1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ

110 516 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Nghị quyết của Đảng ta tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán về phát triển KCN, khu chế xuất; khẳng định vai trò của KCN, khu chế xuất

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN CÔNG

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được

sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả Luận văn

Nguyễn Xuân Tường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn này, ngoài những cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của Ban lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Khoa Sau Đại học, BQL (BQL) các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Phú Thọ và các Sở, Ban ngành của tỉnh Phú Thọ Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của các thầy cô Khoa Sau Đại học Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc tới Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Văn Công, người đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn BQL các KCN tỉnh Phú Thọ, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ, Huyện ủy Thanh Thủy và các Sở, Ban ngành của tỉnh Phú Thọ đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi học tập và thực hiện luận văn này

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, đồng nghiệp, bạn

bè Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu đó

Một lần nữa, tôi xin được trân trọng cảm ơn và chúc sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt tới tất cả mọi người!

Tác giả Luận văn

Nguyễn Xuân Tường

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5

5 Bố cục của bản luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 7

1.1 Quản lý và tổ chức bộ máy Ban quản lý các khu công nghiệp 7

1.1.1 Quản lý và tổ chức bộ máy quản lý 7

1.1.2 Khu công nghiệp và Ban quản lý các khu công nghiệp 15

1.1.2.1 Khu công nghiệp và vai trò của các khu công nghiệp 15

1.1.2.2 BQL các khu công nghiệp 20

1.2 Thực trạng tổ chức bố máy ban quản lý các khu công nghiệp của một số nước trên thế giới và các tỉnh bạn và bài học kinh nghiệm rút ra cho Phú Thọ 23

1.2.1 Thực trạng tổ chức ban quản lý các khu công nghiệp của một số nước trên thế giới và các tỉnh bạn 23

1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Phú Thọ về tổ chức bộ máy BQL các KCN 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 35

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 35

Trang 5

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37

2.4 Quá trình điều tra và thu thập dữ liệu 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ 41

3.1 Tổng quan về tỉnh Phú Thọ và các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ 41

3.1.1 Tổng quan về tỉnh Phú Thọ 41

3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ 46

3.2 Thực trạng tổ chức bộ máy Ban Quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ 50

3.2.1 Đặc điểm các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ có ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp 50

3.2.2 Thực trạng mô hình tổ chức bộ máy Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ hiện nay 52

3.2.2.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BQL 52

3.2.2.2 TC bộ máy BQL 56

3.2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban 58

3.3 Đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ tác động đến hiệu quả hoạt động của khu công nghiệp 64

3.3.1 Thành tựu đạt được 64

3.3.2 Tồn tại và nguyên nhân tồn tại 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ 72

4.1 Mục tiêu và cơ sở hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ 72

4.1.1 Mục tiêu hoàn thiện 72

4.1.2 Cơ sở hoàn thiện 73

4.2 Giải pháp hoàn thiện TC bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ 75

4.2.1 Phân định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý 75

Trang 6

4.2.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Ban 79

4.2.3 Phân công trách nhiệm trong Ban Lãnh đạo 82

4.2.4 Tổ chức lại các bộ phận chức năng và các đơn vị trực thuộc 83

4.3 Điều kiện, qui trình và những khó khăn trong quá trình thực hiện các giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp Phú Thọ 90

4.3.1 Điều kiện thực hiện 90

4.3.1.1 Về phía BQL các KCN tỉnh Phú Thọ 90

4.3.1.2 Về phía các cơ quan quản lý nhà nước 92

4.3.2 Qui trình thực hiện giải pháp hoàn thiện 93

4.3.3 Những khó khăn trong quá trình thực hiện giải pháp hoàn thiện 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 101

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các KCN toàn quốc 18

Bảng 1.2: Số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư vào các KCN 19

Bảng 3.1: Danh mục các KCN tỉnh Phú Thọ 48

Bảng 3.2: Vị trí các KCN tỉnh Phú Thọ 51

Hình 1.1: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Bình Dương 27

Hình 1.2: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Thái Bình 30

Hình 1.3: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Hà Nam 31

Hình 3.1: Bản đồ qui hoạch phát triển giao thông tỉnh Phú Thọ 43

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ năm 2015 46

Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ 47

Hình 3.4: Số lượng dự án và nguồn vốn FDI vào các KCN Phú Thọ 49

Hình 3.5: Cơ cấu doanh nghiệp đã đi vào hoạt động theo ngành 50

Hình 3.6: Bản đồ quy hoạch phát triển các KCN Phú Thọ đến 2020 51

Hình 3.7: Sơ đồ cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ 57

Hình 4.1: Sơ đồ hoàn thiện cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ 81

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Phát triển KCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển công nghiệp, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các Nghị quyết của Đảng ta tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán về phát triển KCN, khu chế xuất; khẳng định vai trò của KCN, khu chế xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu

đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Phát triển các KCN còn là một trong những phương hướng quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực để phát triển công nghiệp, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Các KCN ở Việt Nam ra đời cùng với đường lối đổi mới mở cửa do đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định

“Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cho người lao động Chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành, nội thị, gần khu đông dân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường vào các KCN tập trung hoặc các vùng ít dân cư…”[15]

Tại Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI mới đây cũng đã định hướng trong thời gian tới là “Cơ cấu lại sản xuất công nghiệp cả về ngành kinh

tế kỹ thuật, vùng và giá trị mới… Phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các

tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và hiệu quả cao; hoàn thành việc xây dựng các khu công nghệ cao và triển khai xây dựng một số khu nghiên cứu cải tiến kỹ thuật và đổi mới công nghệ Thực hiện phân bố công nghiệp hợp lý trên toàn lãnh thổ để đảm bảo phát triển cân đối, hiệu quả giữa các vùng ” [16]

Qua 20 năm hình thành và phát triển, hệ thống các KCN và KKT ở Việt Nam

đã có những bước phát triển mạnh mẽ Tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, khu

Trang 10

chế xuất đã thu hút được 4.681 dự án trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 420 nghìn tỷ đồng và 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD Tổng vốn đầu tư trong và ngoài nước vào KCN tương đương 80 tỷ USD; Tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN đang vận hành khoảng 30.000 ha, trong đó đã cho thuê được 19.300 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 65% [3]

Tại các địa phương đã hoàn thành việc xây dựng KCN, khu chế xuất, kết cấu

hạ tầng trong và ngoài KCN, khu chế xuất được đầu tư đồng bộ và hiện đại đã góp phần đáng kể hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thay đổi diện mạo của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh thu hút đầu

tư vào KCN, khu chế xuất

Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 276 KCN với tổng diện tích gần 32.000 ha, sau một thời gian thực hiện quyết định, một số KCN đã thành lập và một số KCN đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển KCN đến năm

2020, số KCN quy hoạch thành lập đến năm 2020 là 209 KCN với tổng diện tích 64.310 ha

Thực tế quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KKT Việt Nam trong gần 20 năm đã qua cho ta thấy những đóng góp quan trọng của KCN, KKT trong thu hút đầu

tư, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động các địa phương trên cả nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các KCN

và KKT đã thu hút được rất nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới vào đầu tư Những đóng góp tích cực của KCN, KKT vào phát triển kinh tế, xã hội gần 20 năm qua đã khẳng định đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển các KCN, KKT

Phú Thọ là một tỉnh nghèo, một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam và giữ

vị trí địa lý trung tâm của vùng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, cầu nối vùng Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, là tỉnh có truyền thống về phát triển công nghiệp với trung tâm công nghiệp Việt Trì được

Trang 11

thành lập từ những năm 60 của thế kỷ trước Nhằm đưa Phú Thọ trở thành trung tâm phía Tây Bắc về kinh tế, xã hội và công nghiệp của đất nước, tại Đại hội Đảng

bộ tỉnh lần thứ XVII đã xác định rõ mục tiêu: “Chủ động nắm thời cơ tranh thủ xây dựng các dự án đầu tư để phát triển những cơ sở sản xuất công nghiệp mới, hình thành KCN tập trung và đầu tư cơ sở hạ tầng vào khu vực này để thu hút, đón nhận

đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước" [14]

Từ chủ trương trên, trong những năm qua Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo các ngành xây dựng quy hoạch các KCN tập trung phù hợp với các điều kiện thực tế của địa phương, đồng thời Tỉnh cũng ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm kêu gọi và thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh

Theo báo cáo của BQL các KCN tỉnh Phú Thọ đến hết năm 2011 toàn tỉnh

đã có 7 KCN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào danh mục các KCN tập trung đến năm 2015, định hướng 2020 với tổng diện tích 2800ha Hiện nay có 02 KCN đã xây dựng xong hạ tầng và đi vào hoạt động với 87 dự án đầu tư trong và ngoài nước, tổng vốn đăng ký 11.200 tỷ đồng [12]

Từ khi các KCN trên địa bàn tỉnh đi vào hoạt động đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Các doanh nghiệp trong KCN nhìn chung đều làm ăn hiệu quả và đóng góp một tỷ trọng đáng kể cho ngân sách tỉnh Tuy nhiên, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, đưa các KCN vào hoạt động và thu hút đầu tư vào các KCN còn hạn chế, một phần do công tác tổ chức (TC) quản lý KCN còn nhiều bất cập Phú Thọ là địa phương không thật sự thuận lợi trong lĩnh vực thu hút đầu tư (xa Thủ đô Hà Nội, hạ tầng giao thông, điện, nước kém), mục tiêu thu hút đầu tư trong những ngày đầu thành lập là lấp đầy, nên tính hiệu quả không cao, bộ máy làm việc của BQL các KCN cũng được vận hành theo mục tiêu này nên thiếu sự năng động Hiện nay, cùng với sự phát triển nền kinh tế xã hội của tỉnh cả về chất

và lượng, mục tiêu thu hút đầu tư mang tính hiệu quả với những lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao ngày càng được chú trọng Các chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước được hoàn thiện theo hướng chặt chẽ hơn và tăng cường sự chủ động của các địa phương Vì vậy TC bộ máy làm việc của BQL các KCN không còn phù hợp

Trang 12

nữa mà cần phải thay đổi cho hoàn thiện hơn để đáp ứng với tình hình hiện nay Việc hoàn thiện TC bộ máy của BQL các KCN để đáp ứng yêu cầu quản lý, phát huy vai trò của các KCN trên địa bàn tỉnh có ý nghĩa rất quan trọng

Từ những vấn đề trên cho thấy với TC bộ máy làm việc hiện nay của BQL các KCN tỉnh Phú Thọ không thể đáp ứng được nhiệm vụ, mà cần phải có một bộ máy TC

đủ mạnh và phù hợp mới có thể đáp ứng được, đây chính là lý do để chọn đề tài: "Hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ"

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là tìm ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các KCN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Từ mục tiêu cơ bản đó, các mục tiêu nghiên cứu chính được xác định là:

- Làm rõ bản chất và vai trò của TC bộ máy BQL các KCN;

- Phân tích và đánh giá thực trạng TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ nhằm khẳng định những thành công và hạn chế về TC bộ máy BQL các KCN của tỉnh Phú Thọ;

- Đề xuất các giải pháp cơ bản để hoàn thiện TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cua BQL nói riêng và hiệu quả hoạt động của các KCN tỉnh Phú Thọ nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ Với đối tượng này, đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản và tiến hành khảo sát thực trạng tại BQL các KCN tỉnh Phú Thọ Từ đó, luận văn hướng tới việc nghiên cứu các giải pháp và điều kiện cần thiết nhằm hoàn thiện TC bộ máy BQL các KCN Phú Thọ, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển của các KCN nói riêng và nền kinh tế của tỉnh Phú Thọ nói chung

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề TC bộ máy của BQL các KCN

Trang 13

tỉnh Phú Thọ gồm ban lãnh đạo, các phòng ban chuyên môn và các đơn vị trực thuộc, không xem xét đến tình hình hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp trong các KCN Cụ thể là:

+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến TC

bộ máy quản lý như cơ cấu TC bộ máy quản lý, mô hình TC bộ máy quản lý, mục tiêu,

cơ sở và giải pháp hoàn thiện TC bộ máy BQL các KCN Phú thọ

+ Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động và TC

bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ trong khoảng thời gian 5 năm (từ 2007 đến

2011) để đưa ra giải pháp TC cho phù hợp, định hướng tới năm 2020

+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng TC bộ máy BQL

các KCN tỉnh Phú Thọ

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về TC bộ máy nói chung và TC bộ máy BQL các KCN nói riêng;

- Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tới TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ;

- Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới nhằm đáp ứng kịp thời với sự phát triển các KCN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020

5 Bố cục của bản luận văn

Ngoài phần danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn chia làm các phần và chương sau:

- Phần mở đầu: Trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài, bố cục của luận văn

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp

Trang 14

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu về tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu

công nghiệp tỉnh Phú Thọ

- Chương 4: Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ

- Phần kết luận

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY

BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 Quản lý và tổ chức bộ máy Ban quản lý các khu công nghiệp

1.1.1 Quản lý và tổ chức bộ máy quản lý

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các biện pháp kinh tế, xã hội và các biện pháp khác để tạo ra các biện pháp thuận lợi nhất thực hiện mục tiêu đề ra trước đó Thực chất của quản lý là sự tác động tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của

TC trong điều kiện môi trường biến đổi

TC thường được hiểu như là tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được những mục đích chung Một

TC thường có những đặc điểm là:

+ Mọi TC đều mang tính mục đích Đây là yếu tố cơ bản nhất của bất kỳ TC nào Mặc dù mục đích của các TC khác nhau có thể khác nhau nhưng không có mục đích thì TC sẽ không có lý do để tồn tại

+ Mọi TC đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt được mục đích Thiếu kế hoạch nhằm xác định những điều cần phải làm để thực hiện mục đích, không TC nào có thể tồn tại và phát triển hiệu quả

+ Mọi TC đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các TC khác và đều cần những nhà quản trị, chịu trách nhiệm liên kết, phối hợp những con người bên trong và bên ngoài TC cùng những nguồn lực khác để đạt mục đích với hiệu quả cao

Cơ cấu TC là hình thức tồn tại của TC, biểu thị sự sắp đặt theo một trật tự nào đó của các bộ phận trong TC cùng các mối quan hệ giữa chúng

Bộ máy quản lý là một TC con trong một TC, là cơ quan điều khiển hoạt động của toàn bộ TC Bộ máy quản lý bao gồm: một tập thể người lao động cùng

Trang 16

với các phương tiện quản lý được liên kết theo một số nguyên tắc, quy tắc nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định

Cơ cấu TC bộ máy quản lý là một chỉnh thể hợp thành của các bộ phận khác nhau, có mối quan hệ hữu cơ và phục thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá có nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, được bố trí theo các khâu, các cấp đảm bảo chức năng quản trị nhằm mục đích chung đã xác định của hệ thống Cơ cấu TC bộ máy quản lý là hình thức phân công lao động trong lĩnh vực quản lý Nó có tác động đến quá trình hoạt động của toàn bộ hệ thống Nó một mặt phản ánh cơ cấu sản xuất, mặt khác tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất Trong cơ cấu TC có các cấp quản lý Các cấp quản lý này phản ánh sự phân chia chức năng quản lý theo chiều dọc (trực tuyến) thể hiện sự tập trung hoá trong quản lý; các bộ phận, phòng ban thể hiện sự phân chia chức năng quản lý theo chiều ngang, biểu thị sự chuyên môn hoá trong phân công lao động quản lý

TC bộ máy quản lý phải quán triệt các nguyên tắc sau:

- Gắn với phương hướng, mục đích của hệ thống:

Phương hướng, mục đích của hệ thống quy định cách thức TC bộ máy quản

lý của hệ thống, quy định các bộ phận hợp thành trong TC của hệ thống Chính vì thế TC bộ máy quản lý phải gắn với mục tiêu và phương hướng hoạt động của hệ thống Có gắn với mục tiêu và phương hướng thì bộ máy quản lý hoạt động mới hiệu quả

- Chuyên môn hoá và cân đối:

TC bộ máy quản lý phải xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ của các

bộ phận trong hệ thống và phải đảm bảo sự cân đối, loại trừ những chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, trùng lặp, thiếu người chịu trách nhiệm rõ ràng Mặt khác số lượng các cấp quản lý phải hợp lý để phù hợp với thực tế

- Linh hoạt và thích nghi với môi trường:

TC bộ máy quản lý không được bảo thủ, trì trệ, quan liêu mà luôn phải linh hoạt, thích ứng với những thay đổi hay biến động của các yếu tố tác động Tuy nhiên cần phải hiểu đúng sự thay đổi ở đây không phải là thay đổi toàn bộ mà đó

Trang 17

chỉ là những biến đổi nhỏ trong cơ cấu để thích nghi với môi trường mới, để không

bị môi trường đào thải Sự linh hoạt được thể hiện trong việc thiết kế các bộ phận phù hợp với ít đầu mối trung gian, số lượng cấp quản lý phù hợp và đảm bảo cho mỗi bộ phận một mức độ tự do sáng tạo để đạt được hiệu quả cao nhất và phát triển được tài năng của cán bộ, công nhân viên chức trong từng bộ phận

Nói như vậy không có nghĩa là cơ cấu TC chịu sự chi phối của môi trường

mà trong một chừng mực của sự thay đổi nó tác động vào môi trường theo những hướng nhất định phù hợp với mục đích của mình

- Bảo đảm tính hiệu quả quản lý:

Hiệu quả và hiệu lực luôn là mục đích và mục tiêu tiến tới của bất kỳ TC nào Mỗi TC luôn đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định để đạt tới Vì thế TC

bộ máy quản lý phải:

+ Tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất ở cấp cao nhất, phát huy được tính tích cực của các cơ quan quản lý ở các cấp, khiến cho họ tận tâm tận lực với công việc và phối hợp chặt chẽ với nhau trong công việc Dựa trên nguyên tắc nâng cao hiệu quả quản lý để xác định biên chế TC và chế độ quản lý Đảm bảo phối hợp giữa các cấp một cách tốt nhất và phân công hợp lý để mỗi bộ phận, mỗi công việc đều có người phụ trách

+ Gắn các cấp quản lý thành một "dây xích", trách nhiệm, quyền hạn giữa các bộ phận, các cấp rõ ràng, gắn bó với nhau Mỗi cấp chỉ có một người ra lệnh, tránh mâu thuẫn, làm tổn hao công sức và phải tăng cường sự hợp tác trong TC

+ Gọn nhẹ, phải có định biên rõ ràng, TC công việc và biện pháp kiểm tra

Trang 18

- Bảo đảm tính mục đích:

Mọi TC đều có một mục đích nhất định, rõ ràng Tuỳ từng TC khác nhau mà mục đích cũng khác nhau nhưng trong mọi TC thì mục đích hoạt động luôn được xác định một cách rõ ràng

- Tính thích ứng và chỉnh thể:

Nguyên tắc này đòi hỏi TC phải thích ứng với môi trường, bao gồm cả môi trường bên trong và bên ngoài Đồng thời, TC phải bảo đảm tính chỉnh thể, nghĩa là các yếu tố TC kết hợp với nhau một cách hữu cơ, phát huy hiệu quả của một chỉnh thể, đó không phải là dàn trải hoặc cộng lại một cách giản đơn

Để đảm bảo được nguyên tắc trên, cơ cấu TC cần phải: Tăng cường được mối liên hệ dọc và ngang, mỗi bộ phận trong TC vừa phải phục tùng sự lãnh đạo thống nhất vừa phải có tính linh hoạt, chủ động, tích cực để đạt được hiệu quả của chỉnh thể Sự phục tùng thể hiện sự chấp hành nội quy, quy định từ trên đưa xuống tạo nên một chỉnh thể thống nhất Tuy nhiên sự phục tùng trên cơ sở sự linh hoạt bởi lẽ không phải lúc nào mọi sự vật cũng như nhau mà luôn biến động, vì thế trong quá trình áp dụng các bộ phận cần có sự linh hoạt để đạt hiệu quả cao hơn

Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu TC phải bảo đảm những yêu cầu sau: + Tính mục tiêu: Một cấu TC được coi là có kết quả nếu thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để thực hiện các mục tiêu của TC

+ Tính tối ưu: Trong cơ cấu TC có đầy đủ các phân hệ, bộ phận và con người (không thừa mà cũng không thiếu) để thực hiện các hoạt động cần thiết Giữa các bộ phận và cấp TC đều thiết lập được những mối quan hệ hợp lý với số cấp nhỏ nhất

+ Tính tin cậy: Cơ cấu TC phải đảm bảo tính chính xác, kịp thời, đầy đủ của tất cả thông tin được sử dụng trong TC, nhờ đó đảm bảo phối hợp tốt các hoạt động

và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong TC

+ Tính linh hoạt: Được coi là một hệ tĩnh cơ cấu TC phải có khả năng thích ứng linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong TC cũng như ngoài môi trường

+ Tính hiệu quả: Cơ cấu TC phải đảm bảo thực hiện những mục tiêu của TC với chi phí thấp nhất

TC bộ máy quản lý có thể theo mô hình TC cơ cấu trực tuyến, cơ cấu chức năng, cơ cấu trực tuyến - chức năng

Trang 19

+ Cơ cấu trực tuyến:

Mô hình cơ cấu trực tuyến là mô hình TC quản lý mà trong đó, nhà quản trị

ra quyết định và giám sát trực tiếp đối với cấp dưới và ngược lại, mỗi người cấp dưới chỉ nhận sự điều hành và chịu trách nhiệm trước một người lãnh đạo trực tiếp cấp trên

Mô hình này có đặc điểm là mối quan hệ giữa các thành viên trong TC bộ máy được thực hiện theo trực tuyến Người thừa hành chỉ nhận mệnh lệnh từ một người phụ trách trực tiếp Là một mắt xích trong dây chuyền chỉ huy, mỗi nhà quản trị với quyền hạn trực tuyến có quyền ra quyết định cho cấp dưới trực tiếp và nhận

sự báo cáo của họ

Trong thực tế, trực tuyến còn được dùng để chỉ các bộ phận có mối quan hệ trực tiếp với việc thực hiện các mục tiêu của TC như bộ phận thiết kế sản phẩm và dịch vụ, sản xuất và phân phối sản phẩm Người đứng đầu bộ phận trực tuyến được gọi là nhà quản trị trực tuyến hay quản trị tác nghiệp

Cơ trực tuyến có ưu điểm là tạo thuận lợi cho việc áp dụng chế độ thủ trưởng, tập trung, thống nhất, làm cho TC nhanh nhạy linh hoạt với sự thay đổi của môi trường và có chi phí quản lý thấp Mặt khác theo cơ cấu này những người chịu

sự lãnh đạo rất dễ thực hiện mệnh lệnh vì có sự thống nhất trong mệnh lệnh phát ra Tuy nhiên cơ cấu theo trực tuyến lại hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình

độ nghiệp vụ cao về từng mặt quản lý và đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện để chỉ đạo tất cả các bộ phận quản lý chuyên môn nhưng trong thực tế thì khả năng của con người có hạn nên những quyết định đưa ra mang tính rủi ro cao

Do đó cơ cấu này thường được áp dụng cho các đơn vị có quy mô nhỏ và việc quản

lý không quá phức tạp

+ Cơ cấu chức năng:

TC theo mô hình cơ cấu chức năng là TC mà trong đó, từng chức năng quản

lý được tách riêng do một bộ phận, một cơ quan đảm nhận Cơ cấu này có đặc điểm

là những nhân viên chức năng phải là người am hiểu chuyên môn và thành thạo nghiệp vụ trong phạm vi quản lý của mình

Trang 20

Ưu điểm của cơ cấu chức năng là thực hiện chuyên môn hoá các chức năng quản lý, thu hút được các chuyên gia có kiến thức sâu về nghiệp vụ chuyên môn vào công tác quản lý, tránh được sự bố trí chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận Thúc đẩy sự chuyên môn hoá kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao chất lượng và

kỹ năng giải quyết vấn đề, các quyết định đưa ra có độ rủi ro thấp hơn so với cơ cấu trực tuyến Tuy nhiên cơ cấu theo chức năng làm cho cấp dưới phải phục tùng nhiều đầu mối chỉ đạo khác nhau của cùng một cơ quan quản lý cấp trên do đó làm suy yếu chế độ một thủ trưởng, các nhà quản lý trở thành các chuyên gia trong lĩnh vực hẹp và có xu hướng tập trung vào mục tiêu cục bộ của phòng ban của họ hơn là các mục tiêu phối hợp chung của TC Một điều đáng lo ngại của cấu trúc này là cấu trúc phòng ban nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa các phòng ban Vì vậy cấu trúc theo phòng ban chức năng có xu hướng phát sinh xung đột nội bộ cao hơn và sự phối hợp giữa các phòng ban kém hơn đòi hỏi phải tăng cường việc kiểm soát và phối hợp hoạt động

+ Cơ cấu trực tuyến - tham mưu:

Cơ cấu này có đặc điểm là người lãnh đạo ra mệnh lệnh và chịu hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình, khi gặp các vấn đề phức tạp người lãnh đạo phải tham khảo ý kiến của các chuyên gia ở bộ phận tham mưu giúp việc

Cơ cấu này cho phép người lãnh đạo tận dụng được những tài năng, chuyên môn của các chuyên gia, giảm bớt sự phức tạp của cơ cấu TC nhưng nó đòi hỏi người lãnh đạo phải tìm và tuyển chọn được những chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực và đương nhiên chi phí để chọn được những chuyên gia này là rất lớn

+ Cơ cấu ma trận:

Cơ cấu ma trận là kiểu cơ cấu TC quản lý hiệu quả, hiện đại Cơ cấu này được xây dựng bằng cách kết hợp cơ cấu trực tuyến và chương trình - mục tiêu Việc quản lý theo từng lĩnh vực hoạt động của TC: Nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, sản xuất, cung ứng được xây dựng phù hợp với cơ cấu trực tuyến Việc quản lý các chương trình được TC phù hợp với cơ cấu chương trình - mục tiêu Trong cơ cấu này, các cán bộ quản trị theo chức năng và theo sản phẩm đều có vị

Trang 21

thế ngang nhau Họ chịu trách nhiệm báo cáo cho cùng một cấp lãnh đạo và có thẩm quyền ra quyết định thuộc lĩnh vực mà họ phụ trách

Cấu trúc ma trận thường lạc quan về việc sử dụng các nguồn lực và khả năng chuyên môn, khiến chúng trở nên lý tưởng cho các TC sử dụng cấu trúc trên cơ sở

dự án với khối lượng công việc linh động Khi được quản lý tốt hình thức cấu trúc này cải thiện hiệu quả của sự truyền đạt thông tin, tính linh hoạt của dự án và sự đổi mới so với cấu trúc chức năng và cấu trúc theo khu vực đơn thuần Cấu trúc ma trận tập trung các chuyên gia chuyên môn vào các mục tiêu

Bên cạnh ưu điểm, cấu trúc ma trận có một số nhược điểm như: Nó đòi hỏi

sự phối hợp nhiều hơn cấu trúc theo phòng ban chức năng hay các cấu trúc theo khu vực đơn thuần Cấu trúc ma trận cũng có xu hướng tạo ra các xung đột, chính trị của

TC và sự căng thẳng Sức ép là một trong những triệu chứng của cấu trúc ma trận được quản lý kém bởi vì người lao động phải đối mặt với hai người quản lý với nhu cầu và kỳ vọng có khả năng khác nhau

+ Cơ cấu theo nhóm:

Cấu trúc trên cơ sở nhóm có một số đặc điểm đặc trưng so với các hình thức

TC khác Thứ nhất, nó sử dụng các nhóm làm việc tự định hướng là các cá nhân với vai trò như các khối cơ bản của TC Thứ hai, các nhóm thường được TC theo các quy trình làm việc Đặc điểm thứ ba của cấu trúc TC theo cơ sở nhóm là TC có hệ thống cấp bậc rất gọn nhẹ, thông thường có không quá hai hoặc ba cấp quản lý Cuối cùng hình thức TC này có rất ít hình thức hóa Hầu hết tất cả các quyết định hàng ngày được đưa ra bởi các thành viên của nhóm mà không phải là ai đó ở trên theo cấp bậc của TC Các nhóm được giao tương đối ít các nguyên tắc/ quy định về cách TC công việc của họ Thay vào đó, nhóm điều hành thường giao cho các nhóm các mục tiêu đầu ra Các nhóm sau đó được khuyến khích sử dụng các nguồn lực sẵn

có và sáng kiến của riêng họ để đạt được những mục tiêu này Cấu trúc trên cơ sở nhóm thường thấy trong các hoạt động sản xuất của các cấu trúc khu vực lớn hơn

TC trên cơ sở nhóm được coi là một hình thức TC ngày càng phổ biến bởi vì

nó thường dễ thích ứng và linh hoạt hơn Các nhóm trao quyền cho nhân viên và

Trang 22

giảm sự phụ thuộc vào cấp bậc quản lý, do đó giảm chi phí Với sự tự chủ lớn hơn, cấu trúc này cũng cho phép ra quyết định nhanh chóng và kịp thời hơn

Tuy nhiên, cấu trúc nhóm có nhược điểm là có thể phải tốn chi phí để duy trì nhóm do nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng giữa các cá nhân với nhau Nhóm làm việc có khả năng mất nhiều thời gian để phối hợp hơn TC theo cấp bậc thông thường trong suốt các giai đoạn ban đầu khi hình thành nhóm Người lao động có thể phải chịu căng thẳng hơn do có nhiều mơ hồ về vai trò của họ Các trưởng nhóm cũng chịu nhiều căng thẳng hơn do sư sung đột gia tăng, việc mất quyền theo chức năng và các nấc thang thăng tiến sự nghiệp không rõ ràng

Tóm lại, cơ cấu TC đề cập tới sự phân chia lao động cũng như mô hình phối hợp, truyền đạt thông tin, lưu lượng công việc và quyền lực chính thức, định hướng cho hoạt động của TC Tất cả các cơ cấu TC phân chia lao động thành các nhóm có nhiệm

vụ riêng biệt và phối hợp lực lượng lao động đó để hoàn thành các mục tiêu chung

Các phương tiện cơ bản của phối hợp là giao tiếp không chính thức, hệ thống cấp bậc chính thức và tiêu chuẩn hóa Bốn yếu tố cơ bản của cơ cấu TC là mạng lưới kiểm soát, hình thức hóa, tập trung hóa và phòng ban hóa Đã có thời các học giả cho rằng nên có hệ thống nhiều cấp bậc với mạng lưới kiểm soát hẹp Ngày nay,

đa số các TC theo hướng tiếp cận ngược lại để phối hợp quy trình làm việc bởi vì họ dựa vào hình thức truyền đạt thông tin và tiêu chuẩn hóa không chính thức hơn là giám sát trực tiếp

Tập trung hóa có nghĩa là quyền quyết định chính thức được thực hiện bởi một nhóm nhỏ các thành viên, thông thường là những người điều hành cao cấp Một

cơ cấu theo phòng ban chức năng sắp xếp người lao động theo phạm vi kiến thức nhất định hoặc các nguồn khác Cơ cấu này hỗ trợ sự chuyên môn hóa cao hơn và cải thiện sự giám sát trực tiếp nhưng gây trở ngại với khả năng quản lý một cách tổng thể hoặc cản trở sự phối hợp giữa các phòng ban Cơ cấu ma trận kết hợp hai loại cơ cấu để điều tiết lợi ích của cả hai loại cấu trúc Tuy nhiên, hướng tiếp nhận này yêu cầu có sự phối hợp nhiều hơn các cơ cấu theo chức năng hoặc khu vực đơn thuần, có thể làm giảm trách nhiệm giải trình và tăng xung đột Các cấu trúc trên cơ

Trang 23

sở nhóm rất gọn nhẹ với hình thức hóa thấp, TC các nhóm tự định hướng theo quy trình công việc hơn là khả năng chuyên môn

Cơ cấu TC tốt nhất phụ thuộc vào quy mô, công nghệ và môi trường của đơn

vị mình Nhìn chung, các TC lớn hơn được phân quyền và hình thức hóa cao hơn với sự chuyên môn hóa cao hơn và cơ cấu phối hợp hoạt động phức tạp hơn Công nghệ của nhóm làm việc bao gồm đủ loại công việc và khả năng phân tích vấn đề - ảnh hưởng tới quyết định áp dụng một bộ máy TC Hình thức TC thích hợp nhất cũng phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài gồm sự năng động, tính phức tạp, sự đa dạng và thái độ không thân thiện

Mặc dù quy mô, công nghệ và môi trường ảnh hưởng tới cơ cấu TC tối ưu, các yếu tố này không nhất thiết quyết định cấu trúc của TC Đúng hơn, những người đứng đầu TC đưa ra và áp dụng chiến thuật để xác định và ảnh hưởng trở lại các điều kiện môi trường của họ Các chiến thuật này, chứ không phải là các yếu tố ngẫu nhiên khác, trực tiếp làm nên cơ cấu của TC

1.1.2 Khu công nghiệp và Ban quản lý các khu công nghiệp

1.1.2.1 Khu công nghiệp và vai trò của các khu công nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ quản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng lao KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế

kỷ XIX KCN đầu tiên được thành lập năm 1896 ở Manchester (Anh) và vùng công nghiệp Clearing Chicago (Mỹ) Năm 1940, Ý thành lập KCN tại Napoli Đến thập kỷ

1950 - 1960 ở Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1.000 KCN sau đó tăng lên 2.400 KCN vào năm 1970 Pháp có 230 vùng công nghiệp (năm 1930) và Canada có 21 vùng công nghiệp (năm 1965) Với Châu Á, KCN đầu tiên được thành lập ở Singapore vào năm 1951, Malaixia năm 1954, Ấn Độ năm 1955 Hiện nay ở khu vực Châu Á có khoảng 1.000 KCN đang hoạt động Ở Việt Nam, KCN đầu tiên được thành lập 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh đó là Khu chế xuất Tân Thuận

Quá trình phát triển KCN, khu chế xuất xuất hiện ngày càng nhiều dưới các hình thức khác nhau Các TC quốc tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều khái niệm như “ Khu mậu dịch tự do”, “ Đặc KKT” Ở Liên Xô cũ nhiều xí nghiệp liên

Trang 24

hợp, cụm công nghiệp lớn, trung tâm công nghiệp đã được xây dựng tập trung, mang sắc thái của KCN Trên thế giới khái nhiệm KCN, khu chế xuất có một số cách hiểu sau:

Tại Thái Lan, KCN tương tự như một thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh Mỗi KCN được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn hảo, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu dân cư dành cho công nhân

Đối với nước ta, KCN được đề cập đến lần đầu tiên khi Miền Bắc xây dựng khu gang thép Thái Nguyên; Miền Nam khi người Mỹ xây dựng KCN Biên Hoà Theo Luật đầu tư nước ngoài (1996), khái niệm về KCN được hiểu là: "Khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và

hoạt động xuất khẩu" [11]

Theo quy chế KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được quy định như sau: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp

và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất [4]

Khu chế xuất là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định thành lập

Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất

Như vậy, hiện nay có nhiều khái niệm định nghĩa KCN, khái quát lại có thể hiểu KCN theo 2 cách:

Thứ nhất: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công

Trang 25

nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, khu thương mại, văn phòng, nhà ở …

Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Batam (Indonesia ), công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu, KKT mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam

Thứ hai: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các doanh

nghiệp công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống Mô hình này được xây dựng ở một số nước Malaisia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam

Như vậy, KCN đều là một khu vực có ranh giới địa lý xác định, có những thuận lợi về tự nhiên xây dựng kết cấu hạ tầng, về xã hội và nhân văn để thu hút, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các dịch vụ có liên quan hoạt động theo một cơ chế, chính sách và cơ cấu nhất định nhằm đạt hiệu quả cho từng doanh nghiệp và cả cơ cấu doanh nghiệp trong KCN

Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam khuyến khích mọi thành phần kinh

tế đầu tư vào KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, - gọi chung là KCN

Theo Luật Đầu tư của Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm

2005 và theo Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất, KKT thì định nghĩa về các KCN, khu chế xuất, KKT như sau:

KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ

Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định của Chính phủ

KCN, khu chế xuất được gọi chung là KCN, trừ trường hợp quy định cụ thể KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ

Trang 26

KKT được TC thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, KCN, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng KKT [7]

KCN đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Thực tiễn phát triển KCN, khu chế xuất thời gian qua cho thấy, các KCN, khu chế xuất đã góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng sản lượng công nghiệp; góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; khai thác tốt nhất mọi nguồn lực và những lợi thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh và đẩy nhanh tốc độ phát triển chung của nền kinh tế Trong những năm qua, doanh thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN, khu chế xuất liên tục tăng nhanh đều qua các năm Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp trong KCN, khu chế xuất tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3 lần

tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của cả nước Giá trị xuất khẩu và tốc độ tăng

trưởng của các doanh nghiệp trong các KCN, khu chế xuất tăng trưởng mạnh, tốc

độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN, khu chế xuất giai đoạn từ năm 2005-2010 là 38,1%, cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước Năm 2005, các doanh nghiệp trong KCN, khu chế xuất đã nộp ngân sách đạt 650 triệu USD, đến năm 2011, các doanh nghiệp này đóng góp vào ngân sách nhà nước

đạt 4.200 triệu USD, cao gấp 6 lần so với năm 2005 (xem Bảng 1.1) [20]

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các KCN toàn quốc

Nguồn: Vụ quản lý các KKT - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tạo ra lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, thích ứng với nền công nghiệp hiện đại; đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý giỏi Đồng thời, KCN là nơi thu hút các lượng vốn đầu tư lớn phục vụ sự

Trang 27

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhờ có các KCN, khu chế xuất, cơ sở hạ tầng từng bước được hiện đại hóa, trình độ của đội ngũ lao động quản lý được nâng cao, giải quyết được công ăn, việc làm cho người lao động Mặt khác, phát triển KCN góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác sản xuất và mở rộng mối liên kết liên ngành, liên vùng

Hiện nay, các KCN đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 52 tỷ (chiếm 30% FDI cả nước), còn lại là vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn 30% giá trị công nghiệp của cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,5 triệu lao động trực tiếp

và hàng vạn lao động gián tiếp [3]

Bảng 1.2: Số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư vào các KCN

Số dự

án

Vốn đầu tư

Số dự

án

Vốn đầu tư

Nguồn: Vụ quản lý các KKT - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngoài ra, các KCN phát triển đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường ) Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ðó là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà nước; tạo công ăn việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng trình độ công nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh Các KCN thật sự là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hoạt động đầu tư trong KCN đã đem lại những hiệu thiết thực, dần khẳng định được vai trò trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Việc phát triển hệ thống các KCN, khu chế xuất cả về chất và lượng đã đặt ra một thực tế khách quan là cần phải có sự quản lý về thể chế nhà nước đủ mạnh, phù hợp với

Trang 28

từng giai đoạn phát triển để quản lý và định hướng trong lĩnh vực đầu tư tại các KCN, khu chế xuất

1.1.2.2 BQL các khu công nghiệp

Sau gần 20 năm phát triển các KCN trên địa bàn cả nước đã cho thấy vai trò

và tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, trước năm

1998 cả nước có chung một BQL các KCN Việt Nam trực thuộc Chính phủ, sau này

đã chuyển thành Vụ quản lý KCN, KKT thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các địa phương có KCN được Thủ tướng Chính phủ thành lập một BQL các KCN trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Tuy BQL các KCN của các tỉnh đã được thành lập nhưng cơ sở pháp lý về quản lý các KCN chưa được hoàn thiện Công tác quản lý Nhà nước về các KCN, khu chế xuất đầu tiên được qui định trong Nghị định 36/CP ban hành ngày 14 tháng

4 năm 1997 của Chính phủ, năm 2006 được thay thế bởi Nghị định

108/2006/NĐ-CP và đến Nghị định số 29/2008/NĐ-108/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 mới quy định

cụ thể về KCN, khu chế xuất, KKT Hiện nay công tác quản lý Nhà nước đối với KCN được qui định đầy đủ và chi tiết tại nghị định này Như vậy có thể hiểu BQL các KCN là cơ quan quản lý nhà nước, thay mặt cho chính quyền của một vùng lãnh thổ quản lý và điều hành mọi hoạt động trong lĩnh vực đầu tư của các TC kinh tế, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài lãnh thổ (bao gồm cả ở nước ngoài) tham gia đầu tư vào các KCN theo Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và dưới sự chi phối của hệ thống Luật của Việt Nam thuộc vùng lãnh thổ đó

BQL các KCN có vị trí, chức năng chính sau:

+ Là cơ quan trực thuộc cơ quan quyền lực cao nhất về chính quyền của vùng lãnh thổ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với các KCN trên địa bàn vùng lãnh thổ đó; quản lý và tổ chúc thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong các KCN trên địa bàn vùng lãnh thổ

+ BQL các KCN chịu sự chỉ đạo, quản lý về TC, biên chế, chương trình, kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của cơ quan chính quyền vùng lãnh thổ đó;

Trang 29

chịu sự chỉ đạo hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có liên quan và phối hợp cùng các cơ quan liên quan chuyên môn thuộc chính quyền vùng lãnh thổ trong công tác quản lý KCN

Với vai trò, vị trí, chức năng của BQL các KCN, BQL các KCN có TC bộ máy như sau:

1 Lãnh đạo Ban gồm: Trưởng ban và các Phó Trưởng ban

2 Các phòng chuyên môn nghiệp vụ gồm:

a Văn phòng,

b Phòng Quản lý Quy hoạch và Môi trường,

c Phòng Kế hoạch và Đầu tư,

d Phòng quản lý doanh nghiệp,

e Đại diện BQL tại các KCN

g Các đơn vị sự nghiệp kinh tế (Công ty Phát triển hạ tầng, Trung tâm xúc tiến đầu tư, Trường đào tạo nghề )

Tùy theo tình hình cụ thể tại các địa phương mà mỗi địa phương có cơ cấu

TC bộ máy của BQL các KCN khác nhau để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế của địa phương

TC bộ máy của BQL các KCN chịu ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu TC chung như: Mục tiêu của TC; chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của TC; nguồn nhân lực; quy mô TC; trình độ trang thiết bị, hệ thống thông tin và việc áp dụng công nghệ hiện đại Cụ thể là:

- Mục tiêu của TC: Là nhân tố quan trọng hàng đầu, không một TC nào có

thể duy trì hoạt động nếu lãnh đạo không đề ra các mục tiêu cho TC hướng đến

- Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của TC: Chức năng, nhiệm

vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của một TC đơn giản hay phức tạp sẽ quy định cơ cấu của TC đó Với chức năng, nhiệm vụ đơn giản, thì một TC chỉ cần số lượng nhân sự vừa phải và mức kinh phí cho TC đó cũng không nhiều như những TC khác, đồng thời mối quan hệ công việc giữa các bộ phận, cá nhân trong TC cũng đơn giản hơn

Trang 30

Ngược lại, Đứng ở góc độ này, chúng ta thấy rằng yếu tố con người ở đây đóng một vai trò khá quan trọng Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của một TC đều được thực hiện thông qua con người

- Nguồn nhân lực: Muốn có một cơ cấu TC hoàn chỉnh, cần có đầy đủ nguồn nhân lực để bổ nhiệm vào các vị trí cần thiết trong một TC

- Quy mô TC Quy mô của một TC ở đây được hiểu là số nhân sự trong TC

đó, diện tích của TC đó Với một quy mô lớn, đông đúc nhân sự thì cơ cấu của TC

đó phải được tính toán khéo léo, đảm bảo các vị trí trong TC phù hợp, khoa học Hơn nữa, quy mô càng lớn càng cần nhiều công chức, do đó TC sẽ có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn, tài chính

- Trình độ trang thiết bị, hệ thống thông tin và việc áp dụng công nghệ hiện đại Xã hội ngày càng phát triển, khoa học ngày càng phát triển Quá trình lao động của con người cần có sự giúp đỡ của máy móc, của khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả của hoạt động Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, máy móc trang thiết bị hiện đại vào cơ cấu TC, giúp tăng cường hiệu quả của hoạt động, nâng cao chất lượng của công việc

Đối với BQL các KCN, TC bộ máy của BQL các KCN còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: Quy mô, số lượng các KCN trên địa bàn; số lượng dự án đầu

tư vào các KCN; Mối quan hệ phối hợp với các cơ quan ban ngành khác

Khi nghiên cứu xây dựng TC bộ máy của BQL các KCN cần căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, khả năng nguồn nhân lực, số lượng, quy mô các KCN để làm sao đáp ứng được yêu cầu quản lý các KCN trên địa bàn Bao gồm công tác quản lý hoạt động của các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, quản lý môi trường trong KCN, đầu tư hạ tầng các KCN, thu hút đầu tư và lựa chọn các dự án đầu tư vào KCN đảm bảo hiệu quả đất đai, cơ sở hạ tầng và quy hoạch của địa phương, của ngành TC bộ máy của BQL các KCN phải đạt được các yêu cầu đối với cơ cấu TC nói chung như: Bảo đảm tính mục tiêu, tính tối ưu, tính linh hoạt, tính hiệu quả, nguyên tắc một thủ trưởng và các yêu cầu đặc thù của BQL các KCN

Trang 31

1.2 Thực trạng tổ chức bố máy ban quản lý các khu công nghiệp của một số nước trên thế giới và các tỉnh bạn và bài học kinh nghiệm rút ra cho Phú Thọ

1.2.1 Thực trạng tổ chức ban quản lý các khu công nghiệp của một số nước trên thế giới và các tỉnh bạn

- Tại Trung Quốc:

Qua nghiên cứu tình hình hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh ở các KCN

và mô hình quản lý các BQL các KCN Trung Quốc cho thấy: Việc hình thành và phát huy hiệu quả hệ thống các KCN ở Trung Quốc là một trong những nhân tố quyết định đến những thành công trong công cuộc đổi mới, tái thiết đất nước của Trung Quốc Thực tế cho thấy Chiến lược phát triển KCN Trung Quốc không tách khỏi hướng đi chung song nó lại mang đậm màu sắc Trung Quốc

Đặc điểm KCN ở Trung Quốc là ở thời kỳ đầu mở cửa, Trung Quốc đã chọn các tỉnh miên duyên hải để phát triển các KCN tập trung và biến các vùng đất khô cằn, hoang vắng không có khả năng sản xuất để thành những trung tâm công nghiệp, đô thị từ đó mở rộng vào nội địa Việc bố trí như vậy đã tạo ra nhiều thuận lợi, không ảnh hưởng đến dân cư và đất sản xuất

Về công nghệ, Trung Quốc lựa chọn loại hình công nghệ “tương đối tiên tiến” là loại có nhiều kỹ thuật và tri thức, vừa thích ứng với cách mạng kỹ thuật mới vừa phù hợp với ý đồ chiến lược là đưa nền công nghiệp tiên tiến theo hướng “cao cấp hóa”, hướng vào các ngành vi điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học Trong

đó ngành máy móc điện tử là chủ đạo, nhằm chuyển nền công nghiệp hao tổn nhiều lao động sang các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều kỹ thuật và tri thức, đi vào hiện đại hóa cơ cấu ngành nghề Trung Quốc khống chế các KCN là nơi chứa các công nghệ sản xuất xế bóng mà một số nước trong đó có Việt Nam khi mới thành lập các KCN phải gánh chịu Tuy nhiên đối với một số doanh nghiệp công nghiệp sử dụng công nghệ truyền thống vẫn cần được duy trì và đổi mới dần dần

Chiến lược sản xuất trong KCN của Trung Quốc cũng có nét chung với chiến lược phát triển kinh tế đó là “hướng ra ngoài”, sản xuất hàng xuất khẩu Chiến lược

đó cho đến nay dường như đã thành công vì hàng hóa Trung Quốc chiếm một tỷ

Trang 32

trọng lớn trên thế giới Song với thị trường khổng lồ trong nước (hơn 1,3 tỷ dân) Trung Quốc cũng rất chú trọng thay thế dần hàng hóa nhập khẩu

Một đặc điểm nổi bật của KCN Trung Quốc là: trong ba vòng đời dự án của KCN thì giai đoạn chuẩn bị và thu hút đầu tư rút ngắn hơn, chỉ từ 5 đến 10 năm; trong khi ở Việt Nam thì thường lâu hơn rất nhiều, thậm trí việc thu hút đầu tư có thể kéo dài cả vòng đời của dự án

Ở Trung Quốc, xu thế hình thành khu công nghệ cao đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Phát triển khu công nghệ cao ở Trung Quốc là thành quả đổi mới, của công cuộc cải cách mở cửa ra thế giới bên ngoài đã đạt được các kết quả to lớn trong việc kết hợp khoa học công nghệ với nền kinh tế bằng việc sử dụng đầy

đủ các nghiên cứu và giới thiệu các ngành công nghiệp công nghệ cao ra thị trường thế giới

Không chỉ đối với các khu công nghệ cao mà cả trong các KCN và đặc biệt các KCN trong đặc KKT đều được khuyến khích sử dụng công nghệ cao bao gồm: chuyển giao công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm bằng công nghệ cao Việc nghiên cứu sáng tạo ra công nghệ cao được thực hiện ở các trường đại học, các viện nghiên cứu

Đến nay Trung Quốc đã có nhiều khu công nghệ cao, trong đó có nhiều khu đạt cấp độ nhà nước và cho phép hưởng một số chính sách ưu đãi Phần lớn các khu công nghệ cao thuộc các thành phố lớn ven biển hoặc thủ phủ của các tỉnh trong đất liền có nền kinh tế tương đối phát triển như: Vũ Hán, Quảng Châu, Hàng Châu hoặc nằm ở các khu kinh tế ven biển, khu phát triển công nghệ hay KKT đặc biệt,

đó là khu vực phát triển công nghệ cao và khoa học ở Thượng Hải, công viên công nghệ cao ở Đại Liên, công viên khoa học và công nghệ ở Thâm Quyến, khu phát triển xí nghiệp công nghệ cao ở Hạ Môn và công viên khoa học và công nghệ cao quốc tế ở Hải Nam Các điều kiện xã hội và môi trường tự nhiên khác nhau là nguyên nhân để các khu vực này được lựa chọn để phát triển theo các cách khác nhau Để tạo sự phát triển ổn định cho các khu công nghệ cao phát triển này, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành hàng loạt các chính sách ưu đãi cho các xí nghiệp

Trang 33

trong các khu công nghệ cao như: Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 15% và tiếp tục giảm xuống 10% đối với các xí nghiệp có sản phẩm xuất khẩu đạt từ 70% trở lên, cho phép thành lập công ty cổ phần trong khu công nghệ cao, giảm các loại thuế nhập khẩu, thuế đối với sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm dùng cho chế biến hoặc lắp ráp để xuất khẩu…

Về TC bộ máy BQL các KCN: Vai trò quản lý nhà nước trong các KCN, khu công nghệ cao được thể hiện rõ nét và hiệu quả Bộ máy quản lý về cơ bản cũng gần giống với Việt Nam, cơ cấu theo dạng phòng ban kết hợp với dạng ma trận, nhưng tính chuyên nghiệp và hiệu quả thì hơn Việt Nam Vai trò lãnh đạo trong TC được thể hiện rõ nét Các luật lệ, quy định được triển khai cụ thể và được các doanh nghiệp trong KCN, khu công nghệ cao đón nhận như là một “ giấy thông hành”, một trách nhiệm thực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đối với nhà nước Công tác thanh tra được đặc biệt quan tâm và hoạt động đem lại những hiệu quả rất tốt Bằng các chế tài rõ ràng, công tác thanh tra đã làm cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp trong các KCN, khu công nghệ cao đi vào quy củ theo quy định của nhà nước Thu hút đầu tư có chiến lược và thời gian rõ ràng, thể hiện được tính nhất quán về chính sách của nhà nước Tóm lại, bộ máy quản lý trong các KCN, khu công nghệ cao ở Trung Quốc đã thể hiện rất tốt vai trò quản lý nhà nước, làm cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trong các KCN, khu công nghệ cao của các doanh nghiệp được thuận lợi, trách nhiệm và hiệu quả

Ở nước ta có rất nhiều các KCN, KKT làm ăn hiệu quả, thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn vào đầu tư Các KCN, KKT này ngoài lợi thế về vị trí địa lý, còn chịu ảnh hưởng bởi chính sách của Nhà nước, cơ chế của địa phương và sự hoạt động hiệu quả của BQL các KCN ở địa phương đó Sau đây là mô hình một số BQL các KCN hiện đang được đánh giá là điển hình, mà được thể hiện bằng sự hoạt động hiệu quả tại các KCN do các BQL này trực tiếp quản lý và điều hành

- Tại Bình Dương:

Bình Dương là tỉnh có diện tích tự nhiên 2.681,0 km2, thuộc vùng Đông Nam bộ; phía Bắc giáp Bình Phước, phía Nam và Tây Nam giáp thành phố Hồ Chí

Trang 34

Minh, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và phía Đông giáp tinh Đồng Nai Trung tâm văn hóa kinh tế của tỉnh hiện nay là thành phố Thủ Dầu Một, cách trung tâm thành phố Hố Chí Minh 30 km Hệ thống giao thông khá thuận lợi, có tuyến Quốc lộ 13, quốc lộ 14 xuyên suốt tỉnh, nhiều đường liên tỉnh nối liền các vùng Thành phố Thủ Dầu Một cách thành phố Hố Chí Minh 30 km, cách Hà Nội 1740 km, Tây Ninh 129

km và Biên Hòa (Đồng Nai) 40 km Là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi và có nhiều tiềm năng cho phát triển công nghiệp

Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, đến cuối năm 2012 tỉnh đã có 2117 dự án FDI với tổng vốn 17,3 tỷ USD

Bình Dương có 26 khu cụm công nghiệp thuộc BQL các KCN Bình Dương

quản lý, đó là: KCN Sóng Thần, KCN Sóng Thần 2, KCN Đồng An, KCN Việt

Hương, KCN Bình Đường, KCN Tân Đông Hiệp A, KCN Tân Đông Hiệp B, KCN

Mỹ Phước, KCN Dệt May Bình An, KCN Mỹ Phước 2, KCN Mai Trung, KCN Nam Tân Uyên, KCN Rạch Bắp, KCN Sóng Thần 3, KCN Phú Gia, KCN Đại Đăng, KCN Kim Huy, KCN Đồng An 2, KCN Thới Hòa, KCN Mỹ Phước 3, KCN Bàu Bàng, KCN Đất Cuốc, KCN An Tây, KCN Xanh Bình Dương, KCN Maplletree

Theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), năm 2011 tỉnh Bình Dương đứng thứ 10 với 63,99 điểm, trong khi thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (02 trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước) lần lượt xếp thứ 36 với 58,28 điểm và thứ 20 với 61,93 điểm Trong tổng số 26 KCN thuộc BQL các KCN quản lý có 13 KCN đang hoạt động đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, Sóng Thần I… Các KCN trên địa bàn đã thu hút 1153 dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đó có 788 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 5.157 triệu USD và 365 dự án đầu tư trong nước có

số vốn đầu tư 23.002 tỷ VNĐ Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN đã góp phần quan trọng về sản lượng công nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bình Dương BQL các KCN Bình Dương là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đã

Trang 35

nêu cao được vai trò của mình Điều này cho thấy tính hiệu quả và năng động của

bộ máy TC BQL các KCN tỉnh Bình Dương

TC bộ máy BQL các KCN Bình Dương như sau:

Hình 1.1: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Bình Dương

BQL các KCN tỉnh Bình Dương do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập,

là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, chịu sự chỉ đạo, quản lý về

TC, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra chuyên môn của các Bộ, ngành quản

lý về ngành, lĩnh vực có liên quan; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý KCN

BQL các KCN Bình Dương có khoảng 50 cán bộ, chuyên viên, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với các KCN trên địa bàn tỉnh (trừ KCN Việt Nam - Singapore) theo quy định tại Nghị định số 29/2008/ NĐ- CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ Quy định về KCN, khu chế xuất và KKT và pháp luật có liên quan; Quản lý và TC thực hiện chức năng cung ứng và dịch vụ hành chính công

và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN

Trang 36

BQL các KCN Bình Dương có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

+ Tham gia ý kiến với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và

TC thực hiện các công việc:

+ Tham gia ý kiến trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật chính sách, quy hoạch có liên quan đến hoạt động đầu tư, phát triển KCN

+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Quy chế phối hợp làm việc với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh hoặc các cơ quan có liên quan để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao theo quy định

+ Xây dựng các chương trình kế hoạch ngắn hạn, dài hạn các lĩnh vực liên quan đến các KCN theo thẩm quyền Lập dự toán ngân sách, kinh phí hoạt động sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển hàng năm để trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

+ Thực hiện theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn hoặc ủy quyền của các Bộ, ngành và UBND tỉnh như : Quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thanh tra và sử phạt vi phạm hành chính việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch

có liên quan đến KCN dã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đăng ký đầu tư; thẩm tra và cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền

+ Thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động thương mại trong KCN; các nhiệm vụ liên quan đến người lao động nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc trong KCN và người Việt Nam làm việc trong KCN theo thẩm quyền

+ Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt của KCN nhưng không làm thay đổi chức năng sử dụng đất và cơ cấu quy hoạch Thực hiện các nhiệm

vụ về đầu tư xây dựng theo Luật xây dựng và theo các quy định hiện hành theo nhiệm

vụ quyền hạn

+ Thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các

Bộ ngành khác theo thẩm quyền

+ Làm các nhiệm vụ khác theo quy định của Pháp luật và theo thẩm quyền

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh Bình Dương giao

Qua nghiên cứu, cho thấy: Là một tỉnh có nền công nghiệp phát triển, với số

Trang 37

lượng các KCN nhiều, vai trò của BQL các KCN của tỉnh rất quan trọng Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, chuyên viên cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Việc bố trí các phòng đại diện tại các khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư cũng như quản lý hoạt động tại các KCN Việc thành lập Trường trung cấp nghề KCN đã đào tạo, đáp ứng được nhu cầu lao động đã qua đào tạo cho các doanh nghiệp cũng góp phần quan trọng vào việc thu hút đầu tư và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sớm ổn định, đi vào sản xuất

- Tại Thái Bình:

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Bình có 10 KCN với tổng diện tích 1400ha gồm: KCN Phúc Khánh, KCN Nguyễn Đức Cảnh, KCN Tiền Hải, KCN An Hòa; KCN Cầu Nghìn, KCN Tiền Phong, KCN Gia Lễ, KCN Diêm Điền, KCN Đồng Tu

và KCN Thanh Nê Tại các KCN của tỉnh Thái Bình đã có 134 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 10.869,539 tỷ đồng, trong đó có 34 dự án FDI với số vốn đầu tư 4.975,34 tỷ đồng (chiếm 25% số dự án và 46% tổng số vốn) và 100 dự án đầu tư trong nước (DDI) với số vốn đầu tư đạt 5.892,20 tỷ đồng (chiếm 75% số dự

án và 54% tổng vốn đăng ký đầu tư) Vốn đầu tư thực hiện của 134 dự án đạt trên 90% Các KCN đã đóng góp 30% giá trị sản lượng công nghiệp của tỉnh

BQL các KCN tỉnh Thái Bình là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với các KCN trên địa bàn tỉnh; chịu sự chỉ đạo, quản lý về TC, biên chế, chương trình, kế hoạch công tác

và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình Về chuyên môn chịu sự chỉ đạo hướng dẫn của các Bộ ngành quản lý về ngành, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý các KCN BQL các KCN tỉnh Thái Bình có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu mang hình Quốc huy Kinh phí hoạt động và vốn đầu tư phát triển do ngân sách Nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm

Tại Quyết định số 2139/QĐ - UBND ngày 04/8/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình đã quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, TC bộ máy của BQL các KCN tỉnh Thái Bình như sau:

Trang 38

+ Nhiệm vụ và quyền hạn: Cơ bản giống như nhiệm vụ và quyền hạn của BQL các KCN tỉnh Bình Dương

+ TC bộ máy quản lý: Bao gồm Lãnh đạo ban, Trung tâm dịch vụ KCN và các phòng chuyên môn

TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Thái Bình ít các phòng ban chức năng và đơn

vị trực thuộc hơn BQL các KCN tỉnh Bình Dương Tuy nhiên, chức năng, nhiệm vụ các phòng, đơn vị trực thuộc cũng đã được giao đủ để thực hiện nhiệm vụ Ví dụ như: quản lý lao động giao cho phòng Quản lý Doanh nghiệp hay như Trung tâm dịch vụ KCN đảm nhận cả chức năng phát triển hạ tầng KCN, dịch vụ công và chức năng dịch vụ các loại hình tư vấn

Với phương án cơ cấu TC này, với một bộ máy làm việc gọn nhẹ; BQL các KCN tỉnh Thái Bình đã thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn khá thuận lợi và phát huy được tương đối hiệu quả vai trò của mình Tuy nhiên, BQL các KCN tỉnh Thái Bình là một đơn vị quản lý còn trẻ, các KCN hầu hết mới được thành lập nên quy mô hoạt động còn chưa lớn Khi sự phát triển các KCN đến một mức độ nhất định thì cơ cấu TC của BQL cũng cần thiết phải được điều chỉnh, hoàn thiện hơn nữa mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Hình 1.2: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Thái Bình

Phòng quản lý Quy hoạch

& MT

Phòng Quản lý Đầu tư

Trang 39

- Tại Hà Nam:

Tỉnh Hà Nam nằm ở phía Nam và giáp ranh Thủ đô Hà Nội, là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi để thu hút đầu tư Cơ cấu TC BQL các KCN Hà Nam bao gồm Lãnh đạo Ban (Trưởng ban và hai Phó trưởng ban); các phòng chuyên môn (Văn phòng; phòng Quản lý Đầu tư; phòng quản lý Môi trường Đất đai; phòng Quản lý Quy hoạch Xây dựng; phòng Quản lý Doanh nghiệp); đơn vị sự nghiệp (Công ty phát triển Hạ tầng các KCN là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải kinh phí và trực tiếp làm chủ đầu tư dự án các KCN, cụm công nghiệp bằng nhiệm vụ và quyền hạn được giao)

Nhiệm vụ và quyền hạn của BQL các KCN Hà Nam về cơ bản giống như

nhiệm vụ và quyền hạn BQL các KCN tỉnh Bình Dương & tỉnh Thái Bình

Hình 1.3: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Hà Nam

BQL các KCN Hà Nam cũng là một trong những BQL được thành lập sau (năm 2004) Tuy nhiên với lợi thế của mình, sự rút kinh nghiệm của những địa phương đi trước và sự hoạt động hiệu quả của bộ máy làm việc, BQL các KCN Hà Nam được đánh giá là một trong số ít BQL năng động, phát triển và là điểm đến hấp dẫn đối với nhà đầu tư Hệ thống chính trị của tỉnh rất quan tâm đến hoạt động đầu

tư trong các KCN trên địa bàn Cơ cấu ban lãnh đạo trong hệ thống chính trị của

Trưởng ban

C ty Phát triển H.Tầng Các KCN

Phòng Quản

lý Doanh nghiệp

Phòng Quản

lý Quy hoạch

lý Đầu

Phòng Quản

M T đất đai

Trang 40

tỉnh có Trưởng BQL các KCN tham gia, nên vai trò lãnh đạo trong TC của Ban được thể hiện rõ nét và đóng một phần quan trọng trong sự thành công này Công ty phát triển hạ tầng các KCN là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải kinh phí để hoạt động và đã và đang hoạt động hiệu quả Năm 2011 thu ngân sách trong các KCN đạt hơn 400 tỷ VNĐ, bằng 25% tổng số thu ngân sách của toàn tỉnh Nếu nhìn vào thời gian hình thành và phát triển của BQL các KCN thì đây là một con số đầy ý nghĩa Hiện nay tỉnh Hà Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển các KCN đến 2020 với tổng số 8 KCN với tổng diện tích là 1.773,82 ha (KCN Đồng Văn I, KCN Đồng Văn II, KCN Châu Sơn, KCN Hoà Mạc, KCN Ascendas - Protrade, KCN ITAHAN, KCN Liêm Cần - Thanh Bình, và KCN Liêm Phong)

Trên cơ sở được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỉnh Hà Nam đang có kế hoạch mở rộng thêm diện tích của 8 khu này thành khoảng 2500ha Điều này là hoàn toàn hợp lý vì suất đầu tư đất KCN ở Hà Nam tương đối thấp (khoảng 3,4 tỷ/ha); mặt khác Hà Nam đang là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư

1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Phú Thọ về tổ chức bộ máy BQL các KCN:

Từ nghiên cứu TC BQL các KCN của Trung Quốc và của các tỉnh bạn (Bình Dương, Thái Bình, Hà Nam) cho thấy BQL các KCN có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư, phát triển và phát huy được các KCN đối với công cuộc phát triển kinh tế của địa phương

- Kinh nghiệm từ Trung Quốc:

Tại Trung Quốc, Nhà nước đề ra chiến lược phát triển, đề ra kế hoạch triển khai cụ thể, có định hướng rõ ràng để phát triển hệ thống các KCN, khu công nghệ cao Các địa phương căn cứ vào chiến lược, kế hoạch và những quy định để đăng ký

và lập kế hoạch, đồng thời tự thực hiện theo những quy định chung để phát triển các KCN, khu công nghệ cao trên địa bàn Cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp (gần giống như mô hình BQL của Việt Nam) căn cứ vào những quy định của nhà nước

để quản lý và điều hành các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong các KCN, khu công nghệ cao và các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện Quản lý, giám sát việc thực hiện này bằng các “chế tài” cụ

Ngày đăng: 21/11/2014, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ - Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2007 2008, 2009, 2010, 2011 Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2007 2008, 2009, 2010, 2011
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
15. Trung ƣơng Đảng (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhà chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Trung ƣơng Đảng
Năm: 2005
16. Trung ƣơng Đảng (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, nhà chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Trung ƣơng Đảng
Năm: 2011
17. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ (2007,2008,2009,2010, 2011) Báo 18. cáo đánh giá tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo "18
19. TS. Bùi Văn Hưng- Trường Đại học kinh tế quốc dân (2006), Công nghiệp hóa nông thôn Trung Quốc dưới thời kỳ cải cách và mở cửa, Nhà XB thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa nông thôn Trung Quốc dưới thời kỳ cải cách và mở cửa
Tác giả: TS. Bùi Văn Hưng- Trường Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2006
1. Ban TC - Cán bộ (1997 ; 1998), Thông tƣ số 151/TCCP ngày 04/8/1997 và số 13/1998/TT-TCCP ngày 30/12/1998 hướng dẫn về công tác TC và tiền lương của BQL các KCN, KCX, KCNC Khác
2. BQL các KCN Phú Thọ (2010, 2011) báo cáo tình hình hoạt động, thu hút đầu tư vào các KCN tỉnh Phú Thọ Thọ năm 2010, 2011 Khác
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2011) : 20 năm xây dựng và phát triển các KCN, khu chế xuất ở Việt Nam Khác
4. Chính phủ (1997), Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 ban hành Quy chế KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao Khác
5. Chính phủ (1999 ; 2002), Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 và số 35/2002/NĐ-CP ngày 29/3/2002 Quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH 10 Khác
6. Chính phủ (2000 ; 2003), Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 và số 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 Quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam Khác
7. Chính phủ (2009) Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 14/3/2008 Quy định về KCN, khu chế xuất và KKT Khác
8. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004 NĐ-CP ngày 29/10/2003 về thi hành Luật đất đai Khác
9. Chính phủ (2005), Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/2/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Khác
11. Quốc hội (1996), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật sửa đổi, bổ sung một số diều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Khác
12. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư số 59/2005/QH ngày 29/11/2005 Khác
13. Quốc hội (1998), Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10 Khác
14. Tỉnh ủy Phú Thọ (2005, 2010) Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVI, XVII Khác
20. Tỉnh Phú Thọ (2010) Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú thọ đến năm 2020 Khác
21. Vụ Quản lý kinh tế- Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2005- 2010) Báo cáo tình hình hoạt động của các KCN, KKT, khu công nghệ cao Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Bình Dương - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 1.1 Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Bình Dương (Trang 35)
Hình 1.2: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Thái Bình - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 1.2 Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Thái Bình (Trang 38)
Hình 1.3: Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Hà Nam - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 1.3 Sơ đồ TC bộ máy BQL các KCN tỉnh Hà Nam (Trang 39)
Hình 3.1: Bản đồ qui hoạch phát triển giao thông tỉnh Phú Thọ - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.1 Bản đồ qui hoạch phát triển giao thông tỉnh Phú Thọ (Trang 51)
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ năm 2015 - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ năm 2015 (Trang 54)
Hình 3.3. Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.3. Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ (Trang 55)
Bảng 3.1: Danh mục các KCN tỉnh Phú Thọ TT  Tên KCN  Diện tích - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.1 Danh mục các KCN tỉnh Phú Thọ TT Tên KCN Diện tích (Trang 56)
Hình 3.4: Số lƣợng dự án và nguồn vốn FDI vào các KCN Phú Thọ - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.4 Số lƣợng dự án và nguồn vốn FDI vào các KCN Phú Thọ (Trang 57)
Hình 3.5: Cơ cấu doanh nghiệp đã đi vào hoạt động theo ngành - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.5 Cơ cấu doanh nghiệp đã đi vào hoạt động theo ngành (Trang 58)
Hình 3.6: Bản đồ quy hoạch phát triển các KCN Phú Thọ đến 2020 - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.6 Bản đồ quy hoạch phát triển các KCN Phú Thọ đến 2020 (Trang 59)
Hình 3.7: Sơ đồ cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 3.7 Sơ đồ cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ (Trang 65)
Hình 4.1: Sơ đồ hoàn thiện cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ - Hoàn thiện tổ chức bộ máy ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
Hình 4.1 Sơ đồ hoàn thiện cơ cấu TC BQL các KCN tỉnh Phú Thọ (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w