1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

136 333 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Luận văn thạc sỹ "Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay", chuyên ngành quản lý kinh tế, mã số 60.34.04.10, đây là công trình tác g

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỖ KHẮC CƯỜNG

HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN CHIẾN THẮNG

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sỹ "Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay", chuyên ngành quản lý kinh tế, mã số 60.34.04.10, đây là công trình tác giả đã dầy công nghiên cứu, trong đó có sử dụng thông tin từ nhiều nguồn tư liệu và dữ liệu khác nhau, các thông tin được trích rõ nguồn gốc

Tác giả xin cam đoan các số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và

rõ ràng

Tác giả luận văn

Đỗ Khắc Cường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được bản luận văn này, tác giả xin chân thành ơn đối với các Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Chiến Thắng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và Chuyên viên Cục Thống kê; Sở Kê hoạch và đầu tư; Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn; Sở Tài Chính, thành phố Hà Nội và các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về lý luận, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu nên chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2013

Tác giả luận văn

Đỗ Khắc Cường

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HUY ĐỘNG VỐN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 5

1.1 VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 5

1.1.1 Nội dung của vốn và huy động vốn 5

1.1.2 Khái niệm về vốn 5

1.1.3 Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn trong nước 10

1.1.3.1 Cơ cấu nguồn vốn 10

1.1.3.2 Các phương thức huy động vốn 13

1.1.4 Vai trò của vốn đối với phát triển nông nghiệp 19

1.1.4.1 Yêu cầu cấp bách về vốn để phát triển nông nghiệp 19

1.1.4.2 Vốn - nhân tố quyết định thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 20

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 26

1.2.1 Nhu cầu vốn quyết định qui mô, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn 26

1.2.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp chi phối khả năng huy động vốn 27

1.2.3 Khả năng cung ứng của các nguồn vốn ảnh hưởng trực tiếp đến huy động vốn 28

1.2.4 Chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến việc huy động vốn 30

Trang 5

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC TẠO VỐN ĐỂ

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 31

Chương II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 35

2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 35

2.1.2 Cơ sở phương pháp luận 35

2.1.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 35

2.1.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 35

2.1.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.1.3.3 Phương pháp phân tích 40

2.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NGUỒN VỐN 41

2.2.1 Số lượng và cơ cấu nguồn vốn 41

2.2.2 Chất lượng nguồn vốn 41

Chương III: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 42

3.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA 42

3.1.1 Tài nguyên đất và thực trạng sử dụng đất 42

3.1.2 Về dân số, lao động 44

3.1.2 Tình hình phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong thời gian qua 47

3.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55

3.2.1 Thực trạng huy động vốn thông qua nguồn ngân sách nhà nước để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội 55

3.2.2 Thực trạng huy động vốn tín dụng nhà nước để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội 61

3.2.3 Thực trạng huy động vốn từ doanh nghiệp và hợp tác xã để phát triển nông nghiệp 65

Trang 6

3.2.4 Thực trạng huy động vốn từ dân cư để phát triển nông nghiệp 68

3.2.5 Đánh giá chung 72

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CÓ HIỆU QUẢ NHẰM ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 80

4.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ DỰ BÁO NHU CẦU VỀ VỐN 80

4.1.1 Định hướng phát triển nông nghiệp 80

4.1.2 Mục tiêu phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội 81

4.1.3 Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư 88

4.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HUY ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN VỐN, ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 90

4.2.1 Một số phương hướng chủ yếu để huy động vốn có hiệu quả để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội 90

4.2.1.1 Khai thác triệt để mọi nguồn vốn đầu tư vào phát triển nông nghiệp 90

4.2.1.3 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng nhằm huy động tối đa các nguồn vốn để phát triển nông nghiệp 96

4.2.2 Những giải pháp chủ yếu huy động có hiệu quả các nguồn vốn để phát triển nông nghiệp trong thời gian tới 100

4.2.2.1 Đa dạng hóa các nguồn vốn và phương thức huy động vốn 100

4.2.2.2 Đổi mới và hoàn thiện chính sách tài chính đẩy mạnh huy động vốn để phát triển nông nghiệp 111

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 124

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BOT Xây dựng - vận hành - Chuyển giao

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

CN- XD Công nghiệp - Xây dựng

KT-XH Kinh tế - Xã hội

TOT Chuyển giao - Kinh doanh - Chuyển giao

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu 1.1 Mức vốn huy động trong dân qua các năm 12

Biểu 3.1 Thực trạng sử dụng đất thành phố Hà Nội 42

Biểu 3.2 Một số chỉ tiêu về dân số 44

Biểu 3.3 Một số chỉ tiêu về lao động 45

Biểu 3.4 Cơ cấu nông lâm thủy sản 49

Biểu 3.5 Các sản phẩm trồng trọt chủ yếu 52

Biểu 3.6 Các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu 53

Biểu 3.7 Một số chỉ tiêu về lâm nghiệp 54

Biểu 3.8 Tình hình cho hộ nông dân vay vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại 5 huyện 62

Biểu 4.1 Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tƣ 89

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Tăng trưởng Nông, Lâm, Thuỷ sản 48 Hình 3.2: Một số chỉ tiêu về Thuỷ sản 53 Hình 3.3: Chi ngân sách cho phát triển Nông nghiệp Hà Nội qua các năm 57 Hình 3.4 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát

triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn Hà Nội 61 Hình 3.5 Sản phẩm trang trại và giá trị hàng hoá hàng năm 70

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam thuộc những nước chậm phát triển, vì vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong quá trình phát triển Chỉ có có công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trên cơ sở quy luật đó, Đảng ta xác định: Phải luôn luôn coi trọng “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững đô thị và nông thôn Để đạt được mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả của nguồn vốn đầu tư

Là nước nông nghiệp, có gần 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động làm nông nghiệp, do đó nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vị trí trọng yếu trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở mang công nghiệp, dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn Trong bối cảnh đó, việc huy động có hiệu quả các nguồn vốn để cung ứng đủ vốn cho nông nghiệp, nông thôn là vấn đề trọng tâm và có ý nghĩa quyết định Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của cả nước Trong những năm đổi mới, nông nghiệp của thành Hà Nội có sự chuyển biến mạnh mẽ; phát triển đa dạng, phong phú và đạt trình độ thâm canh cao hơn các vùng, miền khác trong cả nước Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, nông nghiệp của thành phố Hà Nội vẫn còn những yếu

Trang 11

động được tối đa các nguồn vốn vào phát triển nông nghiệp Vấn đề huy động vốn trên địa bàn Hà Nội có những lợi thế, đặc điểm và yêu cầu riêng Vì vậy việc tìm ra những giải pháp để huy động các nguồn vốn là rất thiết thực và cần thiết, các giải pháp nào đẩy mạnh việc huy động có hiệu quả các nguồn vốn để phát triển nông nghiệp cho thành phố Hà Nội? để trả lời phần nào câu

hỏi này, tôi đã chọn đề tài "Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành

phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" mong rằng đề tài này góp phần nhỏ

và có ý nghĩa thực tiễn vào việc giải đáp câu hỏi trên

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng huy động vốn trong nông nghiệp của thành phố Hà Nội, nhằm đề xuất những phương hướng, giải pháp khả thi để huy động có hiệu quả các nguồn vốn phát triển nông nghiệp của thành phố Hà Nội tại các huyện Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm, Gia Lâm và Thanh Trì, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vốn, đặc điểm, vai trò vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp

- Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn phục vụ phát triển nông nghiệp tại các huyện Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm, Gia Lâm và Thanh Trì, của thành phố Hà Nội

- Phương hướng, giải pháp huy động có hiệu quả từ các nguồn vốn phục vụ phát triển nông nghiệp cho các huyện này theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 12

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu nguồn vốn huy động để phát triển nông nghiệp tại thành phố Hà Nội, bao gồm các huyện Đông Anh, Sóc Sơn,

Từ Liêm, Gia Lâm, và Thanh Trì của thành phố Hà Nội hiện nay Đề tài trong

đó tập trung nghiên cứu, phân tích các chính sách của Đảng, Nhà nước và các chính sách của các ngân hàng, các doanh nghiệp, dân cư… đối với việc huy động vốn để phát triển nông nghiệp, nông thôn cho Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006 -2010 và những giải pháp để việc huy động đó có hiệu quả trong thời gian tới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của luận văn liên quan chủ yếu đến lĩnh vực huy động vốn trong nước, để phát triển nông nghiệp tại các huyện Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm, Gia Lâm và Thanh Trì, của thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 đến 2010 và tập trung vào phương hướng, quan điểm và giải pháp có tính chất định hướng và tham khảo kinh nghiệm của một số Quốc gia

3.3 Câu hỏi nghiên cứu: Để có cơ sở đánh giá Huy động vốn có hiệu quả

cho nông nghiệp thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay, chúng ta cần thiết phải làm rõ những nội dung chủ yếu sau:

- Thực trạng huy động vốn để phát triển nông nghiệp của thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 đến năm 2010 như thế nào?

- Những giải pháp nào để đẩy mạnh việc huy động có hiệu quả các nguồn vốn, để phát triển nông nghiệp của thành phố Hà Nội trong giai đoạn tới?

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Đề tài nghiên cứu những vấn đề của việc huy động nguồn vốn cần cho phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Dùng làm tài liệu cho việc định hướng phát triển nông nghiệp của

Trang 13

- Nghiên cứu có hệ thống đối với việc huy động vốn và đề ra các giải pháp huy động vốn có hiệu quả, nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn của một số huyện cũ của thành phố Hà Nội nói chung và định hướng phát triển của thành phố Hà Nội hiện nay trong giai đoạn tới

- Đề tài mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với lĩnh vực về vốn cần cho xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

6 Kết cấu của luận văn

Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn, phô lôc vµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o, néi dung chÝnh cña luËn v¨n ®-îc kÕt cÊu thµnh 4 ch-¬ng:

Chương I: Cơ sở lý luận của huy động vốn đối với quá trình phát triển nông nghiệp

Chương II: Phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương III: Thực trạng huy động vốn để phát triển nông nghiệp của thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010

Chương IV: Các giải pháp huy động vốn có hiệu quả nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp của thành phố Hà Nội trong giai đoạn tới

Trang 14

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HUY ĐỘNG VỐN ĐỐI VỚI

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.1 VỐN VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

1.1.1 Nội dung của vốn và huy động vốn

1.1.2 Khái niệm về vốn

Vốn là nguồn lực rất quan trọng nhất đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia Việt Nam là nước chậm phát triển và đang trong quá trình phát triển, vì vậy nhu cầu về vốn là rất lớn Tuy nhiên, do tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, khả năng "hút" vốn từ nước ngoài còn hạn chế, nên số lượng vốn đầu tư cho phát triển nền kinh tế còn thiếu Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúc đẩy việc khai thác

có hiệu quả mọi tiềm năng về vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về vốn dưới các giác độ khác nhau, nhưng chủ yếu:

Theo nghĩa rộng, vốn gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa vào

xã hội để chung chuyển, như: tiền, lao động, vật tư, tài nguyên, máy móc, thiết bị, ruộng đất; Ngoài ra còn có giá trị những tài sản vô hình, như: vị trí đất đai, công nghệ, quyền phát minh, sáng chế Trong các nền kinh tế phát triển thì tài sản vô hình ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn

Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Đối với các nhà kinh tế, vốn là yếu tố thứ ba của sản xuất (các yếu tố khác là lao động và đất đai) được kết hợp lại để sản xuất hàng hóa và dịch vụ

Trang 15

Các nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế trước C.Mác đã nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: Vốn là phạm trù kinh tế

Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển, vốn không những là yếu tố quan trọng đối với quá trình sản xuất của các nước có nền kinh tế phát triển mà còn

là yếu tố khan hiếm đối với hầu hết các quốc gia đang và kém phát triển trên thế giới Vì vậy, phạm trù vốn luôn được các nhà kinh tế hiện đại quan tâm nghiên cứu và tiếp cận nó trên những phương diện khác nhau Đó là:

- "Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi" [53, 1126]

- "Vốn là một loại nhân tố "đầu vào" đồng thời bản thân nó lại là kết quả "đầu ra" của hoạt động kinh tế" [13, 138]

- Dưới dạng tiền tệ, vốn được định nghĩa là khoản tích lũy, tức là một phần thu nhập chưa được tiêu dùng Dưới dạng vật chất, vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các công trình hạ tầng, các loại nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm trung gian, các thành phẩm Ngoài ra, còn có các loại vốn vô hình (bằng phát minh sáng chế, vị trí kinh doanh v.v ), không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng có giá trị kinh tế và cũng là những yếu tố vốn cần thiết cho quá trình phát triển Trong quá trình hoạt động của nền kinh tế, vốn luôn luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất cũng như từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ

Tổng số vốn đã tích lũy còn được gọi là tài sản quốc gia Tài sản quốc gia được tích lũy, có thể chia thành hai nhóm: vốn sản xuất (tài sản vật chất)

và vốn phi vật chất (tài sản phi vật chất) Như vậy, vốn sản xuất vật chất là một phần của tài sản quốc gia như là kết quả của quá trình tích lũy và được trực tiếp sử dụng trong quá trình sản xuất hiện tại Tài nguyên thiên nhiên, như: đất đai, hầm mỏ không được tạo ra từ các hoạt động đầu tư Các khoản đầu tư dưới dạng thiết bị, máy móc, nhà xưởng, vật kiến trúc hay một số vật

Trang 16

liệu khác cần cho quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên thì được xếp vào vốn sản xuất Ngoài ra, bộ phận tài sản quốc gia phi sản xuất là các công sản quốc gia cũng hết sức quan trọng

Các tài sản vật chất trong quá trình sử dụng hao mòn theo thời gian, do nhu cầu sử dụng các tài sản vật chất ngày càng tăng, cho nên phải tiến hành thường xuyên việc bù đắp hao mòn và tăng thêm khối lượng các tài sản vật chất mới và tăng thêm hàng hóa tồn kho [13, 138-139]

- "Vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra Vốn là một trong bốn yếu tố sản xuất, bao gồm máy móc, nhà máy và nhà cửa là cái làm cho sản xuất trở thành hiện thực nhưng trừ nguyên liệu thô và có thể được coi như là giữ giá trị được tích trữ của những cái này" [10]

Từ những cách tiếp cận trên về vốn, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, vốn là một trong những nhân tố không thể thiếu trong quá

trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Nó góp phần tạo ra thu nhập, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế

Thứ hai, vốn không chỉ là lượng tiền mặt nhất định trực tiếp đầu tư

sinh lợi nhuận mà còn là đại diện về mặt giá trị cho những tài sản hữu hình và

vô hình tham gia vào các quá trình sản xuất - kinh doanh

Thứ ba, vốn được biểu hiện bằng tiền Song, không phải tất cả tiền đều

là vốn Tiền là hình thái biểu hiện của vốn Trường hợp tiền để tiêu dùng hàng ngày, tiền để cất trữ không được coi là vốn Đó là các khoản để chi tiêu và tiền tiết kiệm để giành Chỉ có những đồng tiền được đảm bảo bằng tài sản thật, đưa vào đầu tư kinh doanh với mục đích sinh lời mới là vốn

Trong cơ chế thị trường, đối với một quốc gia, hay các doanh nghiệp có thể sử dụng cùng một lúc ba phương thức đầu tư vốn theo mô hình trên, nhằm mục tiêu có mức doanh lợi cao và nằm trong khuôn khổ pháp luật Khả năng

Trang 17

vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với qui mô ngày càng mở rộng ở chu kỳ sau Sự vận động của vốn trong thị trường tuân theo qui luật khách quan của kinh tế thị trường Song, con người có thể nắm bắt và lợi dụng chúng để tạo ra những kênh huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu mục đích sản xuất, kinh doanh của mình

Trong giới hạn, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập dưới góc độ huy động vốn trong nước (vốn bằng tiền) để phát triển nông nghiệp Cụ thể như sau:

Một là, vốn trong nước là toàn bộ những giá trị của tất cả các yếu tố cần

thiết để cấu thành quá trình sản xuất, được hình thành nên từ nguồn lực kinh tế

và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động trong một quốc gia Hay, nói cụ thể hơn, vốn trong nước là toàn bộ những giá trị của tất cả các yếu tố cần thiết cấu thành quá trình sản xuất, bao gồm: tiền mặt, nhà xưởng máy móc thiết bị, vật kiến trúc, nguyên liệu, đất đai, lao động, kinh nghiệm quản lý, chữ tín của khách hàng đối với sản phẩm, bí quyết công nghệ, vị trí kinh doanh, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, Được hình thành nên từ các nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động trong một quốc gia

Như vậy, các nhân tố cấu thành vốn trong nước là rất đa dạng: vốn bằng tiền, các dạng của cải, vốn con người, vốn tài sản, Trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa, các loại vốn trên có thể thâm nhập và đan xen vào nhau, chuyển hóa cho nhau và dĩ nhiên, chúng sẽ trở thành tiền mặt trong những điều kiện cụ thể Vì vậy, cần có cách nhìn biện chứng, linh hoạt về các nguồn vốn Từ đó mà có biện pháp khai thác, huy động nguồn vốn còn tiềm ẩn trong nền kinh tế và phát triển kinh tế, nhất là khi có một nguồn vốn nhất định đủ sức tiến hành sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hàng hóa, thì điều quan trọng là phải tìm cách cấu trúc tối ưu các yếu tố, quản lý có hiệu quả để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh

Trang 18

Hai là, vốn bằng tiền (tiềm lực về tài chính) đầu tư vào phát triển nông

nghiệp Nói cụ thể, vốn đầu tư trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp

Vốn là yếu tố không thể thiếu đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp hay trên phạm vi từng quốc gia cần phải có các khoản tiền ứng ra để đầu tư ban đầu và đầu tư vào sản xuất trong giai đoạn đưa công trình vào hoạt động Xã hội càng phát triển, những chi phí cho các khoản "đầu vào" càng lớn Bởi lẽ, những tư liệu lao động và đối tượng lao động do con người tạo ra có quy mô ngày càng lớn, phong phú về kết cấu, đa dạng về chủng loại và hàm chứa một trình độ khoa học - công nghệ ngày càng cao Chúng trở thành những tài sản rất có giá trị Dựa theo những tiêu thức khác nhau mà người ta có thể chia vốn thành các loại khác nhau Dưới đây là một số loại cơ bản:

+ Dựa vào đặc điểm vận động của vốn, có hai loại: vốn cố định và vốn lưu động Vốn cố định ứng với tài sản cố định (nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dụng cụ đo lường, phương tiện quản lý ; vốn lưu động ứng với tài sản lưu động (nguyên liệu, nhiên liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa và các khoản tiền tệ đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả, )

+ Dựa theo hình thái và nguồn lực đầu tư, vốn có hai loại: vốn hữu hình

và vốn vô hình Vốn hữu hình có hình thái vật chất cụ thể, bao gồm các tài sản hữu hình, tiền mặt, những giấy tờ có giá trị thanh toán ; vốn vô hình là phần vốn tiền tệ đã được chi phí nhằm sử dụng những tài sản vô hình để phục

vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh Vốn vô hình bao gồm: vị trí kinh doanh, bí quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế

+ Dựa vào thời gian sử dụng, vốn có ba loại: vốn ngắn hạn, vốn trung

Trang 19

thời hạn 1 năm Vốn trung hạn là lượng tiền được sử dụng để đầu tư với thời hạn từ 1 năm đến dưới 5 năm Vốn dài hạn là lượng tiền được sử dụng để đầu

tư với thời hạn 5 năm trở lên

+ Dựa vào chế độ sở hữu, vốn có hai loại: vốn chủ sở hữu và vốn vay Vốn pháp định là số vốn bắt buộc phải có để thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định là bộ phận quan trọng hợp thành vốn đầu tư của doanh nghiệp Trên thực tế, để giảm bớt rủi ro, các chủ thể đầu tư thường xây dựng phương

án kinh doanh với tỷ lệ góp vốn pháp định trong tổng vốn đầu tư càng ít càng tốt; vốn vay là lượng vốn huy động từ các nguồn bên ngoài chủ thể kinh doanh để đảm bảo tính liên tục, hiệu quả của quá trình sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, vốn vay là lượng vốn chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu tư

Ngoài các cách phân loại trên, người ta còn có những cách thức phân loại vốn khác,như: phân theo giác độ sử dụng vốn có hai loại: vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp; căn cứ vào quyền sở hữu các nguồn vốn để tiến hành đầu tư trên tổng thể nền kinh tế có vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài,

Trong nền kinh tế thị trường, ở mỗi góc nhìn khác nhau cho ta những quan niệm khác nhau về vốn, đầu tư vốn, song, xét về bản chất nó là thể thống nhất Việc phân chia vốn thành các loại khác nhau nhằm mục đích hiểu rõ bản chất phạm trù của vốn Nói cách khác, là hiểu được tính đa dạng, phong phú

và rất phức tạp của vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường, giúp cho các chủ thể kinh doanh có kế hoạch chủ động để huy động và sử dụng nguồn vốn ngày càng có hiệu quả

1.1.3 Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn trong nước

1.1.3.1 Cơ cấu nguồn vốn

Hiện nay, nguồn vốn trong nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng tựu chung lại có các loại: vốn ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp,

Trang 20

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Nguồn này được hình thành thông qua việc tiết kiệm của chính phủ Nói cách khác, phần tiết kiệm của chính phủ

là phần tiết kiệm của ngân sách nhà nước Tiết kiệm của chính phủ thể hiện ở

số chênh lệch giữa tổng số thu so với tổng số chi tiêu thường xuyên của ngân sách nhà nước Về bản chất, đây là nguồn vốn của ngân sách nhà nước chi cho phát triển kinh tế

Trong những năm gần đây, qui mô ngân sách của Nhà nước ta không ngừng tăng lên nhờ mở rộng nguồn thu Song, thu chủ yếu vẫn qua huy động thuế và phí (trên 90%) Với khả năng huy động vốn trên, ngân sách nhà nước

sẽ có điều kiện để tăng lượng vốn đầu tư cho phát triển nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng

- Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh Nguồn này được hình thành từ phần tiết kiệm của doanh nghiệp, thể hiện ở phần lãi thuần được để lại dùng làm tăng vốn chủ sở hữu Phần lãi thuần để lại thực chất là phần đầu tư ròng tăng thêm của các doanh nghiệp Ngoài ra, phần khấu hao cơ bản hàng năm cũng là nguồn để các doanh nghiệp đầu tư

- Nguồn vốn tín dụng: Nguồn này được hình thành từ vốn tự có của ngân hàng, vốn huy động, vốn vay và các nguồn khác Nền kinh tế thị trường càng phát triển, nguồn vốn tín dụng càng trở thành nguồn vốn chủ yếu trong tổng vốn kinh doanh của các chủ thể kinh tế Ở nước ta, nguồn vốn tín dụng được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nhân dân Trong đó, hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm: Ngân hàng trung ương (Ngân hàng nhà nước), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Trong đó, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là ngân

Trang 21

Đến 31/10/2011, tổng nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 483.724 tỷ đồng; ước đạt 504.425 tỷ đồng vào cuối năm 2011 Trong đó, vốn huy động từ khách hàng (thị trường I) đạt 443.815 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 91,7% nguồn vốn huy động; ước đạt 448.938 tỷ đồng vào cuối năm 2011, chiếm tỷ trọng 88,9% [5]

Cơ cấu vốn tín dụng tập trung cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Tuy nhiên, khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các tài trợ về đầu tư cơ bản Nguồn vốn huy động được chủ yếu mới cho vay ngắn hạn Vốn cho vay trung và dài hạn còn rất khiêm tốn

- Nguồn vốn của dân cư: Đây là nguồn được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập của dân cư Thu nhập của dân cư được hình thành từ thu nhập trong kết quả lao động ở lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của các gia đình, cá nhân người lao động; thu nhập do thừa kế các loại thu nhập khác, như: trúng

xổ số, tài sản nhàn rỗi, tài sản của thân nhân từ nước ngoài gửi về Nói cách khác, nguồn vốn của dân cư là khoản tiết kiệm của họ Thực chất đó là phần dôi ra sau khi đã trừ chi tiêu của các hộ gia đình

Trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm của dân cư là bộ phận chủ yếu

và ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng trong việc hình thành tổng nguồn vốn đầu tư của các quốc gia Theo điều tra của Tổng cục Thống kê; của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ước tính nguồn vốn trong dân cư hiện có từ 6-8 tỷ USD Trong đó chỉ có 36% vốn hiện có được huy động cho đầu tư phát triển

Biểu 1.1 Mức vốn huy động trong dân qua các năm

Năm Mức huy động (tỷ đồng) Mức tăng so với năm trước (%)

Trang 22

Tóm lại: Cơ cấu nguồn vốn trong nước bao gồm: vốn ngân sách, vốn

tín dụng, vốn của doanh nghiệp, vốn của dân cư Mỗi nguồn vốn đều có đặc điểm, tầm quan trọng riêng Song, bản thân chúng là những yếu tố hợp thành nên tổng nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế Do đó, phải biết cách khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả

1.1.3.2 Các phương thức huy động vốn

Trong nền kinh tế thị trường, để có đủ vốn đầu tư, chủ đầu tư có thể và cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bằng những phương thức khác nhau Trên thực tế, có hai phương thức cơ bản để huy động vốn:

Một là, phương thức huy động vốn gián tiếp: Đó là phương thức

chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn thông qua các trung gian tài chính, như: các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia Nội dung của phương thức này là thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi vào các trung gian tài chính, từ đó, các trung gian tài chính cấp vốn cho những nơi cần vốn Việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn đã từng bước đáp ứng được các nhu cầu về vốn đầu tư Tuy nhiên, ở nước ta, việc huy động vốn thông qua các công ty bảo hiểm, công ty tài chính còn là loại hình mới mẻ Do đó, việc huy động vốn cho phát triển kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng chủ yếu được thực hiện qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Hiện nay ở Việt Nam có 01 Ngân hàng quỹ tín dụng nhân dân; 02 ngân hàng chính sách (Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng phát triển Việt Nam); 04 ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam

và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam); ngoài ra còn

có 40 ngân hàng thương mại cổ phần; 06 Ngân hàng liên doanh; 14 ngân hàng

có vốn 100% nước ngoài và chi nhánh của nước ngoài tại Việt Nam Các ngân hàng thương mại huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm của dân cư,

Trang 23

tiền gửi của các tổ chức kinh tế, phát hành kỳ phiếu ngân hàng thương mại, hình thành các quỹ tín dụng nhân dân Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện các phương thức huy động vốn mới, như: huy động vốn cổ phần xác lập

và cổ phần thường xuyên từ các hộ sản xuất kinh doanh ở nông thôn Số dư tiền gửi loại hình này lên tới hàng trăm tỷ đồng Các Ngân hàng Đầu tư phát triển, Ngân hàng Công thương đã hình thành hình thức huy động tiết kiệm xây dựng nhà ở với số vốn huy động hàng ngàn tỷ đồng Các loại trái phiếu ghi danh của các ngân hàng phát hành trên thị trường theo chủ trương của Nhà nước vào các thời điểm khác nhau đã khai thác được lượng vốn khá lớn Ngoài ra, hình thức huy động vốn thông qua mở tài khoản tiền gửi cho khoảng 500.000 tài khoản tiền gửi, với số dư hàng chục tỷ đồng

Về lãi suất: cơ chế điều hành lãi suất đã có sự thay đổi theo diễn biến cung cầu vốn trên thị trường Ở đây, thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo, hợp lý trong chính sách huy động các nguồn vốn của Đảng và Nhà nước cũng như của ngành Ngân hàng Thống đốc Ngân hàng nhà nước ra Quyết định số 211/QĐ/NH1 ban hành qui chế phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước và Quyết định số 212/QĐ/NH1 ban hành thể lệ phát hành trái phiếu ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho huy động vốn

Ngoài ra Tín phiếu Ngân hàng nhà nước (là giấy nợ ngắn hạn) có lãi do Ngân hàng nhà nước phát hành nhằm tạo công cụ để điều hành thị trường tiền

tệ theo mục tiêu của chính sách trong từng thời kỳ Đối tượng mua tín phiếu ngân hàng nhà nước là các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính Việc mua tín phiếu Ngân hàng nhà nước, dựa trên cơ

sở tự nguyện, nhưng trong trường hợp cần thiết để phục vụ mục tiêu ổn định tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước có thể qui định tỷ lệ mua tín phiếu ngân hàng nhà nước bắt buộc đối với các ngân hàng trên Tỷ lệ này được tính

Trang 24

trên tổng vốn huy động của các ngân hàng [15] Về bản chất, huy động vốn bằng trái phiếu ngân hàng là nguồn vốn dài hạn của các tổ chức tín dụng, không phải dành để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước mà chủ yếu để đầu

tư mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, lao động, cho các

dự án kinh tế Vì vậy, lãi suất của trái phiếu do các tổ chức tín dụng quy định phải dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu đồng vốn trên thị trường Nghĩa là lãi suất của trái phiếu phải linh hoạt, mềm dẻo để vừa khuyến khích được người gửi tiền dài hạn, chủ đầu tư (người vay) có thể chấp nhận được; vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại

Hai là, phương thức huy động vốn trực tiếp: Đó là phương thức

chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn một cách trực tiếp, thông qua thị trường chứng khoán mà không qua các trung gian tài chính Các nhà đầu tư có thể phát hành các cổ phiếu, trái phiếu thu hút vốn Ngược lại, các nhà đầu tư tài chính mua cổ phiếu, trái phiếu do các công ty hay Chính phủ ban hành, có thể rút vốn thông qua mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán Cụ thể là:

- Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước

Trái phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn, có mệnh giá và có lãi phát hành bao gồm các loại ký danh và vô danh, thời hạn

từ một năm trở lên tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và khả năng thu hồi vốn để trả nợ của doanh nghiệp nhà nước Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp nhà nước được Bộ Tài chính qui định và do doanh nghiệp nhà nước công bố theo từng đợt phát hành đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) với các chỉ số trượt giá và căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn của doanh nghiệp

Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ thừa nhận sự góp vốn và quyền sở hữu về vốn của chủ sở hữu cổ phiếu do doanh nghiệp nhà nước phát

Trang 25

lập doanh nghiệp mới mà nhà nước là người sáng lập Cổ phiếu bao gồm các loại ký danh và vô danh, phát hành dưới dạng chứng chỉ do Kho bạc nhà nước qui định theo mẫu Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước chỉ có một loại mệnh giá

do doanh nghiệp nhà nước qui định sau khi đã được Bộ Tài chính chấp thuận Lợi tức cổ phần được thanh toán hàng năm vào cuối năm tài chính qui định, tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và theo Điều lệ hoạt động doanh nghiệp Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước được tự do mua bán, chuyển nhượng, thừa kế Việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các loại cổ phiếu,

ký danh và vô danh được thực hiện tại doanh nghiệp nhà nước, nơi phát hành

cổ phiếu và không phải chịu bất cứ khoản phí nào

Trên thế giới, huy động vốn bằng cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp nhà nước là phương thức quan trọng và phổ biến nhằm vay vốn để mở rộng qui

mô sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp Ở nước ta, phương thức huy động vốn này còn mới mẻ Việc thành lập thị trường chứng khoán đang ở giai đoạn tìm tòi, thử nghiệm trên thực tiễn Tuy nhiên, đó sẽ là một phương thức, một kênh chủ lực để huy động vốn đầu tư hiệu quả trong tương lai Vì vậy, Chính phủ đang rất chủ động thúc đẩy việc hình thành thị trường chứng khoán bằng các thông tư, nghị định hướng dẫn việc thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Đó là Thông

tư số 91/TC-KBNN (ngày 5/11/1994)[44] của Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết việc thực hiện qui chế trên; Nghị định số 28/CP (ngày 7/5/1996) về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần [39] Và, gần đây nhiều Nghị định, Thông tư mới ra đời nhằm thúc đẩy sự ra đời thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Có thể nói rằng, mỗi Nghị định, Thông tư ra đời đều thể hiện sự tìm tòi, thử nghiệm và tiếp tục hoàn thiện dần hình thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước; phù hợp với từng bước đi

Trang 26

ta chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước Về thực chất, đó là nhằm mục tiêu huy động tối đa vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế trong

và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, tạo điều kiện cho những người góp vốn, những người có cổ phần nâng cao vai trò làm chủ, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Để huy động các nguồn vốn còn có:

- Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ Trái phiếu chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành (trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước không có ý nghĩa tác động trực tiếp đến việc giảm bội chi ngân sách nhà nước) Trái phiếu chính phủ được phát hành dưới các dạng: tín phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu kho bạc nhà nước

và trái phiếu công trình

+ Tín phiếu kho bạc nhà nước là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách tạm thời trong năm tài chính Số

dư nợ về trái phiếu kho bạc nhà nước đến cuối năm tài chính (31/12) chưa đến hạn thanh toán được tính là khoản vay bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước

và được hoàn trả trong năm tài chính tiếp theo

+ Trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu đầu tư phát triển trong kế hoạch ngân sách nhà nước được duyệt

+ Trái phiếu công trình có hai loại: trái phiếu chính phủ huy động vốn cho các công trình trung ương do Bộ Tài chính (Ngân sách trung ương) bảo lãnh thanh toán

Trái phiếu chính phủ bao gồm các loại ký danh và vô danh; phát hành dưới dạng chứng chỉ trái phiếu và có nhiều mệnh giá khác nhau, được ghi thu

và thanh toán bằng đồng Việt Nam theo thời giá của cơ quan có thẩm quyền quy định

Trang 27

Lãi suất trái phiếu chính phủ do Bộ Tài chính công bố theo từng đợt phát hành, sau khi đã thỏa thuận với Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) có tính đến chỉ số trượt giá Mức lãi suất trái phiếu được xác định trên cơ sở tỷ lệ lạm phát và biến động giá cả theo từng thời kỳ do Tổng cục Thống kê công bố; lãi suất trái phiếu có thời hạn dài được qui định cao hơn lãi suất trái phiếu có thời hạn ngắn; nhu cầu huy động vốn và khả năng huy động trái phiếu

Ngoài ra còn có trái phiếu với lãi suất chỉ đạo, tổ chức đấu thầu chọn lãi suất phát hành là mức lãi suất đặt thầu tối đa cho các trái phiếu mà đơn vị tham gia đấu thầu có thể đặt thầu Mức lãi suất chỉ đạo được Bộ Tài chính công bố trong thông báo đấu thầu

Trong những giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, "Chính phủ chủ trương phát hành trái phiếu là để thực hiện chức năng đi vay (thực hiện tín dụng nhà nước) của Chính phủ, nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế để tạo vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách, tăng cường vốn cho đầu tư phát triển Chính phủ cần phải huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ và giao cho Bộ Tài chính phát hành" [34]

Tóm lại: Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại song hành hai

phương thức huy động vốn: trực tiếp và gián tiếp Hai phương thức huy động vốn này luôn hỗ trợ, bổ sung, tác động lẫn nhau nhằm thu hút tối đa và phân

bổ có hiệu quả các nguồn vốn theo tiêu chuẩn thị trường, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đồng thời tạo ra những công cụ hữu hiệu trong quản lý vĩ

mô nền kinh tế của Nhà nước Ở nước ta, 2 phương thức huy động vốn trên đã được áp dụng Song, trên thực tế, phương thức huy động vốn gián tiếp vẫn là phổ biến Phương thức huy động vốn trực tiếp còn mới mẻ, nhưng theo đà phát triển của nền kinh tế, nó sẽ trở thành kênh huy động vốn quan trọng ở nước ta trong tương lai

Trang 28

1.1.4 Vai trò của vốn đối với phát triển nông nghiệp

1.1.4.1 Yêu cầu cấp bách về vốn để phát triển nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mọi quốc gia Ở nước ta, nông nghiệp càng giữ vị trí trọng yếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bởi lẽ, gần 80% dân

số sống ở nông thôn với nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp Trong nhiều năm, nông nghiệp đã tạo ra trên 40% thu nhập quốc dân Hiện nay ngành này đang tạo ra gần 30% GDP và hơn 45% giá trị xuất khẩu của cả nước Đồng thời, nông nghiệp còn là ngành cung cấp nhân lực, thị trường và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, dịch vụ Sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp

có tác động to lớn đến qui mô, tốc độ tăng trưởng và phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đẩy mạnh tích lũy vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chính vì vậy, phát triển nông thôn nói chung, nông nghiệp nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng và đặt lên vị trí hàng đầu Để thực hiện nhiệm vụ trên phải "huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có

ý nghĩa quan trọng Chiến lược lâu dài phải huy động tối đa nguồn vốn trong nước để chiếm tỷ lệ cao trong đầu tư" [18, 228]

Thực hiện đường lối trên, thời gian qua đã huy động được lượng vốn khá từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư phát triển nông nghiệp Do đó, nông nghiệp nước ta nói chung, nông nghiệp thành phố Hà Nội nói riêng, từng bước phát triển ổn định, khá toàn diện và đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 4,5% - 4,8% Riêng về lương thực (gạo) của nước ta, từ chỗ phải nhập khẩu đến nay trở thành nước xuất khẩu gạo có thứ 2 thế giới Mặc dù vậy, lượng vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp vẫn chưa đủ mạnh để cải biến một cách cơ bản, đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, cũng như phát triển khoa học - công nghệ, ứng dụng thành tựu đó vào khuyến

Trang 29

nông, khuyến lâm, khuyến ngư , đáp ứng yêu cầu thâm canh nông nghiệp ở trình độ cao Do đó, nền nông nghiệp nước ta vẫn đang đứng trước những thách thức to lớn: cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch chậm chạp và còn mất cân đối nghiêm trọng giữa trồng trọt - chăn nuôi - nghề rừng; thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định; chất lượng nông sản còn thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với sản phẩm đồng loại trên thị trường khu vực và thế giới Vì vậy, tăng cường huy động các nguồn vốn, đảm bảo cung ứng vốn đủ mạnh cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là một đòi hỏi mang tính tất yếu của thực tiễn hiện nay

1.1.4.2 Vốn - nhân tố quyết định thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Các nhà kinh tế học từ cổ đại đến hiện đại đều khẳng định vốn là nhân

tố cơ bản của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Sự gia tăng về vốn làm tăng năng lực sản xuất trong nước, thúc đẩy gia tăng sản lượng và năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa sản xuất ra, tạo khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả các nhân tố: tài nguyên, lao động

Khi nghiên cứu về Học thuyết địa tô, C.Mác đã chỉ rõ vai trò của tư bản (vốn) trong quá trình phát triển nông nghiệp Người viết: "Do những qui luật

tự nhiên chi phối trong nông nghiệp nên khi canh tác đạt đến một trình độ nhất định và khi đất đã bị kiệt màu đi một cách tương ứng thì tư bản sẽ trở thành một yếu tố quyết định" [31, 333] C.Mác còn khẳng định, địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II đều là lợi nhuận siêu ngạch, hình thành do hiệu quả đầu tư khác nhau của những tư bản như nhau Địa tô chênh lệch I tương ứng với phương thức quảng canh, khai hoang, mở rộng diện tích và không cần nhiều vốn đầu tư Nó rất phù hợp với thời kỳ đầu phát triển một nền nông

Trang 30

nghiệp hàng hóa bậc thấp Thành thử, "các khoản đầu tư được tiến hành cùng một lúc trên những diện tích khác nhau Mỗi lần đầu tư đều có ý nghĩa là mở rộng hơn nữa việc canh tác đất đai, diện tích canh tác lại được mở rộng thêm" [31, 329] Trái lại, địa tô chênh lệch II ứng với phương thức đầu tư thâm canh, đòi hỏi phải có lượng vốn đầu tư lớn: "Về mặt kinh tế, chúng ta phải hiểu thâm canh không phải là cái gì khác hơn là tập trung tư bản trên cùng một thửa đất, chứ không phải phân tán trên nhiều thửa đất song song với nhau" [31, 331] Như vậy, cùng với đất đai, lao động, vốn trở thành yếu tố nội sinh, quyết định sự thành bại của chiến lược thâm canh tăng năng suất cây trồng, thúc đẩy việc sử dụng đất có hiệu quả Do đó, thâm canh là một yêu cầu cơ bản, một xu hướng tất yếu đối với mọi nền nông nghiệp, không phân biệt chế

độ chính trị - xã hội

Vận dụng sáng tạo lý luận địa tô của C.Mác, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp tăng cường huy động các nguồn vốn để đẩy mạnh phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, đặc biệt là thâm canh nông nghiệp; xây dựng các ngành, các lĩnh vực có tác động trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp Nếu như ở giai đoạn trước, đầu tư vốn cho nông nghiệp nhằm mục tiêu đủ ăn về lương thực, thực phẩm; từng bước vươn lên xuất khẩu nông sản thì nay, đã đến lúc vốn đầu tư cho nông nghiệp phải được tiến hành ở giai đoạn II Nghĩa là, phải tăng tốc huy động vốn để nâng cao tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm; đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa để chiếm thị phần rộng lớn về xuất khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách, tăng sức mạnh nội lực thực sự cho nền kinh tế Việt Nam Chính vì vậy, những tác động của vốn đối với nông nghiệp càng trở nên

rõ nét, thể hiện ở chỗ:

Trang 31

Thứ nhất: Vốn làm thay đổi bộ mặt kết cấu hạ tầng theo yêu cầu

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung, nông nghiệp nói riêng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Kết cấu hạ tầng nông thôn bao gồm: các công trình thủy lợi, (tưới, tiêu, chống lũ); các công trình giao thông, bưu chính viễn thông, nhà xưởng, mạng lưới điện phục vụ phát triển nông nghiệp Nông nghiệp là ngành chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Do đó, kinh doanh trong nông nghiệp có

độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn chậm, lợi nhuận thấp hơn các ngành kinh tế khác Nếu cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh nông nghiệp, không "hút" được vốn đầu tư của các nhà đầu tư

cả trong và ngoài nước vào phát triển lĩnh vực này Tăng cường vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, trước hết phải chú trọng đầu tư phát triển lĩnh vực kết cấu hạ tầng

Kinh nghiệm của thế giới cho thấy, đối với các nước châu Á, chi phí cải tạo cơ sở hạ tầng sẽ phải tăng từ mức 4% GDP tăng lên 7% GDP Ở nước

ta, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng còn yếu kém hơn so với các nước Đông Á, nhất là về giao thông, mạng lưới điện, thủy lợi Những diễn biến bất thường của thời tiết thời gian qua: hạn hán, lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, Tây Nguyên; lũ quét

ở miền núi phía Bắc làm cho nông dân thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng càng thấy rõ vai trò to lớn của việc tăng đầu tư vốn để cải tạo, nâng cấp, xây dựng

hệ thống thủy lợi, đê điều, Việc hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông nghiệp thực hiện tốt, không những sẽ hình thành được vùng cây chuyên canh, mở rộng diện tích canh tác mà còn tạo điều kiện thâm canh tăng vụ, đặc biệt là tăng từ 1 vụ lúa lên 2 vụ (ở vùng trũng), thậm chí ở các tỉnh phía Nam còn dịch chuyển được mùa vụ, trồng lúa quanh năm, tăng hệ số sử dụng đất, nhất

là tránh được những con lũ lớn ở đồng bằng Nam Bộ

Trang 32

Thứ hai: Vốn tác động vào khoa học - công nghệ tạo ra động lực để

phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao và bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

Các công nghệ cao được áp dụng vào nông nghiệp, như: công nghệ sinh học; công nghệ loại hình "tri thức", như: công nghệ thông tin, công nghệ quản lý, công nghệ nông nghiệp chính xác, Bên cạnh đó những công nghệ trên đòi hỏi phải có một hệ thống sản xuất giao lưu giữa các ngành, thay đổi căn bản nền nông nghiệp và chuyển nền nông nghiệp từ truyền thống sang nền nông nghiệp công nghiệp, hướng vào mục tiêu an toàn lương thực, gia tăng sản phẩm xuất khẩu qua chế biến Phấn đấu thời gian tới Việt Nam có thể đạt được từ 85% - 90% giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm Muốn vậy, phải có vốn và tăng lượng vốn đầu tư vào phát triển khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp để vừa có đủ vốn nhập khẩu những công nghệ cao từ nước ngoài khi trong nước chưa nghiên cứu được; vừa có vốn để triển khai, nghiên cứu, ứng dụng những công nghệ mới ở trong nước cho phù hợp với điều kiện cụ thể nền nông nghiệp Việt Nam Một khi khoa học - công nghệ xâm nhập được vào nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả sản xuất - kinh doanh cao

Hiểu rõ tầm quan trọng của khoa học - công nghệ, Đảng ta đã xác định:

"Khoa học - công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia" [14] Trong những năm qua, tỷ lệ đầu tư cho khoa học - công nghệ đã từng bước tăng lên Bảo đảm mức chi ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ không thấp hơn 2% tổng chi ngân sách hàng năm [17] Đồng thời tích cực thu hút các nguồn vốn vào phát triển lĩnh vực này

Thứ ba: Vốn tác động vào hệ thống công nghiệp phục vụ sản xuất nông

nghiệp làm thay đổi năng suất, chất lượng và hiệu quả nông phẩm hàng hóa

Hệ thống công nghiệp phục vụ nông nghiệp được hình thành bởi các

Trang 33

bón, thuốc trừ sâu và hàng loạt các nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm của nông nghiệp Hiện nay, hệ thống công nghiệp phục vụ nông nghiệp mặc

dù được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Tuy nhiên về cơ bản vẫn còn lạc hậu Năng lực sản xuất của ngành mới đáp ứng được 20% nhu cầu máy nội địa, 40% nhu cầu máy nông nghiệp nhỏ, Về thực chất, công nghệ ở nước ta được hình thành theo qui trình "ngược" Nghĩa là, công nghệ phụ thuộc vào máy móc đã trang bị chứ chưa phải được hình thành trên cơ sở yêu cầu của sản xuất Vì vậy, Đảng ta chủ trương tăng cường đầu tư "phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp đô thị" [22, 87] là đúng hướng Đồng thời, Đảng chỉ rõ: "mở rộng tín dụng, tăng dần vốn vay trung và dài hạn đáp ứng yêu cầu vốn cho công nghiệp hóa nông nghiệp Thời hạn cho vay vốn phải phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng và thời gian khấu hao máy móc nông nghiệp" [23, 25] Khi những chủ trương này đi vào cuộc sống, vai trò của vốn được xác lập, hệ thống công nghiệp phục vụ nông nghiệp sẽ thay đổi hẳn, thúc đẩy nền nông nghiệp nước ta phát triển nhanh, bền vững

Thứ tư: Thông qua huy động, đầu tư và quản lý có hiệu quả các nguồn

vốn sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hình thành những vùng chuyên canh, vùng trọng điểm, đẩy mạnh nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa

Hiện nay vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chậm việc xây dựng thương hiệu vấn đề quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn còn kém, do đó cơ cấu kinh

tế nông nghiệp chuyển dịch còn chậm chạp; ngành trồng trọt chiếm tỷ lệ cao, chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính, nghề rừng mới bước đầu phát triển, dịch vụ nông nghiệp phát triển chưa thật sự vững chắc thì việc tăng cường đầu tư vốn và sử dụng chúng có hiệu quả sẽ hình thành được những

Trang 34

vùng chuyên canh lớn (vùng cây lương thực, vùng cà phê, cao su, rau sạch ), khai thác được tiềm năng về đất đai, lao động, nguyên liệu tạo ra sức bật mới, có tác dụng lan tỏa, lôi cuốn các ngành, vùng khác cùng phát triển, tạo ra ngày càng nhiều nông sản hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao, có lợi thế so sánh trên trường quốc tế

Thứ năm: Vốn là điều kiện không thể thiếu để đầu tư và phát triển

nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hiện nay lực lượng lao động trong nông nghiệp đã qua đào tạo chiếm

tỷ lệ rất thấp (khoảng 18% - 30%) Số còn lại chủ yếu được đào tạo theo kinh nghiệm "cha truyền, con nối", hiệu quả thấp Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã chú ý đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp, nhưng dường như chỉ quan tâm đến đào tạo đội ngũ kỹ sư, công nhân

kỹ thuật (chủ yếu là cơ khí nông nghiệp), các nghề, như: trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, nghề rừng chưa chú ý đầu tư, dẫn đến đại bộ phận nông dân trực tiếp sản xuất ít, thậm chí không được trang bị kiến thức sản xuất nông nghiệp

Vì vậy tăng cường đầu tư vốn cho nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn, nhất là đào tạo nghề cho nông dân là vấn đề cấp thiết Cần phải hỗ trợ 100% vốn cho những lao động nông nghiệp được cử đi học dài hạn, tình nguyện trở

về phục vụ quê hương Về lâu dài phải thành lập Quỹ hỗ trợ giáo dục, động viên sự đóng góp của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội để đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, trước hết là đào tạo nghề cho nông dân

Tóm lại: Vốn là yếu tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát

triển nông nghiệp Hiểu rõ tầm quan trọng của vốn sẽ có phương pháp luận đúng đắn để khai thác, huy động các nguồn vốn có hiệu quả, thúc đẩy nông nghiệp phát triển, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới

Trang 35

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.2.1 Nhu cầu vốn quyết định qui mô, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn

Để tiến tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh", nước ta cần phải đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế Chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam đặt ra yêu cầu tăng thu nhập bình quân theo đầu người 1.811-1.843 USD/năm/người vào năm 2014 và những năm tiếp theo Muốn vậy, phải tăng cường đầu tư vốn cho nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Đối với nông nghiệp, tăng vốn đầu tư trước hết phải hướng vào xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp, đổi mới công nghệ, máy móc, hình thành vùng chuyên canh, trọng điểm, cải tạo đất đai, giống cây trồng và vật nuôi Vì vậy, phải dự báo được nhu cầu vốn đầu tư trong kế hoạch phát triển ngắn, trung và dài hạn

Hiện nay trên thế giới, phương pháp phổ biến để tính nhu cầu vốn đầu

tư dựa vào mô hình Harrod - Domar: khối lượng vốn tăng thêm để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế được tính theo công thức:

G = K

K

1  Suy ra: K = K G Trong đó: K là lượng vốn tăng thêm

2009 là 8,0 Như vậy, để có mức thu nhập kinh tế quốc dân bình quân đầu người tăng gấp đôi, chúng ta cần có mức gia tăng sản phẩm xã hội G = 51.002

Trang 36

tỷ đồng, giả sử với hệ số K là 8,0 thì cần phải có số vốn đầu tư bổ sung là 51.002 x 8,0 = 408.016 tỷ đồng Đây là những con số tương đối Trên thực tế, tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định dù tính theo phương pháp nào cũng còn phụ thuộc rất nhiều vào mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng hay chiều sâu; cần nhiều hay cần ít vốn; có ưu tiên sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới hay chỉ ưu tiên đặc biệt cho những ngành nghề sử dụng nhiều lao động cơ bắp Đặc biệt, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, kinh tế thế giới đang có sự biến động sâu sắc, mạnh mẽ với sự lớn mạnh của mô hình kinh tế trí tuệ dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học công nghệ thì nhất định các cách tính toán nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế sẽ chịu nhiều ảnh hưởng lớn

Với cách tính như trên, các nhà kinh tế Việt Nam dự tính nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế từ nay đến năm 2010, Việt Nam cần huy động lượng vốn khoảng 45 - 50 tỷ USD Trong đó, nhu cầu vốn cho ngành nông nghiệp là 5 tỷ USD, ngành công nghiệp 17 tỷ USD và ngành dịch vụ là 26 tỷ USD

Như vậy, nhu cầu vốn là một nhân tố quan trọng thúc đẩy việc huy động vốn cho phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng Nhu cầu vốn càng lớn càng phải đẩy mạnh huy động tổng lực các nguồn vốn cho đầu tư phát triển

1.2.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp chi phối khả năng huy động vốn

- Hoạt động của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện

tự nhiên Nếu thời tiết thuận lợi, nông dân trúng vụ, giá cả nông sản ổn định không những khuyến khích được nông dân bỏ vốn ra đầu tư mà còn thu hút được các nguồn vốn khác vào phát triển nông nghiệp và ngược lại việc huy động vốn sẽ rất khó khăn

Trang 37

- Chu kỳ sản xuất của cây trồng, vật nuôi khá phức tạp tùy thuộc vào từng loại cây trồng vật nuôi mà chu kỳ sản xuất dài, ngắn khác nhau Chu kỳ sản xuất ngắn nhất là 3 tháng Đối với những cây dài ngày như: cây công nghiệp, cây ăn quả thời gian kiến thiết cơ bản từ 5-7 năm Do vậy chu kỳ kinh

tế phải mất hàng chục năm, thậm chí vài chục năm, làm cho vòng tuần hoàn

và luân chuyển của vốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định Đồng thời nó cũng tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể một lượng vốn lưu động, dẫn tới vốn sản xuất nông nghiệp bị "ứ đọng" tương đối, làm giảm khả năng sinh lời của đồng vốn Yếu tố này tác động rất tiêu cực đến việc huy động vốn vào phát triển nông nghiệp Nếu như Nhà nước không có chính sách đầu tư vốn phù hợp với mùa vụ của từng cây trồng, vật nuôi sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn

- Đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình huy động vốn Trong điều kiện đất xấu, cần lượng vốn đầu tư lớn hơn đất tốt và ngược lại Đặc biệt là đối với thành Hà Nội và các vùng ven đô khác, do quá trình đô thị hóa, diện tích đất canh tác nông nghiệp bị thu hẹp, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp cần phải đầu tư phát triển theo chiều sâu, lượng vốn đầu tư phải lớn Đây cũng là yếu tố khách quan ảnh hưởng tới vấn

Trang 38

đáp ứng được nhu cầu đầu tư Trong trường hợp ngược lại, vốn sẽ bị "ứ đọng" tương đối trong quá trình huy động

Khả năng cung ứng của các nguồn vốn trong nước đều phụ thuộc vào tiềm năng và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tiềm năng của quốc gia mạnh, khả năng khai thác vốn sẽ lớn Tuy nhiên, trong cùng một thời điểm không thể đưa toàn bộ vốn (tiềm năng) vào sản xuất - kinh doanh hoặc chi dùng mà phải có kế hoạch huy động phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước trong mỗi thời kỳ, đảm bảo độ bền vững của tiềm năng (có giới hạn) của quốc gia

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn Khi nền kinh tế - xã hội ở trình độ tiên tiến

sẽ duy trì mức độ tăng trưởng cao và ổn định, tích lũy nội bộ cao, huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng sẽ lớn Hơn nữa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao sẽ có một hệ thống tài chính phát triển tương ứng, càng có điều kiện thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư phát triển Trong trường hợp tiềm năng đất nước hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp, khả năng tích lũy nội bộ không cao, hệ thống tài chính không phát triển, sẽ rất khó khăn cho việc huy động vốn

Tuy nhiên, khả năng cung ứng vốn của từng nguồn lại phụ thuộc vào những đặc điểm riêng của chúng Cụ thể là:

- Đối với nguồn vốn ngân sách: qui mô, tốc độ tăng giảm của chúng phụ thuộc lớn vào việc thu - chi ngân sách nhà nước Đến lượt mình, ngân sách nhà nước lại phụ thuộc vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, ở chính sách thu và chính sách chi của nhà nước

- Đối với nguồn vốn của doanh nghiệp: khả năng cung ứng của nguồn này phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, ở chính sách thu của nhà nước, chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp Ở công ty cổ

Trang 39

phần, chính sách phân phối lợi nhuận của công ty thể hiện ở lợi tức cổ phần của công ty do Đại hội đồng cổ đông quyết định Đối với doanh nghiệp nhà nước, chính sách phân phối lợi nhuận do nhà nước qui định

- Đối với nguồn tín dụng: khả năng cung ứng vốn phụ thuộc vào chính sách lãi suất, chính sách thuế, cơ chế huy động, cho vay và xử lý rủi ro của nhà nước

- Đối với nguồn vốn của dân cư: khả năng cung ứng phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, tập quán và xu hướng tiêu dùng, chính sách động viên của nhà nước Trong trường hợp thu nhập của dân cư cao (tính trên GDP), đời sống của họ ổn định và không ngừng tăng lên sẽ tăng tỷ lệ tích lũy vốn Phần tích lũy đó có thể đem đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh hoặc cho Chính phủ vay thông qua việc mua tín phiếu, trái phiếu của chính phủ qua kho bạc của nhà nước, gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng v.v trong trường hợp thu nhập của dân cư thấp, việc huy động vốn cho đầu tư phát triển sẽ gặp khó khăn Bên cạnh đó, xu hướng và tập quán tiêu dùng của các tầng lớp dân cư ở mỗi vùng có sự khác nhau cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn Ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, việc tiếp xúc với kinh tế hàng hóa chậm tích lũy vốn của họ thấp, có chăng thể hiện ở phần tài sản (nhà cửa, ruộng vườn ), vàng bạc việc huy động vốn gặp khó khăn Trái lại, ở vùng đồng bằng, đô thị, khu công nghiệp lớn sẽ thuận lợi hơn trong việc huy động vốn

1.2.4 Chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến việc huy động vốn

Chính sách của nhà nước là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại trong quá trình huy động vốn Một chính sách đúng đắn, hợp lòng dân sẽ đem lại hiệu quả cao trong huy động vốn, thúc đẩy nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng phát triển và ngược lại, chính sách sai lầm, một cơ chế

gò bó, không phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,

Trang 40

không phù hợp với những qui ước và thông lệ quốc tế, trong điều kiện kinh tế

mở hiện nay sẽ rất khó khăn huy động vốn, thậm chí không thể huy động được vốn

Trên thực tế, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Do đó đã khơi dậy được sức người, sức của ở nông thôn đầu tư phát triển sản xuất Nhà nước chủ động dành nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho bản thân ngành nông nghiệp và các ngành trực tiếp phục vụ phát triển nông nghiệp Đồng thời, Nhà nước còn tạo ra những cơ hội, biện pháp cụ thể (thông qua chính sách lãi suất, chính sách giá cả, chính sách đầu tư, chính sách ruộng đất ) nhằm đẩy mạnh việc huy động vốn trong và ngoài nước đầu tư phát triển nông nghiệp Nhờ đó, nông nghiệp nước ta nhiều năm qua đã tăng trưởng và phát triển, đời sống nhân dân ổn định, tạo môi trường, điều kiện cho ổn định tình hình chính trị - xã hội

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC TẠO VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

Lý luận và thực tiễn của các nước chỉ ra rằng, vốn là chìa khóa để phát triển nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên, trong điều kiện

cụ thể của mình, mỗi nước đều có cách thức khai thác, huy động riêng để có vốn đầu tư vào phát triển nông nghiệp Dưới đây là một số cách thức cụ thể:

- Tạo vốn thông qua nguồn ngân sách nhà nước, ở Đài Loan - Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản trong giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã lấy nông nghiệp làm cơ sở để tích lũy vốn Vì vậy, chiến lược của họ là tăng cường đầu tư vốn ngân sách nhà nước để phát triển nông nghiệp Chẳng hạn, ở Đài Loan, từ 1951 - 1955, vốn ngân sách nhà nước đầu

tư cho phát triển nông nghiệp chiếm 14% GDP và 78,4% tổng số vốn đầu tư trong nông nghiệp Vì vậy, sản xuất nông nghiệp của Đài Loan tăng trưởng

Ngày đăng: 21/11/2014, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Tuấn Anh, Chiến lược huy động và sử dụng vốn, tập 1 - Những giải pháp huy động vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược huy động và sử dụng vốn", tập 1 - "Những giải pháp huy động vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
[3]. Báo cáo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến năm của thành phố Hà Nội 2010; và Báo cáo tổng hợp, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020 Định hướng đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo cáo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến năm của thành phố Hà Nội 2010; và "B
[6]. Báo cáo kinh tế của Ngân hàng thế giới: Việt Nam chuẩn bị cất cánh? Làm thế nào Việt Nam có thể tham gia toàn diện vào quá trình phục hồi của Đông Á - Hà Nội, tháng 12/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam chuẩn bị cất cánh? "Làm thế nào Việt Nam có thể tham gia toàn diện vào quá trình phục hồi của Đông Á - Hà Nội
[7]. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Chương trình phân tích và lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phân tích và lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa
[8]. Bùi Thị Xô, Định hướng phát triển cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hà Nội. Thông tin nông nghiệp Thủ đô, số 1/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hà Nội
[9]. Cải cách triệt để Ngân hàng - Tài chính. Thời báo Kinh tế Việt Nam, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ải cách triệt để Ngân hàng - Tài chính
[10]. Chu Văn Cấp, Khuyến khích đầu tư trong nước. Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến khích đầu tư trong nước
[12]. Trần Mai Chi, Công nghiệp hóa dựa trên cơ sở hy sinh nông nghiệp - Những bài học kinh nghiệm rút ra từ Đài Loan và Hàn Quốc. Tạp chí Kinh tế nông nghiệp, số 6/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa dựa trên cơ sở hy sinh nông nghiệp - Những bài học kinh nghiệm rút ra từ Đài Loan và Hàn Quốc
[13]. Trần Văn Chử (chủ biên), Kinh tế học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[14]. Nguyễn Sinh Cúc và TS Nguyễn Văn Tiêm, Đầu tư trong nông nghiệp - Thực trạng và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trong nông nghiệp - Thực trạng và triển vọng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[15]. Các giải pháp tài chính khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Tạp chí Tài chính 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tài chính khuyến khích tăng trưởng kinh tế
[16]. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của thành phố Hà Nội: Thành tựu - vấn đề nảy sinh và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của thành phố Hà Nội: Thành tựu - vấn đề nảy sinh và giải pháp
[19]. ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành TW, khóa VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội ,1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[20]. ĐCSVN: Dự thảo văn kiện Hội nghị TW 7, khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo văn kiện Hội nghị TW 7
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[21]. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[22]. ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[23]. ĐCSVN: Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[24]. Định hướng chính sách tài chính Thủ đô, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế tháng 4/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chính sách tài chính Thủ đô
[25]. Tín dụng ở các nước đang phát triển và những bài học cho nước ta, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng ở các nước đang phát triển và những bài học cho nước ta
[26]. Nguyễn Điền, (chủ biên), Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Tăng trưởng Nông, Lâm, Thuỷ sản - Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Hình 3.1. Tăng trưởng Nông, Lâm, Thuỷ sản (Trang 57)
Hình 3.2: Một số chỉ tiêu về Thuỷ sản - Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Hình 3.2 Một số chỉ tiêu về Thuỷ sản (Trang 62)
Hình 3.4. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát - Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Hình 3.4. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát (Trang 70)
Hình 3.5. Sản phẩm trang trại và giá trị hàng hoá hàng năm - Huy động vốn để phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Hình 3.5. Sản phẩm trang trại và giá trị hàng hoá hàng năm (Trang 79)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w