1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên

93 614 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[4] Đề tài “Xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức Vật lí môn Vật lí- Lí sinh của sinh viên Đại học Y Dược Thái Nguyên” sẽ c

Trang 1

Đại học thái nguyên Tr-ờng đại học s- phạm

- -

VŨ THỊ THÚY

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ ễN TẬP, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC KIẾN THỨC VẬT LÍ (MễN VẬT LÍ –

LÍ SINH) CHO SINH VIấN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI

NGUYấN

Chuyờn ngành: Lý luận và phương phỏp dạy học bộ mụn Vật lớ

Mó số: 60.14.0111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Khải

THÁI NGUYấN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thúy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý Thày, Cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên và quý Thầy, Cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy, cô giáo Bộ môn Vật lí – Lí sinh trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tác giả học tập cũng như thực hiện thực nghiệm sư phạm tại trường

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thày hướng dẫn: PGS,

TS Nguyễn Văn Khải đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả cảm ơn tập thể lớp Cao học Vật lý khóa 19 đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân , bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Tác giả

Vũ Thị Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Giả thiết khoa học của đề tài 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Sản phẩm và đóng góp cụ thể của đề tài 4

8 Cấu trúc và nội dung của luận văn 5

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ ÔN TẬP, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 7

1.1 Tổng quan 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng học liệu điện tử trên thế giới 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng học liệu điện tử ở Việt Nam 8

1.2 Sử dụng học liệu điện tử trong dạy học ở đại học 15

1.2.1 Khái niệm về học liệu điện tử 15

1.2.2 Sử dụng học liệu điện tử trong dạy học ở đại học 17

1.3 Ôn tập, kiểm tra đánh giá trong dạy học ở đại học 20

1.3.1 Ôn tập 20

1.3.2 Kiểm tra, đánh giá 22

1.3.3 Các công cụ và phương tiện cho ôn tập, kiểm tra đánh giá 27

1.4 Xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử trong ôn tập, kiểm tra đánh giá 29

1.4.1 Các nguyên tắc chung cho việc xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá

29

Trang 5

1.4.2 Quy trình xây dựng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh

giá 33

1.4.3 Quy trình sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá

38 1.5 Thực trạng sử dụng học liệu điện tử trong dạy học môn vật lý lý sinh tại Đại học Y Dược Thái Nguyên 38

1.6 Kết luận chương I 42

CHƯƠNG II XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ ÔN TẬP, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VẬT LÝ (MÔN VẬT LÍ LÍ SINH) 44

2.1 Phân tích chương trình, nội dung kiến thức vật lý (môn Vật lý lý sinh) 44 2.2 Lựa chọn và xây dựng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá 48

2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn 48

2.2.2 Cấu trúc tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá 48

2.2.3 Nội dung tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá 49

2.3 Sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá 53

2.3.1 Quy trình sử dụng tài liệu điện tử trong ôn tập của sinh viên 53

2.3.2 Sử dụng tài liệu điện tử trong tự đánh giá của sinh viên 65

2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG II 68

CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70

3.1 Mục đích, nhiệm vụ, phương pháp tiến hành 70

3.1.1 Mục đích 70

3.1.2 Nhiệm vụ 70

3.1.3 Phương pháp tiến hành 71

3.1.4 Biện pháp tổ chức thực hiện 71

3.2 Đánh giá vai trò và hiệu quả của việc sử dụng Tài liệu điện tử qua các giờ TNSP 73

3.2.1 Đánh giá về tính khả dụng của việc sử dụng Tài liệu điện tử hỗ trợ dạy học

73 3.2.2 Đánh giá về mức độ hào hứng, sự tích cực, tự lập trong hoạt động nhận thức của Sinh viên thông qua việc sử dụng tài liệu điện tử 75

Trang 6

3.2.3 Đánh giá chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động dạy- tự học môn

học với sự hỗ trợ Tài liệu điện tử

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đất nước ta đang trên con đường hòa nhập với thế giới trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, nền giáo dục Việt Nam có những biến đổi sâu sắc về mục tiêu, nội dung sách giáo khoa và phương pháp giáo dục nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động chống lại thói quen học tập thụ động

Nghị quyết BCH Trung ương 2 khóa VIII xác định nhiệm vụ Giáo dục trong giai đoạn mới là “Một mặt phải đảm bảo cho thế hệ trẻ tiếp thu được những tinh hoa của nền văn hóa nhân loại; mặt khác phải phát huy tính năng động cá nhân, bồi dưỡng năng lực sáng tạo, học sinh hoạt động tích cực, tự lực

mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, phát triển năng lực sáng tạo” Trong Dự thảo chiến lược giáo dục 2009 – 2020 lần thứ 13 theo đó mục tiêu giáo dục giai đoạn 2009 – 2020 là: “Thực hiện cuộc vận động toàn nghành đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình

tự học có hướng dẫn và quản lý của giáo viên”

Hiện nay sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang tạo ra những thành tựu tin học phong phú và hữu ích, do đó việc khai thác và sử dụng CNTT trong dạy học nói chung, dạy học vật lí nói riêng đang

là một trong những vấn đề cấp bách Trong những năm gần đây, phong trào

sử dụng CNTT vào dạy học đang diễn ra hết sức sôi nổi và mang lại nhiều hiệu quả tích cực cho quá trình dạy, học Chỉ thị 29/2001/CT – BGD&ĐT của

Trang 9

Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã khẳng định điều đó: “ Công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học” [4]

Đề tài “Xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức Vật lí (môn Vật lí- Lí sinh) của sinh viên Đại học Y Dược Thái Nguyên” sẽ cụ thể hóa định hướng của Đảng, Chính

phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường và thiết thực góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy và học Vật lí theo hướng tích cực hóa quá trình học tập của sinh viên nghành Y- Dược

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu vận dụng lý luận dạy học hiện đại để xây dựng tài liệu điện

tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí ( môn vật lí - lí sinh) của sinh viên Đại học Y Dược Thái Nguyên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

3 Giả thiết khoa học của đề tài

Nếu xây dựng được Tài liệu điện tử phù hợp với lý luận dạy học hiện

đại để hỗ trợ hoạt động ôn tập, kiểm tra, đánh giá thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng dạy học môn Vật lí – Lí sinh ở trường Đại học Y Dược

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu lí luận: xu hướng và các quan điểm của giáo dục học hiện đại; cơ sở khoa học của đổi mới phương pháp dạy học; vai trò của CNTT trong hoạt động dạy-học

Nghiên cứu thực tiễn: việc giảng dạy vật lí - lí sinh trong trường đại học

Y Dược Thái Nguyên, nhu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy- học môn học này

Trang 10

Khảo sát, đánh giá thực tế việc xây dựng và sử dụng Tài liệu điện tử

hỗ trợ việc dạy - học trong trường đại học

Xây dựng nội dung Tài liệu điện tử dạy học về “ Bộ câu hỏi trắc nghiệm điện tử” trong chương trình Vật lý lý sinh

Triển khai thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả và tác động của việc sử dụng Tài liệu điện tử dạy học trong dạy, học và tự học tại trường đại Y Dược Thái Nguyên

5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Khách thể nghiên cứu: Qúa trình dạy học môn Vật lí- Lí sinh

- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung, cấu trúc và phương pháp sử dụng

Phần mềm trắc nghiệm của Tài liệu điện tử dạy học trong dạy - học môn Vật lí- Lí sinh ở trường đại học Y - Dược

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường phổ thông

- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, lý luận dạy học, giáo dục học, các luận văn, những kết quả của các đề tài đã có có liên quan đến đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thực hiện các điều tra thăm dò ý kiến thực tế của GV đang giảng dạy bằng phiếu thăm dò ý kiến để có thông tin về kết quả của việc tự ôn tập, kiểm tra, đánh giá của sinh viên

Trang 11

- Thực hiện các điều tra thăm dò ý kiến và thu thập thông tin thực tế từ

cảm nhận thực của sinh viên

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm ở khóa sinh viên năm thứ nhất của trường đại học

Y Dược Thái Nguyên nhằm kiểm tra tính hợp lý của tiến trình, tính hiệu quả

và mức độ khả thi của đề tài

6.4 Phương pháp chuyên gia

7 Sản phẩm và đóng góp cụ thể của đề tài

7.1 Đóng góp về mặt lý luận

- Góp phần củng cố những luận điểm khoa học của việc đổi mới phương pháp dạy và học, theo hướng ứng dụng CNTT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của người học

7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Sản phẩm cụ thể của đề tài là một Tài liệu điện tử, có tính hệ thống và tích hợp các kiến thức vật lí, y học nhằm hỗ trợ việc tự ôn tập, kiểm tra, đánh giá cho sinh viên ngành Y- Dược

Tài liệu điện tử dạy học (và hướng dẫn sử dụng) là một tài liệu tham khảo

tốt cho các thày cô giáo và sinh viên trong quá trình dạy và học môn Vật lí- Lí

sinh y học

8 Cấu trúc và nội dung luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, phần

nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng học liệu điện tử

hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá

Trang 12

Chương II: Xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra

đánh giá kiến thức vật lí (môn Vật lí- lí sinh)

Chương III: Thực nghiệm sƣ phạm

Trang 13

NỘI DUNG Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ

DỤNG TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ ÔN TẬP, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ

1.1 Tổng quan

1.1.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng tài liệu điện tử trên thế giới.[20]

Từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX, mạng máy tính đầu tiên ARPANET (Advanced Research Project Agency Network), được sử dụng ở Bộ Quốc phòng

Mỹ, cho đến sự xuất hiện của mạng MILNET (Military Network) được sử dụng với mục đích quân sự tại Mỹ, sự ra đời của hai mạng nói trên là nền tảng cho sự xuất hiện mạng Internet vào năm 1983 Người ta thấy lợi ích to lớn trong việc trao đổi thông tin qua Internet, từ đó Internet ngày càng được khai thác sử dụng trong các lĩnh vực thương mại, bưu chính viễn thông, giáo dục, hành chính [20]

Chỉ cần gõ từ khóa “ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo” vào một công cụ tìm kiếm thông dụng bất kì trên mạng internet - chẳng hạn google hay yahoo - chỉ trong vài giây, kết quả trả về sẽ là hàng triệu bản tin, bài viết, trang web đáp ứng yêu cầu

Thao tác đơn giản trên là minh chứng đầy thuyết phục rằng, CNTT đã, đang

và sẽ là một phần tất yếu của cuộc sống trong thời đại chúng ta, và hoạt động giáo dục - đào tạo cũng không là ngoại lệ

Ở các nước phát triển, những khái niệm như khóa học, lớp học, cách thức đăng kí học và lên lịch học tập, việc lên lớp dự giờ, thi cử, chấm điểm,

Trang 14

xét lên lớp lưu ban, thi tốt nghiệp đều có thể thực hiện thông qua mạng LAN hay Internet

Những sinh viên đi học đều đặn, chăm chú lắng nghe, cần mẫn ghi chép không còn là mẫu sinh viên lý tưởng nữa Sinh viên có thể đến lớp không phải với chiếc cặp đầy căng sách, vở mà chỉ với một chiếc laptop nhỏ gọn Tại một thời điểm trong năm học, một sinh viên có thể cùng lúc đăng kí học nhiều tín chỉ ở nhiều khóa học thậm chí nhiều cơ sở đào tạo khác nhau, do đó, không nhất thiết phải có tên trong tất cả các buổi điểm danh Phần lớn thời gian của

họ là trong các buổi thảo luận, tranh luận trực tiếp với bạn, với thày trên giảng đường, trong các phòng Lab, các thư viện điện tử hoặc thông qua các forum trực tuyến trên mạng

Trên thế giới, hiện đã phổ biến phương thức đào tạo mới mà chỉ có thời đại CNTT với những tiến bộ của cơ sở hạ tầng mạng và truyền thông mới có thể thực hiện được, đó là phương thức đào tạo từ xa, trong đó công nghệ hội

tụ đa phương tiện (Multimedia convergence technology) các trạm học tập tương tác, các lớp học ảo, mạng trực tuyến huấn luyện từ xa qua mạng máy tính (Training-on-line) được xây dựng, sử dụng và phát huy hiệu quả tối đa Một phương thức dạy học mới có tên gọi là “lớp học kết nối” (Connected Learning) cũng đã được áp dụng tại một số trường đại học ở nước ngoài, đã thực sự làm thay đổi các phương thức học tập kiểu cũ mà ở đó sinh viên và giảng viên đều phải có mặt trên giảng đường trong các giờ học Trong các lớp học kết nối hay lớp học ảo, các bài giảng, thực hành, thí nghiệm, các ý kiến thảo luận, tranh luận… đều được thực hiện qua mạng máy tính, sinh viên tìm hiểu bài giảng trực tuyến, sinh hoạt nhóm hay giao tiếp với thầy cô giáo đều thông qua hệ thống kết nối video vô tuyến Các thiết bị đầu cuối hỗ trợ cho mô

Trang 15

hình lớp học ảo là những chương trình đào tạo từ xa, những giải pháp học tập hỗn hợp, môi trường ảo, thiết bị cầm tay thế hệ mới, các website đào tạo… Qúa trình học tập trong đó, người học giao tiếp với đối tượng học tập thông qua máy tính, được gọi là “học điện tử” (Electronic- learning, viết tắt là E- learning) [20, Tr.89] Để việc học tập qua mạng có hiệu quả thì cần có một môi trường học tập tốt, sao cho nhờ môi trường đó, các giảng viên, nhà giáo dục có thể thiết kế, xây dựng các học phần trong chương trình đào tạo với các nội dung chuyên nghành phong phú, sâu sắc, cũng như với các ý tưởng về lí luận và phương pháp dậy học hiện đại Các nội dung học phần đó cần được đưa lên các trang Web và được truy cập dễ dàng, nhanh chóng từ tất cả các máy tính nối mạng Môi trường học tập này là nơi để người tự học, tự tìm kiếm thông tin, tải các thông tin, in ấn các tư liệu học tập, nhận và làm các bài tập,thảo luận, trao đổi với giáo viên và với các bạn học trong nhóm, tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình [20]

Tóm lại, với việc phổ cập ứng dụng CNTT, đặc biệt là các mạng máy tính (mạng LAN, WAN, INTERNET ), việc “học điện tử” hay sử dụng “tài liệu điện tử” trong Dạy- Học trên thế giới đang diễn ra rất mạnh mẽ và có hiệu quả rất lớn Khái niệm “công nghệ giáo dục” thực sự hiện hữu trong các trường đại học và đã làm thay đổi hoàn toàn hoạt động dạy và học trong nhà trường, trong đó công nghệ thông tin đã làm cho các trường dường như rộng lớn hơn, còn trái đất của chúng ta trở nên nhỏ bé và gần gũi hơn

1.1.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng tài liệu điện tử ở Việt Nam [1], [2]

Ngay sau khi Internet được mở ra tại Việt Nam vào năm 1998, Bộ GDĐT đã xây dựng đề án Mạng giáo dục EduNet, để nối mạng toàn ngành và phát triển dịch vụ thông tin giáo dục từ đó đến nay, việc kết nối Internet từ công nghệ quay số điện thoại đến ADSL và công nghệ leased line qua đường

Trang 16

truyền cáp quang đã trở thành hiện hữu và được sử dụng ở không ít các trường đại học

Để thống nhất quản lý và thúc đẩy quá trình ứng dụng và phát triển CNTT trong hệ thống giáo dục, đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng

hệ thống website gồm www.moet.gov.vn, http://www.edu.net.vn/, trong đó có nhiều trang được xã hội và cán bộ giáo viên, học sinh hết sức quan tâm như: trang Tuyển sinh (ts.moet.gov.vn, thi.moet.gov.vn), trang văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành (vanban.moet.gov.vn), trang thống kê giáo dục; công nghệ e-Learning, thư viện giáo trình điện tử và Diễn đàn Mạng

Giáo dục

Ngày 7/9/2006, Ban chỉ đạo CNTT của Bộ đã có công văn số BGD-ĐT, nhấn mạnh đến việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT để tạo ra các tài liệu và phương tiện dạy học, các giáo án, giáo trình điện tử, các bài thực hành

9975/TB-mô phỏng và các phòng thí nghiệm ảo với sự hỗ trợ của CNTT và các thiết bị

kỹ thuật số

Dự án “Đổi mới chương trình giáo dục, và tài liệu giảng dạy” và Dự án

“Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường” được xác định là 2

trong 7 dự án trọng điểm thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn

2006-2010

Website e-Learning (http://el.edu.net.vn) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng và sử dụng nhằm tuyên truyền phổ cập công nghệ, nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm e-Learning thích hợp, và đã Việt hóa phần mềm mã nguồn mở Moodle (đến nay đã có gần 100 trường Đại học

và cao đẳng sử dụng) Bộ cũng sẽ tổ chức chuyển giao các phần mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với nhu cầu Việt Nam cho các Sở và các trường Đại học

Trang 17

Có thể liệt kê một số phần mềm công cụ tiện ích khá phổ biến hiện nay như: phần mềm tạo bài giảng e-Learning từ Powerpoint (Adobe Presenter 7.0, Adobe Captivate hay Authoware), công cụ soạn bài giảng Multimedia (Daulsoft Lecture Maker, Microsoft Producer), công cụ ghi Multimedia và ghi tiến trình hoạt động Powerpoint (Camtasia của Techsmith), công cụ thiết kế các bài thí nghiệm ảo (Virtual Physics), Mô phỏng vật lý (Physics Simulations), phần mềm tạo Slide kể chuyện với hình ảnh minh họa (Photo Story), bộ công cụ xây dựng bài giảng điện tử ILC Builder và Imitor của NSC technology, Phần mềm soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm Testonline client và công cụ xây dựng website cá nhân Sharepoint của CMC System intergration vv…

Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục - Đào tạo đang đẩy mạnh việc triển khai ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học, thông qua việc xây dựng bài giảng điện tử, cơ sở dữ liệu điện tử cho học tập từng môn, ứng dụng các phần mềm mô phỏng thí nghiệm, xây dựng thư viện bài giảng điện tử, hướng tới triển khai công nghệ học điện tử (e-Learning); tăng cường giao lưu trao đổi bài soạn qua mạng; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet Tổ chức “sân chơi” trí tuệ trực tuyến của một số môn học

Internet là công cụ tuyệt vời trong việc giúp sinh viên thực hành khả năng làm việc và nghiên cứu độc lập; Giảng viên có thể liên kết nhiều ngành, kiến thức, kỹ năng và thái độ trong một bài giảng; Sinh viên có thể làm việc theo nhóm, độc lập hay kết hợp với nhiều thành viên bên ngoài lớp học, thậm chí quốc gia và quốc tế để có thể thực hiện việc học tập của mình Phần mềm

và các Tài liệu điện tử dạy học hỗ trợ dạy học hiện nay cũng vô cùng phong phú và đa dạng

Trang 18

Các sản phẩm và ứng dụng phổ biến nhất của CNTT trong các trường

và cơ sở đào tạo hiện nay là:

1 Các thư viện điện tử - Trung tâm học liệu:

Nếu như trước đây, khái niệm thư viện đôi khi được hiểu nôm na như là một kho sách, phòng đọc và cho mượn sách thì ngày nay, khái niệm đó đã hoàn toàn lỗi thời Có thể khẳng định,

ngày nay thư viện thể tách rời CNTT,

thậm chí hoàn toàn phụ thuộc vào

CNTT với rất nhiều chức năng hoàn

toàn mới như : thiết lập cơ sở tri thức,

xây dựng kho tài nguyên học tập điện

tử; xây dựng thư viện số (tài liệu, giáo

trình, sách tham khảo, luân văn, bài báo .) tổ chức biên mục tự động, tổ chức khai thác dữ liệu qua mạng, xây dựng các trang Web và các liên kết Những Thư viện điện tử - Trung tâm học liệu có quy mô và hiện đại nhất trong toàn ngành giáo dục – đào tạo hiện nay phải kể đến là Thư viện Tạ Quang Bửu, TTHL cần thơ, TTHL Huế,TTHL Đà Nẵng và TTHL Thái Nguyên

2 Các bài giảng và giáo trình điện tử

Phổ biến nhất có lẽ là các phần mềm học ngoại ngữ (headway; streamline ), với rất nhiều chức năng tiện ích, bao gồm cả các nội dung ngữ

âm, ngữ pháp, luyện dịch, luyện đọc (kết hợp video và audio), các loại từ điển những phần mềm ứng dụng dạng này hiện nay có thể sử dụng trực tuyến trên mạng hay dowload free để cài đặt trên máy cá nhân

Cũng không kém thông dụng và phổ biến là các Bài giảng và giáo trình điện tử chuyên ngành do các thày cô tự thiết kế và biên soạn từ các công cụ

Trang 19

thông dụng, mà có lẽ phổ biến nhất là Powerpoint hay frontpage những công

cụ tích hợp sẵn trong MS office Gần đây, cục Công nghệ thông tin Bộ GDĐT

đã giới thiệu và khuyến khích sử dụng một số công cụ soạn thảo và thiết kế bài giảng điện tử chuyên nghiệp hơn như: Adobe Presenter 7.0, Adobe Captivate hay Multimedia Daulsoft Lecture Maker, Microsoft Producer Đặc biệt gần đây bộ công cụ xây dựng bài giảng điện tử ILC Builder và Imitor của NSC

3 Các phần mềm xây dựng ngân hàng câu hỏi và tổ chức lượng giá

Lượng giá cũng là một khâu hết sức quan trọng trong dạy học tích cực Hoạt động này không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trong phương pháp tích cực, thày phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Một phần mềm hỗ trợ giảng dạy soạn thảo bằng frontpage

Trang 20

Với sự trợ giúp của các thiết bị phần cứng và các công cụ phần mềm, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập thông qua hệ thống ngân hàng câu hỏi

sẽ không còn là một công việc nặng nhọc và khô khan, mà ngược lại, trở thành một hoạt động kích thích niềm say mê, khuyến khích và giúp người học thêm tự tin vào cách tư duy và các lập luận của mình, cung cấp nhiều thông tin kịp thời hơn để thày linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học…

Chính vì vậy, một hướng nghiên cứu, ứng dụng phổ biến là số hóa và xây dựng ngân hàng câu hỏi và các phần mềm trắc nghiệm khách quan, sử dụng để tổ chức thi và lượng giá trong các phòng máy, thi trực tuyến qua mạng LAN và mạng Internet

Có thể kể ra một số phần mềm phổ biến hiện nay như: Item bank Mr test, Violet, hay mới đây nhất là phần mềm soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm Testonline client, một công cụ khá đơn giản nhưng được rất nhiều thày cô giáo sử dụng và đánh giá cao

Trang 21

4 Các PTN ảo và thực hành mô phỏng

Lĩnh vực cũng khá phổ biến từ nhiều năm nay ở các nước tiên tiến và ngay

cả ở một số nước trong khu vực là các phần mềm mô phỏng và thí nghiệm ảo

Với xu hướng sử dụng những công nghệ tiên tiến trong đào tạo hiện nay

để nâng cao chất lượng giáo dục, ngày càng có những sản phẩm công nghệ cao đáp ứng nhu cầu đó ra đời Một trong những sản phẩm được đánh giá tốt

về tính năng ưu việt và những tiện ích là VLab – phòng thực hành ảo Virtual laboratory, là một khái niệm về phòng thực hành ảo, mà ở đó các học viên có thể thực hành và lựa chọn các ứng dụng như trong một phòng thực hành đầy

đủ

Những bài tập thực hành luôn đem lại hứng thú cho người học, nó góp

phần củng cố những lý thuyết đã được giảng dạy

5 Các phần mềm thiết kế và tính toán trong lĩnh vực kỹ thuật

Phổ biến là các phần mềm matlab, Atuocad được sử dụng như một công

cụ rất quan trọng trong việc đào tạo cho

sinh viên các trường kỹ thuật, về công

cụ tiện ích dạng này, có thể đưa ra một

ví dụ về phần mềm mô phỏng 3D

Visual Nastran, một công cụ tiện ích hỗ

trợ việc thực hành autocad trong thiết kế

đồ họa kỹ thuật Visual Nastran là một

một chương trình do Nasa cung cấp, có

những lệnh và công cụ mạnh giúp người

thiết kế có thể xây dựng, mô tả nhiều

đặc trưng của hệ thống cơ, một khi xây

Trang 22

dựng xong mô hình, người thiết kế có thể tiến hành mô phỏng đặt các lực

(ngẫu lực, trọng lực, lực tập trung, lực ma sát…) lên mô hình để khảo sát

1.2 Tài liệu điện tử trong dạy học ở đại học

1.2.1 Khái niệm về tài liệu điện tử [19], [20]

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong thực tiễn đã sản sinh ra một loại hình tài liệu mới Đó là tài liệu điện tử

Thuật ngữ “tài liệu điện tử” đã xuất hiện vào đầu những năm 1990, nhưng đối với công tác quản lý tài liệu ở Nga, chỉ vào cuối những năm 1990

nó mới bắt đầu được sử dụng tích cực

Trong pháp luật Nga, định nghĩa tài liệu điện tử lần đầu tiên xuất hiện ở Luật liên bang về “Chữ ký điện tử số”: “tài liệu điện tử - đó là tài liệu mà thông tin của nó được thể hiện dưới dạng điện tử - số” Đặc điểm của tài liệu điện tử là ở chỗ, thông tin của nó được trình bày dưới dạng “điện tử - số” và kết quả là chúng ta chỉ có thể cảm nhận được nó nhờ sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật và chương trình tương thích Mặc dù vậy, tài liệu điện tử đang thực hiện chính các chức năng và có giá trị đích thực như tài liệu truyền thống

Theo định nghĩa của Lưu trữ quốc gia Mỹ, tài liệu điện tử, đó là tài liệu chứa đựng thông tin số, đồ thị và văn bản có thể được ghi trên bất cứ vật mang máy tính nào (nghĩa là chứa thông tin được ghi dưới hình thức thích hợp cho xử lý chỉ nhờ sự hỗ trợ của máy tính)

Ở Việt Nam, khái niệm “Tài liệu điện tử” và “Tài liệu điện tử dạy học” vẫn còn mơ hồ, tuy nhiên dựa vào đặc điểm và chức năng của chúng, chúng tôi tạm định nghĩa như sau:

Trang 23

Tài liệu điện tử dạy học (gọi tắt là TLĐTDH) là một thuật ngữ dùng để

chỉ sản phẩm phần mềm tích hợp hỗ trợ dạy học, dùng chung, được thiết kế,

xây dựng và khai thác thông tin qua hệ thống máy tính, mạng và các thiết bị

kỹ thuật số thông dụng khác

Khái niệm tích hợp được thể hiện ở các góc độ:

- Góc độ thiết kế cấu trúc: TLĐTDH đồng thời là một thư viện số, một giảng đường, phòng thí nghiệm, phòng thi trắc nghiệm và diễn đàn thảo luận nhóm

- Góc độ công nghệ dạy học: TLĐTDH vừa là một kho chứa các tài nguyên chuyên ngành, vừa là một công cụ khai thác thông tin, vừa là phương tiện giao tiếp

- Góc độ công năng sử dụng: TLĐTDH vừa là công cụ giảng dạy của thày, vừa là không gian học tập của trò, và là môi trường giao tiếp, chia sẻ, thảo luận giữa thày - thày, thày - trò, trò - trò vv…

Khái niệm dùng chung thể hiện:

- Sản phẩm của một cá nhân, nhưng tài nguyên là tài sản, công sức của nhiều người

- Khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên hữu ích và hợp pháp

- Là phương tiện giảng dạy và tham khảo cho nhiều thày cô cùng chuyên ngành

- Là công cụ hỗ trợ học tập cho nhiều đối tượng học sinh và những người quan tâm

- Không hạn chế về thời gian, không gian, số lượng người truy cập và khai thác

Trang 24

1.2.2 Sử dụng tài liệu điện tử trong dạy học ở đại học [2], [6], [7],

Thực hiện nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn

2006- 2020 xác định: " Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ " tạo điều kiện thuận lợi cho người học tích luỹ kiến

thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo

ở trong nước và ở nước ngoài ", Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các trường đại học và cao đẳng trên cả nước, bắt đầu nghiên cứu và tiến tới hoàn thiện chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ vào năm 2010

Đặc trưng của học chế tín chỉ là kiến thức được cấu trúc thành các học phần Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần (đơn vị: tín chỉ) Khác với học chế niên chế là lớp học được tổ chức theo một chương trình chung áp dụng nhất loạt cho tất cả người học, ở học chế tín chỉ, lớp học được tổ chức theo từng học phần, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung

Tín chỉ (Credit) là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình

của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm: (1) thời gian học tập trên lớp; (2) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; (3) thời gian dành cho việc tự học ngoài

lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài Do vậy

để đào tạo theo tín chỉ, mọi hoạt động của trường đại học phải có những thay đổi nhiều mặt, trong đó có hoạt động thông tin - thư viện (nguồn học liệu), ngay trong QĐ số 31/2001QĐ của Bộ GD&ĐT đã nêu, ngoài những điều kiện

Trang 25

về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, các cơ sở đào tạo phải có điều

kiện về học liệu: “có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập”

Học theo chương trình tín chỉ, muốn được điểm cao và hiệu quả học tập

tốt, không đơn giản chỉ là phải lên thư viện đọc sách từ sáng đến tối, “cày” chăm

chỉ, đến kì thi học thuộc bài mà quan trọng hơn là kĩ năng và sự sáng tạo trong

những công việc quen thuộc ấy Điểm khác biệt lớn nhất của tín chỉ so với cách học truyền thống là ở chỗ thời lượng sẽ dành nhiều hơn cho thảo luận, làm việc nhóm và tự đọc sách, qua đó, họ được nói, được bộc lộ quan điểm, họ là chủ thể

chứ không phải “người ngoài cuộc”

Để tiếp cận phương pháp học tập mới và các kĩ năng mới Một sinh viên trong thời điểm hiện nay không thể không biết đến tin học, cách sử dụng máy tính cũng như khả năng thuyết trình trước đám đông hay làm việc nhóm Điều quan trọng nhất - nhân tố chủ đạo xuyên suốt quá trình này vẫn là

ý thức và cách suy nghĩ của cả người dạy lẫn người học về vấn đề học thực chất và tích cực đổi mới

Một kinh nghiệm đã được tổng kết, và đang được phổ biến rộng rãi, đó là: để chuyển đổi sang học chế tín chỉ, yêu cầu hàng đầu lúc này là phải đổi

mới phương pháp dạy, học theo 3C: Giáo viên chỉ hướng dẫn Cách học, tăng cường hơn nữa quyền Chủ động của Sinh viên và khai thác tối đa ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào nhà trường

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, cá

Trang 26

nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và tài liệu điện tử dạy học nói riêng Nhờ có sử dụng tài liệu điện tử dạy học này mà học sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Tài liệu điện tử được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của giáo viên tới từng gia đình học sinh thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học, không những thế tài liệu điện tử dạy học còn giúp học sinh, sinh viên tự ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình mọi lúc mọi nơi mà không cần đến sự tổ chức của giáo viên Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người

Trang 27

Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là

“thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học

tập, tự rèn luyện của bản thân mình

1.3 Ôn tập, kiểm tra đánh giá trong dạy học ở đại học

1.3.1 Ôn tập [12], [15], [25], [27], [30], [32]

Theo từ điển tiếng Việt, ôn tập là học và luyện lại những điều đã học

để nhớ, để nắm chắc

Theo Piagie; Thái Duy Tuyên ., ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là

sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau Sự lưu giữ thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ Quá trình ghi nhớ có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài Thông tin được lưu giữ trong trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây trong thời gian người học làm việc, tiến hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu giữ thông tin trong suốt cả cuộc đời Trí nhớ ngắn lưu giữ những gì ta đang suy nghĩ vào lúc đó, cùng với những thông tin chuyển từ các giác quan như tai, mắt của con người Sau khi lưu giữ

và sử lý những thông tin ấy trong vài giây, trí nhớ ngắn lập tức quên hầu hết

số thông tin ấy Để lưu giữ thông tin thì những nội dung của trí nhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài Nhưng muốn chuyển được sang được trí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần được xử lý, sắp xếp cấu trúc trong trí nhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với người học Thực chất của hoạt động này

Trang 28

là thực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận

và tổ chức lại thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học Để tổ chức được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lại thông tin, bổ sung, chỉnh lý, chính xác hóa những thông tin

đã lĩnh hội qua các thao tác trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản, những kết luận mấu chốt, những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu, trao đổi với bạn bè, với thầy

cô giáo để làm sáng tỏ những thông tin đó Tức là phải thông hiểu thông tin, phải trả lời được câu hỏi “tại sao như vậy?” Trên cơ sở của sự thông hiểu thông tin, người học tiến hành các hoạt động phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ chức lại các thông tin đã lĩnh hội đó trong một cấu trúc mới Sau khi trí nhớ ngắn đã “làm nên ý nghĩa” cho thông tin đã được lĩnh hội thì nó được chuyển thành trí nhớ dài Từ đây cho thấy chất lượng của việc cấu trúc lại thông tin như thế nào để chuyển sang lưu trữ tại vùng trí nhớ dài hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức ôn tập của GV và vào chính cá nhân SV

Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên trí nhớ dài

có khuynh hướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dài nếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc những ý tưởng

đó Do vậy, với những thông tin cần được lưu giữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợi nhớ lại một cách thường xuyên Điều đó có nghĩa là khi thông tin đã được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì những thông tin đó sẽ bị lãng quên Vì vậy để lưu giữ thông tin lâu dài, GV cần phải tổ chức cho HS sử dụng những thông tin đã được lĩnh hội một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng những thông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành

Trang 29

Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn Bá Kim;….): Ôn tập là giúp HS củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; tạo khả năng cho GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của HS, rèn luyện

kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho HS Ôn tập còn giúp HS mở rộng đào sâu , khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng kỹ xảo đã được hình thành

Một số tác giả khác lại cho rằng: Ôn tập là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau

Tiếp thu những quan niệm về ôn tập như trên, chúng tôi cho rằng: Ôn tập

là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gọi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó mà củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm vững chắc các kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy của người học

1.3.2 Kiểm tra, đánh giá [13], [14], [16], [21], [22], [23], [32]

1, Khái niệm kiểm tra, đánh giá

* Khái niệm kiểm tra:

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV nhằm theo dõi quá trình học tập của SV, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh phương pháp dậy của thầy, phương pháp học học của trò, giúp SV tiến bộ và đạt được mục tiêu giáo dục

Trang 30

Theo Xavie Roegiers: kiểm tra là một quá trình trong đó các tiêu chí đã được định ra từ trước và ta cần thực hiện việc xem xét sự phù hợp của sản phẩm với các tiêu chí đó mà không quan tâm đến việc đưa ra các quyết định Một quan niệm khác cho rằng: “Kiểm tra là quá trình xác định mục đích, nội dung, phương pháp, thu thập số liệu, bằng chứng để xác định mức

độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển” Theo từ điển Tiếng việt, kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế

để đánh giá, nhận xét Như vậy, việc kiểm tra cũng cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết để làm cơ sở cho việc đánh giá SV

* Khái niệm đánh giá:

Có nhiều định nghĩa về đánh giá tùy thuộc mục đích, cấp độ, đối tượng

đánh giá

- Phán xét về giá trị:

“Đánh giá là sự thu thập và sự lí giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điển hành động” (C.E Beeby\1997)

Như vậy: “Đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu

thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ mà người học đạt được các mục tiêu dạy học” [21]

Trang 31

2, Các phương thức kiểm tra, đánh giá:

+ Đánh giá hàng ngày (Đánh giá thường xuyên): Được tiến hành hàng ngày thông quan các khâu kiểm tra bài cũ, củng cố bài học mới, ôn tập, luyện tập nhằm kịp thời điều chỉnh hoạt động của cả giáo viên và học sinh, tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học nội dung mới ở mức độ cao hơn

+ Đánh giá định kỳ: Được thực hiện sau khi học xong một chương, một chuyên đề hoặc một học kỳ nhằm giúp nhìn lại kết quả dạy và học sau một thời gian nhất định, tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học sang những nội dung mới vững chắc hơn

+ Đánh giá tổng kết : Được tiến hành khi kết thúc môn học, năm học, khóa học, nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố, mở rộng toàn bộ những nội dung đã học

3, Các hình thức kiểm tra, đánh giá chính:

+ Quan sát: Giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức

+ Vấn đáp: Có tác dụng tốt khi nêu lên các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái

độ phản ứng khi phỏng vấn,…

+ Viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì có những ưu điểm: Cho phép kiểm tra cùng lúc nhiều học sinh, cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời, khách quan hơn vì người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra

* Trắc nghiệm viết lại được chia thành hai nhóm: Tự luận và Trắc nghiệm khách quan

Trang 32

+ Trắc nghiệm tự luận: “ Trắc nghiệm tự luận cho phép có một sự tự do tương đối nào đó để trả lời vấn đề được đặt ra, nhưng đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại hơn là nhận biết thông tin, và phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của họ một cách chính xác và sáng sủa” [14]

+ Trắc nghiệm khách quan:

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm

Thông thường, khi thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan, người ta thường sử dụng 3 kiểu câu hỏi chính:

a Trắc nghiệm Đúng/Sai (Yes/No questions)

Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải là câu hỏi), học sinh đưa ra nhận định và lựa chọn một trong hai phương án trả lời Đúng hoặc Sai

b Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choice questions)

Đây là loại thông dụng nhất Loại này thường có hai phần: Phần dẫn, nêu

ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi; phần sau là các phương án để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các số 1, 2, 3, 4

Trong các phương án chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc đúng nhất còn các phương án khác có tác dụng gây nhiễu (mồi nhử) Do vậy, các câu lựa chọn được thiết kế tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn về vấn đề

đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu

Trang 33

c Trắc nghiệm điền khuyết (supply items)

Còn được gọi là trả lời ngắn (short answer), đây là dạng trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tương đối tự do Thường chúng ta nêu ra một mệnh

đề có khuyết một bộ phận, học sinh nghĩ ra nội dung trả lời thích hợp để điền vào chỗ trống, thường là những câu trả lời có nội dung ngắn ngọn hoặc một vài từ

Ngoài 3 kiểu trên, trong kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ, người ta còn

dùng nhiều dạng câu hỏi khác, chẳng hạn Trắc nghiệm ghép đôi (matching items) đó là một dạng đặc biệt của dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa

chọn, dạng câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi (hay câu dẫn) một cột là những câu trả lời (hay còn gọi là câu lựa chọn), yêu cầu học sinh phải tìm cách ghép các câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột

khác sao cho hợp lý Trắc nghiệm dùng hình vẽ là loại câu hỏi đưa ra một vài

hình vẽ, sự chú thích và yêu cầu học sinh dựa vào hình vẽ để trả lời vv Hình 1.1: Sơ đồ các loại trắc nghiệm:

Trang 34

1.3.3 Các công cụ và phương tiện cho ôn tập, kiểm tra đánh giá [19], [29]

Các công cụ cho ôn tập kiểm tra, đánh giá phải là “những tài liệu mà sinh viên, giảng viên và các tổ chức khác nhau trong trường đại học đều có thể hiểu như nhau và chấp nhận để thực hiện”

Bao gồm: những bài tập để rèn luyện cho sinh viên; nhật ký thực tập, tìm hiểu thực tế và khảo sát thị trường; bài tự luận, trắc nghiệm, chẩn đoán; biên bản thảo luận tổ nhóm, dự án nghiên cứu nhỏ; bài kiểm tra lựa chọn đa phương án; kiểm tra được dùng sách; vấn đáp; đề án thực hành, giải quyết một vấn đề; ghi chép về một lĩnh vực, một chuyên đề do giảng viên yêu cầu; phiếu tự đánh giá và trả lời câu hỏi ”

Các công cụ, phương tiện nêu trên có vị trí trong từng điều kiện học tập riêng, trong mỗi một trường hợp, giảng viên cần thực hiện một cách linh hoạt, chứ không sẵn một thực đơn để sử dụng một cách máy móc

Cũng có thể chia công cụ và phương tiện cho ôn tập, kiểm tra, đánh giá thành hai dạng sau:

* Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác ) [29]

Sách là một công cụ chứa đựng hệ thống tri thức Sách là hình thức vật chất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệ thống khái niệm Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ và toàn bộ kinh nghiệm xã hội vốn có của mình để tách khái niệm khỏi

hệ thống từ ngữ mà lĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức, một phương thức lĩnh hội khái niệm Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đường đọc sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố

* Tài liệu điện tử dạy học (các tư liệu, bài giảng điện tử, bài tập, bài kiểm tra trên mạng Internet, các phần mềm )

Trang 35

Các tư liệu như các mô hình mô phỏng các hiện tượng và quá trình vật lí, các đoạn video có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiến thức đã học để xây dựng trang Web củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa) kiến thức, kĩ năng của HS

Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng trong dạy học Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phu các câu hỏi, bài tập trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm, khó khăn phổ biến của HS và hướng dẫn HS tự đọc tài liệu dựa trên công nghệ thiết kế web hợp

lí thì sẽ tạo ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học

Phần mềm dạy học (PMDH) là phương tiện hỗ trợ chứa chương trình đã được thiết lập sẵn để ra lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dụng

và phương pháp dạy học theo các mục tiêu đã định

Trong dạy học vật lí có thể phân chia các PMDH thành các nhóm như sau:

- Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng

- phần mềm xử lí các số liệu thực nghiệm dùng hỗ trợ cho các thí nghiệm vật lí: thường gọi là phần mềm hỗ trợ thí nghiệm vật lí

- phần mềm ôn tập, tổng kết, hệ thống hóa kiến thức của từng phần, từng chương trong SGK

- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của HS

Như vậy, bên cạnh rất nhiều chức năng thì PMDH cũng có chức năng hố trợ ôn tập và kiểm tra đánh giá kiến thức về một nội dung nào đó

Trang 36

1.4 Xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá 1.4.1 Các nguyên tắc chung cho việc xây dựng, sử dụng tài liệu điện tử

hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá

Các tài liệu điện tử khi xây dựng và sử dụng hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá phải đảm bảo các nguyên tắc chung như sau:

1, Tính nhất quán

- Phạm vi của đánh giá học tập phải nhất quán với mục tiêu đã dự định

- Đánh giá học tập phải thể hiện sự khác biệt trọng số giữa các mục tiêu Thông thường người GV khi xác lập các mục tiêu phải chỉ ra tầm quan

trọng khác nhau của các mục tiêu cần đạt được của SV

2, Tính hiệu quả

Tính hiệu quả hay còn gọi là độ hiệu quả Trong quá trình đánh giá học tập nội dung kiểm tra phải duy trì quan hệ mật thiết với mục tiêu đã định Nội dung kiểm tra là một cách diễn đạt các mục tiêu dạy học Nội dung kiểm tra phải được lựa chọn gắn với mức độ nhận thức khác nhau Nếu một bài kiểm tra chỉ gồm toàn các câu hỏi để khảo sát trí nhớ (mức độ nhận biết) thì KTĐG tuyệt đối không được đánh giá một cách phiến diện, riêng lẻ từng phần mà cần phải lưu ý

cả về chất lượng, số lượng, khối lượng công việc và thời gian hoàn thành công

việc đó

3, Tính tin cậy

Tính tin cậy hay còn gọi là độ tin cậy Nếu tiến hành kiểm tra một tập thể

SV vào buổi sáng hay buổi chiều thì điểm thi và thứ bậc của các em SV là như nhau trong cả hai buổi thì kết quả kiểm tra đó có thể tin cậy được Ngược lại thì không đáng tin cậy Nếu sau vài tháng lại tiến hành tập thể SV đó điểm số

Trang 37

và thứ tự SV đó thay đổi nhưng không vì thế mà chỉ trích là bài kiểm tra thiếu tính tin cậy vì qua vài tháng dạy và học trình độ SV có sự thay đổi

Tính tin cậy thể hiện ở chỗ phải đánh giá chính xác khả năng của người học

tức là :

- KTĐG phải bộc lộ trung thực kết quả lĩnh hội kiến thức kỹ năng của người học Phản ánh đúng đắn kết quả của người học, phản ánh đầy đủ những tiến bộ và những thiếu sót cơ bản, những nguyên nhân của chúng, xác định đúng hướng tiến bộ tiếp tục của từng người, không nhầm lẫn giữa bản chất và

hiện tượng giữa tạm thời và lâu dài trong việc đánh giá KQHT của người học

- Thông tin của người GV thu được sau khi KTĐG phải có độ chính

xác cao

- Trước kiểm tra, GV vì lí do gì đó bị lộ đề thi việc này ảnh hưởng

nghiêm trọng tới độ tin cậy của bài kiểm tra

Đối với người GV khi KTĐG để tăng độ giá trị cần quan tâm tới :

- Chất lượng bài kiểm tra đảm bảo tính phong phú của nội dung, Tính toàn diện của nội dung kiểm tra Tính xác thực của kiểm tra thể hiện tài liệu kiểm tra liên quan đến khả năng thỏa mãn yêu cầu đó đề ra

- Tổ chức hệ thống kiểm tra : cần kiểm tra nhiều lần, quan sát lâu dài và liên tục toàn bộ hoạt động của người học Thực tiễn dạy học cho thấy việc kiểm tra có tính thường xuyên và hệ thống giúp cho người dạy có cơ sở để đánh giá đúng thực trạng học lực của người học, mặt khác nó còn ảnh hưởng tới kết quả của người học

- Công việc chấm thi cần chấm bài theo các tiêu chí đã định và thống nhất giữa các GV chấm

Trang 38

4, Tính khách quan

Tính khách quan rất quan trọng trong đánh giá học tập của SV Tính khách quan và tính chủ quan là hai thái cực mà trong một phương pháp đánh giá nào ít hay nhiều luôn tồn tại

Tính khách quan của kiểm tra đánh giá thể hiện ở chỗ kết quả của kiểm tra phải phù hợp với kết quả lĩnh hội kiến thức của người học đó được bộc lộ một cách trung thực Nội dung của KTĐG phải bám sát mục tiêu đó đề ra

Việc tổ chức thi, chấm thi cần làm chặt chẽ sao cho mọi người học đều có thể dự thi một các bình đẳng cả về kiến thức lẫn yếu tố tinh thần Đối với

GV chấm bài kiểm tra phải thống nhất như nhau các tiêu chí đánh giá thì kết quả thể hiện mới thực sự khách quan

Để nâng cao tính khách quan trong đánh giá kết quả học tập người GV phải dựa vào từng tình huống cụ thể mà lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp đảm bảo tính khách quan cao xong phải đạt và đo được mục tiêu đã đề ra

5, Tính liên tục

Trong toàn bộ quá trình thực hiện chương trình học của nhà trường, người

GV phải là người đánh giá học tập liên tục Qua đó không ngừng thu lượm những thông tin phản hồi từ phía SV để kịp thời áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học

Tính liên tục của đánh giá là điều cần thiết trong sự phát triển chương trình học của nhà trường, nếu không có đánh giá học tập liên tục không ngừng thì không có cách nào kịp thời cung cấp những thông tin phản hồi cho chương trình học của nhà trường, càng không có cách nào hoàn thiện tiếp chương trình học của nhà trường

Trang 39

6, Tính rộng khắp

Phạm vi đánh giá học tập bao gồm tất cả các mục tiêu dự định

7, Tính chuẩn đoán

Đánh giá học tập có hiệu quả không chỉ có thể phân được thứ bậc của SV

mà còn có thể giúp cho GV hiểu được một cách sâu sắc những vấn đề còn tồn tại trong dạy học và trong chương trình nhà trường

8, Tính tham gia

Tính tham gia đánh giá học tập thể hiện ở hai phương diện sau:

- SV tham gia công tác đánh giá học tập thông qua quá trình tích cực tham gia hoạt động dạy học và lựa chọn phương pháp dạy học GV giữ vai trò chủ đạo khuyến khích SV tham gia công tác đánh giá học tập như cho đáp án yêu cầu SV tự chấm điểm của mình và của bạn cùng học sau đó GV kiểm tra kết quả của SV đối chiếu với kết quả của mình

- Mời một số đại biểu ban ngành tham gia đánh giá học tập khiến cho việc đánh giá học tập càng thiết thực với thực tế xã hội hơn

Trong các yêu cầu trên về KTĐG học tập các yêu cầu trên có mối quan hệ mật thiết với nhau không tách rời

9, Tính phát triển

- Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó Đảm bảo tính công khai trong đánh giá

- Trân trọng sự cố gắng của SV, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của SV

10, Tính thường xuyên và hệ thống

- Cần KTĐG SV thường xuyên trong mỗi tiết học, sau mỗi phần kiến thức

- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống

Trang 40

1.4.2 Quy trình xây dựng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá [29], [34]

Quy trình xây dựng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá hay

chính là xây dựng Bộ câu hỏi trắc nghiệm điện tử bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Xác định mục đích yêu cầu cần kiểm tra

Là phương tiện để xác định mức độ đạt hệ thống mục tiêu học tập của mỗi

SV từ đó đánh giá KQHT sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học

kỳ, hay toàn bộ chương trình theo các cấp độ từ dễ đến khó như sau:

- Cấp độ 1: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ nhận biết hoặc yêu cầu về kỹ năng đạt ở mức độ bắt chước làm được một việc đã

học Nội dung thể hiện ở việc quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết được thời gian, địa điểm và sự kiện, nhận biết được các ý chính, nắm được chủ đề nội dung

Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 1 có thể quy về nhóm động từ: nhận biết được, nêu được, phát biểu được, viết được, liệt kê được, thuật lại được, nhận dạng được, chỉ ra được

- Cấp độ 2: Câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ thông hiểu hoặc

kỹ năng đạt được ở mức độ làm được chính xác một việc đã học, có thái độ

đúng mực Nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu,

so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả

Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu được, trình bày được, mô tả được, diễn giải được,

- Cấp độ 3: Câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng cơ bản,

những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã

Ngày đăng: 21/11/2014, 18:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD & ĐT (2008), Chiến lược giáo dục 2009 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giáo dục 2009 – 2020
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Năm: 2008
2. Bộ GD & ĐT (2001), Chỉ thị về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005, số 29/2001/CT – BGDĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005, số 29/2001/CT – BGDĐT
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Năm: 2001
3. Bộ GD & ĐT (1999), Chỉ thị 15/1999/CT – BGDĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 15/1999/CT – BGDĐT
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Năm: 1999
6. Nghị quyết của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện về giáo dục đại học giai đoạn 2006- 2020, SỐ 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005 7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật giáo dục, NXB chínhtrị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Tác giả: Nghị quyết của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện về giáo dục đại học giai đoạn 2006- 2020, SỐ 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005 7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị
Năm: 2005
11. Trần Bá Hoành – Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, Tạp chí NCGD, số 7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học
14. J. Piagie (1986) – Tâm lý học, giáo dục học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học, giáo dục học
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. TS. Nguyễn Lệ Nhung (24/3/2009). Vài nét về khái niệm “Tài liệu”, “Tài liệu điệ tử.http://www.archives.gov.vn/content/Lists/Tin%20nghin%20cu%20trao%20i/DispForm.aspx?ID=17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu
24. Phạm Xuân Quế (2007) - Ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động nhận thức vật lí tích cực, tự chủ và sáng tạo, NXB ĐH Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động nhận thức vật lí tích cực, tự chủ và sáng tạo
Nhà XB: NXB ĐH Sƣ phạm
25. Nguyễn Cảnh Toàn (2001) – Tuyển tập tác phẩm: Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm: Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu
Nhà XB: NXB Giáo dục
26. Nguyễn Quốc Tuấn (1983) – Nội dung, phương pháp ôn tập thường xuyên và ôn tập khái quát – Luận án tiến sĩ giáo dục, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung, phương pháp ôn tập thường xuyên và ôn tập khái quát
30. Thái Duy Tuyên (2003) – Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Nhà XB: NXB Giáo dục
31. Từ điển tiếng Việt, 2001. 32. http://tailieu.vn/ Link
4. Bộ GD & ĐT (1996), Nghị quyết Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, số 02- NQ/HNTW ngày 24/12/1996 Khác
5. Bộ GD&ĐT (2001), QĐ số 31/2001QĐ- BGD& ĐT, ngày 30/7/2011 Khác
8. Lương Duyên Bình (chủ biên) (2001) – Vật lí đại cương (3 tập), NXB Giáo dục Khác
9. Tô Văn Bình (2010), Phát triển tƣ duy và năng lực sáng tạo trong dạy học Vật lí, giáo trình đào tạo thạc sĩ, ĐHSP – ĐH Thái Nguyên Khác
10. Bộ môn Vật lí - Lí sinh y học (2013), Giáo trình Vật lí – Lí sinh, Tài liệu lưu hành nội bộ trường ĐH Y Dược Thái Nguyên Khác
12. Trần Bá Hoành (1991), Đánh giá trong giáo dục. Bộ giáo dục và đào tạo. Chương trình giáo trình đại học Khác
13. Nghiêm Xuân Hùng (Biên dịch) (1995), Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong Giáo dục, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Văn Khải, Kiểm tra và đánh giá trong dạy học Vật lí, ĐHSP- ĐH Thái Nguyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ các loại trắc nghiệm: - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Hình 1.1 Sơ đồ các loại trắc nghiệm: (Trang 33)
Sơ đồ quy trình xây dựng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Sơ đồ quy trình xây dựng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra đánh giá (Trang 44)
Bảng 1.1. Kết quả ý kiến GV về việc sử dụng phương pháp ôn tập - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng 1.1. Kết quả ý kiến GV về việc sử dụng phương pháp ôn tập (Trang 45)
Bảng kết quả trên cho thấy nhóm các biện pháp mà GV thường xuyên  sử dụng nhất trong các hoạt động tổ chức hướng dẫn HS ôn tập là đọc lại bài  cũ và học thuộc bài trong giáo trình, làm các bài tự luận hoặc là tái hiện lại  bài  giảng  bằng  cách  lập  dàn - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng k ết quả trên cho thấy nhóm các biện pháp mà GV thường xuyên sử dụng nhất trong các hoạt động tổ chức hướng dẫn HS ôn tập là đọc lại bài cũ và học thuộc bài trong giáo trình, làm các bài tự luận hoặc là tái hiện lại bài giảng bằng cách lập dàn (Trang 46)
Bảng 1.3. Kết quả ý kiến HS về việc sử dụng phương pháp ôn tập - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng 1.3. Kết quả ý kiến HS về việc sử dụng phương pháp ôn tập (Trang 47)
BẢNG Test blueprint ( MA TRẬN ĐỀ ) - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
est blueprint ( MA TRẬN ĐỀ ) (Trang 56)
Bảng phân chia loai test - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng ph ân chia loai test (Trang 57)
Bảng 3.2:  Tổng hợp đánh giá của giảng viên - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng 3.2 Tổng hợp đánh giá của giảng viên (Trang 79)
Bảng 3.3: Đánh giá về sự hài lòng của sinh viên đối với phương pháp  dạy và học mới với sự trợ giúp của CNTT - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng 3.3 Đánh giá về sự hài lòng của sinh viên đối với phương pháp dạy và học mới với sự trợ giúp của CNTT (Trang 80)
Bảng 3.4: Thống kê kết quả kiểm tra - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng 3.4 Thống kê kết quả kiểm tra (Trang 82)
Đồ thị 3.1. Đồ thị phân bố điểm TNSP - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
th ị 3.1. Đồ thị phân bố điểm TNSP (Trang 83)
Đồ thị 3.2. Đồ thị phân bố tần suất  điểm TNSP - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
th ị 3.2. Đồ thị phân bố tần suất điểm TNSP (Trang 84)
Bảng 3.8. Bảng kết quả xử lí để tính tham số của nhóm ĐC - xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử hỗ trợ ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập các kiến thức vật lí (môn vật lí- lí sinh) cho sinh viên đại học y dược thái nguyên
Bảng 3.8. Bảng kết quả xử lí để tính tham số của nhóm ĐC (Trang 87)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w