1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ

19 725 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH

GVHD : TS Bùi Văn Mưa

Người thực hiện: Lâm Vũ Duy Khánh

STT: 77 Nhóm: 8 Lớp: Đêm 5 Khóa: K21

Trang 2

NĂM 2012 MỤC LỤC

Lời mở đầu

Chương 1: Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh 1.1 Những đặc điểm cơ bản của Triết học phương tây thời cận đại

1.2 Những tư tưởng cơ bản của Ph Bêcơn

1.2.1 Vài nét về Ph.Bêcơn

1.2.2 Những định hướng xây dựng triết học và khoa học mới

1.2.3 Quan niệm về thế giới và con người

1.2.4 Quan niệm về nhận thức và phương pháp nhận thức

1.2.5 Quan niệm về chính trị xã hội

1.3 Những tư tưởng cơ bản của Tôma Hốp xơ

1.3.1 Lý luận về triết học tự nhiên

1.3.2 Lý luận về triết học xã hội

1.4 Những tư tưởng cơ bản của Giôn Lốccơ

1.4.1 Lý luận về cảm giác và kinh nghiệm

1.4.2 Lý luận về đặc tính của sự vật

Chương 2: Những giá trị và hạn chế chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh 2.1 Những giá trị

2.1 Những hạn chế

Kết luận

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Khi bóng đêm của đêm trường Trung cổ bị những ánh sáng bình minh của nền văn minh công nghiệp chiếu rọi thì Tây Âu đã có những bước chuyển dữ dội, chuyển sang thời kỳ phục hưng thời đại phục sinh những giá trị của nền văn hoá cổ đại Hy Lạp

Sang thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ giai cấp tư sản đã dành được chính quyền, phương thức sản xuất tư bản được xác lập

và trở thành phương thức sản xuất thống trị, nó đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa hoc tự nhiên - thực nghiệm

Vào thế kỷ XVII, Anh là quốc gia tư bản lớn nhất ở Tây Âu Nước Anh có

sự phát triển cao, rực rỡ về kinh tế xã hội, khoa học và văn hóa Tư tưởng triết học thời kỳ này có sự phát triển mới về chất, hình thức biểu hiện phong phú Triết học Anh hay chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh thời kỳ này chính là ngọn

cờ lý luận của giai cấp tư sản Anh Các nhà triết học tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh phải kể đến là Ph Bêcơn, T Hốpxơ và G Lốccơ

Thật sự khi nhắc đến chủ nghĩa kinh nghiệm anh hay Bêcơn, nghĩ ngay đến một người đã đưa châu Âu thoát khỏi bóng đêm thời Trung Cổ hàng nghìn năm, đưa khoa học vào đúng vị trí xứng đáng

Các tài liệu tham khảo chính bao gồm Triết học - Phần 1, Phần 2 [1], [2]; Câu chuyện triết học [4]; Lịch sử triết học [5], Lịch sử triết học [6] Trong đó nội dung chính bao gồm Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và những giá trị và hạn chế của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh

Trang 4

Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH

1.1 Những đặc điểm cơ bản của Triết học phương tây thời cận đại

Thế kỷ XVII-XVIII ở Tây Âu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh đã làm cho mâu thuẫn với phương thức sản xuất phong kiến ngày càng gay gắt, làm cho khoa học tự nhiên có sự phát triển nhảy vọt Sự phát triển

về kinh tế - xã hội, văn hoá như trên đã làm cho tư tưởng triết học thời kỳ này có

sự phát triển mới về chất, hình thức biểu hiện phong phú

Từ thế kỷ XVII, nước Anh đã đạt tới sự phát triển thịnh vượng về kinh tế,

xã hội, văn hóa và khoa học thực nghiệm Do ảnh hưởng của sự phát triển ấy mà tính duy vật, duy giác là một trong những đặc trưng của triết học Anh thế kỷ XVII Mặt khác, do ảnh hưởng tư tưởng tôn giáo, thế giới quan của các nhà duy vật Anh cũng thiếu triệt để

Trường phái triết học Anh được Ph.Bêcơn đặt nền móng, T Hốpxơ theo khuynh hướng kinh nghiệm và G Lốccơ đẩy mạnh theo khuynh hướng duy giác

1.1 Những tư tưởng cơ bản của Ph Bêcơn (Francis Bacon)

1.2.1 Vài nét về Ph Bêcơn (1561-1626)

- Sinh ra trong gia đình quý tộc cao cấp, tại thành phố Luân Đôn Ông là đại biểu tư tưởng của tầng lớp quý tộc cấp tiến

- Các tác phẩm nổi tiếng của ông về văn học và triết học: Giải thích thiên nhiên, Phê bình triết học, Sợi chỉ của mê lộ, Công cụ mới, Mô tả quả cầu tri thức,

Về các nguyên lý, Atlantis mới…

- Là người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và khoa học thực nghiệm Lịch sử triết học phương tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của ông

Quan điểm triết học của ông có những nội dung cơ bản sau:

1.2.2 Những định hướng xây dựng triết học và khoa học mới

Bêcơn xây dựng triết học và khoa học mới xuất phát từ 2 cơ sở là: “tri thức là sức mạnh” và “lý luận thống nhất với thực tiễn”

Trang 5

Bêcơn hiểu triết học theo hai cách:

- Theo nghĩa rộng, triết học mới phải là khoa học của mọi khoa học, hoặc

là cơ sở của mọi khoa học

- Theo nghĩa hẹp, triết học là bộ phận cơ bản nhất trong tổng thể các khoa học

Ông cho rằng con người cần phải thống trị, phải làm chủ giới tự nhiên Điều đó có thực hiện được không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người Bêcơn cho rằng tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức Do đó cần có một khoa học mới lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm biến tự nhiên thành “giang sơn” của con người Khoa học mới là lý luận thống nhất với thực tiễn Mục đích của triết học mới và khoa học mới là xây dụng các tri thức lý luận chặt chẽ, khắc phục lòng tin mù quáng

Bêcơn xác định nhiệm vụ của triết học mới bao gồm :

- Nhiệm vụ tối thượng là tăng cường quyền lực tinh thần để thống trị giới

tự nhiên, chấn hưng đất nước, khắc phục lợi ích cho con người

- Nhiệm vụ trước mắt là đại phục hồi cho khoa học bằng cách cải tạo toàn

bộ tri thức hiện có, xóa bỏ những sai lầm chủ quan, sử dụng hiệu quả tư duy khoa học để khám phá ra trật tự của thế giới khách quan

Các khoa học lý thuyết hay là triết học theo nghĩa rộng

Triết học thứ nhất hay

triết học theo nghĩa hẹp

Các khoa học khác: pháp quyền, đạo đức…

Thần học

tự nhiên

Nhân bản học

Triết học tự nhiên, các khoa học tự nhiên và triết học thực tiễn

Trang 6

- Nhiệm vụ khoa học mới là là khám phá ra các quy luật của thế giới, chứ không đi tìm nguyên nhân cuối cùng Ph Bêcơn là bác bỏ triết học Kinh viện, phủ nhận uy quyền của giáo hội và coi nhiệm vụ của khoa học là làm tăng quyền lực của con người đối với tự nhiên, là mục đích của tri thức

Từ những định hướng này, ông đã xây dựng một hệ thống triết học về khoa học của mình, thể hiện:

1.2.3 Quan niệm về thế giới và con người

Quan niệm về thế giới

Ph Bêcơn phát triển quan niệm duy vật thời cổ đại của Arixtốt cho rằng chỉ cần vật chất là lý giải được thế giới Thế giới tự nhiên tồn tài khách quan, đa dạng và thống nhất:

- Tính khách quan: thế giới tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào tình cảm, uy tín, nhận thức (cái chủ quan) của con người Triết học và khoa học không thể biết cái gì về thế giới vật chất khách quan đó

- Tính đa dạng: được lý giải một cách đúng đắn và đầy đủ nhờ vào quan niệm về vật chất, về hình dạng, về vận động Mọi cái trên thế giới tồn tại từ ba nguyên nhân:

+ Vật chất là các phần tử rất nhỏ, có tính chất khác nhau

+ Hình dạng là nguyên nhân làm cho các sự vật trở thành khác nhau, là lý

do đầy đủ để sự vật xuất hiện, là bản chất chung của các sự vật cùng loại, là quy luật chi phối sự vận động của chúng

+ Vận động là bản năng là sinh khí của sự vật, là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất Ph Bêcơn cho rằng có 19 dạng vận động, trong đó hình dạng

là dạnh vận động mà nhờ vào nó các phần tử vật chất cấu thành sự vật, và đứng

im cũng là dạng vận động

- Tính thống nhất: vật chất, hình dạng, vận động thống nhất với nhau nên nhận thức bản chất của sự vật vật chất là khám phá ra hình dạng, là vạch ra các quy luật vận động chi phối chúng

Quan niệm về con người

Trang 7

Ph Bêcơn cho rằng con người là sản phẩm của thế giới, nó bao gồm thể xác và linh hồn và đều được cấu tạo từ vật chất Ngoài ra ông thừa nhận sự hiện hữu của linh hồn thực vật và linh hồn động vật Khoa học nghiên cứu con người

và linh hồn là khoa học tự nhiên

1.2.4 Quan niệm về nhận thức và phương pháp nhận thức

Một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt ở thời cận đại đó là vấn

đề nhận thức luận và phương pháp luận Bêcơn đã dành một vị trí thích đáng để bàn về những nội dung này

Quan niệm về nhận thức

- Ph Bêcơn cho rằng quá trình nhận thức xảy ra bắt đầu từ thế giới khách quan, thông qua kinh nghiệm cảm tính, tiến đến tư duy lý tính để xây dựng các tri thức khách quan về thế giới

- Cảm giác kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức: khoa học phải là khoa học thực nghiệm sử dụng tư duy tổng hợp và phương pháp quy nạp

để khái quát các dữ kiện do kinh nghiệm mang lại nhằm khám phá ra các quy luật, bản chất của thế giới khách quan, đa dạng và thống nhất

- Tri thức khoa học luôn mang tính khách quan, hoàn toàn không phụ thuộc vào tình cảm, ý chí, lợi ích chủ quan của con người

Lý luận về ảo tưởng:

Theo Bêcơn quá trình nhận thức của con người bị chi phối bởi những yếu

tố chủ quan như mắc phải các ảo tưởng (ảo tưởng loài, hang động, thị trường và nhà hát) nên mắc sai lầm Và trong các ảo tưởng này thì ảo tưởng nhà hát là nguy hiểm nhất, đưa đến nhận thức con người sai lầm nhất

- Ảo tưởng loài (IDOLA TRIBUS): những nhận thức sai lầm do loài người thường xuyên nhầm lẫn bản chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật nên dễ dàng gán cho sự vật những ý tưởng của mình, biến chúng thành thước đo chân lý, thước đo giá trị của sự vật

Trang 8

Để loại trừ ảo tưởng này, con người trong nhận thức phải tôn trọng tính khách quan, không được duy ý chí, chủ quan áp đặt tư tưởng của mình cho các đối tượng

- Ảo tưởng hang động (IDOLA SPECUS): thực chất là ảo tưởng loài nhưng nó được biểu hiện ở mỗi con người cụ thể Do có những đặc điểm sinh lý riêng biệt, hoàn cảnh giáo dục, nghề nghiệp khác nhau…làm khúc xạ tầm nhìn,

đẻ ra những phán đoán về mọi cái theo bản thân mình hay theo bè nhóm cảm tính

Ảo tưởng này được gọi là hang động vì Bêcơn xem trí tuệ của con người méo mó như hang động của Platôn, cái ta cảm nhận được không phải là bản chất, chỉ là bản sao giống như ảo tưởng tưởng rằng nhốt được mặt trăng vào trong chậu nước

- Ảo tưởng thị trường (IDOLA FORI): ảo tưởng này xuất hiện do thường xuyên sử dụng những danh từ trống rỗng để giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày

Đó còn do sự ngộ nhận sử dụng các thuật ngữ khoa học chưa thật chính xác Vì thế phải phải bỏ thói quen dựa vào các quan niệm đang lưu hành và có thái dộ phê phán đối với các thuật ngữ mơ hồ không chính xác

- Ảo tưởng nhà hát (IDOLA THEATRI): sai lầm bắt nguồn do chúng ta quá tin vào người xưa, diễn ra trước mắt người ta như diễn ra trên sân khấu Quá khứ chỉ là một thời kỳ ấu trĩ của loài người chứ không phải là một thời hoàng kim

Và để khắc phục những các ảo tưởng này, phải khách quan hóa hoạt động nhận thức Điều này được thực hiện bằng cách tiếp cận trực tiếp thế giới tự nhiên

mà không thông qua uy tín, sách vở, lòng tin, tín điều…mà tiếp cận bằng quan sát, làm thí nghiệm, hoàn thiện công cụ nhận thức, sử dụng phép quy nạp khoa học, biết tổng hợp và khái quát hóa một cách đúng đắn các tài liệu kinh nghiệm cảm tính

Quan điểm về phương pháp nhận thức

Trang 9

- Về phương pháp luận, theo Bêcơn cần phải rà soát những phương pháp trước đây để từ đó kế thừa và triển khai phương pháp mới

- Từ trước đến nay con người chủ yếu sử dụng hai phương pháp là phương pháp con nhện và phương pháp con kiến Cả hai phương pháp này đều bộc lộ hạn chế, vì vậy ông đề xuất phương pháp con ong

- Phương pháp quy nạp là phương pháp tối ưu để nhận thức, khám phá những bí mật của đối tượng nhận thức Bản chất của phương pháp này là xuất phát từ những sự kiện riêng biệt sau đó tiến dần lên những nguyên lý phổ biến, khẳng định bản chất của sự vật

- Ông coi khoa học trước kia đã mắc phải hoặc là "chủ nghĩa giáo điều" khi nhà khoa học rút ra một hệ thống nguyên lý từ những khái niệm riêng của mình; hoặc là mắc phải "chủ nghĩa kinh nghiệm" khi nhà khoa học chỉ ra sức thu thập những sự kiện và không suy nghĩ đến ý nghĩa của chúng Để đạt tới tri thức chính xác, phải cải cách phương pháp: trước hết phải gột sạch được những sai trái, sau đó chuyển qua phương pháp nhận thức của khoa học mới

- Bêcơn đưa ra phương pháp lập bảng (có mặt ghi dấu +, vắng mặt ghi dấu-, có mặt nhiều ghi nhiều dấu +) Sau này Milơ đã hệ thống hóa thành 4 phương pháp Milơ (phương pháp tương đồng, khác biệt, đồng biến và phần dư)

để khám phá ra mối liên hệ nhân quả mang tính quy luật chi phối các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Theo Bêcơn đòi hỏi quá trình nghiên cứu - nhận thức đúng đắn cần phải trải qua bốn bước:

- Dựa vào giác quan, thông qua quan sát, thí nghiệm, tiếp cận thế giới tự nhiên đa dạng và sinh động để thu được những tài liệu kinh nghiệm cảm tính

- So sánh, đối chiếu, hệ thống hóa, tổng hợp những tài liệu kinh nghiệm cảm tính này để xây dựng các sự kiện khoa học và phát hiện ra mối quan hệ nhân quả giữa chúng

Trang 10

- Bằng quy nạp khoa học, khái quát các sự kiện khoa học, phát hiện ra mối liên hệ nhân quả, xây dựng giả thuyết khoa học để lý giải các hiện tượng đang nghiên cứu, từ giả thuyết này rút ra các hệ quả tất yếu của chúng

- Bằng những quan sát, làm thì nghiệm mới, kiểm tra các hệ quả đó, nếu đúng thì giả thuyết khoa học trở thành nguyên lý, định luật tổng quát (của khoa học thực nghiệm), nếu sai thì lập lại giả thuyết mới

1.2.5 Quan niệm về chính trị xã hội

- Bêcơn chủ trương một đường lối chính trị phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản và chuẩn bị điều kiện để phát triển mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản

- Đòi hỏi phải xây dựng một nhà nước tập quyền đủ mạnh để chống lại mọi đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp quý tộc bảo thủ

- Phát triển một nền công nghiệp thương nghiệp dựa trên sức mạnh của tri thức khoa học và tiến bộ khoa học

- Chủ trương cải tạo xã hội bằng con đường khai sáng khoa học kỹ thuật, giáo dục và đào tạo mà không cần sự đấu tranh của nhân dân

1.3 Những tư tưởng cơ bản của Tôma Hốpxơ (Thomas Hobbs) (1588 - 1679)

Là nhà triết học duy vật máy móc của Anh Tư tưởng của ông là kế tục sự nghiệp của Bêcơn, chủ trương phát triển triết học và khoa học, lấy tri thức phục

vụ thực tiễn cải tạo thế giới vì lợi ích con người Ông chia triết học ra thành "triết học tự nhiên" nghiên cứu các vật thể tự nhiên, "triết học thông thường" nghiên cứu xã hội và con người Ông là nhà duy vật cơ học điển hình, luôn coi cơ học và toán học là mẫu mực của tư duy khoa học

1.3.1 Lý luận về triết học tự nhiên

Quan điểm về tự nhiên: Hốpxơ cho rằng thế giới vật chất tồn tại khách

quan, không do thần thánh tạo ra và không phụ thuộc vào ý thức của con người Thế giới vật chất là thế giới những vật thể riêng lẻ, đều được quy về quan hệ số lượng cơ học, toán học, nên là thế giới không có thuộc tính, không màu sắc Ông không thừa nhận sự tồn tại khách quan về sự đa dạng của thế giới, đó chẳng qua

Trang 11

là đặc tính tri giác của con người Ông thừa nhận thế giới vật chất luôn luôn vận động và quy mọi vận động về vận động cơ học

Ông coi động vật và cả con người nữa đều chỉ là những cỗ máy phức tạp, phủ nhận sự tồn tại linh hồn như một thực thể tinh thần bất tử và thừa nhận thể xác với những hoạt động mang tính tự nhiên cơ học Do đó, ông kết luận rằng Thượng đế và lòng tin tôn giáo chỉ là những sản phẩm của trí tưởn tượng dồi dào của con người

Quan điểm về nhận thức: Hốpxơ đã phê phán thuyết ý niệm bẩm sinh của

Đềcáctơ và phát triển kinh nghiệm luận của Ph BêCơn Ông cho rằng mọi quá trình nhận thức đều dựa vào ý tưởng, còn mọi ý tưởng đều có cội nguồn từ cảm giác về thế giới bên ngoài

Đối tượng của nhận thức là vật chất cùng với quan hệ số lượng cơ học và toán học Con người có thể nhận thức sự vật nhờ cảm giác và lý trí Cảm giác và kinh nghiệm là khởi đầu của nhận thức Khoa học tự nhiên là khoa học thực nghiệm và chỉ mang lại tri thức xác suất, không chắc chắn Muốn có những tri thức chính xác, hiển nhiên chắc chắn, phải dựa vào ngôn ngữ Ngôn ngữ cho phép nắm bắt cái chung, mối liên hệ tất yếu

Chân lý không phải là tính chất gắn liền với các sự vật riêng lẻ mà là tính chất của các suy diễn về sự vật do tư suy tiến hành Bản thân sự vật không giả dối, mà sự giả dối hay chân thực phụ thuộc vào việc nhận định của con người Tư duy đi sâu phân tích sự vật để nắm bản chất sự vật nên ngoài phương pháp quy nạp còn phải có phương pháp suy diễn Như vậy Hốpxơ đã tách hoạt động nhận thức của con người ra làm hai loại: cảm giác – kinh nghiệm – quy nạp, tư duy –

lý luận – suy diễn

1.3.2 Lý luận về triết học xã hội

Hốpxơ coi con người là một thực thể thống nhất của tính tự nhiên và tính

xã hội, trong đó có hai trạng thái tồn tại của xã hội là trạng thái tự nhiên và trạng thái công dân

Ngày đăng: 21/11/2014, 18:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w