếng

Anh và được giới nghiên cứu văn học phương Tây chú ý đến nhưng do chưa có điều kiện khai thác nguồn tư liệu này nên chúng tôi tạm để lại Nhìn chung, từ những quốc gia khác nhau và những điểm nhìn văn hóa khác nhau, họ đã đưa đến những cách tiếp nhận mới, hệ thống tư liệu mới, cách nhìn nhận và đánh

giá mới mẻ về Truyền kỳ mạn lục cũng như đặt trong mối quan hệ với các tác

phẩm cùng kiểu loại trong khu vực văn học Đông Á thời trung đại

2.2 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Nga

Trong suốt giai đoạn nửa sau thế kỷ XX đến nay, Việt Nam và nước Nga

có mối quan hệ tốt đẹp và ngành Việt học ở Nga phát triển khá mạnh mẽ Nói

riêng tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đã sớm được phiên dịch, được khảo sát,

nghiên cứu, tiếp nhận từ nhiều góc độ khác nhau

Nhà Việt Nam học tiêu biểu người Nga N.I Niculin đã từng khái quát

Trang 33

Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) đã cho thấy trình độ hoàn thiện rất cao của truyện ngắn Việt Nam viết bằng chữ Hán và đã trở thành một thể loại văn học phát triển, tuy vẫn còn giữ lại đoạn kết thúc mang tính chất khuyên răn đạo lý và những kết luận luân lý (…) Trong truyện của Nguyễn Dữ, các thần thường xuất hiện một cách tự nhiên giữa loài người và các nàng tiên cũng từng nếm mùi yêu đương ở dưới hạ giới” [58; 282]

Tác giả M Tkachev trong công trình dịch thuật và giới thiệu Truyền kỳ mạn lục sang tiếng Nga (1974), qua 28 năm mới được công bố ở Việt Nam với nhan đề Bậc thầy của những chuyện kỳ diệu sáng tạo từ đất Hải Dương

(2002), sau khi phân tích và so sánh một số truyện tiêu biểu đã xác nhận thực tế lịch sử: “Điều không phải tranh cãi là có sự giống nhau rõ ràng giữa các truyện của Nguyễn Dữ Song điều ấy không hoàn toàn dẫn đến sự vay mượn đơn giản

về chủ đề và hình tượng (…) Ảnh hưởng của thi ca và văn xuôi Trung Quốc đối với văn học cổ Việt Nam rất rõ và sự tiếp xúc với kho tàng văn hóa Trung Quốc đã tác động đến hình thành nền văn hóa Việt Nam nói chung bao gồm cả văn chương Việt Nam”, đồng thời vẫn chú ý nhấn mạnh tính dân tộc của tác phẩm: “Chính người Việt thời trung đại cũng đã thấy rõ sự khác nhau giữa việc tiếp thu thông minh những hình tượng đẹp nhất của văn chương Trung Quốc và

sự bắt chước sách vở của người khác một cách mù quáng, thiếu trí tuệ (nhân tiện, cần nói là ông Nguyễn Dữ đã hấp thu học vấn Nho giáo)” [34; 61]

K.I Golyghina ở chương Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục (dịch giả Trương Văn Vỹ và Nguyễn Nam đã chú dẫn, nguyên nghĩa tiếng Nga là Cù Hựu và truyện ngắn cổ Việt Nam) trong chuyên khảo Truyện ngắn Trung Quốc thời trung đại: Căn nguyên các chủ đề và diễn biến của chúng (thế kỷ VIII – XIV) khi so sánh Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ với Tiễn đăng tân thoại

của Cù Hựu đã nhận xét: Nguyễn Dữ bao giờ cũng chuyển câu chuyện sang không gian địa lý Việt Nam với tên người Việt Nam, một số truyện của Nguyễn

Dữ như Người nghĩa phụ ở Khoái Châu mang đề tài hoàn toàn độc lập Chuyện

Trang 34

nghiệp oan của Đào Thị dấu ấn vay mượn rất ít, Chuyện đối tụng ở Long Cung,

Từ Thức lấy vợ tiên là mượn truyền thuyết các tình tiết dân gian trong nước

hoặc mô-típ chuyện dân gian phổ biến ở nhiều nước, các bài thơ trong truyện thường cải biên chút ít và các bài thơ tương ứng trong các tác phẩm của Cù Hựu hoặc mượn thẳng thơ của các nhà thơ thời Đường mà Cù Hựu đã vay mượn Nhà nghiên cứu K.I Golyghina đặc biệt chú trọng khảo sát các phương diện thể loại, cấu trúc tác phẩm, mối quan hệ giữa phần văn xuôi và thơ ca, từ khúc, hệ thống từ vựng và đi đến kết luận: “Việc hình thành thể loại đoản thiên tiểu thuyết Việt Nam diễn ra trên nền ngôn ngữ văn chương của chung cả khu vực Viễn Đông Nó theo hướng giải quyết câu chuyện khỏi những liên hệ truyền thống mang tính biên niên và lối tư duy của những hình thức mang tính văn chương đã ổn định, vi phạm quy tắc thể loại đã được chấp nhận trong truyện truyền kì của Trung Quốc (…) Nguyễn Dữ đã xây dựng truyện không trực tiếp theo khuôn kiểu kể chuyện trong văn chương khu vực Viễn Đông Đó

là quy luật, đặc thù đối với cả Triều Tiên cũng như với Việt Nam” [27; 31]

Trong một hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 2006, nhà phương Đông

học B Riftin có bài viết “Thử so sánh Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc) với Kim ngao tân thoại của Kim Thời Tập (Triều Tiên), Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Việt Nam) và Cà tỳ tử của Asai Rey (Nhật Bản) đặc biệt

quan tâm đến mối quan hệ giữa văn học dân gian trong văn học viết để cắt nghĩa hiện tượng sáng tạo của Nguyễn Dữ: “Sau khi phân tích cùng motif người xuống thủy phủ của nhà văn ba nước nói trên [Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên - Hàn Quốc], có thể kết luận như sau: Kim Thời Tập ở Triều Tiên và Asai Rey ở Nhật Bản đều cải tác truyền kỳ của Cù Hựu, tác phẩm của họ có thể gọi là phiên bản về tình tiết (national adaptation) Nguyễn Dữ ở Việt Nam thì không thế Ông tham khảo truyền kỳ của Trung Quốc rồi viết thành tác phẩm mới, có tính sáng tạo [2; 52] Có thể thấy B Riftin đã đưa đến những hướng tiếp cận mới có ý nghĩa tổng hợp, tổng thành, liên ngành về nghiên cứu so sánh

Trang 35

cũng như nhận diện Truyền kỳ mạn lục từ điểm nhìn văn hóa, quan hệ văn hóa

dân gian và tiếp nhận văn hóa vùng trong việc lý giải năng lực sáng tạo của

Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục

Có thể khẳng định các nhà nghiên cứu người Nga đã góp phần thúc đẩy

việc nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục lên một tầm cao mới, đặt trong mối quan hệ

khu vực và trở thành đối tượng của những phương pháp nghiên cứu chuyên sâu, hiện đại Hơn nữa, việc các công trình này được dịch sang tiếng Việt không chỉ giúp giới nghiên cứu hình dung đầy đủ hơn vị thế và các phương

cách tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục mà còn trở thành những bài tập mẫu cho các

công trình nghiên cứu văn xuôi truyền thống dân tộc

2.3 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Hàn Quốc

Như đã nêu, phải đến năm 1995, với bài viết tóm lược công trình So sánh thể loại tiểu thuyết truyền kỳ của Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam (Qua ba tác phẩm Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục) của

nhà nghiên cứu Joan Hye Kyung (Toàn Huệ Khanh) trên mục “Thông tin văn

học” của Tạp chí Văn học [17; 52], bạn đọc Việt Nam mới biết đến nhiều hơn tác phẩm truyền kỳ Kim Ngao tân thoại của tác gia Hàn Quốc Kim Thời Tập

(1435-1493), trong khi trên thực tế, vấn đề đã trở thành phổ biến trong học giới Nga chí ít từ thập kỷ 60 ở thế kỷ XX

Cũng chính vào năm 1995, tác giả Kim Seona (Kim Thiện Nhi) với tiểu

luận Đề tài tình yêu trong Kim Ngao tân thoại của Hàn Quốc (So sánh với Truyền kỳ mạn lục của Việt Nam) đã bước đầu giới thiệu tóm tắt hai truyện tập trung vào đề tài tình yêu là Vạn phúc tự xư bồ ký và Lý sinh khuy tường truyện

rồi đi tới kết luận: “Ở hai truyện trên đây, Kim Thời Tập muốn đề cao thứ tình yêu tự do, nhưng đó là thứ tình yêu tự do giữa người và ma, tức muốn dùng thần linh ma quái để thể hiện tình yêu con người Điều đó có phần giống với

nhiều truyện trong Truyền kỳ mạn lục của Việt Nam ( ) Nói chung các truyện

viết về tình yêu của Nguyễn Dữ là đa dạng, giàu sắc thái cảm xúc, hầu như đều

Trang 36

có đề cập đến số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ Có truyện, người phụ nữ đã trở về với chồng con, với người yêu dưới dạng hồn ma tựa như các truyện ở Kim Ngao tân thoại Có thể thấy loại truyện truyền kỳ của Việt Nam và của Hàn Quốc khi nói về tình yêu có những điều rất gần nhau” [26; 33-35] Dù mới chỉ đặt vấn đề tìm hiểu một khía cạnh đề tài tình yêu nhưng cũng góp phần giúp người đọc làm quen với nội dung trữ tình và giá trị

nhân văn của Kim Ngao tân thoại

Trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục in tại Việt Nam năm 2004, nhà nghiên cứu Hàn Quốc Jeon Hye Kyung (Toàn Huệ Khanh) xác định hai tác phẩm Kim Ngao tân thoại và Truyền kỳ mạn lục đều chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, nhưng

tác giả cũng lý giải hai tác phẩm đó không hoàn toàn là sự mô phỏng vay mượn một cách đơn giản mà chịu ảnh hưởng một cách toàn thể từ phương diện thể loại tiểu thuyết truyền kỳ để sáng tạo nên tác phẩm truyền kỳ của riêng mỗi nước - vừa mang những đặc điểm thể loại tác phẩm chung, vừa mang những nét riêng về tác giả cũng như văn hóa, địa lý mỗi quốc gia Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để làm sáng tỏ đặc trưng của tác phẩm, trong

đó lấy Tiễn đăng tân thoại làm thước đo để xem xét diện mạo biến đổi của Kim Ngao tân thoại và Truyền kỳ mạn lục về tác giả, tác phẩm và văn hóa, từ đó nêu

ý nghĩa văn học sử của tiểu thuyết truyền kỳ ba nước

Tác giả có kết luận sự giống nhau và khác nhau như sau:

Về điểm giống nhau: Thông qua so sánh các truyện có nhiều nét giống

nhau giữa Tiễn đăng, Kim ngao, và Truyền kì, đặc biệt là mặt thể loại truyền

kỳ, chúng tôi đã xác nhận chứng cứ có quan hệ ảnh hưởng cho - nhận của tiểu thuyết truyền kì ba nước Hàn - Trung - Việt Lại nữa thể loại truyền kì có mô típ truyền kì nên ta cũng có thể thấy thể loại này là thể loại văn học có đặc điểm

có thể ngụ ý ý đồ của tác giả

Trang 37

Về điểm khác nhau: theo tiêu điểm biến đổi dung mạo mà xét, cùng một tác phẩm ở một nước khác nhau khi gặp tác giả và “thổ nhưỡng” khác nhau thì

có sự biến đổi Tác giả chia sự biến đổi dung mạo đó theo các mặt tác phẩm, tác giả, văn hóa và quan hệ ảnh hưởng như sau: 1) Về mặt tác phẩm, ba tác

phẩm Tiễn đăng tân thoại, Kim ngao tân thoại, Truyền kỳ mạn lục đều có đặc điểm của thể loại tiểu thuyết truyền kì loại diễm tình, kì quái Tác phẩm Truyền

kỳ mạn lục ngoài chủ đề diễm tình, kì quái, còn thể hiện ý đồ sáng tác của tác

giả như nêu cao lòng yêu nước, diệt trừ yêu quái, giáo huấn con người, nêu cao

trinh tiết của người phụ nữ, phê phán hiện thực Tác phẩm Kim ngao tân thoại

ngoài chủ đề diễm tình kì quái còn thể hiện ý đồ sáng tác của tác giả như giải mối hận không thi thố đươc tài năng và không nhận được chức quan gì ở thế giới hiện thực, đồng thời còn thể hiện được lòng trung thành đối với nhà vua

trước: 2) Về mặt tác giả, tác giả Nguyễn Dữ của Truyền kỳ mạn lục đã trích dẫn

nhiều điển tích điển cố mang tính lịch sử nên đã tỏ ra là người có tri thức uyên bác về lịch sử Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời Nguyễn Dữ đã xây dựng cốt truyện trên cơ sở truyện cổ dân gian Việt Nam có tính sáng tạo cao Tác giả

Kim Thời Tập của Kim ngao tân thoại thể hiện rõ tài thơ trong tác phẩm và về mặt phương pháp sáng tác có phần đặc biệt hơn so với Tiễn đăng tân thoại; 3)

Về mặt văn hóa, Tiễn đăng tân thoại, Kim ngao tân thoại, Truyền kỳ mạn lục đều có tư tưởng Nho giáo nhưng Truyền kỳ mạn lục còn có yếu tố nhân quả báo ứng và tín ngưỡng linh vật; Kim ngao tân thoại lấy yếu tố thê giới hiện thực làm trung tâm nhiều hơn so với Truyền kỳ mạn lục nên có thể thấy sự biến

đổi về mặt cốt truyện kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa Hàn Quốc với Nho giáo

và Phật giáo Hơn nữa, qua ba tác phẩm còn có thể thấy được sự biến đổi về

mặt văn hóa của Hàn Quốc và Việt Nam, đồng thời cũng có thể thấy Truyền kỳ mạn lục đã phản ánh được cốt truyện dân gian và đặc điểm văn hóa, bối cảnh lịch sử và địa lý của đất nước mình cụ thể hơn so với Kim ngao tân thoại

Trang 38

Từ những dẫn giải trên, học giả Jeon Hye Kyung đi đến kết luận: “Về

quan hệ ảnh hưởng, ta thấy Truyền kỳ mạn lục và Kim ngao tân thoại có nhiều chỗ được coi là chứng cứ chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, nhưng Truyền kỳ mạn lục có thể được coi là chịu ảnh hưởng toàn diện về nhiều mặt của Tiễn đăng tân thoại; còn Kim ngao tân thoại đã mô phỏng nhiều phần các

mô típ của các truyện cá biệt trong Tiễn đăng tân thoại nhưng về mặt phương

pháp sáng tác, tác giả đã sử dụng lối viết một cách nhất quán để thể hiện tư tưởng của mình nên đã thể hiện rõ động cơ sáng tác và ý thức sáng tác của tác giả trong ba tác phẩm” [26; 187-188]

Từ những kết luận đó tác giả đánh giá cao giá trị mỹ học của Tiễn đăng tân thoại được thể hiện một cách điển hình, tự nhiên và đúng mức của tiểu thuyết truyền kì loại diễm tình, kì quái Đối với Truyền kỳ mạn lục, tác giả nhận

xét “giá trị của tác phẩm thể hiện qua đặc điểm văn hóa và tín ngưỡng bản địa

trong truyện cổ dân gian Việt Nam… Truyền kỳ mạn lục chịu ảnh hưởng về mặt thể loại tiểu thuyết truyền kì của Tiễn đăng tân thoại” [26; 189]

2.4 Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Nhật Bản

Theo các nguồn tư liệu đã thu thập được, tại Nhật Bản đã có một số nhà

nghiên cứu quan tâm đến tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Việt Nam, trong đó

nhấn mạnh tới vấn đề văn bản cũng như so sánh và định giá tác phẩm

Tác giả người Nhật Bản Kawamoto Kurivé trong tiểu luận Những vấn đề khác nhau liên quan đến Truyền kỳ mạn lục (lịch sử sáng tác, xuất bản và nghiên cứu theo cái nhìn văn học so sánh) nhấn mạnh tính cộng đồng về mặt

thể loại, vấn đề tác giả, thời điểm ra đời và phương pháp cải biến gắn liền với đặc điểm văn hóa mỗi dân tộc Việt Nam và Nhật Bản khi cùng tiếp nhận ảnh

hưởng của Tiễn đăng tân thoại Học giả Kawamoto Kurivé đề cập đến nhiều

vấn đề như tác giả và thời gian sáng tác truyện, hệ thống các bản in, phương pháp cải biên và đi đến xác định: “Tuy nhiên, trong bản cải biên Việt Nam nổi lên một tinh thần văn học đặc biệt ở chỗ các mô tip được sắp xếp theo cách

Trang 39

phát triển quan điểm về thế giới và nêu lên giá trị của người Việt Nam nhằm đề cao ý thức dân tộc (…) Nguyễn Dữ tuy vẫn tôn trọng thế giới văn học của nguyên bản nhưng ở đâu cũng tìm rút ra những đề tài và mô tip đáng chú ý đều nhằm tạo ra một thế giới đặc biệt khác lạ dù phải đưa vào những yếu tố của bản gốc” [21; 62] Đối sánh với ý kiến của các nhà nghiên cứu Pháp cũng như Nhật Bản từ nửa đầu thế kỷ XX mà Kawamoto Kurivé đã dẫn ra: “Những mối quan

hệ sâu xa giữa Truyền kỳ mạn lục và tập truyện của Cù Hựu có thể thấy rõ qua

lời tựa của hai cuốn sách này mà tôi sẽ nói sau Dù sao nhà nghiên cứu đầu tiên

đã nêu lên nhận xét này là Giáo sư Emile Gaspardone, người đã viết trong Thư mục An Nam đăng trong BEFEO (Tạp chí Viễn Đông Bác Cổ) năm 1943 rằng:

“Đại thể nó mô phỏng tập truyện Tiễn đăng của một nhà Nho đời Nguyên (…)

Tiếp đó, Giáo sư S Okuno ở Nhật Bản năm 1940 trong bản luận văn nhan đề

“Truyền kỳ mạn lục, tác phẩm nổi bật của văn học An Nam” đã nêu lên nhiều

truyện của Nguyễn Dữ để nhận xét rằng nhìn tổng thể thì đây là tập truyện viết lại theo mô hình tác phẩm của Cù Hựu” [21; 58] đã cho thấy rõ những chuyển

biến trong nhận thức cũng như đánh giá, tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục qua thời

gian gần một thế kỷ, ghi nhận những đóng góp mới trong vài ba chục năm gần đây

Cách mấy năm sau, Kawamoto Kuniye trong tiểu luận “Bàn về các bản

in sách Truyền kỳ mạn lục” tiếp tục bàn lại vấn đề văn bản tác phẩm Có thể

coi đây là một thế mạnh của tác giả cũng như giới nghiên cứu cổ văn Nhật Bản

vì họ am hiểu chữ Hán và có kinh nghiệm xử lý các văn bản Hán Nôm Sau khi

mô tả, so sánh 5 bản khắc in Truyền kỳ mạn lục khác nhau, Kawamoto Kuniye

đi đến xác định: “Về phần mình, bản in 1763, sau phần mục lục, có mấy lời Nhà xuất bản như sau: “Vào một ngày tháng giêng năm Cảnh Hưng 24, đã in lại bản sách của gia đình Nguyễn Bích, người làng Liễu Chàng”, “Gia bản” ở đây dĩ nhiên có nghĩa là một bản in do gia đình bảo quản, như cách giải thích của GS Emile GASPARDONE về “Nguyễn Bích”, ta có thể hiểu đây là cuốn sách do một người có tên là Bích, thuộc họ Nguyễn, lưu giữ Gia đình này có lẽ

Trang 40

là một gia đình thợ khắc ở làng Liễu Chàng, và lời Nhà xuất bản vạch chỉ một người thuộc làng Liễu Chàng là Nguyễn Bích vào ngày nói trên đã in và xuất bản cuốn sách do gia đình ông tàng trữ Đúng như điều vừa xác nhận, đáng lẽ giữ lại những tấm ván khắc đã dùng để in, thì theo thói quen, không nghi ngờ gì nữa, người ta lại giữ những bản sách nổi tiếng của gia đình cho những thợ khắc thuộc dòng họ mình trong tương lai, đây cũng là cách tạo điều kiện để tái bản một tác phẩm theo yêu cầu bạn đọc” [22].

Trong một trường hợp khác, tác giả Nguyễn Thị Oanh (người Việt Nam)

đã có bài viết với nhan đề “Ca tỳ tử (Otogiboko) và “Vũ nguyệt vật ngữ (Ugetsumonogatari) với Truyền kỳ mạn lục” [59] Trong bài viết này tác giả

tiếp nhận nhiều kết quả từ một số nhà nghiên cứu người Nhật và tiếp tục so

sánh Ca tỳ tử và Vũ nguyệt vật ngữ với Truyền kỳ mạn lục trên những chi tiết

có liên quan đến Tiễn đăng tân thoại Từ đó tác giả so sánh giữa Mẫu đơn đăng lung (Botan doro) (Truyện chiếc đèn mẫu đơn) với Mộc Miên thụ truyện (Truyện Cây gạo) trên những chi tiết chính có liên quan đến Mẫu đơn đăng kí (Truyện chiếc đèn mẫu đơn) của Tiễn đăng tân thoại Và một bảng nữa Zigoku

o mite yomigaeru (Truyện sống lại sau khi xuống âm phủ) với Hạng Vương từ kí; Tản Viên từ Phán sự lục; Long đình đối tụng trên những chi tiết có liên quan đến Lệnh Hồ sinh minh mộng lục của Tiễn đăng tân thoại) Khi so sánh Mộc miên thụ truyện và Mẫu đơn đăng lung, tác giả chú ý đến nhận xét của các Giáo

sư Nhật Bản cho rằng ở Mộc miên thụ truyện và Mẫu đơn đăng lung, thế giới của Tiễn đăng tân thoại từ nhân vật, địa điểm, và thời đại cho đến phong tục

tập quán đã được thay đổi sang Việt Nam và Nhật Bản Nguyễn Dữ đã dùng hình ảnh cây gạo làm nhan đề cho câu chuyện của mình Ở Việt Nam trong các câu chuyện từ ngàn xưa còn lưu lại, chuyện ma cây đề, tinh cây gạo là đề tài

mà bất cứ làng quê nào cũng có Nói đến cây đa, cây đề, cây gạo là nói đến hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam Ở Mộc miên thụ truyện, thông qua

pháp thuật của đạo sĩ, các hiện tượng thiên nhiên kì quái đã xảy ra dữ dội trên

Ngày đăng: 21/11/2014, 21:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường (2005), Từ điển văn học Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hếtT thế kỷ XIX), In lần thứ 5, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hếtT thế kỷ XIX)
Tác giả: Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
2. Boris Riftin (2006), “Thử so sánh Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc) với Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (Triều Tiên), Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Việt Nam) và Cà tỳ tử của Asai Rey (Nhật Bản) (Phạm Tú Châu dịch)”, Nghiên cứu văn học (số 12), tr.46-58, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử so sánh "Tiễn đăng tân thoại" của Cù Hựu (Trung Quốc) với Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (Triều Tiên), "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ (Việt Nam) và "Cà tỳ tử" của Asai Rey (Nhật Bản) (Phạm Tú Châu dịch)”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Boris Riftin
Năm: 2006
3. Mai Khánh Cát (2000), “Thành quả đầy đặn trong nghiên cứu chỉnh thể văn hóa Hán” (Phạm Tú Châu dịch), Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục. Sđd, tr.357-362, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Mai Khánh Cát
Năm: 2000
4. Phạm Tú Châu (2000), “Lời giới thiệu”, Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Nxb Văn học, H., tr.5-9, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiệu”, "Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
5. Phạm Tú Châu (1997), “Nhà Đông phương học B. L. Riftin và văn học cổ điển Việt Nam”, Tạp chí Văn học (số 6), tr.48-50, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Đông phương học B. L. Riftin và văn học cổ điển Việt Nam”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1997
6. Phạm Tú Châu (1995), “Tiểu thuyết cổ điển Triều Tiên qua cách nhìn của B. L. Riftin”, Tạp chí Văn học (số 10), tr.60-61, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết cổ điển Triều Tiên qua cách nhìn của B. L. Riftin
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1995
7. Phạm Tú Châu (1995), “Truyền kỳ chữ Hán ở Hàn Quốc và Việt Nam”, Tạp chí Văn học (số 10), tr.36-40, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ chữ Hán ở Hàn Quốc và Việt Nam”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1995
8. Phạm Tú Châu (1987), “Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí Văn học (số 3), tr.71-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa "Tiễn đăng tân thoại" và "Truyền kỳ mạn lục"”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1987
9. Nguyễn Dữ (1971), Truyền kỳ mạn lục (bản dịch của Trúc Khê, Ngô Văn Triện, lời giới thiệu của Bùi Kỷ), Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguyễn Dữ, Trúc Khê, Ngô Văn Triện, Bùi Kỷ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1971
10. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học (in lần hai có bổ sung và sửa chữa), Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
11. Đoàn Lê Giang (2010), “Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”, Nghiên cứu Văn học (số 1), tr.41-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Nhà XB: Nghiên cứu Văn học
Năm: 2010
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
13. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Trên hành trình văn học trung đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên hành trình văn học trung đại
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Nguyễn Phạm Hùng (2006), “Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục”, Nghiên cứu Văn học (số 1), tr.123-134, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng tác Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nghiên cứu Văn học
Năm: 2006
15. Nguyễn Phạm Hùng (1987), “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục”, Tạp chí Văn học (số 2), tr.65-76, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong "Truyền kỳ mạn lục"”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1987
16. Trần Đình Hượu (Lại Nguyên Ân biên soạn) (1927-1995), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông: Rút từ bài ghi của sinh viên và từ băng ghi âm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về tư tưởng phương Đông: Rút từ bài ghi của sinh viên và từ băng ghi âm
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
17. Jeon Hye Kyung (1995), “So sánh thể loại tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam (Qua ba tác phẩm Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục)”, Tạp chí Văn học (số 5), tr.52, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh thể loại tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam (Qua ba tác phẩm "Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại "và" Truyền kỳ mạn lục")”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Jeon Hye Kyung
Năm: 1995
18. Jeon Hye Kyung (2004), “Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Jeon Hye Kyung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
19. Jeon Hye Kyung (2005), “Nghiên cứu so sánh một tiểu thuyết truyền kỳ trong Kim ngao tân thoại (Hàn Quốc), Truyền Kỳ mạn lục (Việt Nam) và Tiễn đăng tân thoại (Trung Quốc)”, Nghiên cứu Văn học (số 2), tr.95-104, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh một tiểu thuyết truyền kỳ trong Kim ngao tân thoại (Hàn Quốc), Truyền Kỳ mạn lục (Việt Nam) và Tiễn đăng tân thoại (Trung Quốc)
Tác giả: Jeon Hye Kyung
Nhà XB: Nghiên cứu Văn học
Năm: 2005
20. Jeon Hye Kyung (2010), “Ý nghĩa văn học sử của Tiểu thuyết truyền kì Hàn - Trung - Việt”, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa văn học sử của Tiểu thuyết truyền kì Hàn - Trung - Việt
Tác giả: Jeon Hye Kyung
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w