- Luận văn mang tính cấp thiết không chỉ riêng đối với đơn vị sử dụng lao động, người lao động, ngành BHXH, mà còn liên quan đến các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành chức năng khác, t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THANH VÂN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THANH VÂN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN THỰC
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh và chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Người cam đoan
Nguyễn Thanh Vân
Trang 4Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh và các doanh nghiệp Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Thực; sự ủng hộ, động viên của gia đình
và bè bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định
Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này
Tác giả
Nguyễn Thanh Vân
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 4
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của BHXH 4
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH 4
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội 8
1.2 Quản lý Thu BHXH bắt buộc 9
1.2.1 Khái niệm quản lý thu BHXH bắt buộc 9
1.2.2 Mục đích và nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 10
1.2.3 Các quy định hiện hành về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 11
1.2.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 12
1.3 Kinh nghiệm quản lý thu của một số nước trên thế giới về BHXH và bài học cho Bắc Ninh 20
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 20
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về quản lý thu BHXH 23
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 25
2.2.2 Phương pháp so sánh 25
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 25
2.2.4 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu 26
2.2.5 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 28
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.3.1 Các chỉ tiêu tuyệt đối 33
2.3.2 Các chỉ tiêu tương đối 34
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 37
3.1 Một vài nét về BHXH tỉnh Bắc Ninh 37
3.2 Đặc điểm quản lý Thu BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 38
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội 38
3.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý thu tại tỉnh Bắc Ninh 39
3.3 Thực trạng quản lý Thu BHXH bắt buộc ở tỉnh Bắc Ninh 41
3.3.1 Quản lý, mở rộng đối tượng tham gia BHXH 41
3.3.2 Quản lý số tiền thu bảo hiểm xã hội 50
3.3.3 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh 55
3.3.4 Thanh tra, kiểm tra về quản lý thu bảo hiểm xã hội 63
3.4 Đánh giá về thực trạng quản lý Thu BHXH ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007-2011 65
3.4.1 Những mặt đạt được 65
3.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội
Trang 764
3.4.3 Những mặt còn hạn chế và những nguyên nhân 71
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 74
4.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 74
4.2 Một số mục tiêu phấn đấu cụ thể về thu BHXH bắt buộc ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015 75
4.3 Các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc ở tỉnh Bắc Ninh 75
4.3.1 Mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc 75
4.3.2 Tăng cường quan hệ công chúng vào hoạt động BHXH; xây dựng và phát triển thương hiệu BHXH tỉnh Bắc Ninh 76
4.3.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 80
4.3.4 Phối hợp với các cấp, các ngành, giữa các bộ phận trong hệ thống thu BHXH; đẩy mạnh công tác đôn đốc thu và quản lý tiền thu BHXH 84
4.3.5 Hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH 87
4.3.6 Nuôi dưỡng nguồn thu bảo hiểm xã hội 89
4.4 Đề xuất, kiến nghị 90
4.4.1 Kiến nghị với Chính phủ 90
4.4.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 92
4.4.3 Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh 92
4.4.4 Kiến nghị đối với tổ chức công đoàn 93
KẾT LUẬN 94 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu điều tra 27
Bảng 2.2 Định nghĩa các biến được sử dụng trong mô hình probit 32
Bảng 3.1: Đối tượng tham gia BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007-2011) 42
Bảng 3.2: Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý 43
Bảng 3.3: Số lao động tham gia BHXH theo khối quản lý 43
Bảng 3.4: Kết quả rà soát đối tượng tham gia BHXH bắt buộc năm 2011 47
Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật BHXH ở một số doanh nghiệp 48
Bảng 3.6: Số tiền thu BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007-2011) 51
Bảng 3.7: Kết quả thu BHXH theo loại hình DN, tổ chức 52
Bảng 3.8 Tình hình nợ đọng BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007 -2011) 55
Bảng 3.9: Số đơn vị nợ BHXH theo loại hình DN, tổ chức 56
Bảng 3.10: Số tiền nợ BHXH phân theo DN (2007-2011) 58
Bảng 3.11: Tỷ trọng số tiền nợ BHXH theo DN, tổ chức (2007-2011) 60
Bảng 3.12: Số DN trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh 61
Bảng 3.13: Số tiền trốn đóng BHXH trên địa bàn Bắc Ninh 62
Bảng 3.14: Lao động trốn đóng BHXH trên địa bàn Bắc Ninh 63
Bảng 3.15: Tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về BHXH 64
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định tham gia BHXH của các DN điều tra 66
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu phấn đấu cụ thể về thu BHXH bắt buộc đến năm 2015……… 75
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Nội dung quản lý thu BHXH theo mô hình chuỗi giá trị 13
Hình 1.2: Phân tích sơ đồ "Quy trình thực hiện thu BHXH, BHYT, BHTN" 17
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Bắc Ninh 38
Hình 3.2: Số thu BHXH của Bắc Ninh giai đoạn 2007-2011 51
Hình 3.3: Số nợ tiền BHXH ở tỉnh Bắc Ninh (2007-2011) 56
Hình 3.4: Tỷ lệ nợ BHXH của DN Nhà nước và DN NQD (2007-2011) 61
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
BHXH là chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách của Đảng
và Nhà nước ta Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác BHXH và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng triệu người lao động cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang
cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau, các quan hệ lao động cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Do vậy, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Để chính sách BHXH đi vào đời sống xã hội, ổn định và phát triển, đòi hỏi phải có một nguồn tài chính đủ lớn và được quản lý có hiệu
quả để đảm bảo cân đối thu - chi, bảo toàn và tăng trưởng
Thực hiện tốt chính sách BHXH , chăm sóc tốt cho người dân sẽ góp phần đảm bảo an sinh xã hội , ổn định chính trị, từ đó đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhận thức rõ vai trò của BHXH nên Nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản , năm 1995 hệ thống ngành BHXH đã chính thức ra đời Sau đó đến năm 2007 Nhà nước ban hành luật BHXH để thống nhất việc thực hiện BHXH trong cả nước
Trong các hoạt động tài chính của BHXH thì công tác thu là một khâu quan trọng, đảm bảo sự cân đối của quỹ BHXH Và để quỹ BHXH được cân đối và ổn định lâu dài thì làm tốt công tác thu là một trong những giải pháp mang tính cơ bản nhất
Bắc Ninh là một tỉnh đang có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, đã và đang thu hút rất nhiều dòng vốn đầu tư trong nước
và nước ngoài Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng đối tượng tham gia BHXH Tuy nhiên sự biến động liên tục về số lượng, cơ cấu, tính chất lao động
Trang 12ở khu vực kinh tế này cũng tạo ra không ít khó khăn cho cơ quan BHXH trong việc quản lý đối tượng tham gia BHXH Từ đó quyền lợi của người lao động không được bảo đảm và làm giảm nguồn thu cho quỹ BHXH, tạo ra nhiều hệ luỵ mang tính xã hội, đòi hỏi phải giải quyết như việc đình công diễn ra ở một
số doanh nghiệp gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư tại tỉnh nhà Điều đó cũng đặt ra những thách thức lớn đối với ngành BHXH,
mà cụ thể là vấn đề quản lý thu BHXH như thế nào để vừa tạo điều kiện khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển, vừa bảo vệ được quyền lợi người lao động phải làm việc trong môi trường cạnh tranh gay gắt Vì vậy thực hiện tốt việc quản lý thu BHXH có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn xét cả trên bình diện quốc gia cũng như tại tỉnh Bắc Ninh nói riêng
Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" cho luận
văn thạc sĩ kinh tế của mình với kỳ vọng góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết nêu trên, đồng thời cũng là một bước nghiên cứu khoa học phục vụ cho thực tiễn công tác
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nhằm góp phần hạn chế tình trạng trốn đóng BHXH, hoàn thiện tốt công tác thu BHXH
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề : Công tác thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ; các đơn vị , doanh nghiệp, người lao động và các vùng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi về thời gian : Số liệu điều tra thực trạng phục vụ đề tài được thu thập, nghiên cứu từ năm 2007 - 2011
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu quy trình quản lý thu, đánh giá thực trạng thu đóng BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH bắt buộc
4 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần phân tích, đánh giá thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
- Luận văn mang tính cấp thiết không chỉ riêng đối với đơn vị sử dụng lao động, người lao động, ngành BHXH, mà còn liên quan đến các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành chức năng khác, trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng phát triển bền vững, trong điều kiện tỉnh Bắc Ninh đang có tốc độ tăng trưởng nhanh
và chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, góp phần bảo đảm an sinh xã hội
- Những giải pháp được đề xuất và những kiến nghị có thể được vận dụng vào thực tế công tác thu BHXH ở tỉnh Bắc Ninh, hoặc làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu khoa học
5 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của chuyên đề gồm bốn phần:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về BHXH và quản lý thu BHXH bắt buộc
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương IV: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bắc Ninh
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của BHXH
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong hoạt động kinh tế - xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại… Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết Như vậy, việc thoả mãn nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho con người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già đến, khả năng lao động hay khả năng
tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng… Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của nhà nước… Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động tự phát và không chắc chắn
Từ thế kỷ 19 đến nay, nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê nhân công trở nên phổ biến, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng
Trang 15rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của các chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH Hay nói cách khác: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm cho yếu tố lao động của quá trình sản xuất” nhằm duy trì quá trình hoạt động sản xuất xã hội được diễn ra thường xuyên, liên tục
Bảo hiểm xã hội ra đời và lan rộng rất nhanh Quá trình phát triển của BHXH trải qua các mốc sau:
- Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ (Cộng hòa liên bang Đức)
- Năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức, Bỉ
- Năm 1883, Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH
Trang 16- Năm 1894 và 1896 nước Bỉ và Hà Lan đã được ban hành Bộ luật đầu tiên về các tổ chức tương tế
- Ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về ASXH (trong đó BHXH là hạt nhân) được ban hành vào năm 1935 Trong đạo luật này, có quy định về chế độ bảo hiểm tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động
Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950) Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH
Ngày 29/6/2006, Quốc hội ban hành Luật BHXH số 71/2006/QH11, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007
Theo Luật BHXH: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH"
Tại Điều 3: Luật Bảo hiểm xã hội quy định: BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia
1.1.1.2 Bản chất bảo hiểm xã hội
BHXH có bản chất từ tính người của con người trong xã hội công xã nguyên thuỷ, những khó khăn, rủi ro, bất trắc của cá nhân hay một nhóm người nào đó đã được cộng đồng san sẻ và gánh vác Đến thời kỳ phong kiến, các quan lại thì được triều đình cho hưởng bổng lộc và bảo vệ, còn dân thường thì thông qua các hoạt động đùm bọc tương trợ trong họ hàng, làng xóm hoặc
sự giúp đỡ cưu mang của những người hảo tâm khi gặp phải rủi ro trong cuộc sống Khi xã hội phát triển, do sự tiến bộ của khoa học công nghệ, với các cuộc
Trang 17cách mạng công nghiệp và sự khủng hoảng kinh tế thiên tai, dịch bệnh đã làm cho đời sống của người lao động bấp bênh, con người đã tự giác nhân ra, cần
có các quỹ dự trữ tiền tệ với sự đóng góp của 3 bên (nhà nước - giới chủ - giới thợ) nhằm mục đích chia sẻ khó khăn khi người lao động không may gặp rủi ro như mất việc, hết tuổi lao động, ốm đau và tử vong Cho đến nay, BHXH trong
hệ thống ASXH của các quốc gia trên thế giới phát triển một cách đa dạng, nhiều loại hình và nhiều chế độ khác nhau
Ở Việt Nam, BHXH là một trong những công cụ của chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhằm góp phần ổn định và đảm bảo sự công bằng trong xã hội Cũng như bản chất chung của BHXH trên thế giới, ở Việt Nam hiện nay bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung cụ thể sau đây:
- Thứ nhất là về phương diện kinh tế : Hoạt động BHXH ở Việt Nam
không vì mục đích lợi nhuận mà trên cơ sở cân đối thu, chi quỹ BHXH Tổ chức BHXH luôn thực hiện bảo toàn và phát triển quỹ BHXH Bên cạnh đó,BHXH tham gia vào quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người lao động có cùng nhóm thu nhập (trong khoảng từ 1 lần đến 20 lần mức lương tối thiểu chung), thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ tập trung để đáp ứng nhu cầu chi trả bảo hiểm cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ
- Thứ hai là về phương diện xã hội: Có thể nói BHXH là nhu cầu tất
yếu trước hết của người lao động, sau đó là mọi thành viên trong xã hội Sự phát triển của BHXH là một trong những công cụ để đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia BHXH còn mang tính nhân văn sâu sắc, đó
là sự sẻ chia sẻ rủi ro của cộng đồng xã hội cho một nhóm người gặp rủi ro khi họ mất việc,ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay hết tuổi lao động, hoặc chết…Đó cũng là phù hợp sự phát triển truyền thống văn hoá tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách của người Việt Nam
Trang 18- Thứ ba là về phương diện chính trị: BHXH luôn được Đảng và Nhà
nước điều chỉnh bằng Luật và các văn bản dưới Luật BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động Mọi người lao động đều có quyền và nghĩa
vụ tham gia và hưởng thụ các quyền lợi của chính sách BHXH BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng, giữa vị trí trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia
Vì vậy hoạt động BHXH là loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vị trí, vai trò của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội ngày càng to lớn, có thể khái quát vai trò của BHXH trên các mặt sau:
Một là, an toàn cho người lao động: BHXH góp phần ổn định đời sống
của người lao động tham gia BHXH Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết một cách kịp thời, từ đó khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khoẻ, ổn định cuộc sống
để tiếp tục hoạt động lao động bình thường
Hai là, an toàn cho nền kinh tế và các doanh nghiệp: BHXH góp phần đảm bảo ổn định, an toàn cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh chóng ổn định cuộc sống và sản xuất
Ba là, tăng cường quan hệ ba bên: Người lao động, doanh nghiệp, nhà nước: BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người
sử dụng lao động và Nhà nước Người lao động, Người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho Người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất
Trang 19Bốn là, nâng cao tính nhân văn của xã hội: BHXH góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội BHXH là sự phân phối lại theo hướng
có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khoẻ mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người “yếu thế hơn” hay gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống
Năm là, BHXH trực tiếp thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang phấn đấu, xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Với vai trò và chức năng “trụ cột” của BHXH trong hệ thống chính sách xã hội như vậy, cho nên tại Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam Đại hội XI chỉ rõ: "Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi,
hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương"
1.2 Quản lý Thu BHXH bắt buộc
1.2.1 Khái niệm quản lý thu BHXH bắt buộc
Theo Luật BHXH quy định thì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hiện nay bao gồm:
- Người sử dụng lao động: gồm các cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp
của nhà nước; doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã; hộ kinh doanh cá thể; tổ hợp tác, các tổ chức và cá nhân khác có thuê mướn, sử dụng
và trả công cho người lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
Trang 20- Người lao động: là những người lao động làm việc trong các đơn vị
sử dụng lao động nêu trên, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định về pháp luật lao động; sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ, sỹ quan, hạ sỹ quan kỹ thuật; công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và hạ sỹ quan, chiến sỹ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang; phu nhân, phu quân trong thời gian hưởng chế độ phu nhân/ phu quân tại các cơ quan; hợp đồng với các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề; hợp đồng trúng thầu, nhận thầu hoặc đầu tư ra nước ngoài; hợp đồng cá nhân (Quốc hội 2006, Luật BHXH)
1.2.2 Mục đích và nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.2.1 Mục đích quản lý thu BHXH bắt buộc
- Đảm bảo cho yếu tố "đầu vào" (tiền nộp BHXH) đủ khả năng thực hiện quá trình tái sản xuất xã hội, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mới đảm bảo chi trả chế độ cho người lao động
- Xác lập rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH,
đó là: người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH
- Đảm bảo cho các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, khắc phục được tính bình quân nhưng vẫn bảo đảm tính xã hội thông qua việc điều tiết, chia sẻ rủi ro
Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, quản lý thu BHXH lại càng
có ý nghĩa sâu sắc trong việc phòng ngừa, ngăn chặn những lạm dụng của người sử dụng lao động với nguời lao động, nhất là việc thuê mướn, sử dụng,
Trang 21trả tiền lương, tiền công bất bình đẳng
1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý thu BHXH bắt buộc
Thứ nhất: Thu đúng, đủ, kịp thời Thu đúng, là đúng đối tượng, đúng
mức, đúng tiền lương, tiền công và đúng thời gian quy định: mọi người lao động khi có HĐLĐ hoặc giao kết lao động theo quy định, được trả công bằng tiền đều là đối tượng đóng BHXH bắt buộc; Thu đủ, là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng BHXH của người lao động, người sử dụng lao động; Thu kịp thời, là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền công, tiền lương, không để tồn đọng tiền thu,
không bỏ sót lao động tham gia BHXH
Thứ hai: Tập trung, thống nhất, công bằng, công khai Cơ chế thu
BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH tập trung quản lý, điều tiết ở Trung ương là BHXH Việt Nam Việc tham gia BHXH của người lao động, người sử dụng lao động đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu BHXH như nhau
Thứ ba: An toàn, hiệu quả Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH
theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích Thông qua cơ chế quản lý nghiêm ngặt về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; đồng thời nghiên cứu các lĩnh vực đầu tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng nguồn thu
1.2.3 Các quy định hiện hành về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Công tác quản lý thu BHXH được thực hiện theo các quyết định của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành đảm bảo phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH bắt buộc Văn bản hiện hành đang thực hiện trong lĩnh vực thu gồm:
- Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 thực hiện thu BHXH
Trang 22bắt buộc theo Nghị định số 152/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật BHXH và Thông tư số 03/2007/TT-LĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định 152/2006/NĐ-CP; Quyết định số 1333/QĐ-BHXH ngày 21/02/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm tại Quyết định số 902/QĐ-BHXH Cụ thể hiện nay, văn bản hiện hành về cơ sở thu BHXH bao gồm: đối tượng phải thu BHXH, mức tiền lương, tiền công làm căn cứ thu BHXH, tỷ lệ đóng BHXH được quy định cụ thể tại Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ
- Tỷ lệ đóng BHXH: Từ thời điểm 31/12/2009 trở về trước: người lao động đóng BHXH bằng 5%, chủ sử dụng lao động đóng 15% mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng BHXH; từ 01/1/2010 người lao động đóng BHXH với mức đóng bằng 6% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH Người sử dụng lao động, đóng bằng 16% trên quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của những người lao động
1.2.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thu BHXH chính là giúp hình thành đầu vào của quỹ BHXH, là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động chi từ quỹ BHXH Hay nói cách khác, quản lý thu BHXH đảm bảo cho yếu tố "đầu vào" (tiền nộp BHXH) đủ khả năng cần thiết, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mới đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi kịp thời chế độ cho người lao động
Để xác định rõ nội dung quản lý thu BHXH bắt buộc, có thể dựa vào
mô hình chuỗi giá trị - mô hình thể hiện các hoạt động của quản lý thu BHXH bắt buộc Theo mô hình này, hoạt động của quản lý thu BHXH bắt buộc bao gồm 2 nhóm là hoạt động hỗ trợ và hoạt động chính Trong đó, các hoạt động chính bao gồm: (1) Quản lý đối tượng tham gia BHXH; (2) Quản
lý tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH; (3) Quản lý số tiền thu BHXH; (4)Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thu, nộp BHXH; (5) Phối hợp các bộ phận liên quan trong quản lý thu BHXH; (6) Quản lý nợ đọng,
Trang 23trốn đóng BHXH
Hình 1.1: Nội dung quản lý thu BHXH theo mô hình chuỗi giá trị
1.2.4.1 Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quản lý đối tượng tham gia BHXH là một phần quan trọng trong công tác quản lý thu của cơ quan BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ người lao động
và người sử dụng lao động làm việc trong cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế -
xã hội, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước
- Đối với người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động căn cứ vào
số lao động đang làm việc tại đơn vị để trích nộp BHXH cho người lao động theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật BHXH Về nguyên tắc, tất
cả các chủ sử dụng lao động đều phải đăng ký tham gia BHXH bắt buộc là vấn đề tiên quyết trong quản lý hoạt động BHXH Điều này đã tạo ra một khó khăn rất lớn cho cơ quan BHXH trong việc nắm bắt, quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc do vậy cơ quan BHXH mới chỉ quản lý, theo dõi được những chủ sử dụng lao động đã tự giác tham gia BHXH
- Đối với người lao động: Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được quy định rất rõ trong Luật BHXH Người lao động kê khai các nội dung liên quan đến thân nhân và quá trình làm việc có đóng BHXH vào tờ khai cấp sổ BHXH, ghi rõ
Tăng Trưởng Quỹ BHXH; đảm bảo
(3)Quản lý
số tiền thu BHXH
(4)Thanh tra, kiểm tra, xử lý
vi phạm về thu nộp BHXH
(5)Phối hợp các bộ phận liên quan trong quản lý thu BHXH
(6)Quản lý
nợ đọng, trốn đóng BHXH
Quy định
về tuổi hưu
Chính sách lao động
và việc làm
Tâm lý và thói quen của NLĐ
và chủ SDLD
Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng Chính quyền
Trang 24đầy đủ các yếu tố, và nội dung vào tờ khai (Quốc hội 2006, Luật BHXH)
1.2.4.2 Trình tự, quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Hiện nay, BHXH các tỉnh, thành phố trong cả nước đang thực hiện quy trình thu BHXH theo quy định của BHXH Việt Nam theo sơ đồ 1.2 dưới đây:
1 Đơn vị mới đăng ký tham gia BHXH và đơn vị đang tham gia BHXH có biến động về lao động, quỹ lương, lập danh sách lao động, quỹ lương để đăng ký với cơ quan BHXH
2 Căn cứ số liệu ở danh sách lao động, quỹ lương, cơ quan BHXH lập
sổ chi tiết số phải thu BHXH (đối với từng đơn vị)
3 Đơn vị chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN (sau đây gọi chung
là BHXH) và thanh toán cho các đối tượng hưởng ốm đau, thai sản
Sau khi nhận được giấy báo có của ngân hàng về việc đơn vị chuyển tiền nộp BHXH và các chứng từ quyết toán số tiền 2% để lại đơn vị, cơ quan BHXH tiến hành hạch toán vào TK 571 - Thu BHXH - BHYT bắt buộc (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902) [29]
4 Căn cứ số liệu từ TK 571, cơ quan BHXH lập sổ chi tiết tiền đóng BHXH (đối với từng đơn vị, cho từng loại nghiệp vụ: BHXH, BHYT, BHTN)
5 Căn cứ số liệu từ sổ chi tiết số phải thu BHXH và sổ chi tiết tiền đóng BHXH cơ quan BHXH lập được bảng tính lãi
6 Căn cứ số liệu từ Bảng tính lãi để lập sổ chi tiết tiền lãi
7 Cơ quan BHXH lập sổ tổng hợp căn cứ số liệu từ sổ chi tiết số phải thu, Sổ chi tiết tiền đóng, sổ chi tiết tiền lãi
8 Từ sổ tổng hợp, căn cứ yêu cầu của công tác quản lý thu BHXH để lập các báo cáo: Thông báo số tiền đã đóng BHXH cho đơn vị; Báo cáo các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; Báo cáo 2% để lại đơn vị; Báo cáo lãi
Kể từ khi bắt đầu hoạt động có sử dụng lao động và sau đó định kỳ hàng năm, đơn vị sử dụng lao động phải kê khai danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH - BHYT với cơ quan BHXH (Mẫu số 02a-TBH)
Cơ quan BHXH tiếp nhận, thẩm định hồ sơ, thông báo kết quả thẩm định cho đơn vị sử dụng lao động Danh sách 02a-TBH trên được lập thành 03 bản,
Trang 25trong đó, lưu tại cơ quan BHXH 2 bản và đơn vị sử dụng lao động 1 bản
Trang 26Các bước do đơn vị tham gia BHXH thực hiện
Đơn vị tham gia BHXH
Danh sách lao động,
quỹ lương
Chứng từ chuyển tiền Theo thời gian và nội dung chứng từ
Thanh toán ốm đau, thai sản (671)
Hạch toán kế toán (571) Theo thời gian và nội dung chứng từ
Sổ chi tiết tiền lãi
Trang 27Hình 1.2: Phân tích sơ đồ "Quy trình thực hiện thu BHXH, BHYT, BHTN"
Trang 28Đối với người lao động lần đầu tham gia BHXH: 03 bản tờ khai tham gia BHXH-BHYT-BHTN (Mẫu số 01-TBH), hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng, lý lịch có xác nhận của địa phương phù hợp với chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, giấy chứng nhận sức khoẻ của đối tượng theo quy định của Bộ y tế Yêu cầu này nhằm xác định về nhân thân và tình trạng sức khoẻ của người lao động, tránh tình trạng lạm dụng quỹ BHXH
Ngoài ra cơ quan BHXH còn kiểm tra bảng thanh toán lương, quyết định
bố trí công việc, nghề nghiệp, quyết định điều chỉnh mức lương, phụ cấp tham gia BHXH để thực hiện thu đúng đối tượng, đúng chức danh, công việc, thu đủ đối với những trường hợp cố tình kê khai thấp hơn mức lương đang hưởng
Các đơn vị sử dụng lao động có trụ sở làm việc chính ở huyện, thành phố nào, sẽ đăng ký đóng BHXH ở BHXH của huyện, thành phố đó Theo phân cấp quản lý thu do BHXH tỉnh Bắc Ninh ban hành thì tất cả các doanh nghiệp có số lao động lớn phải đăng ký tham gia BHXH ở văn phòng BHXH tỉnh Việc phân cấp quản lý này với mục đích để BHXH tỉnh trực tiếp quản lý các doanh nghiệp có số lao động lớn nhằm theo dõi sát sao việc biến động lao động, quỹ lương tham gia BHXH của các doanh nghiệp và đôn đốc việc thu nộp BHXH hàng tháng kịp thời, hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng
1.2.4.3 Quản lý tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
Căn cứ cơ bản để tiến hành hoạt động thu BHXH của người lao động là tiền lương (tiền công) tháng, đối với người sử dụng lao động là tổng quỹ tiền lương (tiền công) của những người lao động tham gia BHXH trong các doanh nghiệp và tổ chức Chính vì vậy, để tiến hành tốt công tác thu BHXH, một phần quan trọng không thể thiếu được là phải quản lý tốt quỹ tiền lương (tiền công) làm căn cứ đóng BHXH của đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp
Mức thu BHXH đối với người sử dụng lao động được tính theo một tỷ
lệ phần trăm nhất định so với tổng quỹ lương; mức thu BHXH đối với người lao động được xác định theo tỷ lệ phần trăm từ tiền lương (tiền công) đóng BHXH bắt buộc
Trang 291.2.4.4 Quản lý số tiền thu bảo hiểm xã hội
- Người sử dụng lao động có thể nộp BHXH bằng tiền mặt, séc, hay chuyển khoản ngân hàng Trong quá trình thu nộp BHXH, cơ quan BHXH phải đảm bảo thực hiện đúng quy trình, ngăn chặn được hiện tượng gian lận, lạm dụng quỹ BHXH Quỹ BHXH phải được quản lý tập trung, thống nhất theo đúng cơ chế quản lý tài chính và chỉ hình thành quỹ BHXH ở cấp trung ương Chậm nhất vào ngày cuối cùng của mỗi tháng, đơn vị sử dụng lao động phải chuyển toàn bộ số tiền theo thông báo nộp vào tài khoản chuyên thu của
cơ quan BHXH Nếu số tiền này không được chuyển đúng kỳ hạn, được coi là
nợ BHXH và số tiền này được tính lãi theo quy định
- Hiện nay BHXH tỉnh Bắc Ninh đang thực hiện quy trình thu theo quyết định 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2006 của BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc; Quyết định số 1333/QĐ- BHXH ngày 21/2/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm tại quyết định 902/QĐ-BHXH Quy định cụ thể như sau:
- Thu BHXH bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp cá biệt phải thu bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải nộp tiền vào tài khoản ngân hàng ngay trong ngày Chậm nhất vào ngày cuối tháng, cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng phải nộp đủ số tiền đã xác định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH, nơi đăng ký tham gia BHXH Nếu chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với
kỳ hạn phải nộp thì đơn vị sẽ phải nộp tiền lãi chậm nộp theo mức lãi suất do BHXH Việt Nam quy định (10,5%/năm) BHXH huyện chuyển tiền thu BHXH
về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và 25 hàng tháng Riêng ngày cuối cùng của năm tài chính, chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờ ngày 31/12
- Hàng tháng, BHXH tỉnh chuyển tiền thu BHXH về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam vào các ngày 10, 20 và ngày cuối tháng Nếu số dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh quá 5 tỷ đồng, thì BHXH phải chuyển bổ sung ngay về BHXH Việt Nam Riêng ngày cuối cùng của năm tài
Trang 30chính, chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH của tỉnh về BHXH Việt Nam trước
24 giờ ngày 31/12
- BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH vào bất cứ mục đích gì, trường hợp đặc biệt phải được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản
1.3 Kinh nghiệm quản lý thu của một số nước trên thế giới về BHXH và bài học cho Bắc Ninh
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Cộng hoà Liên bang Đức
Cộng hoà liên bang Đức là nước đầu tiên trên thế giới thiết lập BHXH bắt buộc Đến nay, cộng hoà Liên bang Đức đang thực hiện các chế độ BHXH gồm: BH hưu trí, BHYT, BH thất nghiệp, BH tai nạn lao động và BH chăm sóc người già Quỹ BHXH được hình thành từ đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và hỗ trợ của Liên bang Tổng mức đóng góp vào quỹ BHXH là 41,5% quỹ tiền lương (Cho chế độ hưu trí là 19,3%, y tế, thai sản 14%, tai nạn lao động, thất nghiệp 6,5%, chăm sóc người già 1,7%) trong
đó người sử dụng lao động đóng một nửa và người lao động đóng một nửa Các khoản đóng BHXH là 180,5 tỷ EUR, hỗ trợ từ ngân hàng Liên bang là 61,3 tỷ EUR; Quỹ BHXH thực hiện cơ chế tài khoá hàng năm theo nguyên tắc thực thanh - thực chi, tức là thu trong năm để chi trong năm đó, không tích luỹ Trong trường hợp thu không đủ để bù chi thì ngân sách Liên bang cấp bù
Để công tác quản lý thu BHXH được hiệu quả, ở Đức người ta đã xây dựng
hệ thống giám sát chủ sử dụng lao động Hằng năm kiểm tra tính tuân thủ khoảng 800 nghìn vụ việc, trong đó 50% do các chuyên gia được đào tạo chuyên biệt của cơ quan bảo hiểm hưu trí Liên bang Đức (DRV Bund) tiến hành, 50% do 14 cơ quan khu vực của DRV Bund tiến hành
Đức đã xây dựng 20 khu vực giám sát ở tất cả các liên bang với số lượng nhân viên rất lớn 1.732 người, công tác quản trị hành chính được đặt tại chỗ 20 khu vực, số giám sát viên là 309 người Cơ cấu tổ chức tại mỗi khu
Trang 31vực giám sát gồm: Giám đốc khu vực, thư ký, lãnh đạo nhóm (mỗi nhóm thường gồm 56 đến 100 giám sát viên) Văn phòng của giám sát viên được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại do liên bang cung cấp như : Máy tính nối mạng toàn hệ thống, Điện thoại, Ô tô tất cả các khoản chi phí này do Liên bang chi trả Ngoài nhiệm vụ giám sát chủ sử dụng lao động, công tác quản trị hành chính bao gồm: quan hệ cộng đồng đưa ra con số thống kê, báo cáo kiểm soát Đối với các trường hợp nợ quá hạn được chia ra làm hai loại là : Trường hợp không cố ý, sẽ bị yêu cầu nộp các khoản nợ quá hạn; trường hợp
cố ý sẽ bao gồm nộp các khoản nợ quá hạn cộng với 1% lãi suất mỗi tháng Riêng đối với các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ, lao động bất hợp pháp
và những trường hợp chủ ý vi phạm, sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự
Thu nhập của người lao động, mọi thanh toán đều thông qua hệ thống ngân hàng Việc khai, nộp thuế và trích nộp BHXH rất chặt chẽ, hầu như không thể nói đến chuyện trốn nộp BHXH Thực tế nếu người lao động có kê khai sai, kiểm tra từ hệ thống Ngân hàng, Chính phủ cũng buộc phải nộp và có thể còn bị phạt, mức phạt rất cao Do đó hầu như cả người lao động và chủ các doanh nghiệp không ai nghĩ đến việc trốn tránh trích nộp BHXH
Việc tổ chức quản lý BHXH ở Đức phụ thuộc vào từng loại hình chế độ bảo hiểm xã hội và có rất nhiều cơ quan tham gia trong lĩnh vực này Họ đều hoạt động và được điều chỉnh theo Luật hành chính công Do có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau nên tính chất cạnh tranh trong lĩnh vực BHXH ở Đức diễn ra mạnh mẽ
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong số ít nước đang phát triển rất thành công về kinh tế Từ một nước rất nghèo những năm 1960, đến cuối thế kỷ 20, Hàn
Trang 32Quốc đã được kết nạp vào hàng ngũ các nước OECD ( một trong số các tiêu chí
là thu nhập đầu người phải ít nhất 10.000 USD/năm) Cơ quan quản lý về BHXH
là tổ chức xã hội thuộc Bộ lao động, cung cấp các dịch vụ quản lý liên quan tới lao động và việc làm thuộc diện BHXH và phúc lợi xã hội Về nguồn nhân lực
có tổng số là 5.051 nhân viên/01 trụ sở chính, 06 trụ sở khu vực, 49 văn phòng chi nhánh, 06 uỷ ban và 09 bệnh viện đền bù cho người lao động Đối tượng khách hàng của họ là người lao động, người sử dụng lao động, người thất nghiệp…chiếm tỷ lệ 62,3% dân số tham gia hoạt động kinh tế
Về quản lý nợ BHXH, cơ quan BHXH Hàn Quốc thực hiện như sau:
- Về phía cơ quan BHXH: Khuyến khích đóng các khoản nợ đọng BHXH trong năm hiện tại thông qua các hình thức gọi điện, gặp trực tiếp, sau
đó gửi thư thúc giục các đơn vị nợ tiền BHXH Thời gian được tính từ ngày công văn nhắc nhở tới các đơn vị sử dụng lao động đến hạn cuối cùng đóng BHXH đã được ghi trong công văn Việc thu các khoản nợ này trước tiên tập trung vào các doanh nghiệp có số tiền nợ nhiều và thời gian kéo dài Trong trường hợp quá thời hạn quy định, trụ sở chính của cơ quan BHXH sẽ lên danh sách các đơn vị này, tiến hành truy vấn tài sản trên toàn quốc như bất động sản, phương tiện đi lại, nhà xưởng, máy móc…với sự trợ giúp của các
cơ quan liên quan như Bộ Đất đai, Bộ giao thông Bên cạnh đó, cơ quan BHXH tại trụ sở chính và văn phòng chi nhánh cũng khuyến khích các đơn vị
sử dụng lao động, người lao động trao đổi thông tin giữa các cán bộ chuyên trách thông qua các bài thuyết trình thực tiễn, hiệu quả do văn phòng chi nhánh thực hiện trước thời hạn tuyên truyền phổ biến chính sách về BHXH để người dân hiểu biết về BHXH, đồng thời cung cấp các biện pháp tốt hơn phục
vụ cho đơn vị sử dụng lao động chuyển tiền tự động, thuận tiện
Mở các khoá đào tạo công việc, nhằm nâng cao nghiệp vụ của cán bộ phụ trách nợ BHXH từ đó cho phép các học viên làm thế nào để xử lý vụ việc hiệu quả trong từng trường hợp cụ thể Với các phương pháp như trên, số tiền
Trang 33nợ BHXH của Hàn Quốc liên tục giảm từ 686 triệu USD (năm 2006) xuống
498 triệu USD (năm 2009)
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về quản lý thu BHXH
Qua những kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động quản lý thu BHXH ở một
số nước ở trên như Đức, Hàn Quốc, có thể thấy rút ra một số nhận xét như sau:
- Trong quá trình thực hiện chính sách BHXH, Nhà nước vẫn có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý hoạt động BHXH, trong đó có công tác thu thông qua việc định hướng, xây dựng pháp luật, chính sách, khi cần thiết mới
hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các quỹ đồng thời thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra, kiểm tra Bên cạnh đó cần phải xây dựng, thiết lập hệ thống giám sát chủ sử dụng lao động trong việc tuân thủ pháp luật lao động, Luật BHXH
Một là, công tác thu BHXH, ứng với các loại đối tượng là một loại quy
trình cụ thể và bằng phương pháp quản lý hiện đại, kết hợp chặt chẽ nhiều khâu theo một quy trình nhất định bắt đầu từ việc đăng ký đối tượng tham gia BHXH, kết thúc bằng việc xác định chính xác kết quả đóng góp của từng người, để những người tham gia được hưởng chế độ BHXH khi họ đủ điều kiện, ở những tình trạng mà pháp uật về BHXH quy định, một cách minh bạch
và công bằng
Hai là, Thực hiện quản lý chặt chẽ thu nhập của người lao động thông
qua hệ thống ngân hàng và trích nộp các khoản đóng góp BHXH cũng đều thông qua hệ thống ngân hàng
Ba là, áp dụng các chế tài mạnh và xử kiên quyết đối với các đơn vị,
doanh nghiệp cố tình nợ đọng, trốn đóng BHXH, như truy vấn tài sản của doanh nghiệp trên toàn quốc, phạt tiền rất nặng hoặc chuyển hồ sơ sang truy
tố theo luật hình sự đối với đơn vị cố tình vi phạm luật
Bốn là, cán bộ làm công tác quản lý thu BHXH đều được đào tạo một
cách bài bản, chuyên nghiệp, từ đó nâng cao được chất lượng, hiệu quả công việc, xử lý công việc một cách linh hoạt
Trang 34Năm là, ý thức tuân thủ pháp luật của chủ sử dụng và người lao động
tương đối cao trong việc đóng nộp BHXH Tuy nhiên nhà nước không kiểm soát được thu nhập một số lao động làm việc trong các lĩnh vực tư, thu nhập bằng tiền mặt không qua hệ thống ngân hàng Đây cũng là một hạn chế trong công tác thu BHXH của các nước
Sáu là, sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc quản lý thu
BHXH rất chặt chẽ, hiệu quả và thường xuyên; cơ chế phối hợp của họ được đặt trên cơ sở thể chế hoá bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
Trên đây là một số kinh nghiệm về quản lý thu BHXH ở một số nước, định hướng cho Việt Nam thực hiện có hiệu quả hơn công tác thu BHXH trong thời gian tới
Trang 35Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
- Quy trình quản lý thu bắt buộc như thế nào để mang lại hiệu quả trong công tác thu BHXH bắt buộc?
- Những nguyên, nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác thu BHXH bắt buộc tại tỉnh Bắc Ninh?
- Để hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở các đơn vị, DN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cần có những giải pháp nào?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng được vận dụng xuyên xuốt cả quá trình nghiên cứu từ việc hệ thống hóa lý luận , phân tích
BHXH, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến c ông tác thu BHXH ở các khối loại hình quản lý nhất là khối DN NQD
2.2.2 Phương pháp so sánh
So sánh giữa các chỉ tiêu: số phải thu, kết quả thu BHXH, số đơn vị, số tiền nợ BHXH; số đơn vị tham gia BHXH; số đơn vị trốn đóng BHXH qua các năm
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này sử dụng thông qua việc tham khảo, hỏi ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực chuyên môn và quản lý:
- Trong lĩnh vực BHXH, lao động, việc làm
- Lãnh đạo Viện nghiên cứu khoa học BHXH Việt Nam; lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, BHXH tỉnh, BHXH huyện và thông qua việc nghiên cứu kết quả các công trình nghiên cứu trước đó
Trang 362.2.4 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu
2.2.4.1 Số liệu thứ cấp
Các số liệu được thu thập và khai thác từ BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh Bắc Ninh, BHXH huyện, Cục Thống kê , Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Ninh và từ các báo cáo, sách báo, tạp chí, các Website có liên quan
2.2.4.2 Số liệu sơ cấp
Xác định cỡ mẫu
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế-xã hội, việc chọn mẫu đại diện và đủ lớn là rất quan trọng Những nhân tố cần được xem xét để xác định được cỡ mẫu chính xác cho một cuộc nghiên cứu như: Độ chính xác, chất lượng của số liệu, chi phí và thời gian cho việc thu thập số liệu….Để có được một kết quả có cơ sở thống kê và tránh những sai sót đáng tiếc trong quá trình chọn mẫu, Johnson (1980) và Yamane (1967) đã đưa ra công tính toán
cỡ mẫu như sau:
n: Cỡ mẫu,
: Mức ý nghĩa z: Giá trị z hai đuôi ứng với mức xác suất tương ứng
: Độ lệch chuẩn, E: Mức độ chính xác tuyệt đối cần thiết Khi nghiên cứu theo phương thức lấy mẫu thì độ lệch chuẩn được ước lượng theo công thức sau:
Trang 37Do các nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội thường sử dụng khoảng tin cậy là 95%, nên nghiên cứu này cũng sử dụng mức độ tin cậy đó
- Về phương pháp chọn mẫu điều tra : Tổng số mẫu điều tra dựa vào công thức (1) ở trên, trong đó tỷ lệ DN đã tham gia so với DN chưa tham gia BHXH được điều tra theo tỷ lệ 1:1 (ước lượng khoảng 100 mẫu) Tất cả các
DN đều được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân lớp ngẫu nhiên theo loại hình DN Địa bàn điều tra là thành phố Bắc Ninh (khu vực thành thị ) và huyện Quế Võ (khu vực nông thôn ) Dựa vào danh sách các DN đã tham gia BHXH và danh sách các DN chưa tham gia (trốn đóng) BHXH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh có nhiều khu công nghiệp, làng nghề phát triển, có nhiều DN hoạt động trên lĩnh vực; huyện Quế Võ là địa bàn có khu công nghiệp tập trung , nhưng tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn ở mức cao Danh sách DN điều tra theo thứ tự A , B, C đã khảo sát , các DN được điều tra chọn ngẫu nhiên không lặp định Trong quá trình điều tra , nếu chủ DN đượ c chọn vắng mặt thì DN kế theo được chọn thay thế và tiến hành phỏng vấn trực tiếp DN theo bảng câu hỏi đã được
chuẩn hóa
Căn cứ công thức (1) ở trên, cơ sở mẫu được chọn theo bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu điều tra Lĩnh vực
Cơ cấu (%)
Số lƣợng (DN)
Cơ cấu (%)
Số lƣợng (DN)
Cơ cấu (%)
Số lƣợng (DN)
Cơ cấu (%)
DNTN 5 15,62 20 62,50 7 21,88 32 32,00
TNHH 7 20,00 24 68,57 4 11,43 35 35,00
CTCP 8 24,24 16 48,49 9 27,27 33 33,00 Tổng 20 20,00 60 60,00 20 20,00 100 100,00
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Trang 38Theo tính toán, số lượng DN trên các lĩnh vực (xây dựng, thương mại -
du lịch, sản xuất-chế biến công nghiệp) tương ứng xấp xỉ 20, 60, 20, nhưng để thuận tiện cho phân tích tác giả đã làm tròn
2.2.5 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
2.2.5.1 Phương pháp thống kê mô tả
Từ các số liệu thu thập được, xây dựng hệ thống biểu bảng để phân tích, đánh giá tình hình triển khai thực hiện thu BHXH, nợ đọng, trốn đóng BHXH ở khối DN NQD ở thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh qua các năm Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm STATA_9_SE Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng đó là: tần số, số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình của các chỉ tiêu phân tích
2.2.5.2 Phương pháp phân tích bằng mô hình kinh tế lượng
Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXH bắt buộc của chủ SDLĐ ở khối DN NQD và lượng hóa sự ảnh hưởng của các yếu
tố khác nhau đến quyết định tham gia BHXH bắt buộc , đã sử dụng mô hình probit Việc thu nhận thông tin , xử lý và ra quyết định của các chủ DN trong việc đã tham gia hay chưa tham gia BHXH bắt buộc tùy thuộc vào nhiều yếu
tố khác nhau Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến việc quyết định tham gia BHXH bắt buộc của các DN là hết sức phức tạp và đòi hỏi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, nhiều thời gian và nhiều công sức Phần lớn các nghiên cứu trước đây, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các dịch vụ Bảo hiểm, người ta có thể sử dụng mô hình sác xuất nhị nguyên tuyến tính (LPM), nhưng phương pháp này có một số hạn chế như cho giá trị ước đoán sác xuất vượt ra ngoài khoảng [0,1] và cho ra các tác động biên là hằng số Vì vậy, làm hạn chế kết quả của phân tích
Mô hình được đưa ra nghiên cứu trong đề tài này là mô hình lựa chọn giữa hai tính chất tùy thuộc vào đặc tính của vấn đề , tức là mô hình nếu chủ SDLĐ tham gia BHXH thì bằng 1, còn nếu chủ SDLĐ chưa tham gia BHXH
Trang 39thì bằng 0, nghĩa là trong trường hợp này, mô hình lựa chọn nhị nguyên được
sử dụng là phù hợp nhất Thông thường có 3 kỹ thuật phân tích sự lựa chọn đó được sử dụng là phân tích xác suất tuyến tính, phân tích logit và phân tích probit Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu sác xuất tuyến tính có một số hạn chế như ở trên, vì vậy không phù hợp cho nghiên cứu này Sự không đầy đủ này của mô hình xác suất tuyến tính có thể giải quyết thông qua việc phân tích logit hoặc phân tích probit, mà ở đó nó bảo đảm xác xuất dự đoán đúng nằm trong khoảng [0,1] Phân tích logit và phân tích probit có kết quả thống kê như nhau
Để thuận lợi, trong nghiên cứu này sử dụng mô hình probit nhị nguyên
Mô hình probit
Tùy thuộc vào các yếu tố ảnh hưởng , chủ DN NQD lựa chọn tham gia BHXH bắt buộ c hay chưa tham gia khi lợi ích mang lại từ việc tham gia BHXH lớn hơn lợi ích mang lại chưa tham gia BHXH Việc lựa chọn tham gia BHXH bắt buộc có quan hệ đến những nhân tố nhất định như trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp , lao động, thu nhập, thanh kiểm tra về việc tham gia BHXH, nguồn thông tin về BHXH Mô hình xác suất tuyến tính biểu hiện mối quan hệ giữa các yếu tố đến việc lựa chọn tham gia BHXH bắt buộc của
DN được xác định như sau:
Từ mô hình xác suất phản ứng nhị phân (3), phương trình được sử dụng
để ước tính phản ứng nhị phân là:
P(y = 1| x) = G(β0 + β1x1 + … + βkxk) = G(β0 + xβ) (3) Y=1 nếu chủ DN quyết định việc tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ Y=0 nếu chủ DN không quyết định việc tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ Các biến độc lập để ước tính xác suất chấp nhận có thể bao gồm:
X1= Giới tính của chủ SDLĐ
X2= Độ tuổi của chủ SDLĐ
X3= Trình độ chuyên môn của chủ SDLĐ
X4= Công ty TNHH
Trang 40X5= Công ty Cổ phần
X6= Tổng số lao động của DN
X7= Thu nhập bình quân lao động
X8= Công tác tuyên truyền của BHXH
X9= Thanh kiểm tra công tác BHXH
2.2.5.3 Nhóm nhân tố thuộc về DN
+ Giới tính của chủ SDLĐ (GIOITINH): Nhân tố này thể hiện tính lo
xa của con người đối với tương lai Biến số nhậ n giá trị 1 nếu chủ SDLĐ là nữ và nhận giá trị 0 nếu chủ SDLĐ là nam
+ Độ tuổi của chủ SDLĐ (TUOI): Độ tuổi của chủ DN còn trẻ thì sự
suy nghĩ chưa được chín chắn , ít quan tâm đến chế độ chính sách của Nhà nước nên chưa thấy mức độ cần thiết của việc tham gia BHXH Ngược lại, độ tuổi càng lớn thì sự suy nghĩ chắc chắn , hiểu biết sâu hơn và thấy rõ sự cần thiết của việc tham gia BHXH Biến số thể hiện độ tuổi của chủ SDLĐ
+ Trình độ chuyên môn của chủ SDLĐ (CHMON): Chủ DN có qua đào
tạo chuyên môn thì ý thức chấp hành pháp luật về BHXH tốt hơn và ngược lại Biến số nhận giá trị 1 nếu qua đào tạo (từ sơ trung cấp trở lên) và nhận giá trị 0 nếu chưa qua đào tạo (từ cấp 3 trở xuống)
+ Công ty TNHH (DN_1): Biến số nhận giá trị 1, nếu là Công ty TNHH
và nhận giá trị 0 cho trường hợp không phải là Công ty TNHH (biến nhóm)
+ Thương mại - dịch vụ (NGHE_1): Biến số nhận giá trị 1 nếu DN
thuộc ngành thương mại - dịch vụ và nhận giá trị 0 nếu không thuộc ngành thương mại - dịch vụ
+ Tổng số lao động của DN (TONGLD): DN sử dụng nhiều lao
động, quy mô DN lớn thì khả năng tham gia BHXH cho NLĐ càng lớn và ngược lại Biến số thể hiện số lao động của DN (Số lao động )
+ Thu nhập bình quân lao động (THUNHAPBQ): Thu nhập bình quân
lao động của DN càng cao thì khả năng tham gia BHXH cho NLĐ càng lớn