TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
*********** **********
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh
và những giá trị hạn chế
Học viên : Nguyễn Thị Hải Huyền
TP Hồ Chí Minh, năm 2012
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Văn Mưa (chủ biên), Tài liệu Triết học (phần I & II) (dùng cho học
viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc ngành triết học), Lưu hành nội bộ, Tp.HCM, 2011
2 Bùi Văn Mưa, Triết học và bức tranh vật lý học về thế giới, NXB Đại học Quốc Gia, Tp.HCM, 2007
3 Will Durant, Câu chuyện triết học qua chân dung Platon, Aristote, Bacon, Kant, Spinoza, Voltaire, Spencer, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000
4 Bùi Thanh Quất, Vũ Tình Lịch sử triết học, Nhà xuất bản Giáo Dục, 2001
(cái tài liệu có ghi số trang từ 218 đến 229)
5 Nguyễn Hữu Vui Lịch sử triết học Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia,
1998 (cái tài liệu có ghi số trang từ 263 đến 291)
6 Trần Đức Thảo, Lịch sử tư tưởng trước Marx (tr 342-373) Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1995
7 Các trang web: http://www.chungta.com, http://www.vneconomy.vn,
http://triethoc.edu.vn …
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU Khi bóng đêm của đêm trường Trung cổ bị những ánh sáng bình minh của nền văn minh công nghiệp chiếu rọi thì Tây Âu nói chung và Anh Quốc nói riêng đã có những bước chuyển mạnh mẽ sang thời kỳ phục hưng, thời đại phục sinh những giá trị của nền văn hoá cổ đại Hy Lạp đã bị lãng quên trong nền chuyên chế phong kiến kéo dài hàng nghìn năm ở Âu Châu Đây là giai đoạn chuyển biến có tính chất bước ngặt không chỉ đổi với lịch sử phát triển của nhân loại mà còn cả lịch sử triết học Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh hình thành và phát triển vào thời kỳ này, đó là sự phát triển tiếp nối từ Triết học cổ đại, là bước phát triển tất yếu của lịch sử triết học
Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh đã tạo nên những thành tựu vượt bậc ảnh hưởng sâu sắc tới hệ tư tưởng văn hóa, nền triết học phương Tây lúc bấy giờ và
về sau
Để tìm hiểu rõ hơn về chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh, những tài liệu cần
có là tài liệu về lịch sử triết học các thời kỳ, trọng tâm là lịch sử triết học phương Tây cũng như tư tưởng của các nhà triết học tiêu biểu thời kỳ phục hưng cận đại, của trường phải chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh
- Nhiệm vụ đặt ra để tìm hiểu về chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh đó là tìm hiểu các tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và của và các nhà triết học tiêu biểu của trường phái này để Từ đó rút ra những giá trị và hạn chế
- Ưu điểm của đề tài: Đã có những tìm tòi để nêu lên được những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh
- Hạn chế: Do kiến thức còn hạn chế nên sẽ còn tồn tại những thiếu sót
- Kiến nghị: Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn và kiến thức của bản thân cũng được nâng cao
CHƯƠNG 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA
Trang 4CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH
Trong triết học khoa học, chủ nghĩa kinh nghiệm là lý thuyết nhấn mạnh đến các khía cạnh của tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm Hình thành
và phát triển vào thời kỳ phục hưng cận đại, được Phơrăngxit Bêcơn đặt nền móng, Hốpxơ phát triển theo khuynh hướng kinh nghiệm và G Lốccơ đẩy mạnh theo khuynh hướng duy giác
1.1 Những tư tưởng cơ bản của Phơrăngxit Bêcơn (Ph.Bêcơn)
1.1.1 Vài nét về Ph.Bêcơn (1561 – 1626)
Theo đánh giá của Mác, Ph Bêcơn là “Ông tổ thực sự của chủ nghĩa duy vật Anh và của khoa học thực nghiệm hiện đại” [01] Ông là người đặt nền móng, sáng lập
ra chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và khoa học thực nghiệm Ông đề cao triết học duy vật Hy Lạp cổ đại, phê phán triết học duy tâm và triết học kinh viện
Ph.BêCơn thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, chủ trương khoa học chân chính phải mang tính chất thực tiễn Ông cho rằng tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức
Nhiệm vụ của triết học là nhận thức giới tự nhiên và các mối liên hệ phức tạp của nó, đi từ cái riêng lẻ đến cái chung
Các công trình nghiên cứu của ông được phân thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất bàn về sự phát triển khoa học và nhận thức khoa học, bao gồm các tác phẩm gắn liền
với dự án “Đại phục hồi khoa học” Nhóm thứ hai gồm các tác phẩm về những vấn đề
xã hội, hoặc mang tính tổng thể
Những tác phẩm lớn của ông là: Dẫn nhập việc giải thích thiên nhiên; Phê bình các ngành triết học; Những điều nghĩ và thấy; Sợi chỉ và mê lộ; Dụng cụ mới;
Mô tả quả cầu tri thức; Rừng của rừng; Về căn nguyên ; Đảo thần thoại mới …
1.1.2 Những định hướng xây dựng triết học và khoa học mới
Trang 5Theo Ph.Bêcơn, phát triển triết học và khoa học bằng cách khắc phục tính tư biện giáo điều, lý luận suông xa rời thực tiễn Tri thức khoa học phải theo nhu cầu thực tiễn, xóa bỏ cái phi lý tồn tại do sự thống trị của tri thức kinh viện Trung cổ
Triết học mới cần được coi là khoa học của mọi khoa học Tư duy triết học là
tư duy lý tính, mang tính trí tuệ cao nhất Phải lý giải thay cho việc mô tả tự nhiên
- Mục đích của triết học và khoa học mới: xây dựng tri thức lý luận chặt
chẽ, khôi phục trí khoa học trong đời sống xã hội, khắc phục lòng tin mù quáng và lập phương pháp khoa học giúp con người khám phá tự nhiên, mở ra thế giới mới
- Nhiệm vụ của triết học mới:
Nhiệm vụ tối thượng: tăng cường quyền lực tinh thần để thống trị giới tự nhiên, chấn hưng đất nước, phục vụ lợi ích con người
Nhiệm vụ trước mắt: đại phục hồi khoa học bằng cách cải tạo tri thức, xóa
bỏ sai lầm chủ quan, dùng tư duy khoa học để khám phá trật tự thế giới khách quan
- Nhiệm vụ khoa học mới: khám phá ra các quy luật của thế giới, chứ không
đi tìm nguyên nhân cuối cùng
1.1.3 Quan niệm về thế giới và con người
- Thế giới tồn tại khách quan, đa dạng và thống nhất, được lý giải bởi các quan niệm vật chất, hình dạng và vận động Nhận thức bản chất của sự vật vật chất
là khám phá ra hình dạng, vạch ra quy luật vận động chi phối chúng
- Con người là sản phẩm của thế giới, bao gồm thể xác và linh hồn mang tính vật chất Tiếp thu quan niệm của Aristot, ông cho rằng tồn tại linh hồn động vật, linh hồn thực vật và linh hồn lý tính (có nguồn gốc từ Thượng đế) Vì có cả hai dạng linh hồn nên bản chất con người không cho phép theo lập trường hoàn toàn vô thần
1.1.4 Quan niệm về nhận thức và phương pháp nhận thức
Để nhận thức đúng bản chất của sự vật thì phải chỉ ra khả năng và giới hạn nhận thức của con người Yêu tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức chân lý đó là những sai lầm vốn có trong tư duy, do lý tính mang lại Cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức Khoa học thực sự phải biết dùng tư duy tổng hợp và quy nạp
Trang 6khoa học để khái quát dữ kiện do kinh nghiệm mang lại, từ đó khám phá ra quy luật, bản chất của thế giới vật chất khách quan
a Lý luận về ảo tưởng: Nhận thức thế giới khách quan là quá trình xây dựng tri
thức khách quan về thế giới nhờ kinh nghiệm cảm tính và tư duy lý tính Tuy nhiên quá trình nhận thức thường bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan là 04 loại ảo tưởng
mà Ph.Bêcơn đã tổng hợp và khoa học mới cần loại bỏ trong quá trình nhận thức
- Ảo ảnh loài: "Giác tính đó giống như một tấm gương không bằng phẳng và
hòa trộn cả bản tính của riêng nó với bản tính của sự vật, làm cho méo mó và sai lệch những hình ảnh mà nó phản chiếu"[02] Nhận thức sai lầm này biểu hiện ở tính bảo thủ, áp đặt
- Ảo ảnh hang động: Thực chất là ảo ảnh loài nhưng biểu hiện ở mỗi người
cụ thể Do đặc điểm sinh lý, môi trường sống khác biệt…làm khúc xạ tầm nhìn, sinh ra phán đoán cảm tính Ảo ảnh này được gọi là hang động vì Ph Bêcơn xem trí tuệ của con người méo mó như hang động của Platôn, ta không cảm nhận được bản chất mà chỉ là ảo ảnh, giống như ảo ảnh tưởng rằng nhốt được mặt trăng vào trong chậu nước
- Ảo ảnh thị trường: Ảo ảnh này do sự ngộ nhận sử dụng các thuật ngữ khoa học
chưa chính xác Nhiều từ ngữ trở nên cưỡng bức lý tính, làm đảo lộn ý nghĩa gây tranh cãi
- Ảo ảnh sân khấu: Sai lầm bắt nguồn do chúng ta quá tin vào người xưa, diễn ra
trước mắt người ta như diễn trên sân khấu Quá khứ không phải là thời hoàng kim mà chỉ là thời kỳ ấu trĩ của loài người
Ý nghĩa tích cực của những ảo ảnh là chống lại các suy luận vô căn cứ của thần học, kinh viện, đặt cơ sở xã hội cho quá trình nhận thức Tôn trọng khách quan và không giáo điều Một ý nghĩa mang tính thời đại, nó đã trở thành nguyên tắc của nhận thức
b Về phương pháp luận: Trước đây con người với tư duy giáo điều, nông cạn chủ yếu sử
dụng hai phương pháp nhận thức sai lầm là con nhện và con kiến Các phương pháp này đều bộc lộ hạn chế, vì vậy ông đề xuất phương pháp con ong “Con ong chọn phương thức hành động trung gian, nó khai thác vật liệu từ hoa ngoài vườn và ruộng đồng nhưng sử dụng và biến đổi nó phù hợp với khả năng và chỉ định của mình Công việc đích thực của
Trang 7triết học cũng không khác gì công việc đó”[03] Phương pháp này có ý nghĩa rất lớn đến sự hình thành, phát triển và những phát minh của khoa học thực nghiệm và triết học duy nghiệm vì đã dẫn dắt tư duy khoa học xuất phát từ sự kiện riêng lẻ đi đến những nguyên lý, quy luật tổng quát Về vai trò của phương pháp, Ph Bêcơn cho rằng “người què chạy đúng hướng sẽ nhanh hơn kẻ lành chạy sai đường”[04]
Theo ông phương pháp nhận thức tối ưu quy nạp (thay vì phương pháp tiên nghiệm của kinh viện học trung cổ) Không thoả mãn với phương pháp quy nạp đã
có (là quy nạp đầy đủ và không đầy đủ), ông là người đầu tiên khám phá ra phương pháp quy nạp loại trừ (quy nạp có phân tích, loại bỏ dữ kiện phụ, đi đến khẳng định bản chất của sự vật) Đối lập với phương pháp suy luận hình thức của Aristote đi từ những mệnh đề, quy nạp của Ph.Bêcơn đi từ cá thể lên đại thể bằng cách lập bảng ghi kinh nghiệm (có 3 bảng: bảng có, bảng không có, và bảng biến chuyển) So sánh những bảng này, ta quy nạp lên quy luật phổ cập, liên hệ với hiện tượng
Khác với Arixtốt, ông coi hình dạng của sự vật là cái nằm chính trong bản thân sự vật, là bản chất hoàn toàn khách quan của nó Ph Bêcơn cho rằng để lý giải được tính đa dạng của thế giới, chỉ cần mỗi vật chất là đủ
Mục tiêu của Ph Bêcơn là phát minh ra các khoa học chứ không phải phát minh ra các lập luận; không phải phát minh ra các sự vật phù hợp với các nguyên tắc, mà phát minh ra chính các nguyên tắc; không phải là các lập luận chắc chắn, mà
là phát minh ra các mẫu thiết kế và các bảng hướng dẫn cho công việc
1.1.5 Quan niệm về chính trị xã hội
Ph Bêcơn chủ trương đường lối chính trị phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản
và chuẩn bị điều kiện để phát triển chủ nghĩa tư bản Ông đòi hỏi xây dựng nhà nước tập quyền đủ mạnh chống lại đặc quyền đặc lợi của tầng lớp quý tộc bảo thủ Phát triển nền công thương nghiệp dựa trên sức mạnh của tri thức khoa học và tiến bộ kỹ thuật Chủ trương cải tạo xã hội bằng con đường khai sáng thông qua sự nghiệp giáo dục đào tạo, đồng thời chống lại các cuộc đấu tranh nổi dậy của nhân dân
Trang 81.2 Những tư tưởng cơ bản của Thômat Hốpxơ (1588 – 1679)
1.2.1 Vài nét cơ bản về Th.Hốpxơ
Hốpxơ là một nhà triết học người Anh nổi tiếng với các tác phẩm về triết học chính trị Ông đã hệ thống hóa và phát triển chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm, khắc phục tính thần học trong triết học đồng thời thiết lập nền tảng cho triết học chính trị phương Tây theo quan điểm lý thuyết về khế ước xã hội Là người ủng hộ chính thể chuyên chế nhưng ông cũng phát triển các nguyên tắc cơ bản của tư tưởng tự do châu Âu như: quyền được bầu cử, quyền bình đẳng tự nhiên của tất cả mọi người…;
Các tác phẩm chính của T.Hốpxơ: Học thuyết về con người; Về những nguyên lý triết học; Về công dân; Những sơ luận triết lý về chính quyền…
1.2.2 Những định hướng xây dựng triết học và khoa học mới
Xuất phát từ quan điểm coi tri thức là sức mạnh, Hốpxơ tiếp tục chủ trương phát triển triết học và khoa học, lấy tri thức phục vụ thực tiễn, cải tạo thế giới vì lợi ích con người Nếu với Bêcơn tri thức là sức mạnh, thì với Hốpxơ bản thân sức mạnh, quyền lực phải được xây dựng trên cơ sở tri thức đúng về bản tính con người
Ông coi các ngành khoa học còn lại chỉ là những lĩnh vực khác nhau của triết học Vấn đề trung tâm của triết học là con người, nên triết học bao gồm 2 bộ phận: triết học tự nhiên và triết học xã hội
Nhiệm vụ của Triết học: là giải thích nguyên nhân và quy luật của thế giới, giới tự nhiên, làm cơ sở để xây dựng triết học về con người, xã hội, nhà nước
Cũng như Bêcơn, Hốpxơ xem triết học kinh viện là trở ngại lớn đối với nhận thức khoa học Và Hốpxơ đã điều chỉnh một phần phương pháp luận Bêcơn, đưa vào nội dung chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật Anh các vấn đề mới, tách triết học chính trị
ra thành một bộ phận riêng, nhưng không tách biệt với các phần khác
Khác với Bêcơn, Hốpxơ không thừa nhận thần học tự nhiên là bộ phận cấu thành của triết học, thần học là thứ tri thức mặc khải thần thánh, không chịu sự phân tích duy lý nào Thượng đế là khái niệm của thần học, chứ không phải của triết học
“Thần học tự nhiên” là một khái niệm trống rỗng, vô nghĩa
Trang 91.2.3 Quan điểm về tự nhiên
Giới tự nhiên là các vật thể riêng lẻ tồn tại khách quan không do thượng đế tạo ra Tính chất và sự thay đổi diễn ra trong vật thể là kết quả của quá trình vận động cơ học do tác động của sức đẩy bên ngoài gây ra
Hốpxơ phủ nhận sự tồn tại của linh hồn như một thực thể linh hồn bất tử, ông chỉ thừa nhận thể xác và những hoạt động mang tính tự nhiên cơ học nó Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn từ F Bêcơn nhưng trên phương diện này thì đây là điểm khác biệt rõ rệt của Hốpxơ, quan niệm của ông chịu sự chi phối rõ nét của chủ nghĩa siêu hình máy móc, chủ nghĩa duy danh và quan niệm vô thần
Từ lập trường duy cảm - duy danh, Hốpxơ bác bỏ các quan điểm cổ đại về vật chất siêu cảm tính, trừu tượng, xem đó là cách tiếp cận vô bổ, thiếu tính thực tế
1.2.4 Quan điểm về nhận thức
Quan điểm cốt lõi: “Không có cái gì trong trí tuệ, nếu không có trước hết trong cảm giác” Quá trình nhận thức là dựa vào ý tưởng, những thao tác trí tuệ trên cảm giác về sự vật nên sản phẩm nhận thức mang lại chỉ là kinh nghiệm-tri thức
Khoa học tự nhiên là khoa học thực nghiệm bằng phương pháp quan sát, thí nghiệm và quy nạp để khảo sát mối liên hệ giữa các sự vật riêng lẻ và tính chất ngẫu nhiên, cá biệt của chúng Vì vậy nó mang tính xác suất, ngẫu nhiên không chắc chắn, và không phát hiện ra mối liên hệ tất yếu
Như vậy, Hốpxơ đã đứng trên quan niệm siêu hình mà tách cảm giác-kinh nghiệm-quy nạp ra khỏi tư duy-lý luận-suy diễn và chia cắt hoạt động nhận thức của con người ra làm hai loại tách biệt nhau Chủ nghĩa duy danh đã đưa Hốpxơ gần thuyết bất khả tri
1.2.5 Quan điểm triết học xã hội
Con người là một thể thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội Do đó, xã hội tồn tại ở hai trạng thái là trạng thái tự nhiên và trạng thái công dân
- Trạng thái tự nhiên: là những hoạt động mang tính bản năng của con
người, đó là cội nguồn của mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Để thoát khỏi tình
Trang 10trạng này, con người buộc phải từ bỏ quyền được làm tất cả thông qua việc ký kết các khế ước xã hội Khi khế ước này được thực hiện thì trạng thái tự nhiên sẽ nhường chỗ cho trạng thái công dân
- Trạng thái công dân: Bản tính tự nhiên của con người bị ức chế bởi bản
tính xã hội Khi nhà nước và bộ máy chính phủ được lập ra, dùng các đạo luật để kìm hãm và thu hẹp phạm vi tự do của con người, khi đó trạng thái công dân tồn tại
1.3 Những tư tưởng cơ bản của Giôn Lốccơ (1632–1704)
1.3.1 Vài nét về G Lốccơ
G Lốccơ là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh, là đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh và chịu ảnh hưởng lớn từ Ph.Bêcơn
Ông đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế và đóng góp lớn đối với chủ nghĩa tự do cả về mặt cá nhân và thể chế Chính khái niệm về quyền của tự nhiên, khế ước xã hội và nhiều đóng góp khác đã khiến ông trở thành một nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng và ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc Cách mạng Mỹ và bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ
- Các tác phẩm chính của ông: Thư về Lòng Khoan dung; Luận về sự Hiểu biết của Con người; Hai chuyên luận về Nhà nước; Một số suy nghĩ về hậu quả của việc hạ thấp tỷ giá và tăng giá trị của tiền tệ; Một số suy nghĩ về Giáo dục; Tính hợp
lý của Ki-tô giáo; Con đường của hiểu biết …
1.3.2 Những định hướng xây dựng Triết học và khoa học mới
Tiếp tục kế thừa tư tưởng của Bêcơn và phát triển theo khuynh hướng duy giác Theo ông, mọi tri thức của con người đều bắt nguồn từ các cơ quan cảm giác, kinh nghiệm, thông qua quá trình hoạt động năng động của linh hồn mà sản sinh ra tri thức Không có tri thức hay năng lực bẩm sinh Tri trức duy nhất mà con người
có thể có là tri thức hậu nghiệm Đây là một quan điểm mới mẻ và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nền triết học lúc bấy giờ
1.3.3 Quan niệm về nhận thức và phương pháp nhận thức: cảm giác, kinh
nghiệm bên trong và bên ngoài