Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận và nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý XHH GDMN trên địa bàn huyện Vị Xuyên để đề xuất những giải pháp quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯƠNG HỒNG NHUNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC MẦM NON Ở HUYỆN VỊ XUYÊN TỈNH HÀ GIANG - GIAI ĐOẠN 2012- 2020
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thanh Long
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Lương Hồng Nhung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được tỏ lòng kính trọng nhớ ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan
Thanh Long, người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện đề tài này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập và
Xin chân thành cảm ơn tất cả !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Lương Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Giới hạn và địa bàn nghiên cứu 4
4.3 Giới hạn và khách thể khảo sát 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6.1 Nghiên cứu, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về XHH GDMN, quản lý công tác XHH GDMN, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý XHH GDMN 4
6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý XHH GDMN trong những năm qua trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 4
6.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác XHH GDMN trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020 5
6.4 Khảo nghiệm nhận thức của lãnh đạo địa phương, các đoàn thể, cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, cha mẹ học sinh về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đã đề xuất 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 5
Trang 57.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê 5
8 Dự kiến cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DUC MẦM NON 7
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD 15
1.2.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 15
1.2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý xã hội hóa giáo dục 38
1.2.3 Giải pháp quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non 40
1.3 Kinh nghiệm XHH GDMN và quản lý XHH GDMN ở một số nước trong khu vực và trên thế giới 42
1.3.1 Kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục trên thế giới 42
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non trên thế giới 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 49
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON Ở HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG 50
2.1 Giới thiệu về tình hình tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 50
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục ở huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang 50
2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục của huyện Vị Xuyên - Hà Giang 52
2.2 Thực trạng XHHGD mầm non huyện Vị Xuyên 54
2.2.1 Thực trạng tư tưởng quản lý và chỉ đạo 54
2.2.2 Kết quả xã hội hóa nguồn kinh phí cho giáo dục mầm non 55
2.2.3 Công tác xã hội hóa thể hiện qua hệ thống trường lớp đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý 57
2.2.4 Thực trạng nhận thức về xã hội hóa giáo dục 59
2.3 Thực trạng quản lý công tác XHHGD ở các trường mầm non huyện Vị Xuyên 66
2.3.1 Thực trạng nhận thức về mức độ quan trọng của công tác quản lý XHH GDMN 66
2.3.2 Mức độ thực hiện các giải pháp quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên 67
Trang 62.4 Kết quả của cuộc vận động công tác xã hội hóa giáo dục 69
2.5 Những ưu điểm và tồn tại của công tác quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên 70
2.5.1 Ưu điểm của công tác quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên 71
2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân của công tác quản lý XHH GDMN 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XHH GDMN Ở HUYỆN VỊ XUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 ĐẾN 2020 79
3.1 Một số định hướng xây dựng các giải pháp quản lý XHH GDMN 79
3.1.1 Căn cứ vào quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về XHH GDMN 79
3.1.2 Kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo ở huyện Vị Xuyên giai đoạn 2012 - 2020 79 3.2 Một số nguyên tắc xây dựng các giải pháp 83
3.3 Một số giải pháp quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020 84
3.3.1 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của mọi người về công tác XHH GDMN 84
3.3.2 Quản lý chặt chẽ các loại hình trường, lớp mầm non trong quá trình thực hiện công tác XHH GDMN 87
3.3.3 Tăng cường cơ chế quản lý trong công tác XHH DMN 90
3.3.4 Huy động sức mạnh tổng hợp và quản lý tốt các nguồn lực cộng đồng cho phát triển giáo dục mầm non 94
3.3.5 Tăng cường vai trò kiểm tra, đánh giá trường học của các tổ chức xã hội trong việc thực hiện xã hội háo giáo dục 97
3.4 Mối quan hệ giữ các giải pháp quản lý công tác XHH GDMN 100
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 101
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Kiến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 8PGD&ĐT : Phổ cập giáo dục mầm non
XHH GDMN : Xã hội hóa giáo dục
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê quy mô phát triển trường lớp, học sinh các cấp học 53
Bảng 2.2: Thống kê ngân sách cho một số trường mầm non tại Huyện Vị Xuyên 55
Bảng 2.3: Tổng hợp đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho GDMN (từ năm 2008 - 2009 đến năm học 2011-2012) 56
Bảng 2.4: Thống kê số lượng giáo dục mầm non năm học 2009 - 2010 đến năm học 2012-2013 57
Bảng 2.5: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non huyện Vị Xuyên 58
Bảng 2.6: Thực trạng về đội ngũ giáo viên mầm non 58
Bảng 2.7: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHH GDMN trong giai đoạn hiện nay 59
Bảng 2.8: Nhận thức về ý nghĩa của công tác XHH GDMN 60
Bảng 2.9: Nhận thức về mục tiêu của công tác HH GDMN 61
Bảng 2.10: Nhận thức về tầm quan trong của nội dung XHH GDM 63
Bảng 2.11: Nhận thức về vai trò của các lực lượng quan trọng trong công tác XHHGD 64
Bảng 2.12: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý XHH GDMN 67
Bảng 2.13: Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên 68
Bảng 2.14: Những nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện thành công trong quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên trong thời gian qua 72
Bảng 2.15: Những khó khăn trong công tác quản lý XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên trong thời gian vừa qua 73
Bảng 2.16: Những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên trong thời gian qua 76
Bảng 3.1: Quy mô phát triển số trẻ mầm non 82
Bảng 3.2: Quy mô phát triển HS tiểu học 82
Bảng 3.3: Quy mô phát triển HS THCS 82
Bảng 3.4: Kết quả điều tra về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý công tác XHH GDMN ở huyện vị xuyên giai đoạn 2012 - 2020 102
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý 19
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các nhóm giải pháp 101
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Giáo dục muốn đạt hiệu quả cao phải có sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành và toàn xã hội Nói cách khác, cần phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường học, trong đó có giáo dục mầm non Điều này được Đảng
ta khẳng định:“Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình
độ, mọi vùng miền, đặc biệt có các chính sách đãi ngộ đối với con em dân tộc thiểu số, vùng xâu vùng xa địa đầu của Tổ quốc được học thường xuyên, học suốt đời Đẩy mạnh XHHGD, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn
xã hội tham gia phát triển giáo dục” Đồng thời Đảng đã chỉ ra những giải pháp
cơ bản để thực hiện nhiệm vụ này là: “Đẩy mạnh XHHGD, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân” Đây là giải pháp cơ bản nhằm phát huy hết sức mạnh của toàn xã hội vào xây dựng và phát triển giáo dục
Giáo dục mầm non là ngành học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là ngành học có tính chất nền tảng, có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất nhân cách ban đầu của đứa trẻ Muốn có một công dân tốt trước hết giáo dục mầm non phải tốt Sinh thời khi Bác Hồ còn sống, Bác
đã rất quan tâm chăm lo cho thế hệ mầm non tương lai của đất nước Kế thừa và phát huy những tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta hiện nay luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là ngành học mầm non Giáo dục mầm non đang
được cả xã hội quan tâm, coi đó là nguồn gốc giáo dục đầu đời của con người
Để phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng cần phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng cả về người, về của Các chính sách
Trang 12giáo dục cũng phải được thường xuyên điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển xã hội
Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược lớn của Đảng và Nhà nước Tư tưởng đó được đức kết từ bài học kinh nghiệm xây dựng nền giáo dục cách mạng và truyền thống hiếu học, đề cao sự học và chăm lo học hành của nhân dân ta suốt hàng ngàn năm lịch sử phát triển của dân tộc Tư tưởng đó còn
là sự phát huy sáng tạo kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục của tinh hoa nhân loại, xây dựng và kế thừa phát triển giáo dục đào tạo của các nước tiên tiến trên thế giới nói chung và nền giáo dục Việt Nam nói riêng Chủ trương XHHGD chính thức được đề cập tại hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng khóa VII Sau đó được chỉ đạo thực hiện ở hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khóa VIII Đến Hội nghị lần thứ Sáu của BCH TW Đảng khóa IX và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX và thứ X Đảng ta vẫn khẳng định XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một đường lối phát triển giáo dục đúng đắn
Với quan điểm nhất quán về XHHGD, Đảng ta đã xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế” Chính vì vậy, Đảng
và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thực hiện XHHGD
GDMN là bậc học đầu tiên của hệ thống GDQD mang tính xã hội cao GDMN hiện nay được toàn thể cộng đồng xã hội quan tâm Tập trung huy động trẻ từ 0 - 6 tuổi ra lớp, đặc biệt là công tác phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi được thực hiện trên cả nước Để làm được điều này cần phải thực hiện XHHGD Đây là một nhu cầu, là một giải pháp tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của ngành học này XHH GDMN là một nhân tố cơ bản nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các cơ sở trường học mầm non Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, thôn bản, cha mẹ học sinh
và cộng đồng tạo chỗ dựa nền tảng vững chắc cho bậc học mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 13Công tác XHH GDMN trong những năm qua đặc biệt được chú trọng, bậc học mầm non đã được xứng tầm và có vai trò quan trọng như các bậc học khác, vì thế đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Ngay cả một tỉnh miền núi như Hà Giang xa xôi, nơi địa đầu của Tổ quốc, trong đó có huyện
Vị Xuyên cũng đã chú trọng đến công tác giáo dục trẻ mầm non Sự phát triển của bậc học mầm non rất đa dạng và phong phú, với sự tham gia tích cực của mọi thành phần trong xã hội, sự hưởng ứng, sự đóng góp sức người, sức của để đảm bảo có cơ sở vật chất và điều kiện tối thiểu cho trẻ học tập Cả xã hội đã cùng chung tay hành động vì sự nghiệp giáo dục, đã góp phần to lớn cho sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng
Tuy nhiên, những thành quả trên vẫn chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân, sự kì vọng của xã hội Có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân cơ bản là công tác XHH giáo dục tại địa phương còn tự phát, chưa đồng bộ, chưa phát huy hết sức mạnh của xã hội cho sự nghiệp GDMN Vấn đề quản lý phát huy hết sức mạnh của toàn dân chăm lo cho sự nghiệp GDMN là một đòi hỏi bức thiết Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020” để nghiên cứu, nhằm tìm giải pháp phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội cho GDMN, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho huyện nhà
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận và nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý XHH GDMN trên địa bàn huyện Vị Xuyên để đề xuất những giải pháp quản lý công tác XHH GDMN, góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng ở địa phương
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý XHH GDMN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
Trang 144 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020
4.2 Giới hạn và địa bàn nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại các trường mầm non, cha mẹ học sinh và các đơn vị quản lý có liên quan thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
4.3 Giới hạn và khách thể khảo sát
- Lãnh đạo Đảng, chính quyền và các đoàn thể địa phương: 60 người
- CBQL phòng GD-ĐT và CBQL, giáo viên các trường mầm non thuộc huyện Vị Xuyên: 125 người
- Cha mẹ học sinh: 200 người
5 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, vẫn còn
có những hạn chế, bất cập như: chưa được đầu tư và quan tâm đồng bộ, nhận thức của người dân vẫn mang tính trông chờ chính sách đầu tư của nhà nước, chưa đặt nó vào vai trò và trách nhiệm của mình trong công tác XHHGD Trên thực tế như vậy, nếu khảo sát đánh giá đúng thực trạng công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên để đề xuất các giải pháp quản lý khả thi, phù hợp thì sẽ thúc đẩy
và nâng cao chất lượng XHH GDMN của huyện Vị Xuyên
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về XHH GDMN, quản lý công tác XHH GDMN, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý XHH GDMN
6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý XHH GDMN trong những năm qua trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
Trang 156.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác XHH GDMN trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020
6.4 Khảo nghiệm nhận thức của lãnh đạo địa phương, các đoàn thể, cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, cha mẹ học sinh về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đã đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ tống hóa, khái quát hóa…những vấn đề có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Để thu thập thông tin về quản lý công tác XHH GDMN, đánh giá kết quả đạt được của công tác XHH GDMN… Ở huyện Vị Xuyên, bổ trợ các phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tìm hiểu thực trạng quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên và khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
- Phương pháp chuyên gia: Nhằm xin ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lí, các giáo viên về các vấn đề như: xây dựng đề cương, xây dựng công cụ nghiên cứu, nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp…
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên rút ra những bài học, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Sử dụng các công thức toán thống kê như số trung vị, trung bình cộng, hệ số tương quan…để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm rút ra các kết luận khoa học
Trang 168 Dự kiến cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHH GDMN
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang
Chương 3: Giải pháp quản lý công tác XHH GDMN ở huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang giai đoạn 2012 đến 2020
Trang 17Sau thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Bắc Mỹ, Pháp…và cho đến giữa thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã xác lập thành một hệ thống trên thế giới, cách mạng công nghệ được mở đầu từ nước Anh, sau đó lan sang các nước Âu, Mỹ làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, những đòi hỏi đáp ứng sản xuất, giáo dục lớn và những tư tưởng của họ Giáo dục trở thành nhu cầu chính đáng của người dân Cuối thế kỷ, “Nền giáo dục mới”; “Nhà trường mới’’ đã xuất hiện, nhiều tư tưởng mới về giáo dục như: “Nhà trường mới” ở Reddie (Anh); “Nền giáo dục công dân” và “Nhà trường lao động” của
Trang 18Kerschensteiner (Đức); “Giáo dục thực nghiệm”của Alfred Binet (Pháp); “Giáo dục thực dụng” của Jhon Dewey, W James (Mỹ)…
Những nội dung và hình thức giáo dục được đề ra xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu đời sống kinh tế, xã hội, giáo dục phương Tây từng bước hoàn thành, nội dung giáo dục hoàn thiện theo hướng giáo dục toàn diện các môn khoa học
tự nhiên, rèn luyện thể lực song song với trí lực thông qua hình thành thực nghiệm xuyên suốt các nền giáo dục của giáo dục phương Tây là đều chú trọng đào tạo ra hình mẫu con người mà xã hội cần đến, quan tâm đến “giáo dục lý tưởng” cho một lớp người kế tục quản lý xã hội mà chế độ đó đang cần tới
Như vậy các nước trên thế giới đều coi trọng giáo dục, kinh nghiệm của
Mỹ cho thấy: “Hệ thống giáo dục tại Mỹ là tốt nhất thế giới, bởi nó chẳng hề có
hệ thống” Nhận định này một lần nữa xác định yếu tố cơ bản năng động có tính
tự chủ cao, tính cải tiến, sáng tạo trong cách nhìn nhận thực hiện công tác giáo dục, những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến giáo dục cần tính đến, tính chất chủ động xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình phát triển giáo dục
Ở Australia mục tiêu giáo dục quốc gia được xác định: Giáo dục nhà
trường cần phát triển tối đa tài năng và năng lực cho tất cả học sinh Giáo dục
con người có tinh thần lạc quan, có tài năng thực sự, có sự sáng tạo, có phẩm chất tốt, niềm tin vững vàng…Giáo dục con người trở thành những công dân tích cực, hiểu biết, tôn trọng hệ thống Chính phủ cũng như cuộc sống công dân
Úc, có kỹ năng về môi trường nghề nghiệp của mình, hiểu rõ sự thay đổi của xã hội, của môi trường, các yếu tố tác động đến giáo dục Là công dân phải có những kiến thức, kỹ năng cần thiết, có lối sống, có năng lực được xác định bởi
7 năng lực then chốt
Ở Thái lan, Malaysia, Hàn Quốc và Cộng hòa Pháp: Phát triển giáo
dục, giáo dục máy tính, quản lý giáo dục, sự hỗ trợ trong quản lý giáo dục, cơ hội học, tổ chức người học, tham gia tích cực của người học, XHHGD nhà trường và cộng đồng, các hội thảo, các Xêmina và nghiên cứu điển hình, các
Trang 19khóa huấn luyện cho giáo dục, cán bộ quản lý các trường học, các chính sách giáo dục Phương châm đổi mới, đổi mới từ mục tiêu nội dung, chương trình, phương pháp, cách thức tổ chức
Tại Đài Loan, chính quyền đã cho thành lập “Hội giáo dục” ở cả 3 cấp
tỉnh, huyện, xã phường Nhiệm vụ của “Hội đồng giáo dục” là huy động mọi lực lượng tham gia vào các hoạt động giáo dục Đây là tổ chức tư vấn cho chính quyền vận động nhân dân và các lực lượng xã hội vào giáo dục
Các quốc gia đều coi trọng GD & ĐT là cốt sách hàng đầu, tập trung mọi nguồn lực cho giáo dục, đầu tư vào giáo dục chính là chăm lo tới sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, chăm lo cho giáo dục giữ vững phát triển lãnh thổ đất nước mà trong đó công tác XHHGD là vấn đề được quan tâm sâu sắc Mọi người đều có trách nhiệm quan tâm, đầu tư cho giáo dục, để giáo dục thực sự trở thành vấn đề cấp thiết được quan tâm số 1 trên toàn cầu
Ở Việt Nam
Việt Nam có một lịch sử giáo dục lâu đời và đạt được nhiều thành tựu qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau Giáo dục đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp “Kinh bang tế thế” của dân tộc
Nền giáo dục nước ta thời kỳ phong kiến chịu nhiều ảnh hưởng của nền giáo dục phong kiến Trung Hoa Giáo dục Nho giáo lấy đạo “Trung quân” làm mục tiêu hướng tới, sách thánh hiền “Tứ thư”, “Ngũ kinh” là những bộ sách giáo khoa không thể thiếu trong dạy học Sĩ tử thấm nhuần trong sách thánh hiền những gương sáng người xưa về đối nhân xử thế, về cách cai trị để mà “tề gia”; “trị quốc” và cao hơn nữa là “bình thiên hạ” Khi vượt qua được các kỳ thi thì người học được bổ nhiệm làm quan Sự phiến diện trong mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục nho giáo đã làm trì trệ nền giáo dục nước nhà, mà còn là lực cản cho sự phát triển đất nước
Trang 20Những năm 1076 nhà Lý lập ra Quốc Tử Giám (trường đại học đầu tiên của Việt Nam) để dạy con em Hoàng tộc, đào tạo quan lại phong kiến Năm 1397, vua Trần Nhân Tông ban “mở trường” ở các huyện Đến đời Hồ,
Hồ Quý Ly quan tâm đến giáo dục để nâng cao dân trí, nhất là dưới triều vua
Lê Thánh Tông quy mô các trường đã được mở rộng hơn cho con em dân thường đi học Đến vua Quang Trung cùng với chính sách khuyến nông, khuyến thương và chủ trương khuyến học, xây dựng đất nước lấy việc khuyến học là hàng đầu
Thời phong kiến và Pháp thuộc (Trước 1945)
Trong thời thuộc Pháp đô hộ, ý thức được tầm quan trọng trong việc khai thác thuộc địa, Pháp đã đặt nền giáo dục phương Tây vào nước ta, trong bối cảnh nền giáo dục nho giáo đang hồi suy tàn với một lối dạy lạc hậu, nội dung phiến diện không đáp ứng được yêu cầu dân tộc, nhân tài đất nước, thì nền giáo dục phương Tây đã đưa đến những yếu tố mới cho nền giáo dục Đó
là việc tổ chức hệ thống trường, lớp học, lứa tuổi giống nhau về mặt tâm sinh
lý Một chương trình nhất định đa dạng về mặt hình thức Giáo dục thời kỳ Pháp, dân tộc, đội ngũ tri thức, Tây học, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp, người dân không được học nhiều, nhất là phụ nữ và trẻ em Chúng đã cấm việc duy trì lớp học, chúng thực hiện chế độ ngu dân Thời kỳ này nạn đói và nạn mù chữ lan rộng trên cả nước Nhân dân ta đã sớm nhận thức ra ý
đồ và sự đối xử bất bình đẳng, miệt thị của người Pháp đối với người bản xứ Nền giáo dục của Pháp là nền giáo dục phong kiến thực dân phục vụ cho việc cai trị của Pháp tại Đông Dương [47]
Nền giáo dục Việt Nam chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của chế độ phong kiến dưới thời kỳ Pháp đô hộ, thời kỳ mà nạn mù chữ chiếm đến 97%, còn lại phần ít là biết chữ, sự bất bình đẳng giới, con gái không được đến trường, không được bàn luận về công việc chính trong gia đình Phân biệt tầng lớp
Trang 21giàu, nghèo, người nghèo không được học, trường học chỉ dành cho con địa chủ phong kiến, tầng lớp quý tộc, thượng lưu, giàu có
Hồ Chí Minh đã khẳng định: Giáo dục là một trong những quyền cơ bản
của con người Trong Bản án chế độ thực dân pháp người đã lên án gay gắt
chính sách ngu dân của chủ nghĩa đế quốc Pháp mà cụ thể là hạn chế mở các trường học cho trẻ em, trường dạy nghề, trường cao đẳng, trường đại học cho
người lớn…Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã
nêu rõ: Phải “Cải cách nền công lý ở Đông Dương bằng cách ban cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu, trong đó có quyền tự do giáo dục, thành lập các trường kỹ thuật và
chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ [26, tr.16,19].
Bản chất con người Việt Nam hiền lành, cần cù, chịu khó, dù nghèo khó đến đâu cũng phải cho con cái học hành biết năm ba chữ, nên việc học hành đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của cha ông ta từ cổ chí kim, sử sách Việt Nam đã ghi chép lại có rất nhiều các sĩ tử nổi tiếng lừng danh được cả thế giới biết đến
Như vậy, vấn đề học tập, nâng cao dân trí, nhân lực, nhân tài từ xưa đã được chú trọng và trở thành truyền thống tốt đẹp mang đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam
Thời kỳ (1945-1975)
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công mở ra một trang mới cho con đường phát triển đất nước Một nền giáo dục mới được xác lập phù hợp với bối cảnh mới của đất nước Ngay trong năm học đầu tiên sau cách mạng, Đại hội giáo giới toàn quốc đã xác định 3 nguyên tắc xây dựng nền giáo dục Việt Nam
là “dân tộc - khoa học - đại chúng” Trước những thách thức và lo lắng cho cả một thế hệ trẻ trong tương lai bị chế độ thực dân, phong kiến thực hiện chính sách ngu dân để trị, Đảng và Nhà nước ta ngay từ đầu đã bằng mọi cách phát triển giáo dục, tổ chức các lớp bình dân học vụ, người biết nhiều dạy người biết
ít, nơi nơi là trường học, nhà nhà là trường học, nơi nào cũng viết chữ dù ở nhà,
Trang 22ngoài đồng đều tranh thủ học tập Sau khi giành được độc lập, Bác đã ký sắc lệnh bắt buộc mọi người từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ, đặt nhiệm vụ cấp bách thanh toán hơn 90% người dân mù chữ
Trải qua các lần cải cách điều chỉnh, nền giáo dục nước ta dần dần được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu cao nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong 2 cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ Bao thế hệ thanh niên ưu tú, sản phẩm của nền giáo dục cách mạng, đã không tiếc xương máu, sẵn sàng hi sinh thân mình để giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc Nền giáo dục của chúng ta đã đào tạo ra những con người “vừa hồng vừa chuyên”, sẵn sàng cống hiến cho yêu cầu của đất nước
Trong thời kì kháng chiến, Đảng ta tiếp tục thực hiện các mục tiêu giáo dục mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn Sự thành lập nha bình dân học vụ của Chính Phủ đã mở đầu cho việc xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân Phong trào học tập sôi nổi khắp nơi, người người đi học, nhà nhà đi học, đâu
cũng có thể là trường, đâu cũng có thể là lớp học xóa mù chữ
Trong bài nói chuyện tại hội nghị tổng kết phong trào thi đua: “Dạy tốt,
học tốt”của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm Bác Hồ đã căn dặn: “Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội, các đoàn thể thanh niên, phụ
nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy Đảng phải thực sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình [26, tr.228]
Thời kỳ đổi mới (Từ năm 1986 đến nay)
Đất nước thống nhất, cả nước cùng phấn đấu cho mục tiêu chung vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường dân tộc ta đã chọn, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa quyết định chiến lược “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, phát triển nhanh, bền vững, phát huy sức mạnh toàn Đảng, toàn dân tập trung xây dựng phát triển kinh tế đất nước Trong phần
Trang 23quan điểm phát triển, Cương lĩnh đã chỉ rõ “phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển” Trong Báo cáo chính trị của Đại hội, phần giáo dục đào tạo cũng được khẳng định chủ trương “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”; “Đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục đào tạo”, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Như vậy, Đảng đã khẳng định rõ về chế độ chính trị mà chúng ta tiếp tục xây dựng với những cơ sở kinh tế và xã hội đặc trưng của nó, giáo dục đào tạo
là một hình thức ý thức xã hội
Hiện nay chúng ta đang ở trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, chuẩn bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng việc “hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động Chúng ta còn phải “vừa phát huy nội lực vừa hội nhập quốc tế”
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI ngành giáo dục đào tạo có nhiệm vụ đáp ứng con người Để phục vụ cho Tổ quốc, trước tiên chúng ta cần xác định “chuẩn người Việt Nam thế kỷ XXI với định hướng các giá trị phù hợp”, đấy là con người vừa truyền thống, vừa hiện đại, vừa có những phẩm chất đặc trưng của người Việt Nam như: yêu nước, cần cù, nhân ái… vừa có những phẩm chất của công dân quốc tế, con người hiện đại như trình độ văn hóa, cách mạng, tay nghề cao, lối sống tác phong công nghiệp, năng động, hòa nhập quốc tế
Như vậy nền giáo dục “mở” đa dạng hóa cách thức, phương thức giáo dục để nâng cao chất lượng, cải tiến nội dung, phương pháp góp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài mà nghị quyết Trung ương đã đề ra, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ chốt cán toàn thể các ngành trong bộ máy Nhà nước để bảo vệ toàn vẹn chủ toàn quyền lãnh thổ Việt Nam Nhiệm vụ chủ chốt là trồng người, giao quyền chủ động cho giáo dục, cụ thể là các đơn vị trường học trong nhiệm vụ đào tạo, chịu trách
Trang 24nhiệm trước xã hội về chất lượng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh về chất lượng giáo dục trên cơ sở những định hướng chung của nhà nước, việc lựa chọn nội dung, phương pháp đào tạo sao cho phù hợp, từ việc xây dựng chương trình, nội dung, hình thức giảng dạy giáo dục con người phù hợp thời đại, cập nhập thông tin nhanh, phát huy truyền thống dân tộc, có kiến thức hội nhập, học tập suốt đời
Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ Phát triển loại hình trường quốc lập, dân lập
và các loại hình giáo dục khác
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đảm bảo phát triển giáo dục miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng dân tộc đặc biệt khó khăn Thực hiện công tác XHHGD, các đoàn thể nhân dân, trước hết là đoàn thanh niên, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thế hệ thanh thiếu niên nhi đồng [50]
Đất nước ta đang chuyển sang một thời kỳ mới, một thời kỳ với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, xây dựng con người mới có tác phong công nghiệp, cập nhập tốt những biến đổi của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Một thời kỳ đổi mới cả tư duy lẫn hành động, đổi mới tư duy trên các lĩnh vực, đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải phát triển với tốc độ cao, giáo dục phải kịp thời nắm được những biến đổi của xã hội để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với bối cảnh lịch sử, để đáp ứng với giai đoạn mới Quan niệm đa dạng hóa trong công tác giáo dục vốn có được tiếp tục khơi dậy và nâng cao lên một tầm mới
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2012 đến 2020, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học và công nghệ cùng với GD & ĐT là quốc sách hàng đầu
để phát triển nguồn nhân lực, nhằm đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, sánh vai với các cường quốc trên thế giới
Trang 25Các kỳ họp quốc hội, các hội thảo trưng cầu ý kiến, các văn kiện, nghị định, thông tư, nghị quyết của Đảng và của Nhà nước, các cơ quan, các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, các hội nghị giáo dục từ trung ương đến địa phương đã tập trung bàn luận về công tác xã hội hóa giáo dục
GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI” đã khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội; mọi người cùng làm giáo dục, nhà nước
và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục”[21, tr.71]
Trong cuốn Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại của tác giả Thái Duy Tuyên và cuốn “XHH công tác giáo dục” do các tác giả Phạm Minh Hạc (chủ biên) và Trần Kiểm (đồng tác giả) cũng đã nhấn mạnh công tác này Các nhà nghiên cứu khác như: Nguyễn Mậu Bành, Nguyễn Thanh Bình, Đào Duy Ngân…có nhiều bài viết về công tác xã hội hóa giáo dục
Viện khoa học giáo dục nước ta nhiều năm qua đã nghiên cứu về công tác XHHGD, tổng kết kinh nghiệm, xây dựng đề án XHHGD với những giải pháp ở tầm vĩ mô, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở nước ta
Điểm qua vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu có thể thấy XHHGD là một chủ trương quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Tuy nhiên để công tác XHHGD có hiệu quả thì phải quản lý tốt Trên cơ sở nhận thức
ấy, tác giả tiếp thu kinh nghiệm những quan điểm, những cách làm trước đó, đối chiếu với tình hình thực tiễn ở địa phương để tiếp tục nghiên cứu, phát huy tác dụng của công tác XHHGD tại huyện Vị Xuyên mình
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD
1.2.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.1 Quản lý và quản lý giáo dục
Trang 26- Quản lý: Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân
sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau
để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm
vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên
Nhiệm vụ cơ bản của quản lý
Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tương lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau ) và lên các kế hoạch hành động
Tổ chức: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để thực hiện kế hoạch
Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp
Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức)
Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra)
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người Ở đâu con người tạo nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lí, bất kể
đó là nhóm chính thức, nhóm không chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì
Tùy theo mục đích và các góc độ tiếp cận trong nghiên cứu nên khái niệm quản lý có nhiều các hiểu khác nhau Trong luận văn này chúng tôi xin
Trang 27được đưa ra một số các quan niệm của một số nhà khoa học để sau đó đi đến thống nhất quan niệm về khái niệm quản lý
Xét về chức năng, quản lý là một hệ thống tổ chức từ các góc độ của hoạt động kinh doanh, các nhà doanh nghiệp Mỹ cho rằng: “Quản lý là đưa những nguồn vốn về con người và của cải vào các đơn vị tổ chức và năng động để đạt được mục tiêu, mọi mặt bằng các đảm bảo thỏa mãn tối đa người hưởng lợi, mặt khác đảm bảo tinh thần về thực hiện cho con người cấp vốn” Ở góc nhìn, cách nhìn khác người ta cho rằng một điều có tính nguyên tắc là trong ý thức của những người quản lí phải luôn hiện ra quan điểm: “ Quản lý không phải là lãnh đạo sự việc, mà là sự phát triển con người”
Theo Mary Parker follet (Mỹ) Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác [48]
Theo nhà tâm lí học Nga A.L.Xvensinxki, khi hiểu quản lý như một sự liên kết thống nhất một cách có mục đích, có tổ chức[48]
Theo Harold Koontz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt lõi của quản lý” thì quản lý được hiểu “Là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân đạt được mục đích của nhóm” [22 tr.33]
Trung tâm nghiên cứu khoa học Tổ chức Quản lý cho rằng:“Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý để đạt được mục tiêu chung…Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu
đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp hướng dẫn chỉ huy hoạt động của những người khác”[15 tr.176]
Theo các nhà khoa học Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì:
“Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[ 27]
Trang 28Theo nghĩa chung nhất từ góc độ của Tâm lý học, quản lý được hiểu như
sau“ Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [48]
Tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người, nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật của khách quan” [36]
Như vậy, quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích cho cá nhân con người và xã hội
Qua các khái niệm trên, có thể khái quát những nét đặc trưng cơ bản về bản chất của hoạt động quản lý như sau:
Quản lý gồm có hai thành phần, chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một người hoặc một tổ chức Khách thể quản lý có thể quản lý có thể là người, tổ chức, hay là sự vật cụ thể, cũng có khi khách thể
là người hoặc tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau Nếu chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, thì khách thể sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn được mục đích của chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý thực hiện các tác động thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Trang 29Tóm lại, quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của người quản
lý (Chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Quá trình quản lý có thể được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý
- Quản lý giáo dục:
Có thể khẳng định giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là một hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người của thế hệ trước cho thế sau Thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con người phát triển không ngừng Để đạt được mục đích đó quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên
lý
Mục tiêu quản
lý
Môi trường
Chức năng quản lý
Phương pháp quản
lý
Trang 30Vậy, quản lý giáo dục là gì?
Trước hết cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đeo đuổi những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hóa mục đích sang khả năng thực hiện
Khi đưa ra quan niệm quản lý vi mô và quản lý vĩ mô trong giáo dục: + Đối với cấp vĩ mô
- Quản lý giáo dục được hiểu những tác động tự giác (có ý thức có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý tới tất cả các mắt xích của hệ thống.(Từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
- Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động
Đối với cấp vi mô:
- Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và mục tiêu giáo dục của nhà trường
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt có tính phổ biến và vĩnh hằng, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người QLGD là một bộ phận của quản lý xã hội, giáo dục có quy củ, chặt chẽ,
có chất lượng đáp ứng với nhu cầu đổi mới của xã hội thì cần có hệ thống quản
lý giáo dục chặt chẽ Công tác quản lý giáo dục từ Bộ xuống tới các cơ sở nhất quán quan điểm chỉ đạo như: “Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng
Trang 31giáo dục” từ đó có thể nói công tác quản lý giáo dục được coi là sự quyết định chất lượng, kết quả của một đơn vị cơ sở trường học
Khoa học quản lý giáo dục đã hình thành phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Để phát huy hết sức mạnh tổng hợp và các chức năng đặc biệt của hoạt động giáo dục, các nhà khoa học quan tâm đặc biệt đến vấn đề QLGD, tức là vấn đề điều khiển quá trình giáo dục, rèn luyện con người, hoạt động của hệ thống nhà trường, nơi giáo dục
và rèn luyện thế hệ trẻ nói riêng và cho mọi người nói chung trở thành những người có ích, đáp ứng yêu cầu xã hội về nhân lực
Các nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
khác nhau về QLGD: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân”[1, tr.17] Tác giả Phạm Khắc Chương cũng đưa ra quan niệm của
mình: “QLGD theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn cho thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên GDQL được hiểu là sự điều hành hệ thống GDQD, các trường trong hệ thống GDQD” [17, tr.16] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCNVN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [32]
Trang 32Nói chung quản lý giáo dục được hiểu theo cấp vi mô và vĩ mô Ở cấp vĩ
mô, QLGD được hiểu là những tác động có tự giác, có ý thức, có kế hoạch có hệ thống hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống, từ cấp cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà toàn xã hội đặt ra cho ngành giáo dục Đối với cấp vi mô QLGD được hiểu là những hệ thống những tác động tự giác, có ý thức có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật, chủ thể quản lời lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha
mẹ học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý giáo dục đó là: Chủ thể quản lý; đối tượng bị quản lý (nói tắt là đối tượng quản lý); khách thể quản lý; mục tiêu quản lý Trong thực tế các yếu tố trên không tách rời nhau, chúng có sự tương tác gắn bó chặt chẽ với nhau cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức
Chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, tiếp nhận cùng hoạt động theo quỹ đạo, khách thể quản lý nó là những tác động ngoài, chủ thể quản lý làm thế nào đó để khách thể quản lý tích cực thực hiện mục tiêu chung, khách thể quản
lý nó có thể chịu tác động trở lại hệ thống giáo dục và quản lý giáo dục
Như vậy quản lý và quản lý giáo dục thực hiện chặt chẽ, vạch ra đường lối quan điểm, theo tinh thần chỉ đạo đúng hướng, nâng cao chất lượng giáo dục
1.2.1.2 Xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục cần có sự tác động của các cơ quan ban ngành, các cấp ủy Đảng, các tổ chức nhà nước, chính quyền địa phương, thôn bản, tổ chức giáo dục, các cấp quản lý, các tổ chức xã hội, danh nghiệp, quần chúng nhân dân có liên quan cùng thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, công tác XHHGD là mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người Sự tác động này làm thay đổi chất lượng, sự thay đổi về cơ sở vật chất, đội ngũ, nguồn lực,
Trang 33số lượng, v.v…đáp ứng với phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với hoàn cảnh thực tế đất nước
Bản chất xã XHHGD là mọi người làm cho giáo dục, để giáo dục phục vụ cho mọi người Trách nhiệm của ngành giáo dục và nhà trường là phải làm cho mọi người thấy rõ vai trò, lợi ích của giáo dục đối với đời sống cộng đồng, trước khi giáo dục đòi hỏi xã hội thể hiện trách nhiệm tham gia, đóng góp xây dựng
XHHGD chính là sự gắn bó nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò tạo, điều kiện cho giáo dục, khuyến khích, thúc đẩy phát triển giáo dục trong cộng đồng xã hội
Xã hội hóa có thể hiểu ở các góc độ khác nhau Chẳng hạn xã hội hóa con người, là quá trình biến đổi con người tự nhiên thành một con người xã hội, hoặc biến một hiện tượng nào đó thành hiện tượng xã hội Cũng có thể hiểu xã hội hóa là tiến hành một công việc gì đó có sự tham gia rộng rãi của cả xã hội
Theo từ điển xã hội học, XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và
XH, trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kỹ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội [44]
Theo nhà xã hội người Pháp EMILO DUR KHEIM “Giáo dục vừa có chức năng phân hóa, vừa có chức năng XH” Khái niệm XHH đã được quan
tâm từ ba thập kỷ gần đây và chủ yếu được xem xét ở bình diện xã hội học
Còn tác giả BOLOIVIEW trong cuốn “Giáo dục học” đã đề cập vấn đề XHH,
đó là quá trình cá nhân hòa nhập vào xã hội hay một trong các nhóm của họ thông qua quá trình chuẩn mực và giá trị của từng nhóm xã hội Đó cũng là
quá trình tiếp thu và phê phán các giá trị chuẩn mực và khuôn mẫu hành động
mà trong đó mỗi thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì được năng lực hành động của xã hội Vì vậy, XHH là một quá trình qua đó cá nhân học hỏi và học tập suốt đời các yếu tố của môi trường xã hội, hòa nhập vào cấu trúc nhân cách dưới ảnh hưởng của các tác nhân xã hội và những kinh nghiệm cá nhân Tác giả
G Endrweit cho rằng: XHH được hiểu chung như là một quá trình biện chứng,
Trang 34trong đó mỗi người, với tư cách là thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt khác, thông qua quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội Mặc dầu với cách diễn đạt khác nhau nhưng những ý kiến trên
đều có chung một quan điểm: XHH là quá trình cá nhân hòa nhập xã hội, trong
đó cá nhân là chủ thể hành động, nên không chỉ tiếp thu mà còn phong phú thêm các quan hệ xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần dưới cá nhân
Trong nhiều văn bản gần đây, XHH là thuật ngữ được quy ước để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường giác ngộ, tổ chức huy động tổng sức mạnh toàn dân, làm cho hoạt động này không chỉ được thực hiện ở một ngành Các ngành, các giới, các lực lượng xã hội cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm vụ của chính mình nên tự nguyện và phối hợp tích cực hành động thực hiện, đồng thời chính họ là người được hưởng thụ mọi thành quả do hoạt động đó đem lại [44] Về mặt câu chữ,
cụm từ “XHH được dùng chính thức từ Đại Hội Đảng khóa VIII Xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội, Đảng ta chủ trương giải quyết các vấn đề
xã hội theo tinh thần XHH, trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời khai thác mọi tiềm năng của nhân dân, của địa phương, của các hội đoàn thể, tranh thủ các nguồn viện trợ từ nước ngoài và sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con người và xã hội XHH xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường KT-XH lành mạnh và thuận lợi cho các vấn đề xã hội đồng thời mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội
Trong luận văn này, chúng tôi trình bày khái niệm XHH theo nghĩa như
sau: “XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia mọi người dân, mọi lực
Trang 35lượng xã hội, tạo sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo
và quản lý thống nhất của nhà nước”[44]
Điều cốt lõi của XHH chính là sự tương tác, mối quan hệ, thuộc tính vốn
có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội
XHHGD là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GDQD dưới sự quản lý của nhà nước Đây là
tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của toàn xã hội là điều kiện không thể thiếu
để phát triển và có chất lượng hiệu quả của sự giáo dục, có giá trị chỉ đạo giáo dục một cách lâu dài, không phải là một ý đồ chiến lược được vận dụng một cách nhất thời cho một giải pháp tình thế Đây được xem là con đường, là biện pháp tiên quyết để thực hiện trọn vẹn chức năng, nhiệm vụ của giáo dục theo đúng mục tiêu được xác định XHHGD tạo ra nhiều nguồn lực để làm giáo dục,
mở ra một con đường để chúng ta làm giáo dục không thuần túy ở trong nhà trường, phá thế đơn độc nhà trường Thực hiện kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, kết hợp các lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình, xã hội, tạo ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục XHH các hoạt động giáo dục đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực của xã hội tham gia giải quyết các vấn đề của giáo dục
Với xu thế phát triển xã hội hiện nay cần phải đẩy mạnh công tác XHHGD mọi người đều có tinh thần, huy động mọi nguồn lực, góp công, góp sức, cùng chung tay chăm lo sự nghiệp giáo dục Công tác XHHGD được đề cao, gần đây tập trung quan tâm công tác XHHGD tiêu biểu là: “Hội thảo quốc
tế công tác XHHGD Việt Nam - Thực tiễn đổi mới” tại Hà Nội về 3 nhiệm vụ trọng tâm: Đổi mới chương trình và phương pháp; mô hình đào tạo thực hành; Bồi dưỡng giáo viên công tác XHH chuyên nghiệp” Mục đích của hội thảo ngành giáo dục công tác XHH ở Việt Nam thực tiễn và đổi mới, các cơ sở giáo
Trang 36dục cần thực hiện tốt công tác XHHGD ở địa phương có nhiều tiềm năng và năng lực, nhân lực nhân tài có điều kiện tiếp cận giáo dục quốc tế
Để công tác XHHGD đạt hiệu quả cao cần có sự cộng tác của các tổ chức, các cá nhân, đoàn thể, đây là sự gắn bó giữa giáo dục với xã hội, với cộng đồng và giáo dục thực hiện mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là động lực phát triển KT- XH Vì vậy, XHHGD
là thực hiện mối liên hệ phổ biến có tính quy luật giữa giáo dục và cộng đồng
xã hội Do đó, mọi người phải làm giáo dục và cùng làm giáo dục để giáo dục cho mọi người Nói cách khác XHHGD phải đảm bảo 2 vế: Mọi người có nghĩa
vụ chăm lo cho giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người Hai vế trên đã nêu rõ hai yêu cầu XHHGD là XHH trách nhiệm, nghĩa vụ đối với giáo dục và XHH quyền lợi về giáo dục Hai yêu cầu đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Yêu cầu thứ hai là hệ quả và là biện pháp thúc đẩy yêu cầu thứ nhất Yêu cầu thứ hai là đỉnh điểm cao của XHHGD để mọi người được hưởng quyền lợi từ xã hội
Thời kỳ phát triển đất nước hiện nay chủ trương XHHGD hoàn toàn không phải là ý đồ chiến thuật, được vận dụng một cách nhất thời như một giải pháp tình thế, mà là một chủ trương chiến lược có tính lâu dài Huy động mọi nguồn lực tham gia giải quyết, những vấn đề về giáo dục là điều kiện không thể thiếu để phát triển nguồn nhân lực đủ sức để thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới XHCN
Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nêu rõ: XHH công tác giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên mọi tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GDQD dưới sự quản lý của nhà nước” Thực tiễn hoạt động giáo dục cần làm rõ tính chất xã hội của giáo dục và XHHGD Lâu nay vẫn còn một số ít người dân và cán bộ hiểu một cách đơn giản và phiến diện về XHHGD là sự huy động sự đóng góp bằng tiền của người dân vào sự nghiệp giáo dục, là tăng học phí ở các cấp học, bậc học, là đa
Trang 37dạng hóa loại hình trường, lớp vv…Điều này đã khiến cho cuộc vận động góp sức cho giáo dục bị lệch hướng Vì vậy, việc trình bày một cách có hệ thống và toàn diện nội dung của thuật ngữ thường bị hiểu sai lệch này là cần thiết Luật
giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009 có ghi phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; Thực hiện đa dạng hóa các lại hình trường và các hình thức giáo dục; Khuyến khích huy động và tạo điều kiện để
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình
và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
và an toàn [34] Luật giáo dục đã xác định rõ vai trò của Nhà nước là vai trò
chủ động Từ đó cho thấy XHHGD tạo ra sự kết hợp giữa 3 yếu tố nhà nước, xã hội và ngành giáo dục, trong hoạt động của sự nghiệp giáo dục
Có thể coi XHHGD là một cách làm giáo dục được xác định bởi các đặc
điểm cơ bản sau: Đó là huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên
quan đến giáo dục vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục Sự huy động này không phải là nhất thời mà là thường xuyên theo một cơ chế vận hành xác định, được xây dựng từ cấp trung ương đến địa phương trên cơ sở một chiến lược phát triển lâu dài cho cả nước cũng như mỗi địa phương, địa bàn dân cư nhất
định Đó là huy động các nguồn lực của cộng đồng tham gia vào công tác giáo
dục Các lực lượng xã hội đó có thể tham gia rộng rãi vào nhiều lĩnh vực hoạt động giáo dục với nhiều hình thức phong phú đa dạng Các lực lượng xã hội đó là: Mặt trận tổ quốc, các tổ chức, cá nhân, Đoàn TNCS HCM, Hội liên hiệp phụ
nữ, Hội cựu chiến binh, Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học, Hội chữ thập
đỏ, các doanh nghiệp, vv Các tổ chức xã hội và cá nhân quan tâm sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là gia đình và tộc họ ngày càng đóng vai trò trực
tiếp quan trong công tác giáo dục Đó là việc đa dạng hóa các hình thức giáo
dục và các loại hình nhà trường nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ “nâng
Trang 38cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước XHH công tác giáo dục còn là việc mở rộng các nguồn đầu tư khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của dân, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Đây không những là chính sách lâu dài trong việc thực hiện chính sách XHH của Đảng ta mà còn là giải pháp cần thiết trong giai đoạn Nhà nước chưa có đủ kinh phí cho các hoạt động giáo dục XHH công tác giáo dục không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước Trái lại XHH công tác giáo dục chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục
Như vậy, XHHGD không chỉ là của ngành giáo dục mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi tổ chức KT- XH dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước XHHGD không phải là một giải pháp ngắn hạn trong lúc ngân sách dành cho giáo dục còn hạn hẹp mà là một giải pháp lâu dài, mang tính chiến lược XHHGD nhằm đến thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nhằm làm cho không chỉ thế hệ trẻ mà mọi người dân đều được hưởng quyền lợi mà giáo dục đem đến, đồng thời khuyến khích và tạo mọi điệu kiện cho mọi người dân, mọi tổ chức chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội phát huy cao nhất trách nhiệm
và năng lực của mình đóng góp cho sự nghiệp giáo dục XHHGD còn nhằm đến mục tiêu xây dựng xã hội học tập, hình thành thói quen học suốt đời đối với moi người
1.2.1.3 Xã hội hóa giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non
Luật giáo dục 1998 đề ra: Giáo dục mầm non là hệ thống đầu tiên trong
hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non thực hiện nhiệm vụ, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến sáu tuổi, nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên
của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1
Trang 39Hướng đến việc phát triển tiềm năng và năng lực tối đa ở trẻ, nhấn mạnh vào việc hình thành những giá trị, kỹ năng sống cần thiết cho bản thân, phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng, địa phương, chuẩn bị tốt cho trẻ vào tiểu học
Bổ sung một số giá trị cần thiết đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với những giá trị mang tính toàn cầu như: Tự tin, năng lực, sáng tạo, linh hoạt, chia sẻ, nhân ái, hội nhập và bảo vệ môi trường…
Theo luật giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã nêu: Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống GDQD bao gồm: GDMN có nhà trẻ và mẫu giáo, giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học và sau đại học, đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ cao học, trình độ thạc sỹ, trình độ tiến sỹ [34] Tại chương II luật này đã quy định: Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi Mục tiêu của GDMN giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1 Cơ sở GDMN nhà trẻ nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi; trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống GDQD Đây là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Do đó nó có tầm quan trọng đặc biệt trong
sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế hệ trẻ Hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “Thời kỳ vàng của cuộc đời”[51]
và thực hiện chính sách trường mầm non tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền Luật giáo dục Indonesia đã công nhận giáo dục mầm non là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản Luật giáo dục Thái Lan nhấn mạnh gia đình và chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em
Trang 40Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nhân cách của con người được hình thành tương đối đầy đủ trong vòng 5 năm đầu đời UNESCO, một tổ chức quốc tế, khi bàn về chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục nêu rõ: “Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là một mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục” Nhà giáo dục Xô viết lỗi lạc A.S Makarenko có nói: Những cơ
sở căn bản của việc giáo dục trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc đào tạo giáo dục vẫn tiếp tục nhưng lúc đó đã bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa đã được vun tròng trong 5 năm đầu tiên
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng GDMN Trong buổi lễ giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với các bậc học khác, đến nay chúng ta chưa lo được nhiều cho GDMN Đây là một mảng còn yếu của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn ngành cần cố gắng khắc phục trong thời gian ngắn nhất” [53] Sau đó không lâu, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2020” với quan điểm chỉ đạo
là: “ Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non”
[52] Quan điểm chỉ đạo này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay về phát triển nền giáo dục quốc dân Ở nhiều nước, không chỉ ở những nước nghèo mà ngay cả ở những nước giàu, để phát triển sự nghiệp giáo dục,
họ đã tìm nhiều giải pháp để đẩy mạnh XHHGD, trong đó có XHHGD mầm non (XHHGDMN) Trong nhận thức chung, XHHGD được hiểu là sự huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Ở nước ta, XHHGD còn
là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân