TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NÓ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài nhóm 8:
Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và những giá trị, hạn chế.
TP Hồ Chí Minh, 2012
Sinh viên thực hiện : Lê Nguyễn Thanh Huyền
Giáo viên hướng dẫn: TS Bùi Văn Mưa
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH 3
1.1.NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA PH.BÊCƠN 3
1.1.1 Vài nét về Ph.Bêcơn (1561 - 1626) 3
1.1.2.Những định hướng xây dựng triết học và khoa học mới 3
1.1.3.Quan niệm về thế giới và con người 4
1.1.4.Quan niệm về nhận thức và phương pháp nhận thức 5
1.1.5.Quan niệm về chính trị xã hội 6
1.2.NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TÔMA HỐPXƠ 7
1.2.1.Vài nét về Tôma Hốpxơ (1588 - 1679) 7
1.2.2 Lý luận về triết học tự nhiên 7
1.2.3.Lý luận về triết học xã hội 8
1.3.NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA GIÔN LỐCCƠ 9
1.3.1.Vài nét về Giôn Lốccơ (1672 - 1704) 9
1.3.2.Lý luận về cảm giác và kinh nghiệm 9
3.1.Lý luận về đặc tính của sự vật: 9
CHƯƠNG II: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH NGHIỆM ANH 10
2.1.NHỮNG GIÁ TRỊ 10
2.2.NHỮNG HẠN CHẾ 12
KẾT LUẬN 13
MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa duy vật biện chứng Anh thời phục hưng-cận đại đã có những bước phát triển đáng kể, phần nào đưa triết học trở lại con đường đúng đắn sau đêm dài lạc lối
Trước đây, ở giai đoạn đêm trường trung cổ nếu triết học trở thành triết học-thần học, thành công cụ phục vụ, chứng minh, củng cố sức mạnh của Nhà thờ và nghiên cứu các vấn đề viển vông thì ở giai đoạn sau, thời cận đại, với sự đóng góp của Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ, G.Lốccơ, triết học đã có những bước tiến trong cách thức, tư tưởng, phương pháp và mục đích nghiên cứu Những tư tưởng của triết học thời kỳ này đã góp phần chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo tồn tại hàng trăm năm, các quan niệm về khoa học, cách nhìn nhận thế giới, phương pháp luận mới đã góp phần đưa triết học trở lại con đường phát triển đúng đắn hơn, giữa vai trò quan trọng trong việc phát triển triết học sau này, đặc biệt là triết học Mác
Với mong muốn làm rõ hơn những đóng góp, giá trị cũng như mặt hạn chế của chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh, với các tài liệu tham khảo chính như 1) Bùi Văn Mưa (chủ biên), Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học (tài liệu
dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học
của trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), 2011; 2) Bùi Thanh Quất, Vũ Tình, Lịch sử triết học, Nhà xuất bản Giáo Dục, 2001, cùng một số tài liệu, trang web
khác cùng với các kiến thức đã có, nghiên cứu thêm, em đã mạnh dạn và hào hứng khi tiến hành thảo luận và nghiên cứu đề tài này
Trang 4Chương I: NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
KINH NGHIỆM ANH 1.1.NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA PH.BÊCƠN
1.1.1 Vài nét về Ph.Bêcơn (1561 - 1626)
Sinh ra trong gia đình quý tộc cao cấp, ông là đại biểu tư tưởng của cấp lớp quí tộc cấp tiến
Là người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm anh và khoa học thực nghiệm, là “ông tổ của chủ nghĩa duy vật anh” (theo C.Mác) Lịch sử triết học phương tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của ông
Những tác phẩm lớn của ông là: Đại phục hồi các khoa học (1605), Công cụ mới (1620),…
1.1.2.Những định hướng xây dựng triết học và khoa học mới
Ph.Bêcơn xây dựng triết học và khoa học mới xuất phát từ 2 cơ sở là : tri thức
là sức mạnh và lý luận thống nhất với thực tiễn
Theo Ph.Bêcơn thì triết học mới phải là khoa học của mọi khoa học, hoặc là
cơ sở của mọi khoa học Khoa học mới là lý luận thống nhất với thực tiễn Mục đích của triết học mới và khoa học mới là xây dụng các tri thức lý luận chặt chẽ, khắc phục lòng tin mù quáng
Ông xác định nhiệm vụ của triết học mới bao gồm :
Nhiệm vụ tối thượng là tăng cường quyền lực tinh thần để thống trị giới tự nhiên, chấn hưng đất nước, khắc phục lợi ích cho con người
Nhiệm vụ trước mắt là đại phục hồi cho khoa học bằng cách cải tạo toàn bộ tri thức hiện có, xóa bỏ những sai lầm chủ quan, sử dụng hiệu quả tư duy khoa học để khám phá ra trật tự của thế giới khách quan, tiến đến xây dựng một hình ảnh về thế giới tư duy giống như nó tồn tại trong hiện thực
Nhiệm vụ khoa học mới là là khám phá ra các quy luật của thế giới, chứ không
đi tìm nguyên nhân cuối cùng
1.1.3.Quan niệm về thế giới và con người
Trang 5 Quan niệm về thế giới
Ph.Bêcơn khẳng định sự tồn tại của thế giới là không thể nghi ngờ
Do chịu ảnh hưởng bởi ảnh hưởng của các nhà triết học duy vật cổ Hy Lạp, ông cho rằng giới tự nhiên tồn tại khách quan, đa dạng và thống nhất:
Tính khách quan : thế giới tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào tình cảm, uy tín, nhận thức( cái chủ quan) của con người Triết học và khoa học không thể biết cái gì về thế giới vật chất khách quan đó
Tính đa dạng: được lý giải một cách đúng đắn và đầy đủ nhờ vào quan niệm về vật chất, về hình dạng, về vận động Vật chất là các phần tử rất nhỏ, có tính chất khác nhau Hình dạng là nguyên nhân làm cho các sự vật trở thành khác nhau Vận động là bản năng là sinh khí của sự vật, là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất Ph.Bêcơn cho rằng có 19 dạng vận động, và đứng im cũng là dạng vận động
Tính thống nhất: vật chất,hình dạng, vận động thống nhất với nhau nên nhận thức bản chất của sự vật vật chất là khám phá ra hình dạng, là vạch ra các quy luật vận động chi phối chúng
Quan niệm về con người
Ph.Bêcơn cho rằng con người là sản phẩm của thế giới, nó bao gồm thể xác và linh hồn và đều được cấu tạo từ vật chất khoa học nghiên cứu con người và linh hồn
là khoa học tự nhiên
Ông khẳng định rằng, không chỉ thể xác mà cả linh hồn của con người đều là vật chất Linh hồn con người giống như vật chất hay lửa, biết cảm giác, tồn tại trong
bộ óc, vận động theo dây thần kinh và mạch máu trong cở thể người Tiếp thu các quan niệm của Arixtốt về con người, Ph.Bêcơn chia linh hồn thành các dạng “linh hồn thực vật”, “linh hồn động vật” và lý tính Hai phần đầu thuộc về linh hồn cảm tính có cả ở thực vật và động vật, còn phần linh hồn lý tính thì có nguồn gốc từ thượng đế Vì xuất phát từ cả hai nguồn gốc nói trên (tức cả giới tự nhiên và Thượng đế) nên bên cạnh các hoạt động chính trị, khoc học, nghệ thuật,…con người còn cần đến tôn giáo
Trang 61.1.4.Quan niệm về nhận thức và phương pháp nhận thức
Quan niệm về nhận thức
Ông cho rằng quá trình nhận thức xảy ra bắt đầu từ thế giới khách quan, thông qua kinh nghiệm cảm tính, tiến đến tư duy lý tính để xây dựng các tri thức khách quan về thế giới
Cảm giác kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức: Khoa học phải
là khoa học thực nghiệm sử dụng tư duy tổng hợp và phương pháp quy nạp để khái quát các dữ kiện do kinh nghiệm mang lại nhằm khám phá ra các quy luật, bản chất của thế giới khách quan, đa dạng và thống nhất
Tri thức khoa học luôn mang tính khách quan, hoàn toàn không phụ thuộc vào tình cảm, ý chí, lợi ích chủ quan của con người
Lý luận về ảo tưởng: Theo Ph.Bêcơn quá trình nhận thức của con người bị chi phối bởi những yếu tố chủ quan như mắc phải các ảo tưởng( ảo tưởng loài, hang động, thị trường và nhà hát) nên mắc sai lầm Và trong các ảo tưởng này thì ảo tưởng nhà hát là nguy hiểm nhất, đưa đến nhận thức con người sai lầm nhất
Và để khắc phục những các ảo tưởng này, phải khách quan hóa hoạt động nhận thức điều này được thực hiện bằng cách tiếp cận trực tiếp thế giới tự nhiên mà không thông qua uy tín, sách vở, lòng tin, tín điều…mà tiếp cận bằng quan sát, làm thí nghiệm, hoàn thiện công cụ nhận thức, nhân cách cá tính cá nhân của từng con người, và đặc biệt là biết sử dụng phép quy nạp khoa học, biết tổng hợp và khái quát hóa một cách đúng đắn các tài liệu kinh nghiệm cảm tính
Quan điểm về phương pháp nhận thức
Ph.Bêcơn cho rằng từ trước đến nay , tư duy cũ chỉ sử dụng chủ yếu phương pháp “con nhện” và phương pháp “con kiến”, đây là phương pháp nhận thức sai lầm Ông khắc phục hai phương pháp này bằng tư duy mới là nhà khoa học phải là nhà khoa học thực nghiệm biết sử dụng điêu luyện phương pháp “con ong” Ông đưa ra phương pháp lập bảng( có mặt ghi dấu +, vắng mặt ghi dấu-, có mặt nhiều ghi nhiều dấu +)
Theo Ph.Bêcơn đòi hỏi quá trình nghiên cứu - nhận thức đúng đắn cần phải trải qua ba bước:
Trang 7 Dựa vào giác quan, thông qua quan sát, thí nghiệm, tiếp cận thế giới tự nhiên đa dạng và sinh động để thu được những tài liệu kinh nghiệm cảm tính
So sánh, đối chiếu, hệ thống hóa, tổng hợp những tài liệu kinh nghiệm cảm tính này để xây dựng các sự kiện khoa học và phát hiện ra mối quan hệ nhân quả giữa chúng
Bằng quy nạp khoa học,khái quát các sự kiện khoa học, phát hiện ra mối liên hệ nhân quả, xây dựng giả thuyết khoa học để lý giải các hiện tượng đang nghiên cứu, từ giả thuyết này rút ra các hệ quả tất yếu của chúng
Ph.Bêcơn đòi hỏi quá trình nhận thức phải xuất phát từ kinh nghiệm cảm tính, còn kinh nghiệm cảm tính xuất phát từ thế giới khách quan Ông coi nguyên tắc khách quan là nguyên tắc hàng đầu của khoa học và triết học mới để nhận thức đúng đắn thế giới Ông cũng coi tư duy tổng hợp và phép quy nạp khoc học là những công
cụ hiệu quả đủ để xây dựng khoa học thực nghiệm và chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm nhằm khám phá ra các quy luật của thế giới và bắt nó phục vụ lợi ích cho chính mình
1.1.5.Quan niệm về chính trị xã hội
Là một nhà tư tưởng kiệt xuất của tầng lớp quý tộc cấp tiến, Ph.Bêcơn chủ trương một đường lối chính trị phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản và chuẩn bị cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Ông đòi hỏi phải xây dựng một nhà nước tập quyền
đủ mạnh để chống lại mọi đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp quý tộc bảo thủ
Phát triển một nền công nghiệp thương nghiệp dựa trên sức mạnh của tri thức khoa học và tiến bộ khoa học
Ông chủ trương cải tạo xã hội bằng con đường khai sáng khoa học kỹ thuật, giáo dục và đào tạo mà không cần sự đấu tranh của nhân dân
1.2.NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TÔMA HỐPXƠ
1.2.1.Vài nét về Tôma Hốpxơ (1588 - 1679)
Ông sinh ratrong một gia đình linh mục ở nông thôn nước Anh
Là người kế tục sử nghiệp triết học của Ph.Bêcơn
Các tác phẩm lớn: Về con người, Về công dân, Léviafan,…
Trang 81.2.2 Lý luận về triết học tự nhiên
Quan điểm về tự nhiên:
Hốpxơ coi giới tự nhiên không do Thượng đế hay thần thánh tạo ra, nó đã tồn tại và sẽ tồn tại có trước con người Giới tự nhiên là toàn thể các vật thể riêng lẻ và chỉ có các vật thể riêng lẻ mới tồn tại thật sự khách quan
Ông coi động vật và cả con người đều là những cỗ máy phức tạp, mà hành vi
và hoạt động của chúng hoàn toàn do sự tác động từ bên ngoài gây nên
Theo Hốpxơ, có sự khác biệt nhất định giữa các vật thể phi linh hồn và các cỗ máy tự động có linh hồn Hốpxơ phủ nhận sự tồn tại linh hồn như một thực thể tinh thần bất tử, chỉ thừa nhận thể xác (vật thể) và những hoạt động mang tính tự nhiên co học của nó Hốpxơ khẳng định rằng, Thượng đế và lòng tin tôn giáo chỉ là những sản phẩm của trí tưởng tượng dồi dào của con người
Ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc chủ nghĩa và quan niệm vô thần
Quan niệm về nhận thức:
Hốpxơ cho rằng, mọi quá trình nhận thức đều dựa vào ý tưởng (biểu tượng hay quan niệm), còn ý tưởng đều có cội nguồn từ cảm giác về thế giới bên ngoài Sau đó, nhờ vào thao tác tích cực của trí tuệ mà từ các ý tưởng này nảy sinh các ý tưởng khác
Khoa học tự nhiên là khoa học thực nghiệm, nó chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát, thí nghiệm và quy nạp để khảo sát mối liên hệ giữa các sự vật riêng lẻ và tính chất ngẫu nhiên, cá biệt của chúng, vì vậy, nó chỉ mang lại tri thức hiển nhiên, chắc chắn, nghĩa là không phát hiện ra mối liên hệ tất yếu
Muốn có những tri thức chắc chắn, hiển nhiên phải dự vào ngôn ngữ Hốpxơ khẳng định chân lý không phải là tính chất gắn liền với các sự vật riêng lẻ mà là tính chất của các suy diễn về sự vật do tư duy của chúng ta tiến hành
Hốpxơ đứng trên các quan điểm siêu hình khi chia cắt các hoạt động nhận thức thống nhất của con người ra làm hai loại tách biệt nhau Chính chủ nghĩa duy danh đã đưa Hốpxơ đến gần thuyết bất khả tri
Trang 91.2.3.Lý luận về triết học xã hội
Xuất phát từ quan niệm coi con người là một thể thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội, Hốpxơ cho rằng có hai trạng thái tồn tại của xã hội loài người là trạng thái tự nhiên và trạng thái công dân
Trong trạng thái tư nhiên, bản tính tự nhiên của con người là tính ích kỉ và hiếu chiến thống trị, con người chỉ biết thỏa mãn mọi khát vọng cho riêng mình mà chà đạp tất cả
Theo ông, con người bình đẳng với nhau vế mặt tự nhiên, tuy nhiên sự bình đẳng này chỉ mang lại bất hạnh cho con người Để thoát khỏi tính trạng này, con người buộc phải từ bỏ quyền được làm tất cả, thông qua việc kí các khế ước xã hội
Từ đó, trạng thái tự nhiên sẽ nhường chỗ cho trạng thái công dân
Trong trạng thái công dân, bản tính tử nhiên của con người bị ức chế bởi khế ước xã hội Dựa trên sự thống trị của bản tính xã hội, con người lập ra nhà nước cùng bộ máy chính phủ Nhà nước trừng phạt một cách công minh và chính xác những ai vi phạm các khế ước Hơn nữa, nhà thờ phải phục tùng nhà nước
1.3.NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA GIÔN LỐCCƠ
1.3.1.Vài nét về Giôn Lốccơ (1672 - 1704)
Sinh ra trong một gia đình công chức Anh, Lốccơ là đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh
Ngoài ra, ông còn là một nhà kinh tế-chính trị học
Tác phẩm lớn: Kinh nghiệm về lý tính con người (1690)
1.3.2.Lý luận về cảm giác và kinh nghiệm
Lốccơ chia cảm giác của con người thành cảm giác bên ngoài và cảm giác bên trong Kinh nghiệm cũng có hai loại là kinh nghiệm bên ngoài và kinh nghiệm bên trong
Lốccơ coi lý tính cũng là kinh nghiệm.Ông khẳng định: không có cái gì trong
lý tính mà trước đó không có trong cảm tính Theo ông, tư tưởng bao gồm hai loại là
tư tưởng đơn giản và tư tưởng phức tạp
3.1 Lý luận về đặc tính của sự vật:
Trang 10Lốccơ phân chia đặc tính của sự vật thành hai loại: Đặc tính có trước mang tính khách quan và chúng không mất đi Đặc tính có sau có thể mang tính khách quan hoặc chủ quan, chúng rất dễ biến đổi và có thể không giống nhau ở những người khác nhau
Trang 11Chương II: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CHỦ NGHĨA DUY VẬT KINH
NGHIÊM ANH 2.1.NHỮNG GIÁ TRỊ
Ph.Bêcơn với chủ nghĩa kinh nghiệm Anh góp phần chống lại chủ nghĩa kinh viện, khôi phục và phát triển truyền thống duy vật cổ đại trong thời kỳ Sau đó, Hốpxơ và Lốccơ đã phát triển chủ nghĩa kinh nghiệm và khắc phục nó một số mặt hạn chế của nó
Những tư tưởng duy vật kinh nghiệm có ý nghĩa rất lớn trong việc chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thời bấy giờ
Đã dựa trên 2 tư tưởng chủ đạo: tri thức là sức mạnh và lý luận phải gắn liền với thực tiễn => đây là lý luận đúng đắn
Coi triết học là khoa học của mọi khoa học => đã nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và triết học và sự cần thiết phải đẩy mạnh sự phát triển của chúng như một nền tảng lý luận của công cuộc phát triển kinh tế của đất nước
Thế giới tự nhiên tồn tại khách quan => nhìn nhận vấn đề bằng khách quan, trực giác
Những đóng góp mới trong việc đặt ra vấn đề hiểu biết qui luật và cải tạo quy luật (nhận thức và phương pháp luận)
Nhận ra được những sai lầm về các loại ảo tưởng và cần phải hạn chế những
ảo tưởng này
Triết học Ph.Bêcơn giữ một vai trò lớn trong việc phát triển triết học trước Mác
Khắc phục được quan điểm siêu hình trong việc tách rời vật chất, hình dạng, vận động
Đưa ra phương pháp quy nạp=> khắc phục được một mặt hạn chế của Logic hình thức
Cho đến nay, quan niệm của Ph.Bêcơn về “ngẫu tượng” - một trong những đóng góp nổi bật nhất và hay nhất của triết học Ph.Bêcơn vẫn chưa mất đi ý nghĩa và giá trị của nó