1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010

108 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn đạt được hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng phù hợp với điều kiện kinh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi

2 TS Nghiêm Thị Hải Yến

Thái Nguyên, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Tác giả luận văn

PGS TS Nguyễn Thị Phương Chi

Trang 4

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Qua đây, cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn ở cạnh tôi trong những lúc khó khăn nhất và giúp tôi có được thành quả ngày hôm nay

Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô và các bạn để công trình thêm hoàn thiện

Tác giả luận văn

Nông Việt Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

Chuơng 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN 7

1.1 Chợ Mới: Địa bàn và Dân cư 7

1.1.1 Khái quát vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên 7

1.1.2 Dân cư 9

1.1.3 Lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới 10

1.1.4 Kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới từ 2001 đến 2010 17

1.1.5 Tình hình xóa đói giảm nghèo của Chợ Mới trước năm 2001 21

1.2 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước và tỉnh Bắc Kạn 26

1.2.1 Khái niệm về nghèo đói 26

1.2.2 Tiêu chí đánh giá nghèo đói 27

1.2.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về xóa đói giảm nghèo 29

Tiểu kết chương 1 31

Chuơng 2 XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN CHỢ MỚI GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 32

2.1 Thực hiện XĐGN tại huyện Chợ Mới giai đoạn 2001 - 2005 32

2.1.1 Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo 32

2.1.2 Triển khai dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư 32

Trang 6

2.1.3 Hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề 34

2.1.4 Hỗ trợ cơ sở hạ tầng các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn 34

2.1.5 Công tác định canh định cư và xóa đói giảm nghèo 35

2.1.6 Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 39

2.2 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo của huyện 41

Tiểu kết chương 2 44

Chương 3 THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN CHỢ MỚI GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 46

3.1 Định hướng phát triển của huyện Chợ Mới từ 2006 đến 2010 46

3.2 Đẩy mạnh thực hiện xóa đói giảm nghèo của huyện Chợ Mới từ 2006 đến 2010 48

3.2.1 Thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo 49

3.2.2 Xã hội hóa việc xóa đói giảm nghèo 53

3.3 Những thành tựu đạt được trong công cuộc xóa đói giảm nghèo trong những năm 2001 - 2010 67

3.4 Một số nhóm giải pháp giảm nghèo của huyện Chợ Mới 72

3.4.1 Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 72

3.4.2 Nhóm giải pháp cơ bản thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo 77

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT Cụm từ viết tắt Đọc là

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

ILO Tổ chức Lao động quốc tế

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn 28

Bảng 2.1: Tình hình đói nghèo trên địa bàn huyện qua các năm 36

Bảng 2.2: Số hộ nghèo chia theo các xã 38

Bảng 3.1: Tổng thu nhập bình quân của hộ dân phân theo vùng 55

Bảng 3.2: Cơ cấu thu nhập của các hộ nghèo năm 2007 57

Bảng 3.3: Cơ cấu chi tiêu của các nông hộ nghèo (năm 2007) 60

Bảng 3.4: Tổng hợp hộ nghèo theo tiêu chí mới 64

Bảng 3.5: Tổng hợp hộ nghèo theo tiêu chí mới 65

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở mọi quốc gia Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất thế giới như Mỹ, Nhật Bản… vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo nàn cả về vật chất

và tinh thần Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế

Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, điều chỉnh đối với quá trình xã hội và sự hoạt động của con người nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý nhà nước bằng pháp lệnh Quản lý nhà nước là một hoạt động rất quan trọng nó ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nếu quản lý tốt thì xã hội sẽ phát triển phồn vinh và ngược lại nếu quản lý không tốt thì xã hội sẽ chậm phát triển, xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội Vì vậy thực hiện tốt công tác xoá đói, giảm nghèo là mục tiêu và cũng là góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế của đất nước

Quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng và nhà nước về sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội được khẳng định hầu hết trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến

bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” Tiếp đến tại Đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định một lần nữa và cụ thể hóa quan

điểm này, đó là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng

bước đi và chính sách phát triển”

Trang 10

Việt Nam là một trong những nước có thu nhập thấp nhất thế giới, do

đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN là một chiến lược lâu dài cần có sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực,

tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến Nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH), phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đề XĐGN càng khó khăn và phức tạp hơn so với thời kỳ trước Muốn đạt được hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Chợ Mới là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn có diện tích tự nhiên chiếm trên 606 km2, bao gồm 16 đơn vị hành chính là thị trấn Chợ Mới

và 15 xã trực thuộc, 166 thôn, bản, tổ dân phố Số dân 36.747 người (2009), mật độ 61 người/km2

Thị trấn Chợ Mới nằm bên quốc lộ 3, cách thị xã Bắc Kạn 45km về hướng nam.Trong những năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, sự nỗ lực cố gắng của lãnh đạo và nhân dân toàn huyện nên tình hình kinh tế - xã hội đã có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói hàng năm giảm từ 2-3% Tuy nhiên, Chợ Mới vẫn là huyện nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo cao

và thu nhập trung bình thấp hơn một số huyện thị trong tỉnh Bắc Kạn Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của Chợ Mới như vậy, Tỉnh Bắc Kạn và, lãnh đạo huyện đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên chọn đề tài: “Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện

Trang 11

Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2001 - 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc.Vì vậy, vấn đề này được đề cập trong nhiều tài liệu và có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

- Cuốn “XĐGN ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay - Thực trạng

và giải pháp” (2002) của tác giả Hà Quế Lâm, đã tập trung vào một số vấn đề, làm rõ một số nguyên nhân của tình trạng đói nghèo Đặc biệt chú trọng phân tích đánh giá quá trình XĐGN ở nước ta trong đó phân tích sâu về người dân tộc thiểu số ở vùng cao, miền núi

- Tác phẩm: “Xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm” của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, xuất bản năm 2003 đã đề cập về vấn đề XĐGN ở Việt Nam rất cụ thể Cuốn: “Cẩm nang giảm nghèo của văn phòng điều phối chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo” Cục bảo trợ xã hội đã

cụ thể hóa, quy trình hóa việc thực hiện chính sách giảm nghèo hiện hành, nhằm giúp các cán bộ làm công tác XĐGN nhận thức vấn đề cụ thể hơn thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện

- Đảng và Chính phủ đã ban hành rất nhiều Chỉ thị, Quyết định, Thông

tư về XĐGN; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xuất bản cuốn: “Hệ thống văn bản về bảo trợ xã hội và XĐGN” (2004), NXB Lao động và Xã hội Đã hệ thống hóa cơ bản các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực bảo trợ xã hội và XĐGN

Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu liên quan đến XĐGN, nhiều đề tài, luận văn của nhiều tác giả đã nghiên cứu về công cuộc XĐGN ở một số huyện,

Trang 12

tỉnh như: Luận văn Cụng cuộc xúa đúi giảm nghốo của tỉnh Điện Biờn (2004 -

2010, Nguyễn Thỳy Hằng); Luận văn “Một số giải phỏp nhằm đẩy mạnh chương trỡnh xúa đúi giảm nghốo của tỉnh Yờn Bỏi giai đoạn 1998 - 2006” (Nguyễn Thị Ngọc Huyền - Đại học Tõy Bắc); Theo bỏo cỏo mục tiờu phỏt triển Thiờn niờn kỷ năm 2010: Những thành tựu giảm nghốo của Việt Nam là một trong những cõu chuyện thành cụng nhất trong phỏt triển kinh tế (2006 - 2010); Đề tài “Nghiờn cứu và đề xuất một số giải phỏp xoỏ đúi giảm nghốo cho hộ nụng dõn huyện Vừ Nhai, tỉnh Thỏi Nguyờn giai đoạn 2001 - 2010” (Hà Như Thực); Luận văn “Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở huyện Sóc Sơn,

TP Hà Nội - Kinh nghiệm và giải pháp” (Hoàng Hồng Quõn); Một số chính sách quốc gia về việc xoá đói giảm nghèo (2002), Nxb Lao động, Hà Nội Những cụng trỡnh nờu trờn tuy khụng trực tiếp nghiờn cứu về cụng tỏc xúa đúi giảm nghốo của huyện Chợ Mới nhưng giỳp cho tỏc giả cú thờm nhận thức trong quỏ trỡnh thực hiện luận văn của mỡnh

Đối với huyện Chợ Mới - Bắc Kạn được thành lập và đi vào hoạt động ngày 02 thỏng 9 năm 1998 cho tới nay, việc tỡm hiểu “Cụng cuộc Xúa đúi giảm nghốo ở huyện Chợ Mới giai đoạn 2001 - 2010” từ trước tới nay chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu Tuy nhiờn trong từng lĩnh vực, khớa cạnh khỏc nhau cỏc nhà nghiờn cứu đó cú đề cập tới một cỏch trực tiếp hay giỏn tiếp như

cuốn “Huyện Chợ Mới 10 năm xõy dựng và phỏt triển” (Huyện ủy - HĐND -

UBND Huyện Chợ Mới, thỏng 9/2008) cung cấp thờm một số tư liệu khỏi quỏt về điều kiện tự nhiờn, xó hội và quỏ trỡnh lónh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ

và chớnh quyền huyện với sự phỏt triển kinh tế xó hội

Vỡ vậy, việc nghiờn cứu “Cụng cuộc Xúa đúi giảm nghốo ở huyện Chợ Mới giai đoạn 2001 - 2010” là một vấn đề mới và cần thiết Trong quỏ trỡnh thực hiện luận văn, bản thõn tụi rất tụn trọng thành quả của cỏc thế hệ đi trước, tham khảo và coi đú là những tư liệu quý bỏu, tạo điều kiện cho tụi tiếp tục nghiờn cứu và hoàn thành đề tài khoa học của mỡnh

Trang 13

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu: Công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

- Nhiệm vụ của đề tài:

Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Chợ Mới

Tìm hiểu quá trình thực hiện công cuộc XĐGN ở huyện Chợ Mới Đánh giá những chuyển biến về kinh tế, xã hội của huyện Chợ Mới thông qua công cuộc XĐGN

Phân tích đánh giá thực trạng đói nghèo, một số tồn tại, hạn chế và những vấn đề đặt ra cấn giải quyết Trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm, phương hướng, mục tiêu và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện XĐGN của huyện Chợ Mới ngày càng đạt hiệu quả cao

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: 15 xã và 1 thị trấn của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

Về thời gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Chợ Mới từ năm 2001 đến năm 2010 Tuy nhiên, để làm rõ thành tựu công xóa đói giảm nghèo, Luận văn này cũng trình bày khái quát tình hình xóa đói giảm nghèo ở huyện Chợ Mới từ trước năm 2001

4 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

- Tài liệu gốc: các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các Bộ ngành, Trung ương và các tài liệu về XĐGN, các chế độ chính sách thực hiện công tác XĐGN

- Tài liệu thành văn: Các Chỉ thị, Nghị quyết, Chương trình XĐGN của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Kạn Các Chỉ thị, Nghị quyết của Huyện

ủy, HĐND, UBND huyện, các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện; Chương trình XĐGN của huyện giai đoạn 2001 – 2005, 2006 – 2010; Số liệu của các

Trang 14

phòng ban liên quan đến nội dung cần nghiên cứu; Ngoài ra luận văn còn sử dụng các số liệu điền dã tại các xã, thị trấn trong huyện

- Các bài viết, luận văn Thạc sĩ viết về XĐGN ở một số địa phương lân cận đã được bảo vệ và công bố tại Thư viện luận văn của các Trung tâm học liệu trên toàn quốc

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: Thống kê, so sánh, điều tra, tổng hợp, phân tích để làm rõ vấn đề

5 Đóng góp của Luận văn

Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống “Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Chợ Mới giai đoạn 2001- 2010”:

- Căn cứ vào thực trạng đói nghèo của huyện nhằm góp phần vào việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới đến năm 2020;

- Đóng góp cho quá trình nghiên cứu thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo của huyện Chợ Mới nói riêng và các huyện khác trong tỉnh Bắc Kạn những năm tiếp theo;

- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cho các đề tài nghiên cứu khoa học của khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

6 Bố cục:

Ngoài phần mở đầu, nội dung Luận văn được chia làm 3 phần:

Chương 1: Khái quát về huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn

Chương 2: Xóa đói giảm nghèo ở huyện Chợ Mới giai đoạn 2001 - 2005 Chương 3: Xóa đói giảm nghèo ở huyện Chợ Mới giai đoạn 2006 - 2010

Trang 16

NỘI DUNG

Chuơng 1

KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN

1.1 Chợ Mới: Địa bàn và Dân cư

1.1.1 Khái quát vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên

Về địa giới hành chính, huyện Chợ Mới trước năm 1965 thuộc huyện Bạch Thông (Châu Bạch Thông chính thức ra đời từ thời Lê, đời Hồng Đức thứ 21, vào năm 1490) Từ năm 1965 đến 1997 thì 09 xã và 01 thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông sát nhập về huyện Phú Lương (gồm Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư và thị trấn Chợ Mới) Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, tỉnh Bắc Kạn được tái lập Sau khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập năm

1997, địa giới hành chính huyện Bạch Thông điều chỉnh tiếp nhận 09 xã và 01 thị trấn phía Bắc của huyện Phú Lương Thực hiện Nghị định số 46-NĐ/NP ngày 06/7/1998 của Chính phủ, huyện Chợ Mới được thành lập trên cơ sở tách 16 xã, thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông và chính thức công bố Quyết định thành lập, đi vào hoạt động từ ngày 02 tháng 09 năm 1998

Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên là 60.716,08 ha, gồm 16 đơn

vị hành chính (15 xã và 01 thị trấn) Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc Kạn 45 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 142 km về phía Nam

Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi Là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái Nguyên); phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên); phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên); phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn

Trang 17

Đường Quốc lộ 3 đi qua 7 xã, thị trấn Sông Cầu chảy qua 9 xã trong huyện Thị trấn Chợ Mới nằm trên địa phận hợp lưu của sông Cầu và sông Chu Địa hình của huyện khá đa dạng và phức tạp, chia thành 3 vùng chủ yếu:

Khu vực phía Đông của huyện gồm các xã: Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư, Tân Sơn Địa hình của vùng này được tạo bởi các núi

đá và thung lũng nhỏ, có nhiều thác ghềnh

Khu vực phía Tây của huyện gồm các xã: Thanh Mai, Thanh Vận, Mai Lạp Địa hình núi đất và các thung lũng nhỏ tương đối thuận lợi cho phát triển trồng rừng

Khu vực dọc theo đường Quốc lộ 3, gồm các xã: Hòa Mục, Cao Kỳ, Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh và thị trấn Chợ Mới, chủ yếu

là đồi núi được cấu tạo từ nham thạch cổ xưa, xen kẽ với núi đá vôi, ngăn cách bởi những thung lũng Có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng dọc theo triền sông, suối Địa hình miền núi nhiều mưa, mật độ sông, suối có nguồn nước khá lớn, lượng nước lưu chuyển khá dồi dào, phân phối đều giữa các khu vực trong huyện

Huyện Chợ Mới có hệ thống sông, suối được phân bố đều khắp Con sông lớn nhất là sông Cầu Sông Cầu có vai trò to lớn trong đời sống cư dân hầu hết các xã trong huyện Nguồn nước thủy lợi dồi dào, đường giao thông ngược xuôi và nguồn thủy sản phong phú Hàng năm, dòng sông này bồi đắp cho các xã dọc lưu vực một lớp phù xa khá màu mỡ Ngoài tác dụng đó, sông Cầu còn đáp ứng được một phần quan trọng sự thông thương nguồn hàng giữa huyện Chợ Mới với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Cầu đóng vai trò vận tải gạo, muối và nhiều vật dụng khác từ miền xuôi đến bến Chợ Mới bằng các thuyền ván lớn, nhỏ; trong hòa bình lại vận chuyển tre, nứa, gỗ từ Bắc Kạn về xuôi

Trang 18

Là huyện nằm ở cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn nên mạng lưới giao thông ở Chợ Mới tương đối phát triển Hiện nay 100% số xã có đường ô

tô đến tận trung tâm xã nên giao thông liên lạc khá thuận tiện

Quốc lộ 3 là con đường giao thông huyết mạch chạy dọc theo chiều dài của huyện Chợ Mới Nhờ con đường này, từ Chợ Mới có thể đi lại một cách

dễ dàng từ phía Nam xuống thủ đô Hà Nội, phía Bắc lên tận tỉnh Cao Bằng Ngoài ra còn một hệ thống đường liên xã, tạo lên mạng lưới giao thông phục

vụ đời sống, kinh tế và văn hóa - xã hội cho nhân dân các dân tộc trong vùng

Chợ Mới nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, hàng năm chia thành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ trùng với gió mùa đông nam, nhiệt độ trung bình từ 25 độ C đến 28 độ C Mùa đông trùng với gió mùa đông bắc, tiết trời giá rét, nhiều khi có sương muối, gây ảnh hưởng xấu đến độ sinh trưởng của cây trồng và gia súc

1.1.2 Dân cư

Là một huyện miền núi phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, đất rộng, người thưa Dân số toàn huyện ngày đầu mới thành lập (1998) là 37.998 người tăng lên 38.205 người (2005) và đến 2008 là 29.468 người

Trong bức tranh của cộng đồng dân cư, huyện Chợ Mới hiện nay có các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay và một số ít dân tộc khác thuộc các ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ khác nhau:

Ngữ hệ Nam Á với các nhóm: Việt - Mường (Kinh); Mông - Dao (Mông, Dao)

Ngữ hệ Thái - Ka đai (Tày, Nùng)

Ngữ hệ Hán (Hoa và nhóm Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay)

Người Kinh chiếm khoảng 20% dân số, chủ yếu sông tập trung ở vùng thấp và thị trấn

Người Tày chiếm khoảng 56,9% dân số, phân bố hầu khắp các địa bàn trong huyện Đây là lớp dân cư bản địa, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Trang 19

cao trong vùng Ngôn ngữ Tày cùng với tiếng phổ thông đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa các dân tộc trong khu vực

Người Nùng có mới quan hệ lịch sử với người Tày, cư trú xen kẽ với người Tày và người Kinh, với dân số khoảng 3,62 %

Người Dao cũng như người Mông sinh sống chủ yếu ở vùng cao quanh chân núi, chiếm khoảng 17,3% dân số

Người Mông, Sán Chay, Hoa và một số dân tộc khác có mặt muộn hơn với dân số ít (~2,03%)

Mỗi dân tộc ở Chợ Mới dù trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, số lượng nhiều ít khác nhau, nhưng đều có sắc thái dân tộc độc đáo, phong tục tập quán khác nhau tạo nên bức tranh văn hóa đa màu sắc, nhiều giá trị văn hóa vật thể, phi vật vẫn còn bảo lưu: Từ nếp nhà sàn truyền thống đến các bộ trang phục đậm đà sắc thái dân tộc, hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa Lễ hội “lồng tồng” (xuống đồng) vào mùa xuân với ý nghĩa cầu mùa

là hình thưc sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo Hát Páo dung của người Dao, múa khèn của người Mông, hát Sli, lượn của người Tày - Nùng trong các lễ hội, chợ phiên hay trong đám cưới

Trải qua quá trình lịch sử cùng sinh sống trên vùng đất Chợ Mới, nhân dân các dân tộc ở đây đã tạo nên những giá trị văn hóa mang đặc trưng dân tộc, đồng thời làm phong phú thêm văn hóa của cộng đồng dân cư

1.1.3 Lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện Chợ Mới đã phải trải qua những bước thăng trầm và các giai đoạn cách mạng khác nhau, nhất là về địa giới hành chính

Để kịp thời lãnh đạo phong trào, ngày 23 tháng 11 năm 1944 Tỉnh bộ Việt Minh Bắc Kạn ra đời, sự kiện này có ảnh hưởng lớn đến phong trào quần

Trang 20

chúng Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng Các cơ sở cách mạng được củng cố và mở rộng Tháng 8 năm 1944, một cán bộ cách mạng Việt Minh từ Định Hóa (Thái Nguyên) sang bắt liên lạc gây dựng cơ sở ở Nhì Ca (xã Như Cố), một số quần chúng tích cực được kết nạp vào Hội Việt Minh Đến tháng 10 năm 1944 hai cán bộ (Nông Văn Quang và Long Giang) được phái sang làm nhiệm vụ củng cố phong trào ở Như Cố Từ đó phong trào cách mạng phát triển nhanh ra các xã Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư, Thị trấn Chợ Mới, Yên Đĩnh, Cao Kỳ Một đội tự vệ vũ trang ra đời, bí mật tập luyện Nhân dân trong vùng vui mừng, phấn khởi ủng hộ gạo, muối để nuôi cán bộ

và tự vệ, bà con vận động thu nhặt, quyên góp thuốc súng cho tự vệ để chế tạo đạn

Được sự cổ vũ của phong trào cách mạng toàn quốc, dưới ánh sáng của Nghị quyết Ban liên tỉnh Cao-Bắc-Lạng và bản Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau

và hành động của chúng ta” Nhân dân các dân tộc toàn huyện Chợ Mới đã nỗ lực, nhiệt tình hưởng ứng và hăng hái tham gia giải phóng quân, tham gia các đoàn thể Việt Minh, các tổ chức cứu quốc trong thanh niên, phụ nữ, nông dân phát triển rất nhanh chóng, nhân dân trong huyện tích cực quyên góp lương thực, thực phẩm chờ đón quân giải phóng

Tháng 3 năm 1945, một đơn vị Cứu quốc do đồng chí Phạm Duy Tiến đến xây dựng lực lượng tại xã Cao Kỳ, đồng thời một đơn vị Cứu quốc do đồng chí Hoàng Thương chỉ huy, phối hợp với tự vệ địa phương mở cuộc tập kích ở thị trấn Chợ Mới, quân địch ở đây đầu hàng, ta thu 10 khẩu súng cùng

600 viên đạn Sau thắng lợi này, chính quyền địch ở các xã sụp đổ, chính quyền cách mạng của nhân dân được thành lập, phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng sang các xã xung quanh như Yên Hân, Yên Đĩnh, Cao Kỳ

Đầu tháng 4 năm 1945 một đơn vị Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân dưới sự chỉ huy của đồng chí chính trị viên Xích Thắng (Dương Mạc

Trang 21

Thạch) đến vùng Thanh Vận, Mai Lạp hoạt động Được sự hỗ trợ của Việt Minh, nhân dân nổi dậy tịch thu triện, giấy tờ, sổ sách của bọn quan lại, thành lập chính quyền cách mạng Các tổ chức Cứu quốc được xây dựng và phát triển, các đội tự vệ ra đời tổ chức phục kích đánh địch trên dọc Quốc lộ 3

Thực hiện chủ trương của Ban Cán sự tỉnh Bắc Kạn, lực lượng cách mạng đẩy mạnh các hoạt động phối hợp việc tuyên truyền tổ chức quần chúng, mở rộng ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh, vạch trần những thủ đoạn lừa bịp của địch Mặt khác, địa phương vận động nhân dân bao vây kinh tế địch, không nộp thuế cho Nhật, không bán hàng cho Nhật Đối với các xã nằm trên trục Quốc lộ 3, nhân dân tích cực thực hiện chiến lược “Vườn không nhà trống” cất giấu thóc gạo vào rừng

Trong cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám, do nắm chắc thời cơ, tự

vệ và du kích ở các địa phương phối hợp với Giải phóng quân tổ chức đánh địch ở khắp nơi trên địa bàn huyện, lực lượng vũ trang đánh các trận phục kích tại Cao Kỳ và tập kích vị trí đóng quân của địch ở thị trấn Chợ Mới Hầu hết các xã trên địa bàn huyện Chợ Mới như Yên Cư, Yên Đĩnh, Nông

Hạ, Thanh Vận, Mai Lạp đều thành lập được chính quyền cách mạng

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, tại cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại thị xã Bắc Kạn, trước sự có mặt của đông đảo nhân dân các dân tộc và đại biểu các huyện trong tỉnh, đại diện Tỉnh bộ Việt Minh tuyên bố xóa bỏ chính quyền đế quốc - phong kiến và thành lập chính quyền cách mạng Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn nói chung và nhân dân các xã thuộc huyện Chợ Mới ngày nay nói riêng được sống trong tự do, độc lập

Cách mạng Tháng Tám thành công chưa được bao lâu, Nhà nước non trẻ của ta đã phải đối đầu với thù trong, giặc ngoài Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta Đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Trung ương và Hồ Chủ tịch, cùng với cả nước, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc huyện

Trang 22

Chợ Mới tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, thực hiện vũ trang toàn dân, sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược

Quân và dân Chợ Mới đã thực hiện tốt đường lối kháng chiến của Đảng, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, chính quyền đã xây dựng được những đơn vị điển hình như hai đội Tự vệ ở thị trấn Chợ Mới và Yên Đĩnh Đặc biệt, tại đây đã có một đại đội Nữ dân quân, đại đội này tiến hành tập luyện và thực hiện mọi nhiệm vụ như đội nam giới Bên cạnh việc củng cố

về tổ chức, huyện tăng cường đẩy mạnh công tác phát triển lực lượng Số lượng tự vệ ở các xã tăng lên nhanh chóng về số lượng, trung bình ở mỗi xã

có từ hai đến 3 tiểu đội, biên chế thành trung đội, liên xã gộp thành đại đội có khoảng 70 đến 100 người Các đội du kích tự trang bị vũ khí, thường xuyên luyện tập, tuần tra canh gác, lập các phòng tuyến phòng thủ, xây dựng các trận địa mai phục sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả của cách mạng

Do vị trí quan trọng của huyện Chợ Mới là cửa ngõ phía Nam trên trục Quốc lộ 3 đi vào thị xã Bắc Kạn nên công tác chuẩn bị để ngăn cản bước tiến của địch được tiến hành khẩn trương Chính quyền cánh mạng đã huy động mọi lực lượng tham gia vót chông, có loại chông dài khoảng 2m Kết quả trong thời gian ngắn những bãi chông lớn ở thị trấn Chợ Mới và bãi Sông Cầu

xã Yên Đĩnh đã mọc lên chờ ngày tiêu giệt giặc

Theo lời kêu gọi của Đảng “Tất cả cho Kháng chiến” nhân dân huyện Chợ Mới đã đặt lợi ích lên trên, sẵn sàng phá bỏ nhà cửa, tiêu thổ kháng chiến, thực hiện triệt để “Vườn không nhà trống”

Trong chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc tìm diệt cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, huyện Chợ Mới có một vị trí chiến lược quan trọng cả về đường

bộ và đường sông nên ngày 07 tháng 10 năm 1947 thực dân Pháp cho quân

Trang 23

nhảy dù xuống Chợ Mới, để làm bàn đạp tiến công vào căn cứ địa cách mạng

ở Việt Bắc

Ngay hôm đầu tiên, sau khi địch nhảy dù, tại thị trấn Chợ Mới, trung đội du kích xã Yên Đĩnh đã tập trung lực lượng phối hợp với trung đội chống chiến sa (thuộc tiểu đoàn 49) có trang bị Bazôka kịp thời đánh địch khi chúng tỏa ra thu dù ở bãi sông và các cánh đồng quanh thị trấn Tại xã Thanh Mai, Thanh Vận, dân quân du kích đã phối hợp tiêu diệt địch nhảy dù lạc, bắt sống

2 tên

Ngày 09 tháng 10 năm 1947, địch cho một đại đội hành quân càn quét khu vực thị trấn Chợ Mới Hai tiểu đội du kích của thị trấn Chợ Mới và xã Yên Đĩnh phối hợp với trung đội chống chiến sa, chặn địch tại cánh đồng Yên Đĩnh, diệt 5 tên, làm bị thương 6 tên, phá hủy 1 xe cơ giới

Trong hai ngày 14 và 15 tháng 10 năm 1947 trung đội du kích xã Cao

Kỳ, Hòa Mục và đại đội 303 đã phục kích địch đi từ thị trấn Chợ Mới lên thị

xã Bắc Kạn, kết quả ta tiêu diệt được 35 tên, bắn bị thương nhiều tên khác, phá hủy phương tiện, phá hủy 4 xe cơ giới, tịch thu 15 khấu súng

Rạng sáng 17 tháng 10 năm 1947 trận tiến công vị trí tại thị trấn Chợ Mới diễn ra 4 giờ liền, trong trận này ta diệt được 50 tên, đốt cháy kho quân nhu Ngày 30 tháng 11 năm 1947, khoảng 800 tên địch được trang bị đầy đủ

vũ khí, hành quân từ thị trấn Chợ Mới đi đường Đèo Vai (Quảng Chu) xuống đồn Đu (Động Đạt – Phú Lương) Dân quân Yên Đĩnh, thị trấn Chợ Mới, Quảng Chu phục kích đánh địch, kết quả tiêu diệt 30 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác

Trong gần hai tháng, quân dân các xã, thị trấn Chợ Mới và lực lượng vụ trang huyện Chợ Mới đã đánh 11 trận, tiêu diệt 180 tên trong đó có 1 tên thiếu

tá Pháp, cắt đường giao thông, đặt bẫy gài mìn, buộc địch phải đối phó hết sức khó khăn trong việc tiếp tế lương thực, thực phẩm, đạn dược Ngoài

Trang 24

những trận đánh phục kích trên địa bàn huyện, các lực lượng du kích huyện Chợ Mới còn phối hợp với bộ đội địa phương huyện Đại Từ, Định Hóa diệt

50 tên địch các cánh quân khác

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân huyện Chợ Mới đã tích cực bảo vệ vững chắc các cơ quan, kho, trạm, xưởng Quân khí của Trung ương đóng trên địa bàn xã Quảng Chu Đặc biệt tại xã Quảng Chu

và xã Yên Đĩnh từ năm 1950 đến năm 1953 Cục Quân giới Bộ Quốc phòng

do giáo sư tiến sĩ Trần Đại Nghĩa phụ trách ở xóm Đèo Vai, Nà Lằng (Quảng Chu) Pắc San (Yên Đĩnh), tại đây đã sản xuất vũ khí Bazôka

Cùng trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, từ ngày 20 đến 23 tháng 3 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp đi kiểm tra công tác sửa chữa đường Quốc lộ số 3, từ Thái Nguyên đi Cao Bằng Trong chuyến đi này, Người đã đến thăm và nghỉ lại một đêm tại trạm quân khí ở hang Thạch Long

xã Cao Kỳ Tại đây, Bác đã căn dặn cán bộ, nhân viên coi kho quân khí phải hết lòng yêu quý vũ khí, đạn dược, sẵn sàng phục vụ bộ đội đánh thắng giặc Đồng thời, Bác còn căn dặn cụ thể: “Kho ở trên đường trục, vì vậy phải luôn

đề cao cảnh giác, bảo vệ kho cho thật tốt” Đây là một sự kiện lịch sử quý giá, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất Bác Hồ đến thăm kho quân khí của quân đội ta

Đầu năm 1954, máy bay Pháp tập trung ném bom phá hoại đoạn đường

từ thị trấn Chợ Mới đến đầu thị xã Bắc Kạn (trên Quốc lộ 3) Gần 400 dân công của huyện Chợ Mới cùng với lực lượng công binh của tỉnh kịp thời phá bom nổ chậm, san lấp hố bom nhanh chóng thông đường, bảo đảm yêu cầu vận tải, đảm bảo giữ mạch giao thông trên Quốc lộ 3

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới với 1,2 vạn dân đã chiến đấu anh dũng, đặc biệt trong chiến dịch

Trang 25

Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 đã đập tan cuộc tập kích nhảy dù xuống thị trấn Chợ Mới

Phát huy truyền thống yêu nước đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phục vụ Chiến dịch Biên giới Thu-Đông năm 1950, Chiến dịch Đông-Xuân năm 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Giải phóng Điện Biên Phủ Nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới đã đóng góp 286 thanh niên tham gia quân đội; góp hàng vạn ngày công; trên

2000 tấn lương thực, thực phẩm và hơn 1000 lượt người tham gia dân công hỏa tuyến tiếp lương, tải đạn phục vụ các chiến dịch Huyện Chợ Mới góp phần vào chiến công chung của cả nước, tiêu diệt được 235 tên địch, trong đó

có 1 thiếu tá, làm bị thương 46 tên, thu 100 khẩu súng các loại và hàng trăm viên đạn, phá hủy 8 xe cơ giới, 8 thùng xăng, đốt cháy 1 kho quân nhu và các phương tiện chiến tranh khác

Những chiến công ấy mãi đi vào lịch sử, ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới, góp phần không nhỏ cùng với tỉnh và quân, dân cả nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo vệ an toàn khu căn cứ ATK

Năm 1954, hòa bình lặp lại, nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới hăng hái bắt tay vào phát triển kinh tế, văn hóa cùng nhân dân cả nước tiếp tục cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, quân và dân huyện Chợ Mới cùng cả nước bước vào cuộc trường chinh đầy gian khổ và anh dũng Với khí thế hào hùng của một thời “sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “tất cả vì Miền Nam ruột thịt” đã thôi thúc hơn 1.230 người con ưu tú của Chợ Mới hăng hái lên đường tòng quân giết giặc cứu nước, huy động hàng nghìn thanh niên xung phong hỏa tuyến và 1.650 thanh niên tham gia dân quân tự vệ Nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới đã hết lòng chi viện cho tiền tuyến

Trang 26

“Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” Ý chí cách mạng thể hiện trong các phong trào: Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đam, mỗi người làm việc bằng hai, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, Giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tất cả vì chủ nghĩa xã hội Nhiều người đã lập được chiến công, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Dũng sĩ, huân chương quân công, đặc biệt có đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, hơn 1.500 thanh niên các dân tộc huyện Chợ Mới đã tham gia chiến đấu trên các chiến trường, hàng trăm thanh niên xung phong, hàng vạn lượt thanh niên tham gia dân công hỏa tuyến, tiếp lương, tải đạn phục vụ chiến đấu, hàng nghìn dân quân

du kích và tự vệ chiến đấu Nhiều đồng chí đã lập công xuất sắc Tổ quốc và nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới đời đời nhớ ơn 327 liệt sỹ, ghi ơn của

166 thương binh

Với những đóng góp lớn lao vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới đã được Đảng và Nhà nước tặng 2.457 huân, huy chương các loại, nhiều cờ thi đua và bằng khen, giấy khen cho các tập thể và cá nhân Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang

huyện Chợ Mới vinh dự được đón nhận danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng

vũ trang nhân dân” trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

1.1.4 Kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới từ 2001 đến 2010

Trang 27

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng từ 15% năm 2000 lên 25% năm 2005; khu vực dịch vụ tăng từ 25% năm 2000 lên 30% năm 2005 và khu vực nông, lâm nghiệp giảm từ 60% năm 2000 xuống còn 45% năm 2005

Dù là một huyện mới thành lập còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ và chính quyền huyện đã quan tâm, chỉ đạo phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách Cùng với thu ngân sách, huyện quan tâm chỉ đạo vận động thu hút, huy động các nguồn vốn, tập trung cho vay để phát triển kinh tế - xã hội nên công tác tài chính, tiền tệ được đánh giá là tốt

Huyện Chợ Mới có 38/166 thôn, bản, tổ dân phố là thôn định canh định

cư Huyện xác định công tác định canh định cư là một nhiệm vụ quan trong trước mắt và lâu dài Chính vì vậy Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa I đã ra Nghị quyết chuyên đề về công tác định canh định cư - kinh tế mới Sau hơn 10 năm đã thu được những kết quả quan trọng: Số gia đình đồng bào định canh định cư có thu nhập khá, đời sống ngày càng ổn định, góp phần giảm hộ nghèo khu vực định canh định cư từ 57% năm 2001 xuống còn 45,65% năm 2007

Chợ Mới là huyện vùng cao, cửa ngõ phía nam của tỉnh Bắc Kạn, tổng diện tích tự nhiên là: 60.716,08 ha; có 15 xã, 01 thị trấn, 166 thôn, bản, tổ dân phố, tính đến 2012 toàn huyện có 9410 hộ gia đình với 07 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa, Hmông, Sán chay) cùng sinh sống (tỷ lệ dân tộc thiểu

số chiếm 75%, trong đó dân tộc Tày chiếm hơn 60%) Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ, cách Thủ đô Hà Nội 131 km, cách trung tâm tỉnh Bắc Kạn 42 km Chợ Mới có vị trí địa lý khá thuận lợi trong việc giao lưu, phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội Phía đông giáp với huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái Nguyên); phía tây giáp huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), huyện Định Hóa (Thái Nguyên), phía nam giáp huyện Phú Lương, Đồng Hỷ (Thái Nguyên), phía bắc giáp Thị xã Bắc Kạn; có quốc lộ 3 chạy qua 8 xã, thị trấn

Trang 28

Địa hình huyện Chợ Mới chủ yếu là đồi núi nên dân cư thưa thớt, mật độ dân

số trung bình hơn 50 người/km2

- Xã hội:

Cấp ủy huyện rất quan tâm đến vấn đề đào tạo việc làm mới cho người lao động nhằm tăng thu nhập ổn định, đến năm 2010 đã tạo việc làm cho 2.638 lao động có việc làm ổn định Cùng với việc quan tâm vấn đề lao động việc làm thì huyện đã lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả bằng các biện pháp và nhiệm vụ cụ thể Năm 1998 tỷ lệ hộ đói, nghèo toàn huyện còn 21,6% theo tiêu chí cũ, đến tháng 12 năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo còn 30,54% theo tiêu chí mới Bình quân từ năm 1998 đến năm 2005 hàng năm giảm 6,73% hộ nghèo theo tiêu chí cũ; từ năm 2005 đến 2007 bình quân tăng hàng năm giảm 9,11% hộ nghèo theo tiêu chí mới

Sự nghiệp giáo dục của huyện có bước phát triển khá Quy mô phát triển trường lớp và học sinh không ngừng mở rộng Chất lượng giáo dục của các bậc học được nâng lên So với năm 1998, năm học 2009 - 2010 toàn huyện có 42 trường tăng 13 trường Có 16 trường mầm non, 15 trường tiêu học, 06 trường THCS, 03 trường PTCS, 02 trường THPT, có 10 trường đạt chuẩn Quốc gia

Số lượng cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên Ngành giáo dục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giáo viên Đến 2010, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở tất cả các cấp học đều trên 97% Toàn ngành có 05 thạc

sỹ Công tác xã hội hóa giáo dục có chuyển biến đã góp phần quan trọng cho phát triển sự nghiệp giáo dục của toàn huyện Đến năm 2010, Hội khuyến học

và Trung tâm học tập cộng đồng đã được thành lập 16/16 xã, thị trấn Toàn huyện có 22% số lao động qua đào tạo nghề Từ ngày thành lập đến 2010 có

02 học sinh đạt học sinh giỏi quốc gia; tỷ lệ học sinh thi đỗ các trường cao đẳng, đại học ngày càng tăng Hết năm 1998 huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ

Trang 29

cập giáo dục tiểu học – xóa mù chữ Hết năm 2007 toàn huyện có 16/16 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở

Về công tác y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân Ngoài việc đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị hiện đại là việc quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế Năm 1998 còn 2 xã chưa có trạm xá, nhiều nhà trạm xuống cấp, chưa có bệnh viện chỉ có bệnh viện vùng cao Yên Cư, trung tâm y tế huyện vừa làm chức năng quản lý nhà nước và khám chữa bệnh, toàn huyện mới có 05 bác sỹ Đến

2010, tất cả các xã, thị trấn đều có trạm y tế, 10/16 xã có bác sỹ, bệnh viện huyện có trên 50 giường bệnh, tất cả các trạm y tế xã được xây dựng kiên cố; 100% thôn bản, tổ phố có cán bộ y tế Đến 2010 toàn ngành có 133 cán bộ, trong đố có 07 bác sỹ chuyên khoa cấp I; các chương trình y tế được triển khai có hiệu quả Công tác phòng, chống dịch bệnh được quan tâm Hội Đông

y huyện thành lập và hoạt động từ tháng 10/2004, đến nay có 16/16 xã, thị trấn có hội Đông y Công tác quản lý đội ngũ, quản lý y dược được tiến hành thường xuyên Đến 2010 toàn huyện có 7 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế

Về dân số - kế hoạch hóa gia đình cũng có những kết quả đáng khích

lệ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được kiềm chế Công tác gia đình được quan tâm chỉ đạo với mục tiêu gia đình “Ấm no - Bình đẳng - Tiến bộ - Hạnh phúc” Đến 2010 trên 75% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em thu được kết quả khá Các mục tiêu giáo dục, mục tiêu chăm sóc sức khỏe, phòng chống suy dinh dưỡng, chăm lo trẻ em khuyết tật, cô đơn được quan tâm chu đáo Toàn xã hội, cộng đồng tham gia quản lý, giáo dục trẻ em

Về chính sách xã hội, chính sách người có công được giải quyết kịp thời Công tác chăm sóc người có công, gia đình thương binh hàng năm được chăm lo chu đáo Chương trình xóa nhà tạm, dột nát được hoàn thành cuối

Trang 30

năm 2006 Đến nay toàn huyện đã làm được hơn 100 ngôi nhà tình nghĩa, hỗ trợ nhà ở cho 739 hộ nghèo

Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được chỉ đạo triển khai tích cực có hiệu quả Tệ nạn ma túy, mại dâm, số đề từng bước được ngăn chặn Các điểm kinh doanh có dấu hiệu vi phạm được kiểm tra truy quét Huyện vừa tập trung tuyên truyền vận động, vừa tăng cường truy quét các tụ điểm ma túy trên địa bàn

Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao có nhiều khởi sắc

Hệ thống thông tin cơ bản đáp ưng nhu cầu nhanh chóng, kịp thời đến đông đảo nhân dân trong huyện Đến 2010 toàn huyện có 100% xã, thị trấn có báo đọc trong ngày, 16/16 xã thị trấn có trạm truyền thanh cơ sở, thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư xây dựng, có 95% số thôn, bản tổ dân phố có nhà họp thôn Tất cả các cơ quan, trường học được quan tâm, quy hoạch lâu dài Hiện nay các xã trên địa bàn huyện đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm2020 Những thành tựu về kinh tế - xã hội của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn là tiền đề vững chắc cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện ngày càng phát triển vững chắc

1.1.5 Tình hình xóa đói giảm nghèo của Chợ Mới trước năm 2001

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Chợ Mới đã trải qua nhiều giai đoạn cách mạng khác nhau có sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực, nhất là về địa giới hành chính Trước năm 1965 thị trấn Chợ Mới thuộc huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Cạn), từ 1965 đến 1996 có 09 xã và 01 thị trấn thuộc phía nam của huyện Bạch Thông (Bắc Cạn) được nhập về huyện Phú Lương (Bắc Thái) Sau ngày tái lập tỉnh Bắc Kạn (01/01/1997), địa giới hành chính được điều chỉnh, huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Kạn) tiếp nhận lại 09 xã và 01 thị trấn phía bắc huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên) Thực hiện Nghị quyết số 46/CP ngày 06 tháng 7 năm 1998, huyện Chợ Mới được thành lập trên cơ sở tách 16 xã, thị

Trang 31

trấn thuộc phía nam của huyện Bạch Thông và chính thức ra mắt, đi vào hoạt động từ ngày 02 tháng 9 năm 1998

Chợ Mới có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú về khoáng sản, động - thực vật, tạo nên đời sống kinh tế và văn hóa ẩm thực có đặc trưng riêng

Nhân dân các dân tộc huyện Chợ Mới có tinh thần đoàn kết trải qua các thời kỳ cách mạng cũng như trong thời kỳ hội nhập Với 7 tộc người cùng sinh sống, mỗi tộc người có những nét văn hóa, phong tục, tập quán riêng, cùng với sự giao thoa giữa các vùng miền lân cận, đặc biệt là một số vùng thuộc tỉnh Thái Nguyên đã tạo nên một nét văn hóa của Chợ Mới - phong phú, đa dạng trong sự đoàn kết, thống nhất

Thực hiện ưu đãi tín dụng ưu đãi đối với người nghèo:

Từ năm 1994 đến năm 1997, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn tỉnh đã cho 3.500 hộ nông dân vay vốn để phát triển sản xuất với tổng số tiền gần hơn 10 tỷ đồng Được vay vốn, các hộ nông dân có điều kiện sản xuất đúng vụ, tận dụng được phần sức lao động nhàn rỗi ở nông thôn (nguồn vốn này chủ yếu những hộ vùng thấp có tài sản thế chấp hoặc tín chấp mới có điều kiện để vay, do điều kiện giao thông không thuận lợi và cơ chế cho vay của ngân hàng Còn vùng sâu, vùng xa phần lớn người dân nghèo chưa được vay vốn của ngân hàng để sản xuất)

Từ năm 1998 đến 2000, ban chỉ đạo XĐGN tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các cấp, các ngành chức năng thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, chỉ đạo các huyện chuẩn bị tốt địa bàn để triển khai tín dụng ưu đãi đến vùng sâu, vùng xa (khu vực 3), tại 74 xóm, thôn, Ngân hàng người nghèo

đã cho 18.430 lượt hộ vay với tổng số vốn là 34.425 triệu đồng

Ngoài ra, Ngân hàng phục vụ cho người nghèo còn làm dịch vụ ủy thác tín dụng các nguồn vốn tài chợ cho Bắc Kạn, phục vụ hộ nghèo theo các dự

án XĐGN của CIDSE, UNICEP, các tổ chức Phi chính phủ, thông qua các

Trang 32

đoàn thể quần chúng, với tổng số vốn trên 5 tỷ đồng Riêng dự án tín dụng XĐGN do Cộng hòa Liên bang Đức đã cho 2.070 lượt hộ trên địa bàn huyện, cho vay 10.510 triệu đồng

Ngoài ra, trong giai đoạn này, số vốn cho hộ nghèo vay còn được huy động từ nhiều nguồn khác nhau: tổ, nhóm phụ nữ tiết kiệm, các hội viên của các đoàn thể, quỹ XĐGN của các huyện, thị…, thực hiện sự trợ giúp nhau bằng ngày công, con giống và các hình thức khác Tuy nhiên, nguồn vốn tín dụng mới chỉ đáp ứng được 55,99 hộ nghèo, còn trên 40% hộ chưa được vay vốn

Hướng dẫn người nghèo khuyến nông, khuyến lâm:

Trung tâm khuyến nông đã đưa giống ngô lai đến tận bản làng và hướng dẫn kỹ thuật cho dân, kết quả cho năng suất giống ngô lai đạt 35 - 40 tạ/ha

Các trung tâm khoa học, bảo vệ thực vật, thú y cũng mở nhiều lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ cây trồng mới, phòng chống dịch bệnh cho từng loại cây trồng, như: quế, hồi, chè Tuyết Shan, keo, mỡ, lát…

Để khôi phục và phát triển rừng trồng mới, rừng tự nhiên, thực hiện khoán khoanh nuôi bảo vệ cho gần 1.000 ha, phát triển kinh tế vườn rừng, tạo thêm việc làm cho dân, tăng thu nhập cho dân, mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội, huyện đã và đang thực hiện dự án 327 phủ xanh đất trống đồi trọc với mức đầu tư 6.985 tỷ đồng, gồm 10 dự án được các hộ nông dân, lâm trường trường tham gia thực hiện

Trong 3 năm (1998 - 2000), Trung tâm Dạy nghề huyện đã mở trên 50 lớp tập huấn, hướng dẫn các mô hình chăn nuôi, cây trồng, mô hình kinh tế hộ gia đình VAC, VACR; đưa các giống lúa mới, các giống cây, con mới vào ứng dụng Trong 2 năm (1999 - 2000), Trung tâm mở thêm 17 lớp tập huấn cho 2.975 lượt hộ

Trang 33

Triển khai khuyến nông, khuyến lâm theo Chương trình 135/CP và mô hình XĐGN các xã vùng đặc thù, năm 2000 huyện đã thực hiện mô hình chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông, lâm nghiệp cho 2.500 hộ dân nghèo, với kinh phí 328 triệu đồng

Thực hiện định canh, định cư, di dân và xây dựng vùng kinh tế mới:

Thực hiện định canh định cư, từ năm 1997 đến giữa 1999, tỉnh đã vận động nhân dân chuyển đổi các vùng kinh tế mới, được Nhà nước đầu tư với

số tiền 252 triệu đồng cho 195 hộ chuyển cư, gắn việc giao đất, giao rừng cho dân để họ an tâm khai thác hết các vùng đất hoang hóa và trồng cây có hiệu quả

Ngân sách đầu tư không ngừng tăng lên Riêng năm 2000, tổng vốn thực hiện: 5.160 triệu đồng, trong đó huyện đã thực hiện hỗ trợ di dân: 94 hộ = 340

hộ khẩu, khai hoang ruộng bậc thang: 40 ha, hỗ trợ cây trồng: 160 ha (bình quân 0.02 ha/hộ), hỗ trợ trồng cây chè: 50 ha (bình quân 0.00 ha/hộ), hỗ trợ mua trâu, bò cày, kéo: 100 con, thủy lợi: 7 công trình phục vụ tưới tiêu 205

ha, nước sinh hoạt (nước sạch): 4 công trình, phụ vụ 360 thôn bản, đường giao thông: 10 km, trường học: 02 trường Tiểu học được đầu tư từ vốn ODA của Nhật Bản tài trợ, phục vụ trên 500 học sinh Cũng trong năm này, huyện

đã thực hiện di dân cho 14 hộ gồm 70 nhân khẩu, thành lập 01 thôn mới, hỗ trợ khai hoang được: 80 ha, xây dựng các công trình thiết yếu (đường giao thông, trường học, nước sinh hoạt): 18 công trình, 28 công trình đang được thực hiện

Thực hiện chương trình 135 của Chính phủ:

Năm 1997, với nguồn vốn do Trung ương đầu tư: 21.665 triệu đồng 65 công trình, huyện thực hiện 20 công trình; trong đó có 8 công trình hoàn thành và chuyển thi công 5 công trình vào năm 2001

Trang 34

Từ năm 1998 đến năm 2000, Chương trình 135 về xây dựng cơ sở hạ tầng (Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế) được thực hiện cho 15

xã đặc biệt khó khăn với tổng số vốn 89.300 triệu đồng Trong năm 2000, huyện đã mở đường, nâng cấp đường giao thông liên bản, liên xã gồm: tuyến đường liên xã Yên Đĩnh - Yên Cư Nông Hạ - Mai Lap, Cao Kỳ - Thanh Vận, Hòa Mục -Tân Sơn với gần 100km 100% các xã có đường giao thông đến trụ

sở UBND xã

Đào tạo cán bộ cho xã nghèo, đặc biệt khó khăn:

Thực hiện Quyết định số 42/1999/QĐ - TTg ngày 10/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường có thời hạn cán bộ công chức về các xã nghèo, ĐBKK, năm 1999 huyện đã tăng cường 15 cán bộ huyện về 15 xã ĐBKK trong thời hạn ít nhất 3 năm Nội dung tập huấn gồm các vấn đề:

- Quán triệt Quyết định số 135/1998/QĐ - TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ

- Nghiên cứu các thông tư hướng dẫn về xây dựng cơ sở hạ tầng của các Bộ Xây dựng, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, UBDT và Miền núi

Hướng dẫn thực hiện cơ chế dân chủ công khai xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã ĐBKK (Công văn số 429/UBDTMN-BTK ngày 29/4/1999 của Ủy ban Dân tộc và Miền núi)

Đến năm 2000, với kinh phí đào tạo 75 triệu đồng, huyện đã mở lớp tập huấn cán bộ xã đặc biệt khó khăn, cán bộ quản lý dự án Chương trình 135/CP, 133/CP cấp huyện: 7 lớp đào tạo cho 50 lượt cán bộ xã và huyện Được sự phối hợp của Văn phòng Quốc gia về XĐGN, huyện đã mở lớp tập huấn về chương trình XĐGN cho 15 xã nghèo của huyện, gồm 15 cán bộ là Chủ tịch chuyên trách XĐGN các xã

Chương trình Quốc gia nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường:

Trang 35

Chương trình nước sạch nông thôn được tổ chức UNICEF tài trợ năm

1992 là 12.000 USD Bằng nguồn kinh phí đó, huyện đã xây dựng và lắp đặt tại vùng cao 70 nguồn nước, phục vụ cho hơn 2.500 hộ dân có nước sinh hoạt hợp vệ sinh

Trong 2 năm (1999 – 2000), dựa vào nguồn ngân sách địa phương có

sự hỗ trợ của Trung ương, tài trợ quốc tế và đóng góp của dân, huyện đã cấp nước sinh hoạt cho 12.704 người, nâng tỷ lệ người được sử dụng nước sinh hoạt ở nông thôn từ 32% (năm 1999), lên 48% (năm 2000)

1.2 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước và tỉnh Bắc Kạn

1.2.1 Khái niệm về nghèo đói

Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng:

“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”

Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:

“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Tuy vậy, cũng có quan điểm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho

Trang 36

rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát

triển cộng đồng” Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và của

người giầu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn

Quan điểm nghèo đói của Việt Nam: Qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu, các nhà nghiên cứu và quản lý của các Bộ đã đi đến thống nhất cần có một khái niệm riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo đói ở Việt Nam:

Nghèo, là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Đói, là tình trạng một bộ phận dận cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp cận nghèo đói Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương hướng nghiên cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp Trong đề tài này, tác giả công nhận khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng tiếp cận nghèo đói đối với người dân là tiếp cận về kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu nhập của người dân

1.2.2 Tiêu chí đánh giá nghèo đói

Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời gian

- Về không gian: Nó biến đổi theo trình độ kinh tế - xã hội của từng vùng hay từng quốc gia

- Về thời gian: Chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con người theo từng

Trang 37

giai đoạn lịch sử, vì kinh tế xã hội phát triển thì đời sống của con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải là tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ mức tăng thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo

Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá hộ nghèo, ở Việt Nam phổ biến nhất hiện nay thường dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ Theo tiêu chí này Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo theo từng giai đoạn kinh tế, xã hội khác nhau, mức chuẩn nghèo này được xây dựng khác nhau cho thành thị và nông thôn sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng thời kỳ

Cụ thể, chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội qua các thời kỳ được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1: Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn

Loại

Thu nhập bình quân/ người/ tháng

qua các giai đoạn

- Miền núi hải đảo < 15 kg gạo < 15 kg gạo 80.000 đồng

- Đồng bằng trung du < 20 kg gạo < 20 kg gạo 100.000 đồng

Hiện nay chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 được áp dụng theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 quy đinh những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:

Trang 38

- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng

- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000 đồng/người/tháng

Tuy nhiên, với tình hình lạm phát như hiện nay chuẩn nghèo trên chưa đánh giá được đúng như thực tế Chuẩn mực nghèo đói của Việt Nam vẫn còn cách quá xa so với chuẩn mực do Ngân hàng Thế giới đưa ra với ngưỡng 1 USD/người/ngày Do đó Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong công cuộc xoá đói giảm nghèo để xây dựng chuẩn nghèo tiến tới ngưỡng chung của Thế giới

1.2.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về xóa đói giảm nghèo

Xoá đói giảm nghèo được coi là sự nghiệp của toàn dân, là một chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ chính sách kinh tế xã hội Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện xoá đói giảm nghèo bền vững, gắn xoá đòi giảm nghèo với các chương trình mục tiêu quốc gia và an sinh xã hội Xác định rõ các vùng trọng điểm, các hoạt động ưu tiên để tập trung nguồn lực đầu

tư có hiệu quả

Gắn xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tạo cơ hội và điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản

Phát huy nội lực chủ yếu, đồng thời tăng cường sự hợp tác quốc tế Xóa đói giảm nghèo được Đảng và Nhà nước coi là chương trình mục tiêu Quốc gia Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính bức xúc của mỗi địa phương, của mỗi quốc gia và mang tính toàn cầu, là trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của cả nước nói chung cũng như của huyện Chợ Mới – Bắc Kạn nói riêng Thấy rõ tầm quan trọng của công tác Xoá đói giảm nghèo nên ngay từ khi cách mạng mới thành công (năm 1945) Đảng ta đã coi nhiệm vụ chống nạn đói là một trong 6 nhiệm vụ cấp bách, trải qua gần 60

Trang 39

năm xây dựng và phát triển, cho đến nay xoá đói giảm nghèo đã trở thành mục tiêu quốc gia của Đảng, Nhà nước và địa phương hưởng ứng, quan tâm hàng đầu Xoá đói giảm nghèo là lĩnh vực mới với thời gian thực hiện chưa dài, nhưng lại là vấn đề xã hội mang tính cấp thiết và đã có nhiều chính sách, giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề đói nghèo, thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Nghèo và XĐGN là phạm trù lịch sử, đặc trưng nghèo và XĐGN ở mỗi

xã hội là rất khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của xã hội Khái niệm nghèo

và những tiêu chí xác định chuẩn nghèo luôn là những khái niệm mở, được

mở rộng theo thời gian, sự phát triển của xã hội và tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước

Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên là 60.716,08 ha, gồm 16 đơn

vị hành chính (15 xã và 01 thị trấn) Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc Kạn 45 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 142 km về phía Nam Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi Là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái Nguyên); phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên); phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên); phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn

Huyện Chợ Mới có hệ thống sông, suối được phân bố đều khắp Con sông lớn nhất là sông Cầu Sông Cầu có vai trò to lớn trong đời sống cư dân hầu hết các xã trong huyện Nguồn nước thủy lợi dồi dào, đường giao thông ngược xuôi và nguồn thủy sản phong phú Hàng năm, dòng sông này bồi đắp cho các xã dọc lưu vực một lớp phù xa khá màu mỡ Điều kiện xã hội còn có nhiều khó khăn và trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn còn hạn chế Giao thông đi lại giữa phía đông và phía tây của huyện còn khó khăn Kết cấu hạ tầng còn yếu kém; kinh

tế chủ yếu là thuần nông; đời sống của một bộ phận dân cư vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; hệ thống chính trị các cấp tuy được củng cố song vẫn còn nhiều bất cập

Đó là những cơ sở giúp lãnh đạo huyện hoạch định chính sách XĐGN, giúp hộ nghèo thoát nghèo bền vững, kinh tế xã hội của huyện phát triển đạt mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ đã đề ra

Ngày đăng: 21/11/2014, 18:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình (2001). Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Bộ Chính trị (2000), Nghị quyết số 15/NQ/TW về ph-ơng h-ớng, nhiệm vụ cụ thể phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010, Văn phòng TWĐảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 15/NQ/TW về ph-ơng h-ớng, nhiệm vụ cụ thể phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2000
3. Tống Văn Chung (2000), Xã hội học nông thôn, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tống Văn Chung
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2000
10. Dự thảo báo cáo “Phát triển hệ thống An Sinh Xã Hội phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống An Sinh Xã Hội phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ch-ơng trình CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ch-ơng trình CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân
Tác giả: Ngô Đình Giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
13. Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh (2000), Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Nguyễn Thị Hằng (1997), Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở n-ớc ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở n-ớc ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Nguyễn Văn Hoà (2001), Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2005: Giải pháp nào cho đủ mạnh?, Báo Đầu t-, ngày 12/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2005: Giải pháp nào cho đủ mạnh
Tác giả: Nguyễn Văn Hoà
Năm: 2001
16. Huyện uỷ Chợ Mới (2010), Văn kiện đại hội đảng bộ huyện Chợ Mới lần thứ III Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đảng bộ huyện Chợ Mới lần thứ III
Tác giả: Huyện uỷ Chợ Mới
Năm: 2010
17. 13. Huyện uỷ Chợ Mới (2010), Văn kiện Đại hội đảng bộ huyện Chợ Mới lần thứ II Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đảng bộ huyện Chợ Mới lần thứ II
Tác giả: 13. Huyện uỷ Chợ Mới
Năm: 2010
18. Trần Thị Lan H-ơng (2000), Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá nông thôn, Nxb Văn hoá - thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của phân tầng mức sống vào quá "trình phát triển văn hoá nông thôn
Tác giả: Trần Thị Lan H-ơng
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 2000
19. Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Hữu Tiến (1994), Kinh nghiệm làm giàu từ nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm làm giàu từ nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Hữu Tiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
20. Một số chính sách quốc gia về việc xoá đói giảm nghèo (2002), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách quốc gia về việc xoá đói giảm nghèo
Tác giả: Một số chính sách quốc gia về việc xoá đói giảm nghèo
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
21. Stefen Nachuck (2001), Thức dậy một tiềm năng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức dậy một tiềm năng
Tác giả: Stefen Nachuck
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
25. Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam (NXB Nông nghiệp – 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp – 2001)
26. GS.TSKH Lê Du Phong, TS. Nguyễn Văn áng, TS. Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên) (2002), ảnh h-ởng của đô thị hoá đến nông thôn ngoại thành Hà Nội - thực trạng và giải pháp, (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh h-ởng của đô thị hoá đến nông thôn ngoại thành Hà Nội - thực trạng và giải pháp
Tác giả: GS.TSKH Lê Du Phong, TS. Nguyễn Văn áng, TS. Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
27. PGS,TS Lê Du Phong - PTS. Hoàng Văn Hoa (Đồng chủ biên) (1999), Kinh tế thị tr-ờng và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc n-ớc ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị tr-ờng và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc n-ớc ta hiện nay
Tác giả: PGS,TS Lê Du Phong - PTS. Hoàng Văn Hoa (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
29. Phòng Thống kê huyện Chợ Mới, Niên giám thống kê (8/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
43. Chu Tiến Quang (2001), Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung -ơng Ban chính sách phát triển nông thôn Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp
Tác giả: Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 1.1 Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn (Trang 37)
Bảng 2.1: Tình hình đói nghèo trên địa bàn huyện qua các năm - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 2.1 Tình hình đói nghèo trên địa bàn huyện qua các năm (Trang 45)
Bảng 2.2: Số hộ nghèo chia theo các xã  STT - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 2.2 Số hộ nghèo chia theo các xã STT (Trang 47)
Bảng 3.1: Tổng thu nhập bình quân của hộ dân phân theo vùng - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 3.1 Tổng thu nhập bình quân của hộ dân phân theo vùng (Trang 64)
Bảng 3.2:  Cơ cấu thu nhập của các hộ nghèo năm 2007 - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 3.2 Cơ cấu thu nhập của các hộ nghèo năm 2007 (Trang 66)
Bảng 3.4: Tổng hợp hộ nghèo theo tiêu chí mới - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 3.4 Tổng hợp hộ nghèo theo tiêu chí mới (Trang 73)
Bảng 3.5: Tổng hợp hộ nghèo theo tiêu chí mới - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Bảng 3.5 Tổng hợp hộ nghèo theo tiêu chí mới (Trang 74)
Sơ đồ 3.1: Lồng ghép các dự án, chương trình Kinh tế xã hội - công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn giai đoạn 2001-2010
Sơ đồ 3.1 Lồng ghép các dự án, chương trình Kinh tế xã hội (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w