Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------ TRẦN NHƯ QUỲNH HƯỚNG DẪN SINH VIÊN ÔN TẬP PHẦN ĐIỆN
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
TRẦN NHƯ QUỲNH
HƯỚNG DẪN SINH VIÊN ÔN TẬP PHẦN ĐIỆN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
TRẦN NHƯ QUỲNH
HƯỚNG DẪN SINH VIÊN ÔN TẬP PHẦN ĐIỆN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÍ
MÃ SỐ: 60 14 01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐỨC VƯỢNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2013
Trang 3Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất
đến TS Trần Đức Vượng – giáo viên hướng dẫn đã quan tâm và chỉ dẫn
nhiệt tình, tháo gỡ những vướng mắc cho tác giả từ những buổi đầu xây dựng
đề cương cho đến khi hoàn chỉnh luận văn
Tác giả cảm ơn tập thể lớp cao học LL&PPDH Vật lí khóa 19 trường ĐHSP Thái Nguyên đã đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng không thể không cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè
là những người đã luôn ở bên để giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Thái nguyên, tháng 05 năm 2013
Tác giả
Trần Như Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì một công trình của các tác giả nào khác
Tác giả
Trần Như Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 7
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Phạm vi nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Đóng góp của đề tài 9
10 Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG BĐTD TRONG VIỆC ÔN TẬP KIẾN THỨC VẬT LÝ CỦA SINH VIÊN 10
1 Ôn tập 10
1.1 Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập 10
1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức 12
1.3 Các hình thức ôn tập 13
1.3.1 Ôn tập xen kẽ nghiên cứu tài liệu mới 14
1.3.2 Ôn luyện 14
1.3.3 Ôn tập tổng kết sau mỗi mục, bài, chương 14
1.4 Mối quan hệ giữa ôn tập và kiểm tra đánh giá 15
1.5 Vai trò của việc ôn tập trong dạy học Vật lý 16
2 Cơ sở lý luận của việc sử dụng BĐTD trong ôn tập 17
2.1 Khái niệm và đặc điểm của BĐTD 17
2.2 Cách đọc BĐTD 18
Trang 62.3 Cách vẽ BĐTD 19
2.3.1 Công cụ vẽ BĐTD 19
2.3.2 Các bước lập BĐTD 20
2.4 Các quy tắc chỉ đạo trong BĐTD 21
2.5 Ưu điểm của ghi chú bằng BĐTD so với kiểu ghi chú thông thường 23
2.6 Ý nghĩa của BĐTD 24
2.7 Ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học 24
2.8 Tác dụng của BĐTD trong việc rèn kỹ năng học tập 28
3 Thực trạng việc ôn tập kiến thức Vật lý của sinh viên thông qua việc sử dụng BĐTD 29
3.1 Thực trạng 29
3.2 Nguyên nhân của thực trạng 30
3.2.1 Về phía GV 30
3.2.2 Về phía SV 30
4 Kết luận chương I 31
CHƯƠNG 2: HƯỚNG DẪN SINH VIÊN ÔN TẬP PHẦN “ĐIỆN HỌC” CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BĐTD 32
1 Tổng quan phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương 32
1.1 Vị trí phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương cho trường Cao đẳng Công nghiệp Thực Phẩm 32
1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của phần Điện học 33
1.3 Mức độ cần dạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ của SV sau khi học phần Điện học 34
1.3.1 Về kiến thức 34
1.3.2 Các kỹ năng cơ bản SV cần đạt được khi học xong phần “Điện học” 35
1.3.3 Thái độ 35
2 Hướng dẫn sinh viên rèn luyện kỹ năng xây dựng bản đồ tư duy – Quy trình thực hành vẽ bản đồ tư duy 36
2.1 Cách chuẩn bị một BĐTD 36
2.1.1 Tư duy bằng hình ảnh và màu sắc 36
2.1.2 Ý chủ đạo 37
2.1.3 Giấy bút 37
2.2 Cơ sở hướng dẫn thực hành BĐTD 39
Trang 72.2.1 Phá bỏ những rào cản 39
2.2.2 Củng cố 39
2.2.3 Chuẩn bị 40
2.3 Những điều cần tránh khi lập BĐTD 41
2.4 Hướng dẫn SV sử dụng phần mềm iMindMap5 trong việc vẽ các BĐTD 42
3 Một số định hướng cho sinh viên trong việc rèn luyện kỹ năng ứng dụng BĐTD trong quá trình bồi dưỡng năng lực ôn tập kiến thức 42
3.1 Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin từ SGK, bài giảng, tài liệu tham khảo, mạng intetnet … 42
3.2 Rèn luyện kỹ năng ghi chép, tóm tắt thông tin thu thập được từ tài liệu học tập bằng bản đồ tư duy 44
3.3 Rèn luyện kỹ năng xử lý thông tin thông qua công cụ bản đồ tư duy 46
3.4 Rèn luyện kỹ năng truyền đạt thông tin 46
4 Đề xuất tiến trình hướng dẫn sinh viên ôn tập phần “Điện học” 47
4.1 Nguyên tắc xây dựng tiến trình 47
4.2 Tiến trình hướng dẫn sinh viên ôn tập phần “Điện học” - vật lý đại cương cho trường cao đẳng công nghiệp với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy 50
4.2.1 Tiến trình tổng quát 50
4.2.2 Tiến trình cụ thể hướng dẫn SV ôn tập, hệ thống hóa kiến thức phần "Điện học" - Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của BĐTD 55
5 Kết luận chương 2 68
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70
3.1.1 Mục đích 70
3.1.2 Nhiệm vụ 70
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 71
3.2.1 Đối tượng 71
3.2.2 Nội dung 71
3.3 Các giai đoạn thực nghiệm sư phạm 71
3.3.1 Công tác chuẩn bị cho TNSP 71
3.3.1.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 71
3 3.1.2 Hướng dẫn ôn tập với sự hỗ trợ của MM 71
3.4 Đánh giá hiệu quả của tiến trình ôn tập thông qua các bài kiểm tra 72
3.4.1 Yêu cầu chung về xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 72
Trang 83.4.2 Phân tích và xử lý các kết quả của TNSP 73
3.5 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 83
PHẦN III: KẾT LUẬN 85
1 Kết quả đạt được 85
2 Kiến nghị 85
3 Hướng phát triển của đề tài 86
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1:Bảng phân phối thực nghiệm - Bài kiểm tra số 1 72
Bảng 3.2: Bảng xếp loại - bài kiểm tra số 1 72
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất - Bài kiểm tra số 1: 73
Bảng 3.4: Bảng kết quả các tham số thống kê - bài kiểm tra số 1 74
Bảng 3.5: Bảng tần số lũy tích hội tụ lùi - Bài kiểm tra số 1 74
Bảng 3.6:Bảng phân phối thực nghiệm - Bài kiểm tra số 2 76
Bảng 3.7: Bảng xếp loại - bài kiểm tra số 2 77
Bảng 3.8: Bảng phân phối tần suất - Bài kiểm tra số 2: 78
Bảng 3.9: Bảng kết quả các tham số thống kê - bài kiểm tra số 2 78
Bảng 3.10: Bảng tần số lũy tích hội tụ lùi - Bài kiểm tra số 2 79
Trang 11DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ phân loại kiểm tra lần 1 73
2 Đồ thị biểu diễn tần suất lần 1 75
3 Đồ thị biểu diễn tần suất lùi lần 1 75
4 Biểu đồ phân loại kiểm tra lần 2 77
5 Đồ thị biểu diễn tần suất lần 2 79
6 Đồ thị biểu diễn tần suất lùi lần 2 80
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn
ra mạnh mẽ, đó vừa là một quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình cạnh tranh kinh tế quyết liệt giữa các quốc gia, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới Sự tác động của quá trình này đến nước ta ngày càng mạnh mẽ, điều này đã và đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn về mặt chất lượng và hiệu quả giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Cùng với sự phát triển của thời đại, thước đo quan trọng cho năng lực sáng tạo của mỗi người trong nền kinh tế tri thức chính là tốc độ tư duy, khả năng chuyển hoá thông tin thành kiến thức, và từ kiến thức tạo ra giá trị, tạo
ra sản phẩm dịch vụ Trong xu thế đó, sản phẩm đào tạo phải là những con người năng động, sáng tạo có khả năng học thường xuyên, học suốt đời, nhằm thích ứng những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và yêu cầu của thị trường lao động Để tạo ra con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu và những thách thức gay gắt của hội nhập và phát triển, trong nhà trường đòi hỏi phải có sự đổi mới, cải tiến toàn diện và triệt để trên tất cả các mặt: mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã nêu ra
"Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi " Để đạt được mục tiêu đề ra, Hội nghị cũng đã chỉ rõ " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
Trang 13chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học"[ 37] Kho tàng tri thức vô hạn, mỗi ngày lại có nhiều những thành tựu mới được phát minh
Do đó dạy học hiện đại không chỉ là dạy cho người học nắm vững kiến thức
mà cần phải dạy cho người học cách tự lực chiếm lĩnh kiến thức, có tư duy sáng tạo và tích cực trong hoạt động nhận thức để phù hợp với yêu cầu của thời đại Quán triệt tinh thần đổi mới nói trên, việc nghiên cứu các phương pháp giáo dục tích cực, tìm ra các biện pháp phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng người học để nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết đối với mỗi giáo viên (GV) nói chung và những nhà nghiên cứu giáo dục nói riêng Đối với giáo dục chuyên nghiệp hiện nay, nhất là ở các trường Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp chủ yếu vẫn theo quan điểm dạy học theo lối truyền thụ một chiều, sinh viên tiếp thu bài giảng một cách thụ động rất ít các em có thể tự nghiên cứu tài liệu, do đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học càng trở nên cấp thiết hơn Cụ thể trong quá trình dạy học phải bồi dưỡng cho sinh viên năng lực ôn tập, tự nghiên cứu SGK và giải quyết các vấn đề học tập thông qua các nội dung, hoạt động dạy học Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng lực toàn diện của mình
Tuy nhiên, trong một thế giới bùng nổ thông tin như hiện nay thì học tập chăm chỉ vẫn chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công nghệ gì Các phương pháp luận học tập đã đem lại thành công cho chúng ta trong quá khứ đang gặp nhiều thách thức Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu chúng ta không chỉ có kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng
từ kiến thức Nếu ví thông tin như các yếu tố đầu vào, còn kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc là yếu tố đầu ra thì “hộp đen” hay “ bộ vi xử lý” chính là bộ não của chúng ta Thực tế, chúng ta có thể dành nhiều thời gian để học cách
Trang 14sử dụng tốt một chiếc máy tính, nhưng lại ít quan tâm đến cơ chế hoạt động,
xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp, sáng tạo… của cỗ máy kỳ diệu là bộ não Buzan là một trong số ít những người dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm ra quy luật hoạt động của bộ não và làm việc theo quy luật đó để đạt được những
sự thành công đáng kinh ngạc Ông đã xây dựng tên tuổi của mình từ một ý tưởng về cơ bản rất đơn giản mà ông gọi là Bản đồ tư duy (MindMap) - công
cụ hỗ trợ tư duy được mô tả là “Công cụ của bộ não” với hơn 250 triệu người
sử dụng trên thế giới BĐTD công cụ giúp bạn làm chủ cuộc sống: ghi nhớ, quản lý, sáng tạo, lập kế hoạch… và thành công
Tony Buzan tin rằng chúng ta đang sống trong một vũ trụ bao la rộng lớn, nhưng trong mỗi chúng ta cũng có một vụ trụ khác chưa được khai phá –
bộ não Đi sâu khám phá “tiểu vũ trụ” này, chúng ta cũng sẽ thu được những điều vô cùng kỳ diệu về tiềm năng không giới hạn của chúng ta như sự kỳ diệu của vũ trụ vậy
Tại Việt nam, vào tháng 3 năm 2006, chương trình Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam đã thực hiện một phóng sự về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng
và phổ biến BĐTD của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group - NTG) khi nhóm đang thực hiện dự án “Ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy – BĐTD” cho
SV Đại học quốc gia Hà nội Dự án đã nhận được sự ủng hộ sâu rộng từ lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo Viện Nghiên cứu Con người, các thầy
cô giáo và đông đảo sinh viên, SV
Các bạn SV ứng dụng BĐTD trong học tập đã đạt được những thành tích học tập rất cao Những đề tài nghiên cứu khoa học về ứng dụng BĐTD trong làm việc theo nhóm, trong học ngoại ngữ, học các môn xã hội khác đã đạt giải cao tại các trường thành viên thuộc Đại học quốc gia Hà Nội Ngoài
ra, BĐTD được ứng dụng đặc biệt hiệu quả trong việc nâng cao khả năng khởi tạo ý tưởng và “Teamwork” (làm việc theo nhóm) của SV Việc ứng
Trang 15dụng BĐTD trong khởi tạo và hiện thực hoá ý tưởng cũng được minh chứng tại các cuộc thi về ý tưởng kinh doanh, và đặc biệt đã có những SV thành lập được doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả với sự góp phần không nhỏ của
BĐTD Tuy nhiên việc vận dụng BĐTD chưa bao giờ được hệ thống hóa và
nghiên cứu kĩ lưỡng để phổ biến chính thức trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới SV sinh viên trước các mùa thi Gần đây Dự án phát triển THCS II, Dự án trường học sáng tạo và một vài tổ chức khác đang triển khai tập huấn và hướng dẫn sử dụng MM trong giảng dạy và học tập Phong trào đang được sự quan tâm và hưởng ứng tích cực từ cả phía thầy lẫn trò
Bác Hồ đã từng nói rằng “Còn sống thì còn phải học Học hỏi là một
việc phải học suốt đời không ai có thể tự cho mình biết đủ rồi” Do đó, một
trong những nội dung của đổi mới phương pháp dạy và học chính là việc hướng dẫn SV khả năng nghiên cứu phát huy tính tích cực, chủ động, phat huy được tiềm năng trí tuệ năng lực tư duy sáng tạo để có thể ôn tập suốt đời
Điện học là một trong những nội dung học tập trong chương trình Vật
lý đại cương mà SV sẽ được học tập ở năm thứ nhất Nắm vững kiến thức trong phần này, giúp cho SV học tập tốt hơn ở một số môn học của một số ngành học mà các em học tập Chính vì vậy, để hình thành cho SV khả năng
ôn tập các kiến thức đã học với sự hỗ trợ của MM thì đây là nấc thang đầu tiên, tạo tiền đề và động lực cho sự thành công của SV trong việc học tập các phần khác của chương trình Vật lý đại cương Đồng thời với việc làm quen ôn tập kiến thức bằng MM, SV có thể vận dụng vào các môn học khác và tăng cường khả năng nghiên cứu tài liệu của bản thân hiệu quả hơn
Xuất phát từ những lý do trên , tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu là
“Hướng dẫn SV ôn tập phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương
cho trường Cao đẳng Công nghiệp với sự hỗ trợ của BĐTD” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của bản thân
Trang 16Hà Nội triển khai thực hiện Dự án đã cung cấp công cụ phát triển tư duy cho hơn 150 SV là thành viên của 11 câu lạc bộ của các Khoa, Trường thuộc Đại học quốc gia Hà Nội Các đề tài nghiên cứu khoa học như “Ứng dụng BĐTD trong dạy học nhóm” của tác giả Nguyễn Thị Hiền (Khoa Sư phạm, ĐHQGHN); “Ứng dụng BĐTD nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh” của tác giả Đặng Thị Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên (ĐHSPHN), đã đề cập đến việc ứng dụng BĐTD và ý nghĩa của nó trong dạy học Năm 2007 tại hội thảo
“Ứng dụng CNTT vào đào tạo GV tiểu học và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh”, thạc sỹ Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “Giảng dạy và học tập với công cụ Bản đồ tư duy”
Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng BĐTD vào quá trình dạy học đã
có một số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của MM chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao”, Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MM và máy vi tính”, Lê Thị Hà với đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy giải BTVL chương Động học chất điểm và Động lực học chất điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MM”, Nguyễn Văn Quang với đề tài “Bồi Dưỡng NLTH Vật lý cho HS THPT thông qua việc sử dụng SGK với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” Nhìn chung các đề tài
Trang 17trên đã trình bày khá đầy đủ và cụ thể về vấn đề sử dụng MM trong dạy học Vật lý
Về vấn đề ôn tập thì hầu hết các đề tài tập trung vào việc xây dựng Website như: Phạm Huy Dũng với đề tài “Xây dựng website hỗ trợ học sinh
tự ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá một số kiến thức thuộc chương “Động học chất điểm” Sách giáo khoa Vật lý 10 nâng cao”, Ngô Minh Kỳ với đề tài
“Xây dựng website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá một
số kiến thức thuộc chương “Dòng điện không đổi” – Vật lý 11 nâng cao”, Phan Phúc Thịnh với đề tài “Xây dựng Website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng
cố và kiểm tra, đánh giá chương “Điện tích Điện trường” trong chương trình vật lý lớp 11 ban cơ bản”, Trần Quốc Duyệt với đề tài " Hướng dẫn SV tự ôn tập củng cố phần "Cơ học" trong chương trình vật lý đại cương với sự hỗ trợ của BĐTD"
Do đó, việc hướng dẫn SV ôn tập phần 'Điện học" - Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của BĐTD là một vấn đề mới và cấp thiết để nghiên cứu
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Hướng dẫn sinh viên làm quen với BĐTD và sử dụng BĐTD trong ghi chép, hệ thống hóa kiến thức để từ đó có thể vận dụng BĐTD vào việc ôn tập kiến thức
- Rèn luyện cho sinh viên có được cách thức ôn tập kiến thức một cách hiệu quả với sự hỗ trợ của BĐTD
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Hệ thống các kiến thức, kỹ năng sinh viên cần có được khi học xong phần: “Điện học” trong chương trình Vật lý đại cương
- Hoạt động ôn tập kiến thức phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương ở trường Cao đẳng Công nghiệp của SV với sự hỗ trợ của BĐTD
Trang 185 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu việc ôn tập kiến thức phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương có sự hỗ trợ của BĐTD thì sẽ nâng cao hơn hiệu quả hoạt động học tập của SV
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi nhận thấy cần phải thưc hiện các nhiệm
- Tổ chức buổi báo cáo, giới thiệu BĐTD cho sinh viên và hướng dẫn
sử dụng phần mềm ImindMap trong việc lập các bản đồ tư duy
- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm hướng dẫn sinh viên rèn luyện các kỹ năng ôn tập kiến thức phần “ Điện học” - Vật lý đại cương với
sự hỗ trợ của BĐTD
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm với sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực Phẩm để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đề xuất và rút ra kết luận
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tôi chỉ nghiên cứu thực trạng
và một số biện pháp hướng dẫn SV trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm
ôn tập phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của BĐTD
Trang 198 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng BĐTD trong dạy và học Vật lý
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng BĐTD vào hoạt động học tập của sinh viên
- Nghiên cứu nội dung phần “ Điện học” - Vật lý đại cương để có cái nhìn tổng thể và hệ thống hóa
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề ôn tập với sự hỗ trợ của BĐTD
- Điều tra sự hiểu biết của sinh viên về BĐTD và việc sử dụng phần mềm để vẽ BĐTD Nếu có sử dụng thì lĩnh vực hay môn học nào mà SV thường áp dụng để vẽ BĐTD trong học tập
- Quan sát sư phạm để đánh giá mức độ hứng thú, thái độ tích cực của sinh viên trong việc sử dụng BĐTD để ôn tập kiến thức
8.2.2 Phương pháp chuyên gia
- Tranh thủ sự tư vấn của các chuyên gia về việc sử dụng BĐTD trong học tập giúp cho việc triển khai nghiên cứu đề tài có thêm cơ sở vững chắc
- Tham khảo ý kiến của các sinh viên, GV, cộng đồng dân cư mạng đã
và đang sử dụng BĐTD trong học tập để có cái nhìn khách quan, trung thực
về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng BĐTD trong học tập và trong dạy học kiến thức Vật lý
8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm với mẫu là lớp K6 TP1, K6 - KCS1, K6 - D1 và nhóm đối chứng là lớp K6 TP2, K6- KCS2, K6- D2 thuộc chuyên ngành thuộc
Trang 20chuyên ngành Công nghệ Thực Phẩm, công nghệ kỹ thuật điện của trường Cao Đẳng Công Nghiệp Thực Phẩm
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm
sư phạm và kết quả điều tra để rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của các nhóm đối chứng và thực nghiệm
9 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Cơ sở lý luận của việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức với sự hỗ trợ
của BĐTD nhằm phát huy tính tích cực, chủ động nghiên cứu tài liệu của SV
- Tiến hành vẽ các BĐTD hệ thống hóa kiến thức các chương ở phần Điện học trong chương trình Vật lý đại cương
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên sinh viên khoa Công nghệ Thực phẩm và Công nghệ Hóa học và kết quả thực nghiệm bước đầu cho thấy tính khả thi và hiệu quả của việc ôn tập hệ thống hóa kiến thức với sự hỗ trợ của BĐTD từ đó khẳng định giả thuyết khoa học của đề tài
10 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng BĐTD trong việc ôn tập kiến thức Vật lý của sinh viên
Chương 2: Hướng dẫn sinh viên ôn tập phần “ Điện học” chương trình Vật lý đại cương cho trường Cao đẳng Công nghiệp với sự hỗ trợ của BĐTD
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 21NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG BĐTD TRONG VIỆC ÔN TẬP KIẾN THỨC VẬT LÝ CỦA SINH VIÊN
1 Ôn tập
1.1 Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập
Việc ôn tập những tri thức đã học là một khâu hết sức quan trọng không thể thiếu trong quá trình học tập của người học
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn Bá Kim;
…): Ôn tập là giúp sinh viên tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạo khả năng cho giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của sinh viên, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho sinh viên Ôn tập còn giúp sinh viên mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những
kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành [30]
Ôn tập có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất: ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; nghĩa thứ hai: ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thức đã dạy để người học nắm chắc chương trình [25]
Theo các nhà tâm lí học [20], [30]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn
là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau Sự lưu trữ thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ, quá trình ghi nhớ có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài Thông tin được lưu trữ trong trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây trong thời gian người học làm việc, tiến hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu trữ thông tin trong suốt cả cuộc đời Trí nhớ ngắn lưu trữ những gì ta đang suy nghĩ vào lúc đó, cùng các thông tin
Trang 22chuyển từ các giác quan qua như tai, mắt của con người Sau khi lưu trữ và xử
lí những thông tin ấy trong vài giây, trí nhớ ngắn lập tức quên hầu hết số thông tin ấy Để lưu trữ thông tin thì những nội dung của trí nhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài Nhưng muốn chuyển được sang được trí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần được xử lí, sắp xếp cấu trúc trong trí nhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với người học Thực chất của hoạt động này là thực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận
và tổ chức lại thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học Để tổ chức được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lại thông tin, bổ sung, chỉnh lí, chính xác hóa những thông tin
đã lĩnh hội qua các thao tác trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản, những kết luận mẫu chốt, những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu, trao đổi với bạn bè, với thầy
cô giáo để làm sáng tỏ những thông tin đó Tức là phải thông hiểu thông tin, phải trả lời được câu hỏi “tại sao như vậy ?” Trên cơ sở của sự thông hiểu thông tin, người học tiến hành các hoạt động phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ chức lại các thông tin đã lĩnh hội đó trong một cấu trúc mới Sau khi trí nhớ ngắn đã “làm nên ý nghĩa” cho thông tin đã được lĩnh hội thì nó được chuyển thành trí nhớ dài Từ đây cho thấy chất lượng của việc cấu trúc lại thông tin như thế nào để chuyển sang lưu trữ
tại vùng trí nhớ dài hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức ôn tập của GV và vào chính cá nhân người học
Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên trí nhớ dài
có khuynh hướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dài nếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc ý tưởng đó Do vậy, với những thông tin cần được lưu trữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợi lại một cách thường xuyên Điều đó có nghĩa là khi
Trang 23thông tin đã được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì những thông tin đó sẽ bị lãng quên Vì vậy để lưu trữ thông tin lâu dài, GV cần phải tổ chức cho người học sử dụng những thông tin
đã được lĩnh hội một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng những thông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành [20]
Ôn tập là một quá trình kiến thức làm cho kiến thức được vững chắc và lâu bền trong trí nhớ của người học, để có thể vận dụng chúng vào việc giải bài tập hoặc ứng dụng vào thực tế cuộc sống Ôn tập còn là cơ sở để tiếp thu tốt những kiến thức mới Trong trường hợp kiến thức mới có liên quan hoặc
là sự phát triển tiếp tục các kiến thức đã học thì sự ôn tập càng cần thiết
Như vậy ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gợi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó, mở rộng đào sâu tri thức, làm vững chắc kỹ năng kĩ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ,
tư duy của người học
Ôn tập phải giúp thu nhận thêm điều mới về kiến thức, phương pháp hoặc hệ thống hoá và rút ra những nhận định mới Đó là nguyên tắc quan trọng trong ôn tập
Việc ôn tập kiến thức vật lý có thể theo chương, theo môn học hay theo từng bài giảng Thậm chí có thể phân theo các nội dung Vật lý để ôn tập
1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Trong giáo dục, hoạt động ôn tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong quá trình dạy học của mình và để giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ
Trang 24được nghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách khoa học hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái cốt lõi được gắn lại với nhau với một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôn tập
và nói chung nếu thiếu bất kỳ một sự vận dụng nào thì sẽ bị “teo lại” giống như các cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập
Ôn tập giúp cho việc tri thức, hiểu rõ tri thức, hoàn thiện tri thức và sau
đó là để làm mới lại tri thức trong trí nhớ
Ôn tập có ý nghĩa lớn trong rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào trong các tình huống cụ thể khi ôn tập vật lí
Ôn tập giúp người học hệ thống hóa kiến thức, có một “bức tranh tổng thể", hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kỹ năng đã được học
Ôn tập giúp người học đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức đã học; khắc phục và tránh được các quan niệm sai lầm mắc phải trong và sau khi học lần đầu
Thông qua việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức giúp người học xây dựng được bưc tranh tổng thể, có hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kỹ năng đã được học, giúp người học mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa chữa và tránh được sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới
1.3 Các hình thức ôn tập
Trước hết cần hiểu rằng ôn tập chủ yếu là công việc tự lực của người học trong quá trình hoạt động học tập nhằm lĩnh hội, thông hiểu kiến thức và trau dồi kỹ năng GV trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không làm thay mà chỉ giữ vai trò hướng dẫn, tổ chức cho ôn tập sao cho có hiệu quả cao nhất Đặc biệt cần làm cho người học tự mình hiểu được sự cần thiết của ôn tập, tự giác đặt cho mình mục tiêu phấn đấu và cố gắng đạt tới một cách có hiệu quả Tuỳ
Trang 25theo nội dung của chương trình, mục tiêu đào tạo và những yêu cầu cụ thể mà vận dụng linh hoạt các hình thức ôn tập khác nhau
1.3.1 Ôn tập xen kẽ nghiên cứu tài liệu mới
Hình thức này được áp dụng khi việc nghiên cứu tài liệu mới (dạy một bài mới) phải dựa trên những kiến thức cũ Ưu điểm của hình thức này là nhẹ nhàng, sử dụng được thường xuyên trong tiến trình dạy học Có thể ôn tập để
đề xuất vấn đề mới, ôn tập để xây dựng kiến thức mới, ôn tập kiến thức đã học để giải bài tập, Hình thức này tiết kiệm được thời gian mà kết quả lại cao Vì thế GV cần có sự quan tâm thích đáng đến hình thức ôn tập này Trước khi dạy bài mới nào đó, giáo viên có thể giao cho phiếu ôn tập trên lớp ngay đầu giờ học, những vấn đề ôn tập này sẽ kiểm tra trước, trong khi giảng bài mới hoặc cuối bài vào những lúc cần thiết [26]
1.3.2 Ôn luyện
Ôn luyện được sử dụng khi cần trong trí óc của SV một số kiến thức hay một hệ thống kiến thức, cần làm cho thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa những kiến thức đã học và khả năng đáp ứng chúng một cách linh hoạt sáng tạo hoặc khi cần rèn luyện cho SV có kỹ năng thành thạo giải quyết một vấn
đề cụ thể nào đó thông qua việc giải các bài tập và thí nghiệm thực hành Những bài tập ở đây là những bài tập tổng hợp mà khi giải phải nhớ kiến thức
cũ, phối hợp chúng một cách khéo léo, sinh động Những bài tập này sẽ có tác dụng lớn hơn nếu GV biết đưa vào nội dung những yếu tố mới sao cho có thể thấy rõ sự cần thiết phải ôn tập kiến thức cũ để làm cơ sở giải bài tập, từ đó suy ra được cái mới
1.3.3 Ôn tập tổng kết sau mỗi mục, bài, chương
Trong các hình thức ôn tập kể trên, những kiến thức cũ được vận dụng nhiều lần trong trí óc nên làm cho họ nhớ kỹ và hiểu sâu Tuy nhiên, chúng có nhược điểm là chưa làm nổi bật được mối liên hệ logic giữa những kiến thức,
Trang 26giữa các phần của chương trình Bởi vậy sau mỗi bài, mỗi phần hay mỗi chương cần phải tổ chức ôn tập và hệ thống hóa kiến thức cho người học Ôn tập tổng kết chính là hình thức nhằm phối hợp chặt chẽ giữa người học với tư liệu và GV trong quá trình dạy học Ôn tập tổng kết hoàn toàn không có nghĩa nhắc lại tất cả các chi tiết của các vấn đề đã học, lại càng không có nghĩa là lập một dàn bài, tập hợp tất cả các mục đã có trong từng bài Ôn tập tổng kết
là nêu lên được tất cả những khái niệm, những định luật, những quy tắc cơ bản của hệ thống kiến thức trong mối quan hệ hữu cơ của chúng [30]
Ôn tập tổng kết phải có tác dụng nâng cao trình độ hiểu biết của người học về tài liệu đã học Để làm được việc này không nhất thiết phải đưa những kiến thức mới vào nội dung ôn tập, tổng kết mà chủ yếu giúp người học có cái nhìn tổng quát về các vấn đề nghiên cứu riêng lẻ trước kia, khái quát hóa những tài liệu mà người học đã thu được thêm trong quá trình làm bài tập, làm thí nghiệm, thăm quan, bổ sung cho phần lý thuyết còn quá cô đọng được
ở trên lớp Cũng có những kiến thức cần ôn tập kĩ để phát triển thêm một số điểm mở rộng kiến thức mới trong bài học tiếp theo Ôn tập tổng kết phải có tác dụng giúp cho người học dễ nắm, dễ nhớ hệ thống kiến thức đã học để sau này họ có thể sử dụng trong bài tổng kết để ôn tập cuối năm, cần gợi ý các thủ thuật nhớ công thức, định luật Cách tốt nhất là tổng kết kiến thức thành bảng hoặc sơ đồ, đặc biệt là theo BĐTD
1.4 Mối quan hệ giữa ôn tập và kiểm tra đánh giá
Ôn tập nói chung được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công việc kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Những công việc mà đòi hỏi tính tích cực tự lực của SV nhiều hơn là khi giảng kiến thức mới Chúng ta có thể hợp nhất hoàn toàn tự giác cả ôn tập và kiểm tra vào làm một Tuy nhiên mục đích của ôn tập và kiểm tra hoàn toàn khác nhau Ở trường hợp thứ nhất là công tác củng cố tri thức, ở trường hợp thứ hai là việc kiểm tra chúng với sự
Trang 27cho điểm (đánh giá) thích đáng Tất cả mặc dù ở từng mục đích khác nhau nhưng ôn tập và kiểm tra tiến hành một cách đồng thời Bất kỳ việc ôn tập nào của GV (do GV tổ chức) cũng đồng thời tiến hành cả kiểm tra tri thức, mặc dù người GV không có dụng ý đạt mục đích này đi nữa
Liên hệ giữa ôn tập và kiểm tra là vô cùng khăng khít, tổ chức ôn tập để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt đối hóa nó Ở đây công việc có thể tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố ôn tập trội hơn yếu tố kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại
Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm ) và việc đánh giá đúng trình độ nhận thức của SV qua kiểm tra giúp GV lựa chọn đúng nội dung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúp người học thể hiện tốt trình độ nhận thức của mình trong bài kiểm tra
Như vậy, ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm tra và thông qua các hình thức tổ chức dạy học cơ bản Việc tách riêng
ôn tập và kiểm tra là do mục đích, nhiệm vụ của mỗi công việc và chúng ta không thể tuyệt đối hóa từng công việc được Sự phân chia công việc như vậy trong tiết học chỉ mang tính tương đối Do đó trong quá trình dạy học, người
GV là người chủ động phân chia việc ôn tập, kiểm tra đánh giá là phù hợp và đạt kết quả cao
1.5 Vai trò của việc ôn tập trong dạy học Vật lý
- Ôn tập để biết được kiến thức một cách chắc chắn, hiểu được bản chất của hiện tượng Vật lý, các mối quan hệ hữu cơ giữa các khái niệm, định luật, quy tắc, tìm ra được cách nhớ nhanh, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy giải bài tập
- Ôn tập đóng vài trò tích cực trong việc tiếp thu bài mới
Trang 282 Cơ sở lý luận của việc sử dụng BĐTD trong ôn tập
2.1 Khái niệm và đặc điểm của BĐTD
BĐTD (tên tiếng Anh là Mind Map và còn được gọi là Sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy ) là một hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Nghĩa của cụm từ BĐTD không thể hiểu theo bản đồ thông thường như bản đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch lạc tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch lạc tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
BĐTD - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một
kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn
bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc Tony Buzan (người Anh) là một trong những người đi sâu nghiên cứu để tìm ra hoạt động của bộ não Theo Tony Buzan: “ một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ ” và màu sắc cũng
có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến BĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng đến hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh
Trang 29có liên kết với nhau, vì vậy, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, và lập kế hoạch công tác (một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý) [34 ]
Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, điều này khiến
MM có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được
2.2 Cách đọc BĐTD
Như chúng ta đã biết, bộ não con
người có tính đa chiều, hoàn toàn có khả
năng, thậm chí được cấu tạo để tiếp nhận
thông tin phi tuần tự Não được hoạt động
theo cách thức này mọi lúc: khi xem tranh
ảnh hoặc lý giải ảnh và môi trường xung
quanh [5] Vì vậy, việc đọc một BĐTD có
thể được tiến hành theo bất kỳ cách nào, có thể đọc theo một chiều nhất định hoặc có thể đọc các nhánh bất kỳ trên BĐTD Việc đọc các nhánh thường bắt đầu từ trung tâm rồi di chuyển dần ra phía ngoài Khi vẽ BĐTD, người vẽ có thể sắp xếp theo trật tự riêng của mình và khi đọc người đọc cũng có thể đọc theo trật tự riêng của họ mà họ cho là hợp lý để hiểu được nội dung của BĐTD đó Một số trường hợp đặc biệt yêu cầu phải đọc theo một chiều nhất định mới hiểu đúng nghĩa, hoặc khi dùng BĐTD để thuyết trình theo một
Trang 30trình tự nhất định thì ta có thể đánh số cho các nhánh theo đúng trình tự muốn
hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III, và cuối cùng là nhánh IV Các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong một nhánh chính [ 5 ]
2.3 Cách vẽ BĐTD
2.3.1 Công cụ vẽ BĐTD
Có hai cách để tạo ra BĐTD:
- Vẽ bằng tay: Để tạo BĐTD hiệu quả, bạn cần:
Chuẩn bị sẵn một tờ giấy trắng hoặc giấy khổ lớn, loại tốt và không dòng kẻ
Một loạt bút nhiều màu có nét mảnh, trung bình và đậm như đánh dấu
Tối thiểu 10 – 20 phút liên tục
Bộ não của bạn
- Vẽ bằng MVT, bạn có thể sử dụng các phần mềm MindMapping (Freemind, Conceptdraw MM profestional 5, Edraw MM, Mind Manager, iMindMap 5, ) với các hình ảnh trung tâm có sẵn trong thư viện hình ảnh của phần mềm hoặc tìm kiếm thông qua internet
Trang 312.3.2 Các bước lập BĐTD
BĐTD dựa trên các nguyên tắc cơ bản để bạn dễ dàng nhớ lại thông tin hơn
Để tạo một BĐTD bạn thực hiện như sau: [ 8]
Tập trung vào câu hỏi trọng tâm hay chủ đề cụ thể Xác định thật rõ mục tiêu bạn hướng đến hoặc nổ lực giải quyết
Đầu tiên, hãy đặt tờ giấy nằm ngang và bắt đầu khởi tạo BĐTD ngay
giữa trang Điều này sẽ giúp bạn được tự do diễn đạt và không bị bó buộc bởi khuôn khổ chật hẹp của trang giấy
Vẽ một hình ảnh giữa trang giấy để biểu thị mục tiêu của bạn Đừng
bận tâm khi bạn cảm thấy mình vẽ không đẹp lắm, điều đó không quan trọng Quan trọng là bạn sử dụng hình ảnh này làm điểm bắt đầu của BĐTD bởi hình ảnh sẽ khởi động não bằng cách kích hoạt trí tưởng tượng
Dùng màu sắc ngay từ đầu để thể hiện sự nhấn mạnh, kết cấu, bố cục,
sáng tạo – nhằm gợi tính trực quan và khắc họa hình ảnh vào não Cố gắng dùng ít nhất ba màu và tạo ra hệ thống mã màu riêng của bạn Có thể dùng màu để thể hiện thứ bậc, chủ đề hoặc nhấn mạnh những điểm nào đó
Bây giờ, hãy vẽ một loạt đường liên kết nét đậm, tạo ra từ trung tâm của hình ảnh Đây là các nhánh chính của BĐTD giống như các cành lớn của cây, có tác dụng triển khai ý tưởng của bạn Hãy nhớ liên kết
thật chặt chẽ các nhánh chính này với hình ảnh trung tâm vì não và trí nhớ hoạt động nhờ liên tưởng
Vẽ đường liên kết dạng cong để thu hút mắt và giúp não dễ ghi nhớ
Viết lên mỗi nhánh một Từ then chốt sẽ giúp bạn liên tưởng đến chủ đề
Đây là các ý chính (và ý chủ đề) của bạn, các ý này bao gồm những mục như: tình huống, cảm tưởng, sự kiện, chọn lựa Hãy nhớ rằng sử
Trang 32dụng từ then chốt trên mỗi đường liên kết cho phép bạn thấy rõ bản
chất của vấn đề đang xem xét, đồng thời giúp liên tưởng được in sâu
trong não Sử dụng cụm từ và câu sẽ hạn chế tác dụng này và gây rối rắm cho trí nhớ
Thêm một vài nhánh trống vào BĐTD Não sẽ cần bổ sung thông tin
vào các nhánh này
Hãy tạo các nhánh cấp hai và cấp ba cho những ý liên tưởng và ý phụ
Cấp hai liên kết với các nhánh chính, cấp ba liên kết với nhánh của cấp hai, Toàn bộ quá trình này được tạo thành hoàn toàn nhờ liên tưởng
Các từ bạn chọn cho mỗi nhánh có thể là các đề tài nêu câu hỏi: Ai, cái
gì, ở đâu, tại sao, bằng cách nào? về môn học hay tình huống nào đó
Biến ý tưởng thành hành động: BĐTD hoàn chỉnh vừa là bức tranh mô
tả ý tưởng của bạn, vừa là giai đoạn đầu tiên của việc chuẩn bị phương hướng hành động Việc xác lập ưu tiên và tầm quan trọng cho các đề mục, kết luận của bạn có thể được thực hiện rất đơn giản bằng cách đánh số ở mỗi nhánh của BĐTD
2.4 Các quy tắc chỉ đạo trong BĐTD
Mục tiêu của các quy tắc BĐTD là giúp ta phát huy – chứ không phải kìm hãm – sự tự do trong tư duy Vì vậy nhất thiết không được nhầm lẫn giữa trật tự
và sự cứng nhắc, tự do và hỗn độn Chúng ta thường có quan niệm tiêu cực, xem
là cứng nhắc, kìm hãm Tương tự chúng ta cũng lầm tưởng tự do là hỗn độn và
thiếu tổ chức Thực ra, tự do trong tư duy chính là khả năng xây dựng trật tự từ
sự hỗn độn [ 8] Những quy tắc BĐTD sẽ giúp bạn làm điều này
Các quy tắc BĐTD chia thành hai nhóm: quy tắc kỹ thuật và quy tắc bố trí
Các quy tắc kĩ thuật:
- Nhấn mạnh
Luôn dùng hình ảnh trung tâm
Trang 33 Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong BĐTD
Mỗi ảnh trung tâm dùng ít nhất ba màu
Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ
Viết in từ khóa trên vạch liên kết
Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài
Các vạch liên kết nối với nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm
Vạch liên kết trung tâm dùng nét đậm
Trang 34Các quy tắc bố trí:
- Trình tự phân cấp: Từ từ khóa hình ảnh trung tâm hay từ một ý chủ
đạo được triển khai ra hàng loạt các ý con, việc phân cấp các phân hạng tức sắp xếp vị trí các ý con tùy thuộc vào mức độ quan trọng của chúng, mang lại hiệu quả to lớn trong việc nâng cao năng lực tư duy của não
- Trình tự đánh số: Nếu phải sử dụng BĐTD để truyền đạt ý tưởng của
mình theo trình tự cụ thể, theo thứ tự thời gian hoặc theo mức độ quan trọng, bạn có thể đánh số các nhánh BĐTD theo trình tự mong muốn, trong trường hợp cần thiết, có thể phân bố cả thời gian hay mức độ nhấn mạnh phù hợp cho từng nhánh
2.5 Ưu điểm của ghi chú bằng BĐTD so với kiểu ghi chú thông thường
So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp dùng BĐTD có những điểm vượt trội như sau [ 7]
Chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50 – 95% thời gian
Chỉ đọc các từ liên quan, tiết kiệm hơn 90% thời gian
Thời gian ôn bài ghi chú dạng BĐTD tiết kiệm 90%
Tránh lãng phí thời gian dò tìm các Từ khóa trong một rừng chữ dông dài, tiết kiệm trên 90% thời gian
Tăng cường tập trung vào trọng tâm
Dễ dàng nhận biết những Từ khóa thiết yếu
Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những Từ khóa thiết yếu
Tạo mối liên kết mạch lạc tối ưu giữa các Từ khóa
Không như với bản ghi chú tuần tự đơn điệu, tẻ nhạt, não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ những BĐTD kích thích thị giác, đa sắc và đa chiều hơn
Suốt quá trình thực hiện BĐTD, chúng ta luôn bắt gặp các cơ hội khám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận
Trang 35 Lập BĐTD hòa điệu với bản năng khát khao tự điền chỗ khuyết và tìm
sự hoàn thiện của bộ não, nhờ đó khôi phục bản năng hiếu học
Nhờ liên tục vận dụng mọi kỹ năng của vỏ não mà não ngày càng linh hoạt, tiếp nhận hiệu quả, và tự tin vào khả năng của mình hơn
2.6 Ý nghĩa của BĐTD
BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của não bộ MM hoạt động dựa trên hai nguyên tắc chủ chốt là tưởng tượng và liên kết Não bộ của con người chính là bộ máy nhân và nó nhân các
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong BĐTD đã kết hợp hoạt động của cả hai bán cầu não trái và phải Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ
và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não
2.7 Ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học
Trang 36
Ứng dụng trong tóm tắt nội dung và ôn tập thi cử
Trang 37Ứng dụng trong làm việc tổ, nhóm
Trang 38Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học
Như vậy, BĐTD liên quan mật thiết với chức năng của tƣ duy và có thể
đƣợc dùng trong hầu hết mọi hoạt động liên quan đến tƣ duy, nhớ lại, hoạch định hay sáng tạo Hình phía trên là một BĐTD mô tả các ứng dụng của BĐTD, đặc biệt là trong lĩnh vực học tập với đầy đủ các chức năng hữu hiệu cho việc nghe và ghi giảng, đến việc ôn tập để khắc ghi đào sâu kiến thức
Trang 392.8 Tác dụng của BĐTD trong việc rèn kỹ năng học tập
Đối với nhóm kỹ năng nhận thức học tập, BĐTD giúp người học tìm kiếm,
khai thác các nguồn thông tin một cách nhanh chóng, khoa học Nhờ sự hỗ trợ của BĐTD mà các ý tưởng trở nên rõ ràng giúp cho người học trong việc xử
lý, tổ chức, đánh giá thông tin và nôi dung học tập một cách có hệ thống BĐTD giúp người học:
- Ghi nhớ chi tiết cấu trúc đối tượng hay sự kiện mà chúng chứa các mối liên hệ phức tạp hay chằng chéo
- Tổng kết dữ liệu
- Động não về một vấn đề phức tạp
- Trình bày thông tin để chỉ ra cấu trúc của toàn bộ đối tượng
- Khuyến khích làm giảm sự miêu tả của mỗi ý mỗi khái niệm xuống thành một từ (hay từ kép)
- Toàn bộ ý của giản đồ có thể "nhìn thấy" và nhớ bởi trí nhớ hình ảnh Đối với nhóm kỹ năng giao tiếp, BĐTD có thể giúp người học trình bày vấn
đề một cáh rõ ràng mạch lạc hơn Nhiều nội dung không cần trình bày bằng văn bản rườm rà mà chỉ cần thông qua BĐTD với các từ khóa trên đó giúp người đọc hiểu được nội dung cần trình bày một cách logic
Một thí dụ điển hình là việc đọc sách nghiên cứu khoa học, thay vì chỉ đơn thuần đọc, dùng giản đồ ý trong khi đọc mỗi lần nảy ra được vài ý hay hoặc ý quan trọng thì chỉ thêm chúng vào đúng vị trí trong cái giản đồ Sau khi đọc xong cuốn sách thì người đọc sẽ có được một trang giấy tổng kết tất
cả những điểm hay và mấu chốt của cuốc sách đó Có thể thêm thắt vào nhiều
ý tưởng nghĩ ra trong lúc đọc Điều này sẽ làm tăng chất lượng hấp thụ kiến thức từ cuốn sách
Trang 403 Thực trạng việc ôn tập kiến thức Vật lý của sinh viên thông qua việc sử dụng BĐTD
3.1 Thực trạng
Mục đích của đề tài là xây dựng tiến trình hướng dẫn SV ôn tập, hệ
thống hóa kiến thức phần “Điện học” chương trình Vật lý đại cương cho trường Cao đẳng Công nghiệp với sự hỗ trợ của BĐTD, nhằm phát huy tính tích cực, khả năng tự lực nghiên cứu tài liệu của SV và góp phần nâng cao kết quả học tập của sinh viên Do đó, để tìm hiểu thực trạng này, chúng tôi đã điều tra, thăm dò ý kiến của GV và SV của 3 trường Cao đẳng trong tỉnh Phú Thọ: Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực Phẩm, trường Cao đẳng Công nghiệp hóa chất, trường Cao đẳng kinh tế Phú Thọ
Tiến hành thăm dò ý kiến của một số GV giảng dạy ở một số môn học
và các SV ở 3 trường đó, chúng tôi nhận thấy:
Về ôn tập và hệ thống hóa kiến thức: Hầu hết GV đều cho rằng việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đóng vai trò quan trọng, nó giúp cho SV hệ thống toàn bộ kiến thức đã học ở một chương, một phần hay một môn học nào đó Tuy nhiên trong mỗi tiết ôn tập, GV thường chỉ dành thời gian thực hiện theo đúng hệ thống câu hỏi và bài tập có sẵn trong bài giảng hoặc GV chỉ giải đáp những vấn đề SV chưa hiểu GV ít hướng dẫn SV cách ôn tập bằng cách tổng hợp và hệ thống kiến thức theo logic kiến thức của bài, chương hay môn học nào đó Do đó, SV phải tự nghiên cứu SGK, bài giảng để tổng hợp kiến thức, một số SV chưa nhìn ra được đâu là kiến thức trọng tâm cần ghi nhớ
Về sử dụng BĐTD: BĐTD còn khá mới mẻ đối với GV, việc sử dụng BĐTD trong dạy học hầu như là rất ít, các GV của 3 trường đều chưa được tham gia lớp tập huấn về sử dụng BĐTD trong dạy học, chủ yếu là do các GV tìm hiểu thêm để phục vụ cho việc dạy học của mình mà thôi, một số GV sử dụng được thì thường sử dụng trong các tiết ôn tập Còn đối với SV thì cụm