1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hát ví lưu tam của dân tộc sán chay ở tức tranh, phú lương, thái nguyên

142 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay đã có từ rất lâu đời, là một loại dân ca trữ tình được viết theo thể thất ngôn, do chính những người nông dân thật thà, chất phác sáng tạo nên, được l

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ MAI QUYÊN

HÁT VÍ LƯU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN CHAY

Ở TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên – 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ MAI QUYÊN

HÁT VÍ LƯU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN CHAY

Ở TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hằng Phương

Thái Nguyên - 2013

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn

là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mai Quyên

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bầy tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS

TS Nguyễn Hằng Phương - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình

nghiên cứu đề tài luận văn

Trong quá trình làm luận văn, tôi còn nhận được sự chỉ bảo, góp ý, tạo điều kiện của các thầy cô khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng Quản

lý khoa học, nhân viên thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái

Nguyên, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cảm ơn Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao và Du lịch Tỉnh Thái Nguyên,

các nghệ nhân xã Tức Tranh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập tài liệu

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè,

đồng nghiệp - những người luôn dành cho tôi sự quan tâm, động viên, chia sẻ

và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mai Quyên

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Bố cục luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN CHAY Ở TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 11

1.1 Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Việt Nam và Phú Lương, Thái Nguyên 11

1.1.1 Người Sán Chay ở Việt Nam 11

1.1.2 Người Sán Chay ở Phú Lương - Thái nguyên 12

1.2 Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên 13

1.2.1 Nguồn gốc lịch sử 14

1.2.2 Dân số và địa bàn cư trú 14

1.2.3 Ngôn ngữ 14

1.2.4 Quan hệ gia đình và quan hệ xã hội 15

1.2.5 Hoạt động kinh tế 16

1.2.6 Văn hóa truyền thống 17

1 3 Khái niệm và nguồn gốc “Hát Ví Lưu Tam” 22

1.3.1 Khái niệm Hát Ví Lưu Tam 22

1.3.2 Nguồn gốc Hát Ví Lưu Tam 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC HÁT VÍ LƯU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN

CHAY Ở TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN 29

2.1 Các dạng thức Hát ví Lưu Tam chia theo tiêu chí thời gian 29

2.1.1 Hát ví Lưu Tam ban ngày 29

2.1.2 Hát ví Lưu Tam ban đêm 30

2.2 Các dạng thức Hát ví Lưu Tam chia theo tiêu chí nội dung 32

2.2.1 Các bài ca nghi lễ - phong tục 32

2.2.1.1 Các bài ca nông lễ 32

2.2.1.2 Các bài ca hôn lễ 35

2.2.1.3 Các bài ca tang lễ 41

2.2.1.4 Các bài ca chúc mừng 42

2.2.2 Các bài ca lao động 48

2.2.3 Các bài ca giao duyên 50

2.2.4 Các bài ca sinh hoạt 53

2.2.4.1 Hát ru 54

2.2.4.2 Hát vui chơi 56

2.2.4.3 Hát mời 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60

Chương 3 : NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN HÁT VÍ LƯU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN CHAY Ở TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN 61

3 1 Một số nội dung cơ bản 61

3.1.1 Phản ánh văn hóa ứng xử 61

3.1.2 Thể hiện tình yêu thiên nhiên 63

3.1.3 Ca ngợi lao động và tình yêu lao động 66

3.1.4 Đề cao đạo đức, lối sống 69

3.1.5 Thể hiện tình yêu lứa đôi 73

3 2 Một số đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu 76

3.2.1 Thể thơ và kết cấu 76

3.2.1.1 Thể thơ 76

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.2.1.2 Kết cấu 78

3.2.2 Vần và nhịp 81

3.2.2.1 Vần 81

3.2.2.2 Nhịp 85

3.2.4 Các biện pháp tu từ 86

3.2.4.1 So sánh 86

3.2.4.2 Ẩn dụ 88

3.2.4.3 Nhân hóa 90

3.3 Hiện trạng và vấn đề bảo tồn Hát ví Lưu Tam 92

3.3.1 Hiện trạng về Hát ví Lưu Tam 92

3.3.1.1 Tư liệu về Hát ví Lưu Tam 92

3.3.1.2 Đối tượng Hát ví Lưu Tam 93

3.3.1.3 Sự quan tâm của các cấp quản lý 94

3.3.2 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 105

1 Một số bài Hát ví Lưu Tam tiêu biểu ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên đã được nghệ nhân Hầu Thanh Tĩnh dịch 105

2 Một số bài Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh, Phú lương, Thái Nguyên do tác giả sưu tầm 112

3 Gặp gỡ một số nghệ nhân Hát ví Lưu Tam 116

4 Một số hình ảnh về đời sống văn hóa của dân tộc sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên 125

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần

gũi và thân thương Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung

mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền Tất cả cùng hòa vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành dòng dân ca Việt Nam rất đa dạng

và phong phú Dân ca của các vùng miền không chỉ đậm đà chất thơ, chất nhạc

mà còn thể hiện một cách tự nhiên chân thành, đằm thắm tình cảm con người

và hồn cốt mỗi dân tộc Nhắc đến dân tộc Tày là nhắc đến Hát Then, Hát Lượn Dân tộc Nùng là Hát Sli Dân tộc Sán Dìu là Hát Sọong Cô Văn nghệ dân gian Kinh Bắc là những làn điệu quan họ mượt mà Còn với dân tộc Sán Chay, họ tự hào có Hát ví Lưu Tam (hát Sấng Cọo hay hát Xình ca) ngọt ngào và mê đắm lòng người Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay đã có từ rất lâu đời, là một loại dân ca trữ tình được viết theo thể thất ngôn, do chính những người nông dân thật thà, chất phác sáng tạo nên, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường truyền miệng hoặc được ghi chép lại bằng chữ Hán cổ Khi hát, đồng bào sử dụng ngôn ngữ địa phương

và trang phục truyền thống, không chỉ tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn mà còn khuyến khích mọi người tìm hiểu cái hay, cái đẹp của làn điệu dân ca này trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc mình để gìn giữ và bảo tồn

1.2 Quá trình phát triển của xã hội nói chung và sự giao thoa giữa các

nền văn hóa nói riêng đã làm mai một những nét đặc trưng về bản sắc văn hóa của người Sán Chay đặc biệt là vốn hát nên từ sau khi thực hiện Nghị quyết

Trung ương V (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, huyện Phú Lương đã dấy lên phong trào tổ

chức các hội hát từ thôn bản đến các xã Ngày hội Văn hoá - Thể thao các dân

tộc huyện Phú Lương cũng từ đây được hình thành và phát triển Cũng từ đó, các câu lạc bộ hát dân ca của các dân tộc ở các thôn bản được thành lập Ngoài phục hồi, truyền dạy các bài hát dân ca cổ cho lớp trẻ còn, câu lạc bộ còn dạy

Trang 9

những lời bài hát mới Cùng với việc phục hồi hát dân ca, trang phục dân tộc cũng được may mới, các món ẩm thực dân tộc được lưu tâm để thi và trình diễn trong lễ hội, lễ cưới, lễ hỏi… và trở thành phong trào được nhân dân đồng tình hưởng ứng Tuy nhiên, việc tìm hiểu nguồn gốc, dạng thức, lời ca và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị của Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh chưa được quan tâm một cách đúng mức Nhằm khôi phục những di sản văn hóa quý báu để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì việc nghiên cứu đề tài Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên là một việc làm cần thiết

1.3 Xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nơi có 93% dân

số là dân tộc Sán Chay sinh sống Vùng quê này có đời sống văn hoá rất phong phú, nhiều phong tục tập quán đặc sắc, Hát ví Lưu Tam là một điển hình Hát ví Lưu Tam được bà con hát bằng cả trái tim tin yêu cuộc sống, gìn giữ như một

“báu vật” truyền cho con cháu hôm nay và mai sau Trong cuộc sống hàng

ngày, văn nghệ đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của người dân nơi đây Bản thân tôi cũng vô cùng tự hào được sinh ra trên mảnh đất Phú Lương giàu truyền thống văn hóa này nên tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu và giới thiệu một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc của quê hương tới đông đảo bạn đọc

1.4 Lâu nay, đã có một số công trình nghiên cứu về Hát ví Lưu Tam với

nhiều tên gọi khác nhau như “Xịnh Ca”, “Sình Ca” Các nghiên cứu đó cũng

đã đề cập đến một vài nét độc đáo, hấp dẫn của làn diệu dân ca này trên một số phương diện như diễn xướng, ngôn ngữ, biểu tượng, nghệ thuật biểu hiện… nhưng việc đi sâu tìm hiểu về Hát ví Lưu Tam một cách có hệ thống ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên thì vẫn còn bỏ ngỏ

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu

khoa học “Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên ” làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 10

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về văn hóa văn nghệ dân gian nói chung và Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay nói riêng là một trong các vấn đề được các nhà nghiên cứu lưu tâm Đã có những cuốn sách, những luận văn, khóa luận tốt nghiệp, những cuộc hội thảo, những bài nghiên cứu, những báo cáo khoa học quan tâm đến vấn đề này Có thể kể đến một số công trình sau:

- Tác giả Phương Bằng với cuốn “Dân ca cao Lan” (1981) [2] đã sưu tầm được gần 500 câu hát Tác giả Ngô Văn Trụ với Cuốn “Dân ca Cao Lan”

(2006) [48] đã sưu tầm và biên soạn được gần 1000 câu hát Từ các tài liệu sưu tầm, biên soạn, các nhà nghiên cứu đã xác định số lượng và kết cấu những đêm hát, nội dung của mỗi đêm Tác giả Ngô Văn Trụ đã bước đầu phân tích được bối cảnh diễn ra đêm hát, giai điệu lời hát, phân tích ý nghĩa một số câu hát

- Cuốn “Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam” (2003) do Khổng Diễn chủ biên

ngoài việc giới thiệu một cách khá kĩ lưỡng về dân tộc Sán Chay trên các phương diện như: điều kiện tự nhiên, dân số, đời sống kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất và đặc biệt ở lĩnh vực văn hóa tinh thần, tác giả đã nhấn mạnh:

“Ở người Cao Lan và Sán Chí có kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian rất phong phú và đa dạng Có loại đã được ghi chép thành văn, có loại vẫn được truyền khẩu từ đời này qua đời khác…Sách hát (slây ca) viết về các bài hát, các bước hát, các tình huống trong khi hát, cả hai nhóm người trên đều đọc được Hát truyền thống thì có hát ngoài đường (ca óc lân) và hát trong nhà (óc lân), hát ngoài đường có tính ứng khẩu đòi hỏi người hát đối đáp phải thuộc nhiều loại bài hát và nhanh chóng vận dụng vào tình huống cụ thể Còn hát trong nhà thường có bài bản, nghe nói do Lưu Ba soạn, từ bên Trung Quốc đem về Sách có 12 tập dành cho các bên nam, nữ đối đáp, hát kéo dài trong 12 đêm”[7 tr384 - 385] Ngoài việc giới thiệu về một làn điệu dân ca độc đáo, tác

giả còn trích dẫn một số bài và đọan hát giao duyên với nội dung khá phong phú và đa dạng

Trang 11

- Năm 2003, trong cuốn “Xình ca Cao Lan” do nhà thơ Lâm Quí sưu

tầm và dịch [34], nhà xuất bản đã giới thiệu toàn bộ đêm hát thứ nhất với 266 khúc ca với nhiều dạng bài hát khác nhau như: hát mở đầu, hát vào bản, du hương ca, bơi thuyền vượt biển, hát chúc tụng, thỉnh mời thần ca hát, hát về gà gáy, hát chúc phụng chủ nhà Trong lời giới thiệu của về cuốn sách, nhà xuất

bản viết “Xịnh ca Cao Lan - Đêm hát thứ nhất - tiếng Cao Lan gọi là “Slơi ca hùm tời dắt” là một tác phẩm thơ ca dân gian cổ của dân tộc Cao Lan và lưu truyền trong đồng bào từ nhiều đời nay Nội dung cuả tập sách phản ánh cuộc sống xã hội Cao Lan xưa, thể hiện tâm hồn, tình cảm của họ trước cảnh đẹp thiên nhiên, tình yêu đôi lứa thông qua hình thức hát đối đáp giao duyên nam

nữ, với những lời ca ví von tình tứ, cô đọng dễ hiểu”[34 - tr.5]

- Luận văn thạc sĩ “Khảo sát đặc điểm truyện thơ Cao Lan “Kó Lăù Slam”(2003), tác giả Lê Hồng Sinh đã phân tích những nét đặc sắc về nghệ

thuật trong truyện thơ này đồng thời miêu tả về Xình ca như một phần không

thể thiếu để kết tinh về thành truyện thơ này: “Lời của truyện thơ được đặt theo thể thơ có trong Xình ca “Kó Lăù Slam” đường như lấy cảm hứng từ tục hát ví đầu xuân” [35 tr 41]

- “Dân ca Sán Chí ở Kiên Lao, Lục Ngạn, Bắc Giang”, Nguyễn Xuân

Cần - Trần Văn Lạng chủ biên (2003) [4] lại tập trung vào công việc khảo sát

nghiên cứu và tiến hành bảo tồn dân ca của người Sán Chí - Sán Chay ở xã Kiên Lao Phần đầu của công trình là những bài viết khái quát về con người, truyền thống lịch sử, văn hóa trong đó có hát dân ca Phần hai là 1058 bài dân

ca do tác giả phối hợp với các nghệ nhân phiên âm từ Hán Việt sang tiếng Sán Chí, ra tiếng phổ thông để mọi người cùng tiếp cận vốn dân ca này

- Báo cáo khoa học đề tài “Bảo tồn hát Sình ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang” (2003) của Nịnh Văn Độ [9] Trong báo cáo khoa học của mình, ngoài

việc giới thiệu khái quát về tình hình đặc điểm dân tộc Cao Lan, tác giả còn giới thiệu về hát Sình ca và khẳng định đây là một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật biểu hiện

Trang 12

- Luận văn tốt nghiệp “Khảo sát đặc điểm Xình ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang”(2005) [8], tác giả Phạm Thị Kim Dung đã đặt Xình ca trong

hoàn cảnh văn hóa truyền thống Cao Lan để thấy được vai trò, vị trí của Xình

ca đối với đời sống tinh thần của cộng đồng này Tác giả đã khảo sát, rút ra đặc điểm của Xình ca trên ba phương diện: diễn xướng, nội dung và nghệ thuật

biểu hiện

- Báo cáo khảo sát đề tài phi vật thể bảo tồn hát Nôm dân tộc Sán Chay xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương của Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao và Du lịch Thái Nguyên (2006), trong báo cáo, các tác giả đã khái quát về vị trí địa lý và một số đặc điểm cơ bản của dân tộc Sán Chay và giới thiệu đôi nét về các thể loại hát Nôm – ví Lưu Tam mà chưa có tiêu chí phân chia các loại ví một cách rõ ràng, cụ thể

- “Hát ví Lưu Tam dân tộc Sán Chay 2006” [39] do nghệ nhân Hầu

Thanh Tĩnh sưu tầm và chọn lọc Những bài hát này chưa được in thành sách

mà mới chỉ dừng lại ở việc đánh máy thành một tập để tập luyện trong câu lạc

bộ Hát ví Lưu Tam tại xã Tức Tranh Trong tập tài liệu này, nghệ nhân Hầu Thanh Tĩnh đã chọn lọc các bài Hát ví Lưu Tam tiêu biểu từ 5 đêm hát dịch sang tiếng Sán Chay rồi tiến hành dịch nghĩa mà chưa dịch thơ, xắp xếp chúng thành 5 loại tiêu biểu: ví mừng nhà mới, ví mời, ví gọi bạn, ví trầu cau, ví đối giao duyên

- Triệu Thị Linh với đề tài “Một số biểu tượng trong Xình ca Cao Lan”

tại hội thảo ngữ học trẻ - Xuân 2008 [21], tác giả lại nghiên cứu Xình ca dưới góc độ các biểu tượng nghệ thuật Trong đề tài của mình, tác giả đã đề cập đến

ba biểu tượng tiêu biểu là: Phượng Hoàng, cây cầu và bông hoa Tác giả này

còn có một luận văn thạc sĩ “Ngôn từ nghệ thuật trong Xình ca Cao Lan” [22]

đã nghiên cứu khá sâu về lĩnh vực ngôn ngữ được sử dụng trong Xình ca

- Phạm Thị Phương Thái và Ngô Thị Ngọc Ánh (2011) [43] lại ví làn

điệu dân ca này là “Sình Ca - lời dẫn đường hạnh phúc lứa đôi” Trong bài viết

Trang 13

của mình, hai tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò, vị trí của làn điệu dân ca này

trong đời sống tinh thần của dân tộc Sán Chỉ “Bao đời nay, Sình ca (Xình ca, Soọng cô) đã gắn với người Sán Chỉ nói riêng và những tộc người có chung hoặc gần nguồn gốc như Sán Chay, Sán Dìu, Dao như một thứ không thể thiếu trong đời sống tinh thần” Mặt khác, hai tác giả còn đề cập tới không gian

diễn xướng của làn điệu dân ca này và chú ý hơn cả là các khúc hát giao duyên

“Sình ca có mặt ở nhiều không gian khác nhau: trong nhà, ngoài ngõ, trên nương ngoài ruộng, đám hiếu, đám hỉ Tuy nhiên, phổ biến nhất, quen thuộc nhất có lễ là những khúc hát giao duyên” Họ đều khẳng định các bài ca giao

duyên chính là cây cầu bắc nhịp cho tình yêu đôi lứa

Điểm qua một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy có hai vấn đề được các tài liệu trên đề cập tới

Một là: các nghiên cứu chủ yếu đề cập tới văn hóa của dân tộc Sán Chay

(Nhóm Sán Chí) nói chung và người Cao Lan nói riêng và họ khẳng định người Sán Chay có nguồn gốc từ Trung Quốc, sống rải rác ở phía Bắc Việt Nam, là một cộng đồng người có kết cấu chặt chẽ, còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa

đặc sắc trong đó có Hát ví Lưu Tam (hay một số nơi còn gọi là Xình ca hay Sịnh ca)

Hai là: các nghiên cứu đề cập tới văn nghệ dân gian trong đó có Xình ca ( một tên gọi khác của Hát ví Lưu Tam) ở nhiều khía cạnh và phương diện khác nhau

Một trong những người tiên phong làm sáng giá Xình ca là cố nhà thơ - nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Lâm Quí, ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Cao Lan của dân tộc mình như: Nàng Kó Lau Slam; Xình Ca

Cao Lan - đêm hát thứ nhất; Truyện cổ Sán Chay

Một số tác giả đã có công sưu tầm các đêm hát, tập hợp và biên soạn rất công phu như nhà thơ Lâm Quí, tác giả Ngô Văn Trụ, nghệ nhân Hầu Thanh Tĩnh

Trang 14

Có tác giả lại nghiên cứu Xình ca ở các phương diện diễn xướng, nội dung và nghệ thuật biểu hiện như Phạm Thị Kim Dung

Có tác giả lại đề cập tới Xình ca Cao Lan thông qua một số biểu tượng hoặc nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong Xình ca Cao Lan như Triệu Thị Linh

Hai tác giả Phạm Thị Phương Thái và Ngô Thị Ngọc Ánh lại ví Xình ca

là “Lá thư tình giao duyên và lời dẫn đường cho hạnh phúc lứa đôi”

Như vậy, các tài liệu trên chủ yếu đề cập đến những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Sán Chí - Sán Chay - Cao Lan và các tài liệu đều nhấn mạnh đến kho tàng văn nghệ dân gian vô cùng phong phú của dân tộc này trong đó có Xình ca Ở một vài công trình, các tác giả cũng đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu Xình ca trên một vài phương diện, nhưng chúng tôi nhận thấy chưa có một

công trình chuyên biệt nào về “Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên”

Trên cơ sở kế thừa thành tựu của người đi trước, chúng tôi mong trong

giới hạn nhất định mà đề tài luận văn đã chọn “Hát ví Lưu Tam của dân tộc

Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên” sẽ là cơ hội để chúng tôi

tiến hành tìm hiểu, phân chia các dạng thức của Hát ví Lưu Tam trên các tiêu chí cụ thể, tìm hiểu giá trị nội dung cũng như nghệ thuật tạo nên vẻ đẹp, sức sống của Hát ví Lưu Tam trên tinh thần khoa học và toàn diện nhất có thể Từ

đó, chúng tôi sẽ hướng người đọc đến một cách hiểu và lý giải thuyết phục về cái hay, cái độc đáo và hấp dẫn của làn điệu dân ca này Hy vọng việc nghiên cứu đề tài này là một đóng góp của chúng tôi trong việc làm đầy đặn hơn bản sắc văn hóa của dân tộc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh

- Tìm hiểu không gian diễn xướng, hình thức diễn xướng và môi trường

diễn xướng

Trang 15

- Tiếp xúc, phỏng vấn một số nghệ nhân tiêu biểu ở Tức Tranh

- Trong phạm vi của đề tài luận văn, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu Hát ví Lưu

Tam về phương diện lời ca Tuy nhiên, văn học dân gian nói chung và Hát ví Lưu Tam nói riêng gắn bó với đời sống văn hóa dân gian nên việc tìm hiểu thêm về văn hóa sẽ giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề nghiên cứu

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Chỉ ra các dạng thức Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh

- Tìm hiểu các giá trị về nội dung, nghệ thuật của Hát ví Lưu Tam ở Tức

Tranh

- Qua việc nghiên cứu, chúng tôi muốn góp phần gìn giữ, bảo tồn và giới

thiệu những nét đặc sắc của Hát ví Lưu Tam trong đời sống văn hóa của dân tộc Sán Chay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới thuyết những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân tích, lý giải các dạng thức của Hát ví Lưu

Tam

- Trong điều kiện cho phép, chúng tôi sẽ đối chiếu so sánh Hát ví Lưu

Tam với một số làn điệu dân ca khác ở những vùng miền khác nhau để thấy được nét đặc trưng làm nên sức sống của làn điệu dân ca này

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích đặt ra trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng phối hợp một số phương pháp chính sau:

Trang 16

- Phương pháp điền dã: sưu tầm, ghi âm, chụp hình và ghi chép những tài

liệu có liên quan đến Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở địa bàn đã xác định

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: chúng tôi tiến hành khảo sát,

thống kê và phân loại các dạng thức, vần, nhịp của Hát ví Lưu Tam dựa trên những tiêu chí cụ thể để có một cái nhìn toàn diện và khoa học

- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh: từ việc khảo sát, thống kê,

phân loại, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các giá trị về nội dung cũng như nghệ thuật làm nên nét riêng trong Hát Ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay so với các làn điệu dân ca khác Từ việc phân tích đó, chúng tôi hướng đến những kết luận mang tính tổng hợp nhất, khái quát nhất giúp người đọc thấy được những đặc sắc của làn điệu dân ca này

- Phương pháp hệ thống: chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống trong

quá trình nghiên cứu để từ đó có được một cái nhìn cụ thể về các dạng thức Hát

ví Lưu Tam, nội dung cũng như các yếu tố nghệ thuật và đặt Hát ví Lưu Tam trong dòng chảy của văn học dân gian của các dân tộc thiểu số

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: song song với việc vận dụng phối

hợp các phương pháp trên, chúng tôi còn vận dụng những kiến thức về các khoa học liên ngành để phục vụ hiệu quả vấn đề mà chúng tôi chọn làm đề tài cho luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề về Hát ví Lưu Tam (hay Xình ca hoặc Sịnh

ca) nói chung và Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên nói

riêng đã được một số công trình nghiên cứu đề cập tới

- Khẳng định sự phong phú về các dạng thức của Hát ví Lưu Tam ở Tức

Tranh

- Làm sâu sắc hơn về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của Hát ví

Lưu Tam

Trang 17

- Kết quả mà luận văn nghiên cứu sẽ là nguồn tư liêu hữu ích cho việc

nghiên cứu và giảng dạy của giáo viên đứng lớp sau này khi dạy về văn học của các dân tộc thiểu số Việt Nam Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn góp phần gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể quý báu này trong đời sống văn hóa của dân tộc Sán Chay

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương :

Chương 1: Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái

Nguyên và một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Các dạng thức Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức

Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên

Chương 3: Nội dung, nghệ thuật và vấn đề bảo tồn Hát ví Lưu Tam của

dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên

Trang 18

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN CHAY Ở TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG,

THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Việt Nam và ở Phú Lương, Thái Nguyên

1.1.1 Người Sán Chay ở Việt Nam

Người Sán Chay là quần thể cư dân nông nghiệp làm lúa nước, chủ yếu tập trung ở các tỉnh Đông bắc Bắc Bộ như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang và sống rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn Hiện tại có một nhóm người vào Tây Nguyên lập nghiệp được tổ chức thành các làng Dân tộc Sán Chay còn có các tên gọi: Sán Chí, Cao Lan, Mán Cao Lan, Hờn Bận…

Tổ tiên của người Sán Chay xưa kia là vùng giáp ranh giữa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam - Trung Quốc Do những biến động về lịch

sử họ đã di cư đến nước ta vào khoảng thế kỷ thứ XVIII Người Sán Chay có các nhóm địa phương, nhóm Cao Lan nói ngôn ngữ Tày, Thái và nhóm Sán Chỉ nói thổ ngữ Hán, Quảng Đông Tiếng nói Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -

Thái, ngữ hệ (Thái - Ka Đai), còn tiếng Sán Chỉ thuộc ngôn ngữ Hán (ngữ hệ

Hán - Tăng) Do có tình trạng song ngữ này mà có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Sán Chay

Người Sán Chay thờ tổ tiên là chính song cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Chay ở Việt Nam có dân số 169.410 người, có mặt tại 58 trên tổng

số 63 tỉnh, thành phố Người Sán Chay cư trú tập trung tại các tỉnh: Tuyên Quang (61.343 người, chiếm 36,2 % ), Thái Nguyên (32.483 người, chiếm 19,2 % ), Bắc Giang (25.821 người chiếm 15,2%), Quảng Ninh (13.786 người 8,1%), Yên Bái (8.461 người chiếm 5%), Cao Bằng (7.058 người chiếm 4,2%), Đắk Lắk (5.220 người chiếm 3,1%), Lạng Sơn (4.384 người chiếm 2,6%, Phú Thọ (3.294 người chiếm 1,9%), Vĩnh Phúc (1.611 người chiếm 1%)…

Trang 19

Như vậy, theo thống kê về người Sán Chay ở Việt Nam thì Thái Nguyên

là một trong những tỉnh có nhiều người Sán Chay sinh sống chiếm 19,2% (Đứng thứ hai sau Tuyên Quang với 36,2%)

1.1.2 Người Sán Chay ở Phú Lương - Thái Nguyên

Phú Lương là huyện miền núi nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, nằm trong toạ độ địa lý từ 21036 đến 21055 độ vĩ bắc, 105037 đến

105046 độ kinh đông; phía Bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), phía Nam

và Đông Nam giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Định Hoá, phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ; huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc (theo Quốc lộ 3) Huyện Phú Lương có diện tích tự nhiên 368,82 km2, trong đó đất nông nghiệp 119,79 km2; đất lâm nghiệp 164,98km2 (chiếm 44,73% tổng diện tích đất tự nhiên); đất nuôi trồng thuỷ sản 6,65km2; đất phi nông nghiệp 46,63km2; đất chưa sử dụng 31,64km2

Địa hình Phú Lương tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100m đến 400m Các xã ở vùng Bắc và Tây Bắc huyện có nhiều núi cao, độ cao trung bình từ 300m đến 400m, độ dốc phần lớn trên 200; thảm thực vật dầy, tán che phủ cao, phần nhiều lá rừng xanh quanh năm Các xã ở vùng phía Nam huyện địa hình bằng phẳng hơn, có nhiều đồi và núi thấp, độ dốc thường dưới 150 Đây là vùng địa hình mang tính chất của vùng trung du nhiều đồi, ít ruộng Từ phía Bắc xuống phía Nam huyện, độ cao giảm dần

Dân cư Phú Lương gồm ba bộ phận chính: một là dân bản địa định cư từ lâu đời; hai là dân phu được bọn tư bản Pháp tuyển mộ vào làm thuê trong các hầm mỏ, đồn điền; ba là đồng bào ở các tỉnh miền xuôi di cư lên sinh cơ lập nghiệp

Về dân số, toàn huyện Phú Lương năm 1933 có 7.033 người; trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chưa tới 10.000 người; trong kháng chiến chống Pháp có khoảng 13.700 người; đầu những năm 1970 là 54.676 người; theo tổng

Trang 20

điều tra dân số ngày 1- 4 - 1989 là 107.390 người; năm 1996 gần 110.000 người

Từ ngày 1-1-1997, do 10 xã, thị trấn vùng phía Bắc huyện được chuyển

về huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Kạn) nên dân số của huyện giảm xuống Cuối năm 2006, dân số toàn huyện là 106.257 người (trong đó nam 53.079 người, nữ 53.178 người; số ở nông thôn là 98.563 người, sống ở đô thị là 7.694 người; dân tộc Kinh chiếm 54,2%, Tày 21,1%, Sán Chay 8,05%, Nùng 4,5%, Sán Dìu 3,29% còn lại 4,82% là người các dân tộc Thái, Hoa, Hmông và một số dân tộc khác

Theo thống kê, dân tộc Sán Chay đứng thứ ba sau dân tộc Kinh và dân tộc Tày trong số các dân tộc của huyện Ở Phú Lương, người Sán Chay thường tập trung ở các chân đồi, gần các con sông, cánh rừng Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người Sán Chay đã sát cánh bên nhau, cùng chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, biến những mảnh đất khô cằn thành những cánh đồng màu

mỡ Từ cuộc sống vất vả, lam lũ, những lời ca, tiếng hát đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với họ trong đó phải kể tới Hát ví Lưu Tam

1.2 Khái quát về dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên

Trong huyện Phú Lương có rất nhiều các dân tộc sinh sống như dân tộc Kinh, Tày, Sán Chay, Nùng, Sán Dìu…ở các xã khác nhau nhưng chúng tôi đặc biệt quan tâm tới dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh Trong xã Tức Tranh có 24 xóm: Đồng Tâm, Đồng Tiến, Đồng Lường, Đồng Danh, Đồng Hút, Đồng Lòng, Gốc Cọ, Gốc Mít, Gốc Xim, Gốc Gạo, Đan Khê, Tân Khê, Thác Dài, Ngoài Tranh, Cây Thị, Khe Xiêm, Thâm Găng, Quyết Tiến, Quyết Thắng, Đập Tràn, Minh Hợp, Bãi Bằng, Khe Cốc, Tân Thái thì xóm Đồng Tâm có dân tộc Sán Chay cư trú tập trung nhất (chiếm 93%) Dân tộc Sán Chay ở nơi đây đã gìn giữ được rất nhiều những bản sắc văn hóa độc đáo trong đó có Hát ví Lưu

Trang 21

Tam mà đề tài luận văn quan tâm nên việc tìm hiểu về người Sán Chay tại xóm Đồng Tâm là một việc làm cần thiết

1996, phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phú Lương đã chọn xóm Đồng Tâm

làm đơn vị điểm để xây dựng mô hình xóm bản văn hóa theo cuộc vận động

xây dựng gia đình, làng bản văn hóa và ngày nay là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

1.2.2 Dân số và địa bàn cư trú

Tộc người Sán Chay của xóm Xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh chiếm tỉ

lệ cao 161 hộ/ 173 hộ (bằng 93%) với 657 nhân khẩu (Theo thống kê tháng 12 năm 2011) Diện tích đất tự nhiên: 342 ha đất tự nhiên, vùng địa hình phức tạp chủ yếu là những quả đồi ở mức thấp Dân cư sống rải rác trừ các số hộ sống tập trung gần nhà văn hóa của xóm Phía Đông giáp với xóm Gốc Mít, Đồng Lường Phía Tây giáp với xã Yên Lạc, phía Bắc giáp với xóm Đồng Tiến và phía Nam giáp với xóm Quyết Tiến Đồng Tâm là một xóm vùng sâu, vùng xa nằm cách trung tâm xã Tức Tranh 3km, cách trung tâm huyện lị Phú Lương chừng 13 km nên đường giao thông, đường điện là một trong những vấn đề gặp nhiều khó khăn Năm 2003, xóm Đồng Tâm mới có đường điện cao thế Năm

2011, mới có đoạn đường bê tông về gần đến trung tâm xóm với độ dài là 2,4km Vì chủ yếu là dân tộc Sán Chay lại sinh sống ở một địa bàn không thuận lợi, điều kiện giao lưu văn hóa không nhiều nên đồng bào nơi đây chủ yếu là hát làn điệu dân ca của dân tộc mình là chính

1.2.3 Ngôn ngữ

Trang 22

Chúng tôi đến xóm Đồng Tâm, xã Tức Tranh để tìm hiểu những nét văn hoá đặc sắc của người Sán Chay Đồng chí Trần Văn Hải - Bí thư Chi bộ cho biết: Đồng Tâm có tới 93% dân số là người Sán Chay Ngày xưa, người Sán Chay nói hai ngôn ngữ là tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ

hệ Thái - Ka Đai) và tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng) Nhiều người già ở đây vẫn đọc và nói được tiếng Hán Các cuốn sách về Hát ví Lưu Tam và một số cuốn sách khác đều được viết bằng chữ Hán cổ Số tài liệu này vẫn còn được lưu giữ tại gia đình nghệ nhân Hầu Thanh Tĩnh là chủ yếu Nhưng bây giờ, trong giao tiếp hàng ngày, đồng bào thường nói với nhau

tiếng mẹ đẻ như: “Hối na nẩy?” (Đi đâu?), “Chấu mật cọng à?” (Làm việc gì?), “Ăn cơm” ( Hạch phờn), “Uống nước” (Hạch sui), “Đi cấy lúa” (Hối Schap vui), “Đi chợ” ( Hối hôi)…

1.2.4 Quan hệ gia đình và quan hệ xã hội

Cộng đồng của người Sán Chay có nhiều dòng họ như: họ Hoàng, họ Hầu, họ Trần, họ La, họ Lý, họ Nịnh… mỗi họ chia thành nhiều ngành Họ cho rằng số người trong mỗi ngành nhiều hay ít phụ thuộc vào thần đỡ đầu như Quan Âm, Ngọc Hoàng, Bạch Phạm, Mạng Văn, Nam Hỏa, Ôn Vương,

Trong tam giáo, các ngành khác nhau không chỉ về tên gọi mà còn khác

cả lễ nghi, kiêng kỵ Thành viên trong ngành lập thành một nhóm “hương hỏa”

có nguyên tắc là không được kết hôn với nhau mặc dù họ cách nhau bao nhiêu đời

Gia đình người Sán Chay là một gia đình nhỏ phụ quyền Người đàn ông

là người chỉ đạo công việc làm ăn với sự tham gia góp ý kiến của các thành viên trong gia đình đã trưởng thành Mỗi người làm công việc khác nhau tuỳ theo giới tính và tính chất công việc Đàn ông bao giờ cũng gánh vác công việc khó khăn nặng nhọc, phụ nữ thì làm việc nhẹ, đảm nhiệm việc nuôi con, nấu

ăn, nội trợ, quản lý tiền bạc và chi tiêu

Trang 23

Quyền được thừa kế tài sản chỉ phụ thuộc vào những người con trai Do

bị ảnh hưởng nhiều của lễ giáo phong kiến, người phụ nữ Sán Chay xưa bị mất quyền bình đẳng đối với nam giới trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội

Ở thời Phong kiến, việc lấy vợ, lấy chồng do cha mẹ sắp đặt theo quan

niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nên trong các câu Hát ví Lưu Tam về

tình yêu lứa đôi có cả sự oán trách, xót xa vì yêu nhau mà không lấy được nhau

Còn giờ đây, trai gái được tự do tìm hiểu và yêu đương Phụ nữ Sán Chay ngoài việc làm nương rẫy còn sinh đẻ và nuôi con cho đến khi trưởng thành Những việc lớn trong dòng tộc chỉ do anh em họ mạc nam giới bàn bạc

và quyết định

1.2.5 Hoạt động kinh tế

Cũng như hầu hết các dân tộc sinh sống ở vùng núi thấp khu vực Việt Bắc, Đông Bắc, trồng trọt cây lương thực trên đất dốc là hoạt động kinh tế chủ đạo của người Sán Chay xưa kia Tất cả các hoạt động mưu sinh khác như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán, săn bắt, hái lượm…chỉ là những hoạt động phụ, mang tính hỗ trợ hoạt động trồng trọt

Trồng trọt cây lương thực là nguồn sống chính của người Sán Chay Nó cung cấp lương thực đáp ứng nhu cầu ăn hàng ngày; săn bắt, hái lượm cung cấp nhu cầu rau ăn, thực phẩm thông thường; thủ công gia đình cung cấp nông cụ,

đồ gia dụng; chăn nuôi đáp ứng nhu cầu về lễ phẩm cho các dịp tế lễ, ma chay, thực phẩm cho cưới xin và các sinh hoạt cộng đồng khác

Do tập quán canh tác xưa kia chủ yếu phát nương, làm rẫy và trồng lúa nước, các công cụ lao động sản xuất rất thô sơ chủ yếu là tự chế như: cầy, bừa, lóng phên, dập lúa phơi thóc, khuôn làm bún hay cối giã gạo đều làm bằng gỗ, sức kéo chủ yếu là trâu bò, điều này cũng được phản ánh trong Hát ví Lưu Tam với những bài ca lao động để ca ngợi về lao động và tình yêu lao động Trong

Trang 24

cuộc sống còn nhiều vất vả, khó khăn, họ đã mượn những lời ca tiếng hát để bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng và cả sự lạc quan của mình trước cuộc sống

Ngày nay, hoạt động kinh tế của người sán Chay đã có nhiều thay đổi cả

về cơ cấu, kỹ thuật và tính chất sản xuất Không những chỉ trồng trọt mà cả thủ công nghiệp, thương mại cũng rất phát triển Những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại

đã được ứng dụng trong mọi lĩnh vực sản xuất Nhiều hoạt động kinh tế đã mang tính sản xuất hàng hóa như nuôi lợn, trồng vải, nhãn, xoài Đội ngũ những người chuyên buôn bán đang hình thành và phát triển Trao đổi, buôn bán đã trở thành nhu cầu quan trọng trong đời sống xã hội Sán Chay ngày nay

1.2.6 Văn hóa truyền thống

Ở: Người Sán Chay cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta Họ sống trên

nhà sàn giống nhà của người Tày cùng địa phương Nhà sàn xưa kia làm nền dốc cột cao thấp khác nhau Thường mỗi ngôi nhà sàn có từ 16 cột đến 24 cột,

có cột cái, xà vượt hợp thành 4 mái Trong nhà có một hành lang để nhìn ra

phía trước cửa sổ, giữa nhà có bếp lửa - đây là nơi thường xuyên diễn ra Hát ví

Lưu Tam ban đêm trong ánh lửa bập bùng Một góc trên hành lang là buồng

thờ Ngọc Hoàng “Nam Hỏa” và ở gian giữa trong nhà nhìn ra cửa là bàn thờ

Tổ Tiên Nơi gần bếp và cửa là thờ thùng cám Phía góc nhà là bàn thờ mụ Cầu

thang được bố trí ở đầu nhà thấp hơn sàn nhà một đến hai cấp khoảng 40 - 50cm (Sàn cầu thang) sau đó mới là cửa lên nhà Phía gầm nhà sàn thường được để các vật dụng sản xuất: cầy, bừa, cuốc, xẻng… và nuôi gia súc, gia cầm: lợn, gà, ngan, ngỗng….Nếp nhà sàn đơn sơ, giản dị của đồng bào Sán Chay cũng trở thành những lời ví ngọt ngào mà ai đã từng được nghe thì không dễ gì quên được

Trang phục: Phụ nữ mặc váy chàm và áo dài có trang trí hoa văn ở ngực

áo và lưng áo Thường ngày, chỉ dùng một thắt lưng chàm nhưng trong ngày

tết, ngày lễ, đặc biệt trong mỗi lần Hát ví Lưu Tam họ dùng 2- 3 chiếc thắt lưng

Trang 25

bằng lụa hay nhiễu với nhiều màu khác nhau để tôn thêm vẻ đẹp dịu dàng và tình tứ của những con người nơi đây

Áo váy đi lễ là áo có hoa văn ở ngực và lưng áo Dưới cánh áo có gấu

trắng gọi là “Piệc Tẹp Sạm” có yếm hoa, khăn vắt và váy, xà cạp… Áo lao

động cũng có áo dài tứ thân như vùng Kinh Bắc vẫn mặc Ngoài ra còn có áo chàm hoặc gụ, nâu ngắn, cả nam giới và nữ giới đều mặc Ngày nay, các loại quần áo dài đi lễ hội không còn nhiều

Ăn: Người Sán Chay ăn cơm tẻ là chính Rượu cũng được dùng nhiều,

nhất là trong ngày tết, ngày lễ Rượu xưa kia hoàn toàn tự nấu bằng gạo xay, ủ bằng men lá tự chế Ngày nay ít người biết làm và chế được nên phải mua ngoài chợ Thường ngày thì đàn ông hút thuốc lào, phụ nữ thì ăn trầu cho má thắm, môi hồng

Ngoài những bữa cơm đạm bạc thì trong các dịp lễ, tết, người Sán Chay còn có rất nhiều các loại bánh: bánh chưng, bánh dầy, bánh do, bánh tép, bánh sừng bò, bánh chim…và các loại xôi: xôi cẩm, xôi gấc, xôi sau sau, xôi gừng…Các loại bánh và xôi được làm từ những sản phẩm nông nghiệp do chính mồ hôi công sức của họ kết tinh mà thành bởi những đôi bàn tay khéo léo

và tài hoa

Thức ăn có một số đặc sản như: lợn quay, vịt quay, thịt nướng…mùi vị đặc trưng của những món ăn đặc sản này đã quyến rũ khách thập phương trong mỗi lần đến tham gia lễ hội

Việc ăn uống của người Sán Chay xưa kia cũng được gửi gắm trong Hát

ví Lưu Tam với nhiều nghi lễ nhất là trong ví mời

Tín ngưỡng và tâm linh:

Tín ngưỡng cộng đồng: đi đến đâu, ở đâu, người Sán Chay phải lập thổ công, thổ kỳ Đình làng là nơi sinh hoạt cộng đồng, làm lễ cầu mùa dịp tết 2/2

âm lịch, 2/6 âm lịch, 12/12 âm lịch Ngoài cầu mùa, cầu mưa còn có cầu yên,

lễ cấp sắc, lễ khao quân, lễ hội dịp xuân về…trong các ngày lễ đều có Hát ví Lưu Tam

Trang 26

Hiện nay, đồng bào dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh còn giữ được một ngôi đình làng Đình được lập nên từ năm 1926 khi dân làng về đây sinh sống

Trước cửa vào đình là miếu thờ Thổ Công, Thổ Kỳ và quân binh Do sự phá hủy của thời gian, đình làng ngày nay đã được xây bằng gạch nên làm mất

đi sự cổ kính

Đình làng xưa kia được làm bằng gỗ Lim gồm 24 cột Ở gian giữa, phía bên trên bên trên có sàn thờ: một mâm thờ phật, hai mâm thờ quan Tam Sơn Phía phía góc trong đình là thờ công chúa Ngọc Hoa, Thành Hoàng, vợ chồng Dương Tự Minh Tại đây, ngày 2 tháng 2 âm lịch hàng năm thường diễn ra nghi thức cúng lễ trong Lễ cầu mùa

Tín ngưỡng gia đình: Trong nhà người Sán Chay có rất nhiều bàn thờ Ngoài thờ cúng tổ tiên, họ còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ, thần nông, thần

chăn nuôi Phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Phật Nam Hoa Bàn thờ của

người Sán Chay khá đơn sơ, nhiều khi chỉ là một ống tre để cắm hương Nhưng hàng năm đến trước tết Nguyên Ðán các bàn thờ được quét dọn và dán lên một mảnh giấy đỏ Đầu năm mới thì đi cầu xuân

Phong tục và tập quán chủ yếu:

Những người con của xóm dù đi bất cứ nơi đâu cũng vẫn nhớ ngày 2 - 2

âm lịch về vui Lễ Cầu mùa Trong Lễ Cầu mùa, nhà nào nhà nấy mang lợn, gà

và xôi, hoa quả, trầu cau, nước, rượu… lên cúng ở đình làng, cầu cho mùa màng tốt tươi, cây cối đâm chồi nảy lộc, thóc đầy bồ, gà đầy chuồng, cuộc sống

no đủ Cầu cho cái tốt đẹp vào làng, cái xấu, cái ác ra đi, cầu cho nhà nhà yên vui, Những ai đã từng về dự ngày hội của xóm thì khó có thể quên được những

ấn tượng sâu đậm về bản sắc văn hoá nơi đây

Sau lễ cầu mùa có phần hát múa, xưa kia có Hát ví Lưu Tam và Hát Xẩm từ nơi khác đến Kết thúc Lễ cầu mùa là điệu nhẩy Tắc Xình độc đáo, sau

đó, dân làng cùng nhau dự bữa cơm chung và trao đổi công việc Xưa kia, đàn

bà không được lên đình, song trong dịp lễ thì được phép lên nhưng phải là người sạch sẽ, không sẽ bị thần linh quở phạt

Trang 27

Ngày nay, ngoài phần lễ còn có thêm phần hội gồm có: Hát ví Lưu Tam, hát dân ca và nhảy Tắc Xình, nhảy sạp và có các trò chơi như tung còn, đánh yến, đi khà kheo, kéo co, cầu trượt, bịt mắt đánh trống, đánh cù, vật tay, đẩy gậy, bắn nỏ

Phần hội diễn ra từ sáng sớm cho đến hết ngày mới tan Khách thập phương về đi thăm hội và vào làng chơi đến khi tan cuộc

Hôn nhân trong xã hội người Sán Chay là hôn nhân một vợ một chồng, trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do lựa chọn người mình yêu, không có các yếu tố bắt buộc Nghi thức tổ chức hôn lễ gồm nhiều bước phức tạp, từ lúc đưa dâu đến lúc đón dâu, quan lang làm phép thuật, để giữ Vía cho những người đi đưa đón dâu trên đường được an toàn Tới nhà trai, quan lang và một

cô gái phù dâu dẫn đường cho cô dâu, giúp cô dâu làm các thủ tục từ nhà gái sang đến nhà trai Trên đường đi, cô dâu phải ném tiền xu khi qua suối, qua cầu Về đến nhà trai, cô dâu phải bỏ tiền xuống chậu nước để rửa tay chân do nhà trai bố trí trước khi lên nhà Trong mỗi đời người đều phải trải qua đám cưới để thành đôi lứa, nếu ai đó lỡ làng thì hàng xóm phạt lễ , bị chê trách và thành câu chuyện muôn đời mai sau

Đám cưới truyền thống cùng các lễ hội người Sán Chay có ý nghĩa quan trọng trong đạo đức, lối sống văn hóa của dân tộc ta nói chung và của tộc người Sán Chay nói riêng Đám cưới còn mang tính nhân văn sâu sắc Từ các nghi lễ đến các bước tổ chức lễ vật tuy giản dị, tiết kiệm nhưng thật nhiều ý nghĩa Trầu cau là cầu nối từ đầu đến cuối không thể thiếu trong các đám cưới Trong đám cưới không thể thiếu Hát ví Lưu Tam hay còn gọi là ví trầu cau Đám cưới của người Sán Chay còn có một số sự kiêng kị như: cô dâu không ngồi trên bếp lửa hay hành lang nhà sàn bởi nơi đó là nơi dành cho ông, bố hay khách là đấng mày râu ngồi Hoặc bố chồng không được vào buồng con dâu…

Tập quán cổ truyền của người Sán Chay rất quý trọng ông mối, người chủ lễ tơ hồng cho cặp vợ chồng trẻ trong ngày cưới Ông mối được vợ chồng

họ coi như bố mẹ, khi sống phải thăm nom, chăm sóc, lúc chết phải để tang

Trang 28

Thời phong kiến, sau ngày cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ chồng ba ngày sau mới được về nhà bố mẹ đẻ chơi Còn ngày nay, đám cưới đã có nhiều thay đổi

Tập quán vòng đời mỗi con người: khi sinh được ba ngày, bố mẹ phải

làm lễ “ba mai” (Lễ đặt tên) cho con và mời những người thân thiết trong gia

đình tới dự, khi đi có đem theo ít tiền và quà cáp để mừng cháu bé hay ăn, chóng lớn trở thành người của bản, của cả cộng đồng người Sán Chay Nhà có người sinh đẻ phải kiêng kỵ trong vòng 42 ngày, không cho người lạ vào nhà, nếu người nào vô ý vi phạm, không may cháu bé bị ốm đau thì người đó phải chịu chi phí làm lễ, giữ Vía cho cháu bé Lớn lên là Nam cho khao quân, đặt tên thánh Nữ đủ tuổi lấy chồng có tổ chức dạm ngõ, ăn hỏi, cưới dâu Đến 60 tuổi, tổ chức sinh nhật hằng năm đúng ngày tháng sinh của mình cho tới khi về già Khi chết có tổ chức làm nhà táng ba ngày, hai đêm

Tang lễ của người Sán Chay vẫn theo nghi thức của tam giáo, đặc biệt là Đạo giáo, Phật giáo, như lễ khâm niệm, lễ phá ngục, lễ tế rượu do thầy tào chủ trì, trong đó nổi bật là ngôi nhà táng Nhà táng làm rất công phu và trang trí đường nét đẹp đẽ Khi đã xong nhà táng, hết lễ là đốt hỏa táng và từ đó không bao giờ giỗ như người kinh nữa Khi tiễn linh hồn người chết có ví đọc trong đám tang

Văn nghệ dân gian: Người Sán Chay có cả một kho tàng truyện cổ tích,

thơ ca hò vè, tục ngữ, ngạn ngữ, dân ca…với nội dung phong phú và đặc sắc, phản ánh toàn bộ cuộc sống, lao động, sản xuất chống thiên tai, thú dữ, chống giặc ngoại xâm, các mối quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội, mô tả về thế giới vũ trụ nhân sinh quan, tinh thần nhân ái và đôn hậu của con người

Đặc biệt là điệu múa “Tắc Xình” độc đáo và “Hát ví Lưu Tam” ngọt ngào, say

đắm lòng người hay những trò chơi dân gian như: tung còn, đi cà kheo, bắn nỏ… tạo nên một không khí sôi động, náo nhiệt, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, sự quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp

Múa “Tắc Xình” có nhiều động tác khác nhau Ngày xưa trong “Lễ cầu

mùa” thường dùng năm đến bẩy điêụ nhảy Còn trong “Lễ cầu yên” có từ chín

Trang 29

đến mười hai điệu nhảy, nay ít dùng và không còn ai biết nữa còn chăng lớp người cao tuổi Còn sách cũng có ghi chép nhưng bị lưu lạc và viết bằng chữ Hán nên nhiều người cũng không dịch được

Ngoài điệu múa “Tắc Xình” nổi tiếng còn phải kể đến những câu Hát ví

Lưu Tam với những giai diệu giàu chất thơ, chất trữ tình như một lời nỉ non, đằm thắm, thiết tha làm xao động lòng người Những đêm trăng sáng, những tháng nông nhàn, nam nữ thanh niên và những ai yêu thích ca hát có thể hát thâu đêm đến sáng Làn điệu dân ca này làm cho người hát càng thêm yêu cuộc sống hơn, hăng say lao động và yêu quý bản mường Người xem thì được đắm mình trong không gian đầy màu sắc của những bộ trang phục mà người Sán Chay chỉ mặc trong dịp lễ hội

Do có phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” nhờ đó mà các làn điệu dân ca và điệu múa “Tắc Xình” của người

Sán Chay được phát triển và bảo tồn Xóm Đông Tâm đã trở thành xóm văn

hóa tiêu biểu cấp Tỉnh 1996 - 2013, là xóm có phong trào văn hóa văn nghệ

phát triển rất mạnh Điệu múa “Tắc Xình” và “Hát ví Lưu Tam” đã được tham

dự nhiều hội diễn văn nghệ

Ý thức về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, năm 2005, xóm Đồng Tâm

đã thành lập Câu lạc bộ (CLB) “Bảo tồn văn hóa Sán Chay” do ông Hầu

Thanh Tĩnh làm chủ nhiệm Trao đổi với chúng tôi, ông Tĩnh cho biết: việc thành lập CLB là để góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Các

cụ cao tuổi trong CLB say mê với công việc sưu tầm và dịch lại sách cổ để truyền dạy cho con cháu những phong tục, tập quán tốt đẹp cũng như những điệu múa, câu hát của dân tộc mình Đây thực sự là biểu hiện sinh động cho việc quan tâm gìn giữ bản sắc văn hóa thông qua các lễ hội ở Tức Tranh

1.3 Khái niệm và nguồn gốc “Hát Ví Lưu Tam”

1.3.1 Khái niệm Hát Ví Lưu Tam

Trang 30

Ở Tức Tranh, đồng bào Sán Chay gọi làn điệu dân ca này với một cái tên

quen thuộc gắn bó với người dân nơi đây từ bao đời nay là “Hát ví Lưu Tam”

Ngoài tên gọi Hát ví Lưu Tam, dân tộc Sán Chay còn có một số tên gọi khác là

“Sấng cọo” hay “Xình ca”

Cho đến nay, chưa có định nghĩa đủ rõ Hát ví Lưu Tam là gì? Nhưng khi nghiên cứu làn điệu dân ca này, người viết thấy nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm này với tên gọi Xình ca mà tiêu biểu là nhà thơ Lâm Quí Trong

“Văn hóa các dân tộc số 2” (2006), tác giả giả viết: “Về Xình ca Cao Lan cần được hiểu theo nghĩa “Xịnh ca” hay “Xình ca” có nghĩa là xướng ca Một bên hát xướng lên, một bên hát đối đáp lại Đặc trưng của Hát ví là hát giao duyên

và hát sử ca Chỉ có thanh niên nam - nữ chưa chồng, chưa vợ mới được hát

đối đáp với nhau trong những đêm hát giao duyên Những người có vợ, chồng

và người già chỉ đứng đằng sau dạy hát và cố vấn Họ chỉ tham gia khi hát vui xuân và các dịp lễ hội Khác với quan hệ một số dân tộc khác là người già cũng

có thể hát đối đáp với nhau.[52]

Hay nghệ nhân Sầm Dừn – một người đặc biệt có tâm huyết với những

câu hát Sình ca đã định nghĩa “Sình ca như một lối hát đối đáp giao duyên dành cho những người chưa chồng, chưa vợ” [Đã dẫn 43- tr.3]

Tác giả Nịnh Văn Độ trong Báo cáo khoa học đề tài “Bảo tồn Hát Sình

ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang” cũng đưa ra một khái niệm về Sình ca như sau: “Hát Sình ca (ở vùng Sơn Dương và nam Yên Sơn, đồng bào gọi là Sịnh ca) là một thể loại dân ca trữ tình, một sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú, hấp dẫn của đồng bào Cao Lan Mỗi bài ca là một bài thơ ghi bằng chữ hán, được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ thành một câu, 4 câu thành một bài), có một số bài viết theo thể thơ lục bát (bài có 4 câu, câu trên 6 chữ, câu đưới 8 chữ) [9 – tr.11]

Trong lời nhà xuất bản cuốn “Xịnh ca Cao Lan - đêm hát thứ nhất” có đoạn viết “Đây là tác phẩm thơ ca dân gian cổ của người dân tộc Cao Lan

Trang 31

được ghi chép bằng chữ hán Nôm Cao Lan và lưu truyền trong đồng bào từ nhiều đời nay” [34- tr.5]

Như vây, đã có khá nhiều khái niệm về “Xình ca” hay “Sịnh ca” nhưng theo chúng tôi cần hiểu theo một nghĩa thống nhất như sau: “Xình ca, Sịnh ca hay Hát ví Lưu Tam có nghĩa là xướng ca Một bên hát xướng lên, một bên hát đối đáp lại Đây là một loại dân ca trữ tình, nét sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú, độc đáo, hấp dẫn, lâu đời của dân tộc Sán Chay Mỗi bài ca là một bài thơ ghi bằng chữ Hán được viết theo thể thất ngôn (7 chữ thành một câu, 4 câu thành một bài) và được lưu truyền trong đồng bào từ nhiều đời nay”

1.3.2 Nguồn gốc Hát Ví Lưu Tam

Ở Tức Tranh, Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay có từ rất xa xưa Theo lời kể của các cụ già thì người Sán Chay đã bao đời từ thế hệ này sang thế hệ khác, người già truyền dạy cho con trẻ, người biết hát dạy cho người không biết hát, đã duy trì làn điệu dân ca này cho đến ngày nay

Nói về Hát ví Lưu Tam thì không thể quên câu chuyện về nàng Lưu Tam Nhiều dân tộc khác nhau ở những nơi khác nhau cũng đã lưu truyền về câu chuyện tình yêu đậm màu sắc huyền thoại này với nhiều tên gọi khác nhau

* Ở Tuyên Quang: Nhà thơ Lâm Quí - người dân tộc Cao Lan ở Tuyên

Quang cho biết: đồng bào Cao Lan có khá nhiều chuyện kể về dân ca Cao Lan

mà tiêu biểu là câu chuyện về nữ thần nghệ thuật, cũng tức là về một bà chúa thơ

Nhà thơ Lâm Quí kể: đó là nàng Làu Slam rất xinh đẹp Nàng mồ côi cha

từ nhỏ nên hàng ngày sống với hoa quả, chim muông trên rừng Nàng chú ý lắng nghe tiếng chim và học thuộc giọng hót véo von của các loài chim Nàng

đi khắp các bản mường để học các điệu hát của nhân dân Tiếng hát của nàng thật là kỳ diệu Nó làm cho những người hiền lành đã chết có thể sống lại, những người ác đang sống nghe nàng quở mà lăn ra chết Đi đến đâu, Làu Slam cũng để lại ở đấy những làn điệu hát véo von, du dương, ngọt ngào như nước suối nguồn Khi chết, hồn nàng nhập vào gốc thông Từ đó, cây thông bốn mùa

Trang 32

vi vu reo hát Làu Slam được tôn vinh thành chúa thơ, có uy lực ngang với các thần núi, thần sông, thần trời… Số bài hát nàng đặt ra nhiều hơn lá cây rừng Xưa cũng như nay, mỗi khi mở đầu một cuộc hát, người Cao Lan bao giờ cũng

có bài hát mời anh linh chúa thơ Làu Slam về dự để dạy thêm cho dân các bài hát mới

Hay cụ Sầm Văn cũng kể: nàng Lưu Tam từ khi còn trẻ đã có tiếng là hát hay, hay hát nhất bản Nàng hát đến mức không ai có thể đối lại, lời hát có nhiều ngữ nghĩa, sắc sâu đến mức làm nhiều người nghẹn thở, tức tối Người

anh trai thấy tiếng hát của em mình “ghê gớm” quá, không cấm được em hát,

thì bắt em đi lấy chồng Sợ về nhà chồng, em nói ngoa ngoắt làm người nhà

chồng ghét Anh ta đưa cho nàng một chiếc kéo đã khóa chặt và bảo: “Em về đặt trong buồng, bao giờ kéo mở thì em mới được nói” Lưu Tam làm đúng

như lời anh dặn, hằng ngày đều xem kéo và nàng thấy kéo không mở, nên nàng không nói Thấy cô con dâu như vậy, nhà chồng không chịu được mới sai ba chị em chồng mang trả cô về nhà Khi đi đến giữa đường (vào buổi sáng sớm) nghe tiếng gà gáy biết sắp về đến nhà, nàng mới cất lên tiếng hát Tiếng hát ai

oán, trách than và có cả những lời “cay nghiệt” dành cho phía nhà chồng Nàng

về ở với anh, đi hát ở hội hè hay những dịp vui chơi của bản làn Cuối cùng sau những lần đi hát, nàng Lưu Tam chết - cái chết của người con gái tài hoa bạc mệnh

Nàng Lưu Tam trong câu chuyện kia khác những mô típ nhân vật dân gian bình thường Nàng không chỉ thông minh, tháo vát, sắc sảo mà còn có thêm nét cay nghiệt khác thường Những câu hát mà nàng Lưu Tam để lại (trong cuốn sách thơ kể chuyện về nàng) đồng thời cũng là những câu hát Xình

Ca mẫu mực Nó là đại diện cho trí tuệ, sự thông minh của người Cao Lan Cụ

bảo: “Xình ca là dân ca nhập tâm và mê muội của người Cao Lan, là tiếng hát của đàn con trai, con gái ở các bản Họ hát đối với nhau vì tức Họ hát một hôm, rồi lại hai hôm, rồi hôm nào cũng hát Họ hát đối đáp lại nhau ngày qua

Trang 33

ngày, tháng qua tháng gần hết cả thời trai trẻ… Bên thua thì muốn hát mãi, bên thắng thì muốn khoe tài thâm sâu ”[54]

Hay cũng có một câu chuyện khác nói về nguồn gốc của hát Xình ca Hát Xình ca hay còn gọi là hát Cọ đã có từ rất xa xưa, tương truyền là do nàng Slam sáng tạo ra, bắt nguồn từ một tình yêu đẹp giữa nàng Slam và chàng trai nghèo tên Dừn Nhưng mối tình không thành, nàng Slam bị ép gả cho nhà giàu, nàng phải giả câm điếc suốt ba năm và không nguôi nhớ người tình cũ Nàng đã ấp

ủ trong lòng hàng nghìn lời ca nhớ nhung da diết Khi biết chàng Dừn chết, nàng Slam đã tựa vào gốc cây thông và hát lên những lời thương tiếc rồi trút hơi thở cuối cùng tại đó Hồn nàng nhập vào gốc cây thông, quanh năm bốn mùa vi vu và hát những câu nhớ thương da diết Những lời hát ấy được người Cao Lan nghe, nhớ rồi truyền từ người này sang người khác và đặt tên là hát Xình ca Cứ mỗi dịp tết đến xuân về, trai gái người Cao Lan lại có những lời ca mời hồn nàng Slam về nhập cuộc hát Cọ và sau cuộc vui lại có những lời hát tiễn nàng đi

* Ở Yên Bái: Dân tộc Sán Chí ở Yên Bái thì truyền tụng một câu

chuyện: nàng Làu Slam là người có tiếng hát trong như tiếng chim Trong ngày

hội xuân Làu Slam đã hát Xình ca với chàng Dừn đến nỗi “Con nộc cau” (tên tiếng Cao Lan của một loài chim) “bảy đêm đi tìm mồi, vẫn nghe tiếng hát hai

người” Họ tiếp tục hẹn nhau tới hội sau “Ta lại cùng nhau tung còn hát Ví”

Những năm gần đây, hát Xình ca ở Yên Bái không còn được phổ biến Chỉ còn được những người già trên 60 tuổi hát Trong sâu thẳm cõi lòng các cụ luôn tâm niệm rằng phải truyền lại cho thế hệ trẻ những câu hát Xình ca

* Ở Tức Tranh: Những người dân ở Tức Tranh thì kể: Lưu Tam không

phải là người bình thường mà nàng là người của Phật, được thần tiên trên tròi trợ giúp Cha mẹ mất sớm nên Lưu Tam phải ở với người anh trai Ngay từ nhỏ, Lưu Tam đã rất xinh đẹp và thông minh đặc biệt là có tài hát ví Nàng hát

ví với bất cứ công việc gì khiến cho nhiều chàng trai ở nhiều nơi xa đến để ví với nàng, để tỏ tình với nàng nhưng không ai thắng được Một số chàng trai đã

Trang 34

chết vì ức quá nhưng cũng có những chàng trai tuy không thắng Lưu Tam nhưng cũng khiến nàng mủi lòng nhưng người anh trai sợ Lưu Tam đi lấy chồng sẽ làm cho nhà chồng bực tức vì không ví được với nàng Vì không muốn em lấy chồng nên người anh ra điều kiện phải làm sao mài cục đá to trước nhà ra làm bánh thì anh mới gả chồng Được thần tiên trợ giúp, Lưu Tam gọt được đá và gọt đến đâu mềm dẻo đến đó và nàng làm thành bánh cho người anh thấy Thấy vẫn không yên tâm, người anh định hại em bằng cách đẩy xuống núi đá cho yên Người anh rủ em lên rừng hái quả và nhân lúc sơ xuất đẩy em xuống vực Song vì có thần tiên giúp nên Lưu Tam đã bám được vào dây nên sống sót và trở về Khi người anh về đến nhà, vẫn thấy Lưu Tam ở nhà

và nàng cất tiếng hát:

“ Vềnh ìu sạt nồng thìn mồ sát Tíu lộc lềnh tầu chộc chực thằng”

Ý lời ca:

Anh muốn em chết trời không muốn Rơi xuống vực sâu bám được dây

Người anh thấy bực quá nên đồng ý gả chồng cho em song người anh

yêu cầu “Ngày ngày đi làm về kiểm tra chiếc kéo anh buộc ở yếm Khi nào thấy kéo mở lời mới được nói chuyện” Lưu Tam lấy chồng tên là Lác Theo tiếng

dân tộc tên đó còn ám chỉ sự đói rách, nát rượu Ngày qua ngày, đi làm về nhìn kéo để trong buồng vẫn thấy thế, ba cô em gái bầy cách luộc củ mài chia nhau

ăn khúc non và ngon còn khúc già cằn cỗi cho chị dâu để chị tức phải nói ra nhưng Lưu Tam vẫn không nói Cô em út thương quá dành cho chị tí non và hỏi chị dâu nhưng Lưu Tam vẫn không nói Đã ba năm trôi qua, bố mẹ chồng bảo ba cô đưa chị dâu trả về nhà không nhận làm con dâu nữa Hai cô em đưa chị dâu về gần đến nhà bỗng dưng Lưu Tam nghe thấy tiếng gà rừng vui quá bèn cất lời ví

Nỳ sì san Kay mộc lùn thay Râu phù Slam nin Hau mồ càng

Trang 35

Slam nín châu phù Hau mồ càng Liềng có câu phu slóng ngồ quay

Thìn sau từi sát ká chực Lác Lác tắc chời cou nình chừi tày Nhật nhật chấu còng quày dừng phù Lác càng phù nình pặt chực phù

Ý lời ca:

Trời đất sát phạt gả phải Lác Lác lười lại cao nàng bé nhỏ Ngày ngày đi làm về nuôi Lác Lác bảo vợ mà không phải vợ

Sau này, cũng không ai biết vì sao Lưu Tam chết mà chỉ thấy dân gian

truyền tụng nhau “Hồng nhan bạc mệnh” và cũng không nói ai là người khép

lại được 12 đêm ví của Lưu Tam hay chỉ là thuộc lòng cùng nhau hát, sau này mới sao chép lại cho nên mỗi khi có Hát ví đều phải có ví gọi Lưu Tam về

minh giám và kết thúc cũng phải tiễn Lưu Tam (Lời kể của ông Hầu Thanh Tĩnh - xóm Đồng Tâm - xã Tức Tranh)

Như vậy, nhân vật huyền thoại “Làu Slam” hay “Lưu Ba”, “Lưu Tam”

đã được dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang, Sán Chí ở Yên Bái, Sán Chay ỏ Tức

Tranh kể với những dị bản khác nhau nhưng họ đều tôn nàng là “Bà chúa thơ ca” Mỗi lần có hát “Xình ca” hay “Hát ví Lưu Tam” đều có những lời ca mời

hồn nàng về nhập cuộc Sau cuộc vui lại có những lời hát tiễn nàng về cõi Phật

Trang 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ở chương 1, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về người Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên Việc tìm hiểu về nguồn gốc, dân cư và địa bàn cư trú, ngôn ngữ, quan hệ gia đình và xã hội, hoạt động kinh tế, văn hóa truyền thống đã giúp cho chúng tôi hiểu những nét đặc trưng của dân tộc này Những nét đặc trưng ấy phần nào đã được phản ánh trong Hát ví Lưu Tam

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng bước đầu tìm hiểu khái niệm, nguồn gốc

của Hát ví Lưu Tam - một làn điệu dân ca độc đáo của người Sán Chay ở Tức

Tranh và nhận thấy: Hát ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay đã có từ rất lâu đời,

là một loại dân ca trữ tình được viết theo thể thất ngôn, do chính những người nông dân thật thà, chất phác sáng tạo nên, được lưu truyền từ đời này sang đời khác chủ yếu bằng con đường miệng hoặc được ghi chép lại bằng chữ Hán cổ Khi hát, đồng bào sử dụng ngôn ngữ địa phương và trang phục truyền thống, không chỉ tạo được nét văn hóa đặc trưng, mà còn góp phần truyền bá ngôn ngữ, khuyến khích mọi người tìm hiểu và gìn giữ nét đẹp của làn điệu dân ca này

Chương 2 CÁC DẠNG THỨC HÁT VÍ LƯU TAM CỦA DÂN TỘC SÁN CHAY Ở

TỨC TRANH, PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN

2.1 Các dạng thức Hát ví Lưu Tam chia theo tiêu chí thời gian

Dựa vào tiêu chí thời gian, người ta chia Hát ví Lưu Tam thành Hát ví Lưu Tam ban ngày và Hát ví Lưu Tam ban đêm

2.1.1 Hát ví Lưu Tam ban ngày: là những bài hát ru, hát gọi, hát trong

hội xuân, hát trong lao động sinh hoạt, hát mừng nhà mới và chủ yếu là hát ở ngoài trời với những đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn như đề tài về thiên nhiên, bản làng; đề tài về xã hội, con người và ví đọc trong đám tang với nội

Trang 37

dung nói về đám tang người mất, kể công cha nghĩa mẹ với con cái, xem lưỡng

tạ và tiễn linh hồn người mất về cõi âm

Ví chúc mừng nhà mới:

Phồng hay chứ ốc lềnh dau dàu Các chay lău thái thàu sáp sò Căm nin phồng hay mềnh nin hóu Mềnh nin căm pou chờn tái tò

Ý lời ca:

Chúc mùng nhà mình luôn toả sáng Đòn tay, dui mè đan xen nhau Năm nay chúc mừng vạn năm quý Vạn năm vàng ngọc về càng nhiều [39]

Hay ví gọi:

Sămslằm tăng lơ…(liền) Sănmslằm tăng nình sềnh cò dàu lơ…

Săn sằm tăng nình sềnh cò dàu lơ…

Mấy sếnh sềnh cò chừi lù tàu lơ…

Ý lời ca:

Rộng lòng đón Rộng lòng đón nàng cùng hát ví Rộng lòng đón nàng cùng hát ví Nếu không hát được nghỉ đâu làng [39]

2.1.2 Hát ví Lưu Tam ban đêm: là những bài ví đối giao duyên hay ví

trầu cau được hát từ bẩy giờ tối hôm trước đến bẩy giờ sáng hôm sau và được

hát ở trong nhà bên ánh lửa bập bùng Theo lời kể của ông Hầu Thanh Tĩnh -

chủ nhiệm câu lạc bộ Hát ví Lưu Tam ở xã Tức Tranh thì Hát ví ban đêm có tới

12 tập bài hát, mỗi tập tương ứng với một đêm hát nhưng hiện nay chỉ còn lại trọn vẹn 5 đêm hát mà ông đang lưu giữ (từ đêm hát thứ nhất đến đêm hát thứ 5) và một tập ví dùng để đọc trong đám tang cùng các bài cúng lễ Số lượng bài

Trang 38

hát ở từng đêm ít dần theo thứ tự vì theo quy định, ở những đêm hát sau, người hát không được lặp lại những bài hát đã hát ở đêm trước

Đêm hát thứ nhất: 720 câu với các nội dung như chúc gia đình, chúc anh

em trong nhà, chúc già làng, trưởng thôn, bản làng và ví đối giao duyên về con người

Đêm hát thứ hai: 520 câu với các nội dung chúc mùa màng cây cối tốt tươi và ví đối giao duyên về quê hương vạn vật

Đêm hát thứ 3: 403 câu với các nội dung chúc bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, phát nương, làm rẫy, hái lượm, săn bắn và ví đối giao duyên về mùa vụ, cây cối

Đêm hát thứ tư: 287 câu với các nội dung chúc tình cảm xóm làng, mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người và ví đối giao duyên về tình cảm xóm làng

Đêm hát thứ 5: 248 câu với nội dung mời trầu, chúc hạnh phúc lứa đôi, xin phép đưa dâu về nhà chồng và ví đối giao duyên về tình yêu đôi lứa

Trong ví đối giao duyên, chàng trai cất lời:

Cày schài sềnh ra sập cây dịp Mần nình cây dịp tìm này sằn

Dì na sênh ninh sập cây slúi Mần nình cây slúi hối lìn nhằn

Ý lời ca:

Cây cải nở hoa bao nhiêu lá

Đố nàng bao lá dây bùn đất Cha mẹ sinh nàng được bao tuổi Hỏi nàng bao tuổi có người yêu [39]

Bằng trí thông minh của mình, cô gái bÌn đáp:

Cày schài sềnh và sập pạt dịp

Dì mò dắt dịp tìm này sằn

Dì na sênh nình sập pạt slúi

Trang 39

Dì mò dắt slúi hối lìn nhằn

Ý lời ca:

Cây cải nở hoa 18 lá Cũng chưa một lá dây bùn đất Cha mẹ sinh nàng 18 tuổi Cũng chưa một lần được nói yêu [39]

Như vậy, mỗi một đêm hát lại có những nội dung hát khác nhau Dù hát

ở dạng thức nào, người hát đều phải theo giai điệu và thuộc lòng những lời ca

trong sách Trước mỗi đêm hát, có Hát ví dạo mời từ 1 đến 19 câu

2.2 Các dạng thức Hát ví Lưu Tam chia theo tiêu chí nội dung

2.2.1 Các bài ca nghi lễ - phong tục

“Các bài ca nghi lễ - phong tục là các bài ca gắn với các sinh hoạt nghi

lễ - phong tục, giúp con người thực hiện các thủ tục mang tính tâm linh thông

qua các bài ca” [16 - tr.209]

Với quan niệm vạn vật đều có linh hồn và con người vẫn thường tin rằng thần linh có thể giúp đỡ và cũng có thể trừng phạt con người Do vậy, con người thường tìm cách để giao tiếp với thần linh bằng cách tổ chức các lễ như:

lễ cầu thần, cầu an, cầu lợi, cầu mùa…với mong muốn thần linh sẽ đem đến cho mình và mọi người những điều tốt lành Cũng chính từ quan niệm ấy mà các bài ca nghi lễ ra đời và là một bộ phận cổ xưa nhất trong kho tàng dân ca các dân tộc thiểu số Theo tiêu chí nội dung, có thể phân chia các bài ca nghi lễ

- phong tục thành nhiều dạng thức khác nhau trong đó có bốn dạng thức chính

là Nông lễ, Hôn lễ, Tang lễ và Mừng nhà mới

2.2.1.1 Các bài ca nông lễ

Các bài ca này thường để phục vụ các lễ tiết trong chu kì sản xuất nông nghiệp, từ phát nương, gieo cấy đến làm cỏ, gặt hái hoặc cầu mùa

Trang 40

Đối tượng chủ yếu của các bài ca nghi lễ nông nghiệp là thiên nhiên được thần linh hóa: thần Núi, thần Sông, thần Rừng, thần Cây, thần Đá hoặc các vị thần khác tùy theo quan niệm của từng dân tộc

Cách gọi các vị thần trong dân ca các dân tộc cũng có những sắc thái khác nhau

Dân ca Cơtu Bình Trị Thiên gọi thẳng là các thần rừng, thần nước:

Hỡi linh Pây dưa dưới nước!

Hới linh Kalơrua trên rừng!

Các người đòi máu ta đã cho rồi Mấu đây các người phải cho ta mùa màng tươi tốt!

[ 16 – tr 211]

Với dân tộc sán Chay ở xã Tức Tranh thì bài ca nghi lễ nông nghiệp thường được đọc trong Lễ cầu mùa (2 tháng 2 âm lich hàng năm) chứ không viết thành bài có vần có nhịp Đây là một nghi lễ mang đậm bản sắc dân tộc nơi đây Đó là nghi thức cúng tế, là điệu nhảy Tắc xình, những câu Hát ví Lưu Tam ngọt ngào, đắm say lòng người Là nét duyên dáng, đằm thắm của các bà, các

mẹ, các chị trong trang phục truyền thống nhiều sắc màu… Và hơn cả là sự mộc mạc, chân chất và mến khách của người dân nơi đây

Trong Lễ Cầu mùa ở Tức Tranh, mỗi gia đình trong vùng tự chuẩn bị đồ

lễ gồm lợn, gà xôi, rượu, trầu cau, hoa quả… lên cúng ở đình làng với 9 mâm lễ vật cùng tấm lòng thành, cầu cho mùa màng tốt tươi, cây cối đâm chồi nảy lộc,

Ngày đăng: 21/11/2014, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ma Khánh Bằng (1983), Người Sán Dìu ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Ma Khánh Bằng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1983
2. Phương Bằng (1981), Dân ca cao Lan, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca cao Lan
Tác giả: Phương Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1981
3. Bước đầu tìm hiểu dân ca dân tộc Tày, Sán Dìu và Cao Lan (2007), Sở Văn hóa - Thông tin Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu dân ca dân tộc Tày, Sán Dìu và Cao Lan (
Tác giả: Bước đầu tìm hiểu dân ca dân tộc Tày, Sán Dìu và Cao Lan
Năm: 2007
4. Nguyễn Xuân Cần - Trần Văn Lạng chủ biên (2003), Dân ca Sán Chí ở Kiên Lao, Lục Ngạn, Bắc Giang, Bảo tàng Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Sán Chí ở Kiên Lao, Lục Ngạn, Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Xuân Cần - Trần Văn Lạng chủ biên
Năm: 2003
5. Trịnh Thành Công (2005), “Đi tìm câu hát Xình Ca”, Báo Tuyên Quang số tết Xuân Ất Dậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm câu hát Xình Ca
Tác giả: Trịnh Thành Công
Năm: 2005
6. Nguyễn Ngọc Chiến (2003), Chuyên đề đám cưới, đám tang của người Cao Lan ở Tuyên Quang, Sở Văn hóa thông tin Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề đám cưới, đám tang của người Cao Lan ở Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chiến
Năm: 2003
7. Khổng Diễn (2003), Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2003
8. Phạm Thị Kim Dung (2005), Khảo sát đặc diểm của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc diểm của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang
Tác giả: Phạm Thị Kim Dung
Năm: 2005
9. Nịnh Văn Độ ( 2003), Báo cáo khoa học đề tài “Bảo tồn hát Sình ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang”, Sở Văn hóa Thông tin Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo tồn hát Sình ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang”
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học. (Tái bản lần thứ 3). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam (1998), sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hóa văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hóa văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
12. Đỗ Đức Hiển, Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Thế giới
13. Hợp tuyển Văn học dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Sán Chay (1994), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển Văn học dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Sán Chay
Tác giả: Hợp tuyển Văn học dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Sán Chay
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
14. Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số Việt nam (1997), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số Việt nam
Tác giả: Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số Việt nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
15. Nguyễn Thị Huế (1978), “Qua việc tìm hiểu diễn xướng một số dân ca vùng trung châu Bắc bộ” Tạp chí Văn hóa, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua việc tìm hiểu diễn xướng một số dân ca vùng trung châu Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
Năm: 1978
16. Nguyễn Thị Việt Hương chủ biên (2008), Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Giáo trình dành cho sinh viên ngành văn hóa Dân tộc thiểu số hệ Đại học và Cao đẳng (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: chủ biên" (2008), "Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hương chủ biên
Năm: 2008
17. Nguyễn Xuân Kính cùng nhiều tác giả (1989), Văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính cùng nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
18. Đinh Gia Khánh (chủ biên 1998), Văn học dân gian Việt Nam. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Đinh Trọng Lạc (1997), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
20. Triệu Thị Linh (2006), Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích về người mồ côi của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích về người mồ côi của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang
Tác giả: Triệu Thị Linh
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thể hiện các dạng vần chân trong Hát ví Lưu Tam - hát ví lưu tam của dân tộc sán chay ở tức tranh, phú lương, thái nguyên
Bảng th ể hiện các dạng vần chân trong Hát ví Lưu Tam (Trang 90)
4.5. Hình ảnh những cuốn sách cổ bằng chữ Hán của 5 đêm Hát ví  Lưu Tam và ví đọc trong đám tang cùng các bài cúng lễ của dân tộc Sán  Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên - hát ví lưu tam của dân tộc sán chay ở tức tranh, phú lương, thái nguyên
4.5. Hình ảnh những cuốn sách cổ bằng chữ Hán của 5 đêm Hát ví Lưu Tam và ví đọc trong đám tang cùng các bài cúng lễ của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên (Trang 138)
4.7. Hình ảnh một số nghệ nhân Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh, Phú  Lương, Thái Nguyên. - hát ví lưu tam của dân tộc sán chay ở tức tranh, phú lương, thái nguyên
4.7. Hình ảnh một số nghệ nhân Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w