- Quan điểm kết hợp nông nghiệp – nông dân – nông thôn theo phát triển nông nghiệp, nông thôn xanh và bền vững: Khi nghiên cứu vấn đề xây dựng NTM cần phải chú ý ưu tiên trên những khí
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯƠNG THÀNH CÔNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯƠNG THÀNH CÔNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60 31 0501
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Như Vân
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Như Vân
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là: trung thực, chưa hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào
Các thông tin đã trích dẫn trong luận văn, được ghi rõ nguồn gốc đã trích dẫn
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của: các thầy cô giáo và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với: Thầy giáo Tiến sĩ Vũ Như Vân nguyên giảng viên khoa Địa lí, Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện, Phòng Tài nguyên
và Môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Tài chính, Phòng nông nghiệp, Ủy ban nhân các xã: La Hiên; Lâu Thượng; Phú Thượng Huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Xin cảm ơn: các cơ quan, các thầy cô giáo, anh chị em đồng nghiệp và gia đình đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Mục lục iii
Danh mục bảng iv
Danh mục hình v
MỞ ĐÂU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Nhận thức chung về phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững 9 1.1.2 Lý luận về xây dựng nông thôn mới 22
1.1.3 Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới 25
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới 28
1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới 28
1.2.2 Trong nước 31
Chương 2: CÁC NHÂN TỐ ĐỊA LÝ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VÕ NHAI - TỈNH THÁI NGUYÊN 42
2.1 Các nhân tố địa lý ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới ở huyện vùng cao Võ Nhai -Thái Nguyên 42
2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 42
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 43
2.1.3 Đặc điểm dân cư, xã hội 53
2.1.4 Tình hình phát triển các ngành kinh tế 56
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội nông thôn ở huyện Võ Nhai -Thái Nguyên 57
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế 57
2.2.2 Cơ sở hạ tầng 58
2.2.3 Lĩnh vực xã hội 59
Trang 62.3 Hiện trạng triển khai xây dựng NTM tại Võ Nhai – Thái Nguyên 61
2.3.1 Triển khai văn bản hướng dẫn 61
2.3.2 Tiến độ thực hiện và kết quả đạt được của Chương trình NTM 63 2.3.3 Những thuận lợi, khó khăn của huyện khi triển khai chương trình xây dựng NTM 66
2.4 Thực trạng triển khai xây dựng NTM ở các xã thí điểm 67
2.4.1 Xã Phú Thượng – Võ Nhai 67
2.4.2 Xã Lâu Thượng – Võ Nhai 70
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ LA HIÊN, HUYỆN VÕ NHAI - THÁI NGUYÊN 75
3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thiết kế mô hình nông thôn mới ở xã La Hiên -Võ Nhai-Thái Nguyên 75
3.1.1 Đánh giá chung 75
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 76
3.1.3 Dân cư – lao động 79
3.1.4 Kinh tế 79
3.2 Kết quả lãnh đạo thực hiện Chương trình xây dựng NTM của xã La Hiên – Võ Nhai 82
3.2.1 Công tác chỉ đạo, tuyên truyền 82
3.2.2 Kết quả rà soát và ban hành văn bản thực hiện xây dựng NTM 83 3.2.3 Tiến độ thực hiện và kết quả của Chương trình 84
3.2.4 Tiêu chí xây dựng NTM xã La Hiên – Võ Nhai 87
3.3 Định hướng xây dựng NTM xã La Hiên hướng tới 2015 - 2020 91
3.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận chung 91
3.3.2 Mục tiêu cụ thể 91
3.3.3 Yêu cầu chung của không gian tổng thể toàn xã 93
3.3.4 Dự báo tiềm năng 94
Trang 73.4 Những nhiệm vụ cần làm trong thời gian tới 99
3.5 Giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng NTM ở huyện Võ Nhai 103
3.5.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 103
3.5.2 Nội dung các giải pháp 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bộ tiêu chi xây dựng NTM vùng TDMN phia Bắc 26
Bảng 1.2 Số lượng xã đạt tiêu chí nông thôn mới 33
Bảng 2.1: Một số loại đất chính của huyện Võ Nhai năm 2008 47
Bảng 2.2: Hiện trạng rừng ở huyện Võ Nhai, Tỉnh Thái Nguyên năm 2010 51 Bảng 2.3: Hiện trạng dân số và đất ở huyện Võ Nhai năm 2011 55
Bảng 2.4 Bình quân lương thực trên đầu người/tháng (Đơn vị: Kg) 56
Bảng 2.5: Thu nhập bình quân đầu người 56
Bảng 2.6: Tình hình tăng trưởng kinh tế của huyện Võ Nhai năm 2012 58
Bảng 3.1: Phân bố các loại đất 77
Bảng 3.2: Các loại đất chính 78
Bảng 3.3: Bộ tiêu chí xây dựng NTM xã La Hiên 2015 87
Bảng 3.4 Dự báo tốc độ tăng dân số xã La Hiên 96
Bảng 3.5 Xác định quy mô dân số cho các khu dân số cho từng xóm 97
Bảng 3.6 Xác định chỉ tiêu dùng đất cho từng nhóm hộ 98
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Lược đồ hành chính huyện Võ Nhai 43 Hình 2.2 Lược đồ cơ cấu dân tộc và số dân của huyện Võ Nhai Năm 2011 54 Hình 3.1 Sơ đồ không gian tổng thế NTM xã La Hiên đến năm 2015 - 2020 94
Trang 10MỞ ĐÂU
1 Lí do chọn đề tài
Xây dựng NTM là một trong những chương trình lớn của Đảng và Nhà nước có tầm quan trọng hàng đầu, nhằm tạo sự chuyển biến trong sản xuât nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 về
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, sau 22 năm đổi mới, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã có những thay đổi lớn lao, đời sống nông dân đã được cải thiện một bước quan trọng
Tuy nhiên, so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới thì nông nghiệp, nông thôn nước ta nói chung, đặc biệt là khu vực nông thôn ở vùng cao nói riêng vẫn còn nhiều yếu kém Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, về cơ bản vẫn là tự phát; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy có những biến đổi tích cực về điện, đường, trường, trạm song vẫn lạc hậu; mức sống vật chất, văn hoá, y tế, giáo dục của cư dân nông thôn được cải thiện một bước nhưng còn ở mức thấp và đặc biệt ngày càng có khoảng cách xa so với
đô thị; mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng; chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở (xã, thôn, xóm, bản…), nhất là năng lực quản lý điều hành của cán
bộ còn nhiều hạn chế Tước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đặt ra nhiệm
vụ cấp bách là đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp trên khắp các vùng miền cả nước
Trong lộ trình chung đó, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đang nỗ lực triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, đem lại kết quả ban đầu, góp phần cải thiện môi trường kinh tế - xã hội Tuy nhiên, đời sống của nhân dân các dân tộc nhìn chung còn thấp, phong tục, tập quán canh tác còn lạc hậu, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất chưa nhiều Từ đó, vấn đề đặt ra là cần phải có những chiến lược cụ thể về xây dựng nông thôn
Trang 11mới ở huyện vùng cao Võ Nhai – Thái Nguyên, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạo cơ sở vật chất cho
sự tiến bộ xã hội theo hướng nông nghiệp nông thôn phát triển bền vững Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn hướng nghiên cứu:
“Nghiên cứu xây dựng mô hình NTM ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020”
Đề tài được triển khai dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Như Vân,
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Địa lí Trường ĐHSP Thái Nguyên, sự
hỗ trợ nhiệt tình và có hiệu quả của các ban ngành thuộc UBND huyện Võ Nhai, UBND xã La Hiên; xã Lâu Thượng và xã Phú Thượng huyện Võ Nhai
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Xây dựng NTM là vấn đề quan trọng được sự quan tâm của Đảng, nhà nước và nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà Địa lí Đó là tác phẩm Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam của Đặng Văn Phan (Nxb Giáo dục,
2008, 283 tr.) Đặng Văn Phan và Vũ Như Vân nghiên cứu sâu về Phát triển nông nghiệp bền vững: diễn giải, nội hàm và cách tiếp cận thực tiễn (Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 3 năm 2008 [9; 10]
Một nguồn tư liệu quí về huyện Võ Nhai như Luận án Thạc sỹ Địa lý của
Dương Quỳnh Phương: “Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên
thiên nhiên ở huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên” (bảo vệ 1998); và mới nhất
là tác phẩm: “Chỉ số phát triển con người (HDI) tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
1999 – 2009” của TS Vũ Vân Anh (NXB Đại học Thái Nguyên 2012)
[11;1]
Vấn đề xây dựng NTM đang trở thành nhiệm vụ quan trọng của các địa phương Chỉ riêng với tỉnh Thái Nguyên đã có một số nghiên cứu có giá trị đối với huyện Võ Nhai, đó là một nguồn tài liệu với độ tin cậy cao như:
(1) Các văn bản pháp lí về quy hoạch xây dựng NTM gồm: Nghị quyết
Trang 12dân, nông thôn; Quyết định số 193/QGG-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ v/v Phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng NTM; Quyết định 491/2009/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ v/v Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia NTM; Thông tư 54/TT-Bộ NN&PTNN ngày 21/8/2009 v/v
“Hướng dẫn thi hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; Quyết định số 800/Đ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ v/v Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dưng NTM giai đoạn 2010 – 2020; Thông tư số 09/2010 /TT-BD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng v/v Qui định lập nhiệm vụ, đồ án qui hoạch và quản lí qui hoạch xây dựng NTM;
(2) Về Xây dựng NTM tỉnh Thái Nguyên có các văn bản cơ bản: Đó là
Thông báo kết luận của BCH Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên số 164 /TB-TU ngày 9/5/2011 v/v Thông qua một số Chương trình, đề án phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định
số 112/Đ-SD ngày 04/8/2011 của Sở Xây dựng Thái Nguyên v/v Ban hành hướng dẫn tổ chức lập qui hoạch xây dựng NTM trên địa bàn Thái Nguyên; Quyết định số 253/Đ-STNMT ngày 9/8/2011 của Sở TN&MT Thái Nguyên v/v Hướng dẫn lập, thẩm định qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến cấp xã; Quyết định số 2412/SNN&PTNN-KHTC ngày 9/8/2011 của Sở NN&PTNN Thái Nguyên v/v Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cấp xã theo
Bộ Tiêu chí quốc gia về NTM tỉnh Thái Nguyên; Hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ đồ án qui hoạch chung xây dưng NTM các xã trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
(3) Về xây dựng NTM huyện Võ Nhai có một số văn bản quan trọng:
Nghị quyết số 85/QĐ/HU ngày 5/11/2010 của ban thường vụ huyện uỷ Võ Nhai về việc thành lập ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 ( khoá 10) về nông nghiệp, nông thôn, nông dân; Quyết định số 2529/ QĐ-UBNN ngày 30/9/2011 của UBND huyện Võ Nhai về việc thành lập tổ công tác
Trang 13hướng dẫn thực hiện công tác quy hoạch và chương trình xây dựng NTM huyện Võ Nhai
(4) Về xây dựng NTM xã La Hiên, huyện Võ Nhai có một số tư liệu quan
trọng : (10 Báo cáo Tình hình triển khai thực hiện Chương trình xây dựng
NTM giai đoạn 2011 – 2015 xã La Hiên, Võ Nhai, ngày 10 / 6 / 2012; (2) Thuyết minh Quy hoạch chung xây dựng NTM xã La Hiên, Võ Nhai Thái Nguyên; (3) Báo cáo Công tác triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM ngày 16/7/ 2012;
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích tổng quan về lí luận cũng như thực tiễn xây dựng nông thôn mới trong điều kiện Việt Nam, làm cơ sở lí luận cho việc xây dựng NTM ở huyện Võ Nhai - một trong những huyện khó khăn, chậm phát triển của tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Thông qua nghiên cứu thiết kế mô hình không gian tổng thể nông thôn mới xã La Hiên – Võ Nhai góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới cho
huyện Võ Nhai – Thái Nguyên
Trang 144 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu về nội dung lý luận cũng như
thực tiễn xây dựng NTM nói chung, tập trung vào xã La Hiên - một trong 3 xã thí điểm xây dựng nông thôn mới của huyện Võ Nhai
Về lãnh Thổ: nghiên cứu xây dựng nông thôn mới huyện Võ Nhai, tập
trung vào địa bàn xã La Hiên
Về thời gian, nghiên cứu tình hình xây dựng NTM ở huyện Võ Nhai giai
đoạn 2011 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020
5 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống: Huyện vùng cao Võ Nhai – Thái Nguyên được
xem là một hệ thống lãnh thổ kinh tế- xã hội Trong đó, cộng đồng các dân tộc, tính bản địa, đặc điểm địa hình và tài nguyên rừng có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau Các bộ phận lãnh thổ hành chính của huyện (xã, bản, tiểu vùng) là các hệ thống cấp thấp hơn tác động qua lại với nhau trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên đã được phân tích gắn với những đặc thù của huyện về các mặt vị trí địa
lý, lịch sử phát triển, truyền thống phong tục tập quán của từng dân tộc và định hướng phát triển Trên cơ sở đó, thấy được mức độ tác động khác nhau của vấn đề phát triển NTM đến bộ mặt nông thôn và đời sống của người dân ở huyện Võ Nhai – Thái Nguyên
- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm tự
nhiên của địa phương không chỉ thay đổi theo không gian mà còn thay đổi theo thời gian Vì thế, khi nghiên cứu về vấn đề xây dựng mô hình NTM của huyện vùng cao Võ Nhai phải đứng trên quan điểm lịch sử sẽ thấy được một cách sâu sắc sự biến đổi của chúng và phân tích được các nguyên nhân Từ đó
Trang 15có thể đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng mô hình NTM cho phù hợp với đặc điểm địa phương
- Quan điểm kết hợp nông nghiệp – nông dân – nông thôn theo phát triển
nông nghiệp, nông thôn xanh và bền vững: Khi nghiên cứu vấn đề xây dựng
NTM cần phải chú ý ưu tiên trên những khía cạnh bảo đảm sự phát triển bền vững của các yếu tố và của cả tổng thể, để đạt được mục tiêu là phát triển cân bằng, ổn định và lâu dài Mọi phương hướng và giải pháp về phát triển phải xuất phát từ quan điểm này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Thu thập tài liệu
5.2.1.1 Tài liệu sơ cấp
- Nội dung theo 19 tiêu chí đánh giá NTM
- Hình thức tổ chức điều tra, đi thực tế / thực địa, trao đổi tham vấn các cán bộ và quản lý địa phương về đánh giá cũng như xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã, qua đó rút kinh nghiệm và nhân rộng trong điều kiện tương
tự của huyện Võ Nhai – Thái Nguyên
5.2.1.2 Tài liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ quan trong huyện và tỉnh: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê và phòng Thống kê của huyện Sử dụng các báo cáo thống kê định kỳ Các tài liệu, số liệu từ các ấn phẩm và các websites chuyên ngành
5.2.2 Các phương pháp tổng hợp số liệu thống kê
Bảng thống kê là hình thức biểu hiện các số liệu thống kê một cách có hệ thống, lôgíc nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng của các hiện tượng nghiên cứu
Trang 165.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý về xây dựng NTM hiện nay thông qua phỏng vấn sâu và trực tiếp Phương pháp chuyên gia được chúng tôi thực hiện có hiệu quả bằng việc trao đổi tham vấn với các vị lãnh đạo huyện Võ Nhai, đặc biệt là lãnh đạo xã La Hiên thông qua các buổi làm việc tư vấn với bà Chủ tịch xã Vi Thị Bích Liên về nội dung Chương trình xây dựng NTM xã La Hiên – Võ Nhai giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn 2020,
Bộ Tiêu chí xã nông thôn mới trong điều kiện miền núi khó khăn cho xã La Hiên và Sơ đồ qui hoạch không gian tổng thể của xã hưóng tới các năm mốc
2015 và 2020
5.2.4 Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo được sử dụng khá rộng rãi trong nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội Trong triển khai đề tài, chúng tôi quan tâm một số phương pháp có tính công cụ như: Phương pháp quan sát xã hội học; phương pháp phân tích và so sánh: Sau khi thu thập được tài liệu và tiến hành xử lý tài liệu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh làm cơ sở
cho việc thu thập, xử lý phù hợp với thực tế khách quan
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Các nhân tố địa lý ảnh hưởng và thực trạng xây dựng nông
thôn mới huyện Võ Nhai - Thái Nguyên
Chương 3 Thiết kế mô hình không gian tổng thể nông thôn mới xã La
Hiên huyện Võ Nhai - Thái Nguyên hướng tới năm 2015 – 2020
7 Những đóng góp của luận văn
Góp phần hệ thống hóa lý luận về nông thôn và xây dựng NTM trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế; vận dụng trong nghiên cứu quá
Trang 17trình xây dựng NTM sẽ được kiểm định và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện miền núi và vùng dân tộc khó khăn
Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng NTM tại huyện Võ Nhai và từng bước triển khai có hiệu quả xây dựng NTM tại mô hình xã sẽ góp phần nhân rộng trên địa bàn toàn huyện, qua đó góp phần thúc đẩy công cuộc xây dựng NTM trong điều kiện vùng cao khó khăn của tỉnh Thái Nguyên, và miền núi vùng dân tộc phía Bắc nói chung
8 Từ khoá
Nông thôn mới,
Tiêu chí nông thôn mới,
Mô hình nông thôn mới,
Thiết kế không gian tổng thể nông thôn mới
9 Danh mục các từ viết tắt
NTM - Nông thôn mới
UBND - Ủy ban nhân dân
KHKT – Khoa học kĩ thuật
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Nhận thức chung về phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững
Trong hai thập niên gần đây, nông nghiệp bền vững đã được định nghĩa với nhiều góc độ khác nhau, nhưng phổ biến nhất, theo Douglass G.K có thể phân thành 3 nhóm:
Nhóm thứ 1: Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía
cạnh kinh tế - kỹ thuật (technical-economic terms) Năng suất lao động tăng
và duy trì trong dài hạn, là bằng chứng cho sự tăng trưởng của nông nghiệp theo con đường bền vững
Nhóm thứ 2: Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía
cạnh sinh thái (ecological terms) Một hệ thống nông nghiệp gây ô nhiễm môi
trường, phá vỡ cân bằng sinh thái của hệ thống tự nhiên một cách không hợp
lí thì hệ thống đó không bền vững
Nhóm thứ 3: Nông ghiệp bền vững được nhấn mạnh vào khía cạnh con
người (human environment) Một hệ thống nông nghiệp: không cải thiện được
trình độ giáo dục, tình trạng sức khoẻ và dinh dưỡng của người nông dân thì
hệ thống đó không được xem là bền vững
Trong những thập niên cuối thế kỉ XX, Ủy ban Phát triển và Môi trường
thế giới (1987) đã đưa ra định nghĩa: Phát triển bền vững là phát triển đáp
ứng được những nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn thương năng lực đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, định nghĩa này được phổ biến nhanh
chóng và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, định nghĩa này không có sức thuyết phục các nước mà vấn đề nghèo đói còn nghiêm trọng, thu nhập của đại bộ phận dân cư còn thấp Cũng có một số định nghĩa khác như: Ropetto (1987) cho rằng một trong những định nghĩa cơ bản của phát
Trang 19triển nông nghiệp bền vững trong một thế giới mà tình trạng suy dinh dưỡng
và nghèo đói còn phổ biến, sản xuất nông nghiệp phải gia tăng đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực - thực phẩm và đảm bảo cho giá giảm dần; Ủy ban Tư vấn
kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc (Technical Advisory Committe - TAC, 1989) nhấn mạnh rằng, mục tiêu của nông nghiệp bền vững là duy trì sản xuất nông nghiệp ở mức độ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng của việc mở rộng
về dân số thế giới mà không làm suy thoái môi trường
Một vài diễn giải khác đáng quan tâm: Nijkamp, Bergh và Soetoman (1990) cho rằng, sự bền vững được xem như là sự cân bằng được đảm bảo giữa phát triển kinh tế và bền vững sinh thái; Pearce và Turner (1990) sự phát triển nông nghiệp bền vững đựơc diễn giải là sự tối đa hoá lợi ích cho sự phát triển kinh tế trên cơ sở duy trì chất lượng các nguồn lực tự nhiên theo thời gian và tuân thủ các quy luật sau: (a) đối với những tài nguyên có thể phục
hồi (rừng, đất, lao động) việc sử dụng phải đảm bảo ở mức thấp hơn so với
khả năng tái sinh tự nhiên của chúng; (b) đối với tài nguyên không phục hồi
(máy móc, vật tư nông nghiệp), việc tối ưu hoá hiệu quả sử dụng chúng phụ thuộc vào khả năng thay thế của các nguồn lực này (ví dụ: sử dụng phân bón
để tăng sản lượng thay thế cho việc tăng sản lượng bằng diện tích) và tiến bộ
khoa học - kỹ thuật
Các diễn giải dẫn ra ở trên cho thấy: chưa có sự đồng thuận giữa các nhà kinh tế học về khái niệm nông nghiệp bền vững Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế học đều nhận định rằng, phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình phát triển mà trong đó có sự ràng buộc giữa tăng trưởng nông nghiệp với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường con người ở nông thôn Do đó,
để nắm được bản chất của phát triển nông nghiệp bền vững, những mối quan
hệ ràng buộc này cần được xem xét
Trước hết, đó là tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên Theo
Haen (1991), tất cả các hình thức của sản xuất nông nghiệp đều liên quan đến
Trang 20sự biến đổi của hệ thống sinh thái, mong muốn rằng nên tiến hành sản xuất nông nghiệp như trong tình trạng nguyên thủy của tự nhiên là không thực tế
Sự thách thức ở đây là, việc can thiệp vào tự nhiên bằng cách nào đó để thực hiện sự cân bằng có thể chấp nhận được giữa lợi ích mang lại từ việc sử dụng các nguồn tự nhiên cho sản xuất với lợi ích do việc giữ gìn chức năng sinh thái của nó Nhấn mạnh vào khía cạnh cân bằng sinh thái là sự phản ánh mong muốn của xã hội đối với việc giữ gìn môi trường tự nhiên, đồng thời đó cũng là lợi ích dài hạn của sản xuất nông nghiệp vì sự lệ thuộc vào độ màu
mỡ của đất, chất lượng của nguồn nước và khí hậu
Một số nước phát triển trên thế giới đang định hướng lại sản xuất nông nghiệp theo hướng nhấn mạnh hơn về nhân tố sinh thái Chắc chắn rằng không phải vì nhu cầu giảm về nông sản, mà vì thực tiễn của sản xuất nông nghiệp hiện đại đã dẫn tới sự phá hỏng môi trường sinh thái, hủy diệt nhiều sinh vật, làm suy thoái hệ thống đất, nước, biến đổi khí hậu cục bộ và toàn cầu
Theo dự báo của FAO: trong những thập niên tới 80% tổng sản lượng nông sản sẽ được sản xuất trên diện tích được tưới tiêu chủ động Như vậy, vấn đề cốt lõi của sự mất cân bằng sinh thái không phải là tốc độ phát triển nông nghiệp hoặc tăng trưởng nông nghiệp mà là phương thức để thực hiện
sự tăng trưởng
Thứ hai, sự tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn Rao
C.H.H và Chopra K (1991) nhấn mạnh mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp - suy thoái môi trường - nghèo đói ở nông thôn Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức được thực hiện là: hình thức sản xuất
quảng canh (Extensification) tăng sản lượng chủ yếu do mở rộng diện tích, và hình thức sản xuất thâm canh (Intensification) tăng năng suất trên một đơn vị
diện tích bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào do ngành công nghiệp hóa chất cung cấp Đối với phương thức quảng canh: do bóc lột qua
Trang 21mức chất các chất dinh dưỡng tự nhiên trong đất, mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu bởi phá rừng Nông nghiệp sẽ tăng trưởng trong ngắn hạn Khi môi trường tự nhiên suy thoái, năng suất sẽ giảm, giảm thu nhập Trong khi dân số tăng thêm và hệ quả là thất nghiệp và nghèo đói xuất hiện Đối với phương thức thâm canh, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng
nhanh, người ta thường lạm dụng các hóa chất (phân bón, thuốc trừ sâu)
Điều này sẽ làm suy thoái tài nguyên đất và nước, và một khi sự suy thoái xuất hiện, năng suất và thu nhập của nông dân sẽ giảm dần, trong khi dân số nông thôn và môi trường nông thôn không thu hút việc làm, tình trạng thất nghiệp sẽ tăng và nghèo đói sẽ xuất hiện
ShepheredA.(1998) cũng tranh luận về sự xuất hiện nghèo đói ở khía cạnh khác Ông cho rằng, ngay cả việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất mà đảm bảo được cân bằng sinh thái vẫn dẫn đến tình trạng nghèo đói Do đặc điểm của từng vùng địa lý, hiệu quả của việc ứng dụng các kỹ thuật mới
cũng khác nhau Ứng dụng kỹ thuật mới đòi hỏi tăng đầu tư (giống mới,
phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, cải tạo mặt bằng đồng ruộng về hệ thống thuỷ nông đồng) và cũng tăng rủi ro trong đầu tư Phần lớn nông dân có khả năng
áp dụng KHKT vào sản xuất là những hộ nông dân giàu, được áp dụng trong các vùng có lợi thế về tiềm năng tự nhiên và chính họ nhận được lợi ích từ việc áp dụng các kỹ thuật mới, sau đó với sự hỗ trợ của chính phủ thông qua trợ giá đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất và tín dụng ưu đãi, nhiều nông dân, kể cả nông dân trên các vùng có tiềm năng tự nhiên khác nhau, có thể áp dụng được kỹ thuật mới
Tuy nhiên, khi việc áp dụng KHKT mới trở nên phổ biến với đại bộ phận nông dân, tổng sản lượng sẽ tăng nhanh, giá nông sản giảm nhanh và
hệ quả là thu nhập của nông dân sẽ bị giảm, nhất là với nông dân nghèo trong các vùng có tiềm năng thấp, nếu quá trình này tiếp tục họ sẽ lỗ và bị
nợ nần; cuối cùng người nông dân sẽ từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số
Trang 22tiếp tục tăng, thất nghiệp và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng Một khi số nông dân nghèo đói gia tăng, thì đối với họ, việc đáp ứng nhu cầu tồn tại ở hiện tại là quan trọng nhất còn việc đáp ứng nhu cầu cho tương lai sẽ không thật sự có ý nghĩa
Do thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, chi phí của lao động sẽ thấp, họ sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng hoá với nguyên liệu chính từ tự
nhiên (gỗ, da thú ) của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn tự nhiên để kiếm thêm thu nhập (phá rừng, săn bắn, đánh bắt mọi loài
sinh vật với bất kể kích thước) Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục suy
thoái, thu nhập của họ tiếp tục giảm và rơi vào cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, như vậy một hệ thống nông nghiệp không đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể nào là một
hệ thống nông nghiệp bền vững được Do đó, nông nghiệp bền vững có thể đánh giá bởi một số chỉ tiêu liên quan đến xu hướng việc làm và tình trạng nghèo đói ở vùng nông thôn như: nghèo đói, thất nghiệp ở nông thôn
Thứ ba, tăng trưởng nông nghiệp và môi trường ở nông thôn Braun J.V
(1991) cho rằng quan tâm đến sự cân bằng của môi trường tự nhiên vẫn chưa
đủ, mà còn phải quan tâm đến môi trường mà trong đó người dân nông thôn sinh sống, đó là: những điều kiện về nơi ở, chất lượng nước và thực phẩm, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh, vệ sinh, văn hoá, dinh dưỡng và học vấn của nguồn nhân lực nông thôn
Thứ tư, tăng trưởng nông nghiệp và môi trường sức khoẻ – dinh dưỡng
Strauss (1986), Haddad và Bouis (1991) cho rằng: tăng trưởng nông nghiệp, cải thiện môi trường, sức khỏe, dinh dưỡng thường có ảnh hưởng tương hỗ Tăng trưởng nông nghiệp tạo ra việc làm, thu nhập và do đó góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng của nông dân Mặt khác tình trạng sức khỏe – dinh dưỡng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của nguồn lao động và năng suất lao động, và như vậy sẽ ảnh hưởng trở lại đối với tăng
Trang 23trưởng nông nghiệp Nhưng nếu tăng trưởng nông nghiệp được thực hiện bằng phương thức có thể ảnh hưởng làm suy thoái môi trường tự nhiên, thì điều này sẽ làm nông nghiệp tăng trưởng chậm, sẽ giảm đi ảnh hưởng tích cực của tăng trưởng nông nghiệp đối với việc cải thiện tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng Braun (1991) cũng nhận ra rằng nếu tăng trưởng nông nghiệp được thực hiện bởi phương thức mà ảnh hưởng tới suy thoái môi trường thì tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng của người dân nông thôn cũng bị ảnh hưởng một cách trực tiếp
Trong trường hợp ứng dụng phương thức thâm canh, nhưng do thiếu hoàn chỉnh về số lượng cũng như chất lượng của các công trình thuỷ lợi sẽ làm suy thoái chất lượng nước, gia tăng nhiều loại côn trùng (ruồi, muỗi, )
và điều này sẽ dẫn tới sự phát triển các bệnh như sốt rét, dịch tả, bệnh đường ruột Do sử dụng thuốc trừ sâu không thích hợp đã gây ra ngộ độc
(Nghiên cứu của Bull (1982) cho thấy rằng có tới nghìn người chết vì ngộ
độc do thuốc trừ sâu hàng năm trong các nước đang phát triển) Trong
trường hợp áp dụng phương thức quảng canh, phá rừng để mở rộng diện tích, sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái về nguồn nước và hệ quả là khô hạn, lũ lụt, thay đổi về khí hậu Điều này sẽ dẫn đến tình trạng không an toàn trong sản xuất lương thực, suy dinh dưỡng, nạn đói và hàng loạt bệnh tật liên quan đến lũ lụt, hạn hán sẽ xuất hiện
Thứ năm, tăng trưởng nông nghiệp và trình độ văn hoá của nông dân
Theo Alves (1991), con đường phát triển nông nghiệp qua phương thức thâm canh là có hiệu quả Phương thức này đòi hỏi việc sử dụng các kỹ thuật sinh học với giống mới, nhiều phân bón hơn, thay đổi về cơ cấu cây trồng trên đất, kết hợp nông - lâm - thuỷ sản, các kỹ thuật hoá - sinh để chống lại sâu - dịch bệnh Nếu các kỹ thuật này không làm suy thoái môi trường thì tăng trưởng
nông nghiệp sẽ đảm bảo bền vững Trình độ của nông dân thấp kém (tỷ lệ mù
chữ cao) thì rất khó khăn đối với họ để hiểu về các khái niệm bền vững, suy
Trang 24thoái môi trường và các kỹ thuật có thể làm suy thoái môi trường, trở thành rào cản cho việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, nhằm đem lại lợi ích cho nông dân và giữ gìn môi trường
Vậy, một hệ thống nông nghiệp: không đảm bảo được sự phát triển bền vững trong cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng và trình độ văn hóa cho nông dân thì không thể nào là một hệ thống nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững có thể được đánh giá qua một số chỉ tiêu liên quan đến tình trạng sức khỏe - dinh dưỡng và trình độ văn hóa của người dân nông thôn: tỉ
lệ trẻ em, người lớn suy dinh dưỡng, mù chữ; tỉ lệ tử vong của trẻ em sơ sinh;
tỉ lệ nông dân bị các bệnh chủ yếu liên quan đến môi trường
Thứ sáu, thách thức cho sự phát triển bền vững trong nông nghiệp Theo
quan điểm phát triển bền vững, việc khai thác quá mức về tài nguyên nông nghiệp đã tạo ra những thách thức lớn cho sự phát triển nông nghiệp bền vững, đó là:
(1) Nghèo đói: Các nước nông nghiệp đều là các nước đang phát triển,
cản trở lớn nhất cho sự phát triển là sự tồn tại phổ biến tình trạng nghèo đói Nghèo đói thể hiện ở chỗ yếu kém về an ninh lương thực, nông dân không có khả năng tiếp cận lương thực, thực phẩm, nghèo đói vừa là nguyên nhân, vừa
là hậu quả của sự chậm phát triển và không bền vững trong nông nghiệp
(2) Môi trường giảm cấp: Do nghèo đói, dân chúng phải khai thác quá
mức tài nguyên, trước hết là rừng và nguồn nước; điều này đã dẫn tới giảm cấp môi trường, hình thức canh tác du canh, du cư là nguyên nhân của sự xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi Môi trường giảm cấp thể hiện ở: sự suy thoái về tài nguyên đất, tài nguyên rừng và nước Hầu hết các nước đang phát triển đều phải đương đầu với những khó khăn này, cùng với hiện trạng môi trường giảm cấp, biến đổi khí hậu toàn cầu cũng
là thách thức lớn đối với nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đặc biệt là
Trang 25tại các đồng bằng ven biển đang đứng trước nguy cơ bị nhấn chìm dưới nước
do mực nước biển dâng cao vào cuối thế kỉ XXI
(3) Áp lực về dân số: Sự bùng nổ về dân số là nguyên nhân quan trọng
làm cho nông nghiệp chậm phát triển và không bền vững, mật độ dân số cao gây sức ép ngày càng lớn tới sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế
và chất lượng cuộc sống
(4) Tài nguyên giảm cấp: Các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất,
nước, rừng, thực vật bị giảm cấp nghiêm trọng và là kết quả của các nguyên nhân nói trên Sự giảm cấp này thể hiện ở chỗ: giảm sút về số lượng, thoái hoá về chất lượng, giảm khả năng đáp ứng nhu cầu ương thực, thực phẩm ngay trong ngắn hạn chứ chưa nói đến tương lai lâu dài
(5) Sử dụng quá mức các yếu tố đầu vào có nguồn gốc hoá học: Các yếu
tố đầu vào có nguồn gốc hoá học như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hiện đang được dùng ở mức cao Sự lạm dụng quá đáng các loại đầu vào này đã giảm khả năng vốn có của hệ sinh thái nông nghiệp, diệt trừ các sinh vật có lợi và tăng nguy cơ phá hoại của sâu bệnh, gây ô nhiễm các nguồn nước, không khí, tăng mạnh dư lượng các sản phẩm hoá học tồn đọng trong các nông sản có hại cho sức khoẻ người tiêu dùng, cần nhận thức đúng đắn về vai trò, cách sử dụng các đầu vào có nguồn gốc hóa học trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững
(6) Suy giảm đa dạng sinh học: Hậu quả của việc sử dụng và khai thác
quá mức tài nguyên thiên nhiên, đó là sự suy giảm đa dạng sinh học, quỹ gen ngày một nghèo đi, do đó làm giảm khả năng phát triển bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp
Qua phân tích các mối quan hệ ràng buộc nêu trên, thật khó mà có thể đưa ra định nghĩa đủ tầm phổ quát về phát triển nông nghiệp bền vững Thay
vì đưa ra một định nghĩa đơn trị, phát triển nông nghiệp bền vững có thể được diễn giải như sau:
Trang 26(1) Phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình phát triển nhằm đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên, đồng thời đảm bảo kinh tế phát triển bền vững trên mức nghèo đói cho người nông dân;
(2) Suy thoái về môi trường ở hiện tại là hệ quả của việc áp dụng các phương thức sản xuất trước đây, do đó để đạt tới trình độ nông nghiệp bền
vững (khắc phục hậu quả trước đây và áp dụng các phương thức sản xuất
mới gắn với giữ gìn cân bằng sinh thái) đòi hỏi một quá trình lâu dài;
(3) Trong ngắn hạn, phát triển nông nghiệp bền vững là mục tiêu cho các chính sách phát triển đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn
1.1.1.1 Nội hàm khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững
Mục tiêu chiến lược của các nước có khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp, giữ vai trò chi phối trong cơ cấu GDP, là xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững Nội hàm của khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các mặt cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tăng năng suất nông nghiệp một cách bền vững và ổn định
Chỉ có tăng năng suất mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp của xã hội Việc tăng năng suất này phải được thực hiện
một cách ổn định, bền vững và không bị chao đảo trước các “cú sốc” của kinh
tế thị trường Tăng năng suất nông nghiệp trước hết phải tăng hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm
để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp
Thứ hai, phân phối công bằng sản phẩm và tài nguyên nông nghiệp: Sự
phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các biện pháp thực hiện sự công bằng về phân phối, chia sẻ sản phẩm nông nghiệp và tài nguyên nông nghiệp Một hệ thống nông nghiệp càng công bằng bao nhiêu thì sự phân phối tài nguyên trong cộng đồng dân cư, trong một vùng và cả quốc gia càng công bằng bấy nhiêu, tuy nhiên để đạt được sự công bằng thường là điều khó Cách
Trang 27mạng xanh ở các nước thuộc thế giới thứ ba đã làm lợi cho các hộ nông dân sản xuất quy mô lớn hơn là cho các nông dân sản xuất qui mô nhỏ, đặc biệt tại các vùng nghèo, vì vậy chiến lược phát triển thủy lợi, phân bón, giống phải tính đến yếu tố công bằng xã hội cho sự phát triển nông nghiệp
Thứ ba, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Nông nghiệp chỉ có thể
phát triển bền vững khi tài nguyên thiên nhiên, đất, nước, rừng, biển - đảo được sử dụng hợp lí, giảm thiểu sự xuống cấp do áp dụng những kỹ thuật canh tác không phù hợp Trong chiến lược phát triển nông nghiệp cần phải tích hợp các nội dung bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên trong phát triển Nông-Lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Thứ tư, sự công bằng giữa các thế hệ và nâng cao chất lượng cuộc sống
Sự phát triển nông nghiệp được gọi là bền vững khi các hoạt động nông nghiệp hiện tại không ảnh hưởng xấu, trái lại chỉ làm tốt hơn các khả năng phát triển của thế hệ mai sau, việc giải quyết các vấn đề hôm nay sẽ làm cơ sở
để hạn chế và giải quyết các vấn đề nảy sinh ngày mai Thực trạng nghèo đói
là nguyên nhân cơ bản của sự tàn phá, giảm cấp tài nguyên đất và rừng, cần
có chiến lược giải quyết tốt những vướng mắc, nhất là ở những vùng có điều kiện sản xuất khó khăn, để làm được điều đó, sự tham gia của nhóm người hưởng lợi, sự công bằng lợi ích và khả năng tự lập là những yếu tố cơ bản của mọi chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn
Thứ năm, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững trong khuôn khổ
“Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam” với các nội dung như sau:
- Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách đồng bộ về phát triển nông nghiệp; bảo vệ tài nguyên và môi trường nông nghiệp;
- Quy hoạch phát triển nông thôn, khuyến khích đô thị hóa nông thôn một cách hợp lý Đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại kinh tế, giống cây trồng vật nuôi và sử dụng nguồn lao động ở nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến,
mở rộng sản xuất và thị trường sản phẩm nông nghiệp sạch;
Trang 28- Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi ruộng đất ở những vùng ruộng đất manh mún, xây dựng và thực hiện những chương trình nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sử dụng hợp lý nguồn nước ở các địa phương, củng cố và hoàn thiện hơn nữa hệ thống dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và thủy sản
- Thúc đẩy ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học, đồng thời bảo tồn nguồn gen, giống cây trồng, vật nuôi của địa phương, phát triển sản xuất phân bón hữu cơ, phân bón sinh học, phân bón phân giải chậm phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp sinh thái
1.1.1.2 Cách tiếp cận cho sự phát triển nông nghiệp bền vững
Sự bền vững trong phát triển nông nghiệp đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mới cho sự phát triển bền vững
Thứ nhất, tiếp cận nông nghiệp sinh thái: Với cách tiếp cận này, hệ
thống nông nghiệp ít sử dụng đầu vào, ít chi phí, chủ yếu dựa trên chu trình sinh học về năng lượng, dinh dưỡng và các tác nhân sinh thái trong sản xuất nông nghiệp Quản lý dịch hại bằng các biện pháp: tổng hợp và canh tác hữu
cơ là những ví dụ cho cách tiếp cận này, như vậy tùy trình độ phát triển và điều kiện của mỗi nước hay mỗi vùng mà có thể vận dụng kiểu tiếp cận nói trên trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững
Thứ hai, tiếp cận kiểu các nước công nghiệp phát triển: Cách tiếp cận
này tập trung vào một số sản phẩm nông nghiệp có thể bán được Để đạt năng suất cao hơn, sản xuất nông nghiệp cần sử dụng nhiều yếu tố đầu vào từ công nghiệp như thuốc bảo vệ thực vật, điện, phân bón hoá học Kiểu tiếp cận này đòi hỏi lượng vốn đầu tư khá lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng Hậu quả là giá thành một đơn vị sản phẩm thường là rất cao so với giá thành một sản phẩm cùng loại được sản xuất tại các nước đang phát triển Để duy trì sản xuất và giữ độc quyền xuất khẩu nông sản, các nước phát triển phải, một mặt, trợ cấp nông nghiệp, mặt khác, phải dựng ra các rào cản để hạn chế hoặc ngăn cản
Trang 29không nhập khẩu nông sản từ các nước đang phát triển, đó chính là nguyên nhân dẫn đến vòng đàm phán Dohah gần đây rơi vào bế tắc
Thứ ba, tiếp cận kiểu các nước đang phát triển: Nông nghiệp là khu vực
kinh tế chiếm tỉ trong cao trong cơ cấu GDP của các nước đang phát triển, là điều kiện quan trọng để các nước này, một mặt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước với số dân ngày càng tăng, mặt khác là nguồn xuất khẩu chủ yếu lấy ngoại tệ mạnh để trả nợ và mua hàng hoá từ các nước phát triển Các nước đang phát triển đi đầu trong triển khai nền nông nghiệp sinh thái, tiêu biểu là cuộc các mạng xanh ở Ấn Độ Nước này đã thành công trong việc giải quyết vấn đề tự túc lương thực và trở thành nước xuất khẩu nhiều nông sản quan trọng trên thị trường thế giới.Kinh nghiệm của Ấn Độ được áp dụng rộng rãi
ở nhiều nước đang phát triển Nhờ đó, các mô hình nông nghiệp sinh thái nhiệt đới châu Á gió mùa như ở Thái Lan, Phillipin, Indonessia, Việt Nam và Trung Quốc đã đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, vấn đề lương thực được giải quyết với hàng tỉ dân, đồng thời trở thành các nước xuất khẩu lương thưc với
tỷ trọng lớn trên thị trường quốc tế
Một số nước phát triển nông nghiệp với quy mô lớn, dưới hình thức đồn điền, phát triển theo hướng xuất khẩu vào thị trường các nước phát triển, kết cục là nông nghiệp càng phát triển Tuy nhiên, các nước đang phát triển do sức ép dân số quá lớn, trình độ phát triển quá thấp, nền nông nghiệp mang tính tự nhiên, quảng canh, dễ bị tổn thương do thiên tai và dịch bệnh, thường bị động về thị trường, giá cả và khả năng cạnh tranh Theo cách nào đi nữa thì các nước nghèo vẫn cứ đứng trước nguy cơ nghèo hơn, nạn thiếu đói lương thực thực phẩm là nguy cơ đe doạ hàng tỉ người thuộc thế giới thứ ba, đặc biệt là ở châu Phi, sự thất bại của vòng đàm phán Dohah về mở cửa thị thường nông sản vào các nước phát triển
là khó khăn lớn đối với các nước đang phát triển
Trang 30Thứ tư, tiếp cận 3N (nông nghiệp, nông dân, nông thôn): Thực tiễn
phát triển nông nghiệp ở hầu hết các nước đang phát triển cho thấy vấn đề nông nghiệp phải có cách tiếp cận đặc thù, đó là cách tiếp cận 3 N - gọi theo 3 chữ đầu chung cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn Theo đó, các
mô hình phát triển nông nghiệp phải có tính tổng hợp, giải quyết đồng thời
ba trụ cột: nông nghiệp, nông dân, nông thôn Mô hình nông nghiệp sinh thái chỉ có thể triển khai thành công khi đồng thời với việc giải phóng người nông dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ, mục đích này chỉ
có thể thành công khi vấn đề phát triển nông thôn được quan tâm thoả đáng, trong đó vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phải triển khai đồng thời với quá trình đô thị hoá nông thôn Trung Quốc đặt vấn đề tam nông là một trong những giải pháp có tính chiến lược,
vì mục đích phát triển xã hội hài hòa, khá giả
Trong điều kiện của Việt Nam, nội dung của phát triển nông thôn gồm các quá trình : công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đô thị hóa, kiểm soát dân số, bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn theo những tiêu chuẩn của nền văn minh nhân loại và bản sắc văn hóa Việt Nam Do đó phát triển nông
thôn bền vững phải bao hàm việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông
dân, điều kiện tiên quyết để quá trình phát triển nông thôn bền vững là các
chính sách của nhà nước, khuôn khổ pháp luật về nông nghiệp, nông thôn được xây dựng đúng đắn trên cơ sở khoa học và thực tiễn, trong đó, vấn đề người nông dân được đặt ở vị trí trung tâm phát triển nông nghiệp bền vững; đây không chỉ là vấn đề kinh tế, môi trường mà phải là vấn đề đạo lí cho phát triển nông nghiệp bền vững [10, tr 10 - 15]
Thứ năm, tiếp cận chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu: Về lí thuyết, chuỗi
giá trị toàn cầu được quan niệm trên tổng thể là dòng chảy giá trị gia tăng toàn cầu Về cơ bản, chuỗi giá trị toàn cầu có ba phân khúc: 1) Nghiên cứu & phát triển (R - D) - Sở hữu trí tuệ, 2) Sản xuất, 3) Xây dựng Thương hiệu và
Trang 31Thương mại Trong đó, các nước phát triển hiện nắm giữ phân khúc đầu và phân khúc cuối có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn hẳn; còn lại cho các nước đang phát triển là phân khúc giữa, đòi hỏi nhiều lao động, tài nguyên nhưng lại tạo ra ít giá trị, kém khả năng cạnh tranh
Tồn tại một chuỗi giá trị nông nghiệp đặc thù cho phát triển nông nghiệp toàn cầu; theo đó các nước đang phát triển hiện nắm giữ những vị trí hết sức quan trọng đó là phân khúc bản quyền tự nhiên sinh thái, sau đó là các phân khúc sản xuất Cuộc cạnh tranh đang diễn ra quyết liệt trong thị trường nông sản quốc tế, các quốc gia phát triển hàng đầu thế giới cũng là những quốc gia
sở hữu những thương hiệu mạnh, những tập đoàn bán lẻ toàn cầu và nắm giữ nhiều thương hiệu có nguồn gốc nông nghiệp quan trọng trên thị trường thế giới Theo đó, dòng chảy giá trị gia tăng nông nghiệp toàn cầu cứ chảy về các nước phát triển mà không theo chiều ngược lại
Thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam cho thấy, nước ta có thế mạnh đặc biệt trong phát triển nông nghiệp nhiệt đới, hiện trở thành nước xuất khẩu một số nông sản với thị phần đáng kể trên thương trường thế giới như: gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, thuỷ sản và một số nông sản khác Việt Nam hoàn toàn có thể tranh đua với thế giới trong hai lĩnh vực thương hiệu và thương mại nông sản trên cơ sở khai thác lợi thế tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phong phú, cũng như nguồn lao động dồi dào Đó là lựa chọn khả dĩ để thoát khỏi tụt hậu và lệ thuộc, đồng thời cũng là con đường duy nhất chúng ta cần phải tính tới trong hàng loạt các hướng đi mà chúng ta cho là phù hợp
1.1.2 Lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1 Nông thôn
Khái niệm: Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có
những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Nông thôn được xem xét như một cơ
Trang 32cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan
hệ chặt chẽ với nhau
Đặc trưng cơ bản của nông thôn
Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu
ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v
- Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất
nông nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất
đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi đến khía cạnh dân
số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống xã hội nông thôn
1.1.2.2 Nông thôn mới
Khái niệm về nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới (NTM) là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ
Trang 33vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần đó, NTM có năm nội dung cơ bản:
Thứ nhất: Nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Thứ hai: Sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa
Thứ ba: Đời sống vật chất và tinh thần người dân ngày càng được nâng cao Thứ tư: Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển
Thứ năm: Xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 342/QĐ-TTg sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 5 tiêu chí được sửa đổi là tiêu chí số 7
về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về về cơ cấu lao động, tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số 15 về y tế
Sự khác biệt xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng NTM
Trước đây, có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng NTM ở cấp xã Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng NTM chính là ở những điểm sau
Thứ nhất, xây dựng NTM là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả
nước được định trước
Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước,
không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm
Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng NTM, không phải ai
làm hộ, người nông dân tự xây dựng
Trang 34Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình
mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn
NTM được hiểu là nông thôn: (i) Có kinh tế phát triển, đời sống vật chất
và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao (ii) Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xá hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ (iii) Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát huy (iv) An ninh tốt, quản lí dân chủ (v) Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
1.1.3 Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới
Ngày 16/4, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - xã hội; về kinh tế và tổ chức sản xuất; về văn hóa - xã hội - môi trường và về
hệ thống chính trị Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện KTXH cụ thể của mỗi vùng
Đối với Trung du miền núi phía bắc bộ 19 tiêu chí để xây dựng mô hình NTM bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức
tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội.[Bảng 1.1]
Trong quá trình triển khai Chương trình xây dựng NTM, các địa phương, căn cứ vào thực tế địa bàn, có thể mềm hoá một số chỉ tiêu trên cơ sở vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
Trang 35Bảng 1.1 Bộ tiêu chi xây dựng NTM vùng TDMN phia Bắc
II HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI
Tỷ lệ Km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
Tỷ lệ Km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện 50%
Hệ thống điện đảm bảo an toàn của ngành điện Đạt
Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ
5 Trường học Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu 70%
Trang 36học, trung học cơ sở có vật chất đạt chuẩn quốc gia
6 Cơ sở vật chất
văn hóa
Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ
Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt chuẩn của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch 100%
7 Chợ nông thôn Chợ theo quy hoạch, đạt chuẩn theo quy định Đạt
8 Bưu điện Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông Đạt
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong các
Phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đạt
Tỷ lệ học sinh tôt nghiệp THCS được tiếp tục hoc trung học ( phổ thông, bổ túc, học nghề) 70%
15 Y tế Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm Y tế 70%
16 Văn hóa
Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ văn hóa thể thao và du lịch
Đạt
Trang 3717 Môi trường
Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch hợp vệ
Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn về
Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường
và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch đẹp
Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh
19 An ninh, trật tự
xã hội
An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
Đạt
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới
1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới
1.2.1.1 Hàn Quốc
Hàn Quốc vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX là một nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không đủ lương thực và phần lớn người dân không đủ ăn Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước Đến năm 1970 vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn, trong số đó 80% sống trong điều kiện khó khăn
Trang 38Sau trận lụt lớn năm 1969, trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là
vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mẫu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào
“Saemaulundong” (Phong trào đổi mới nông thôn) được đích thân Tổng
thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 Phong trào đổi mới nông thôn đã
đề cao “Tinh thần Saemaul” gồm 3 thành tố: “Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác”
Cơ sở để hình thành tinh thần này là: “Chăm chỉ” là động cơ tự nguyện của người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, “Tự lực”
là ý chí bản thân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và vận
mệnh của bản thân và “Hợp tác” là nhận thức về mong muốn phát triển cộng
đồng phải nhờ vào nỗ lực của tập thể
Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn
Quốc đang trì trệ trong đói nghèo đã tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ và nhanh chóng đạt được những kết quả khả quan Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD)
Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… “Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc.[22,23]
1.2.1.2 Malaysia
Chính phủ nước này cho rằng cơ sở để PTNT là phát triển vốn xã hội (giáo dục, sức khỏe), tăng cường quản trị cấp địa phương, đầu tư nghiên cứu
Trang 39và khuyến nông, cung cấp các thể chế hỗ trợ như giao thông, tài chính Đặc biệt, cần xác định nông dân là nền tảng phát triển quốc gia GS Ibrahim Ngah - Đại học Công nghệ Malaysia cho biết, PTNT luôn được coi là chương trình nghị sự quan trọng của Malaysia Rất nhiều nỗ lực và nguồn lực đã được đầu tư để cải thiện phúc lợi của người dân nông thôn, bao gồm phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất Kinh nghiệm của Malaysia cũng chỉ ra rằng, các phương pháp tiếp cận và các mô hình PTNT cần được triển khai đặc thù theo địa phương với thời gian phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, nguồn lực tài chính [21]
1.2.1.3 Trung Quốc
Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn, lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT, tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai
thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn Việc chỉ đạo
của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại
là tiền của ngân sách
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ
Trang 40cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều
chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh
là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực
Trung Quốc thực hiện hạn chế lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của nước này được quy định rất ngặt nghèo Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên
Tài chính hỗ trợ Tam nông tại Trung Quốc tập trung 3 mục tiêu là nông
nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, và nông dân tăng thu nhập
Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp
hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính
sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ
về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua
đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng).[24]