1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam

64 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 17,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam rất đa dạng về chủng loại và nguồn gốc. Các công trình nghiên cứu, điều tra, đánh giá và thăm dò koáng sản đã ghi nhận ở nước ta, không tính vật liệu xây dựng thông thường, có mặt 51 khoáng sản khác nhau. Chúng đượch xếp vào 2 nhóm chính: nhóm khoáng sản kim loại và nhóm khoáng sản không kim loại. Urani và than trước đây được coi là tài nguyên khoáng sản nhưng theo quan niệm mới, được chuyển sang nhóm tài nguyên năng lượng. Ngoài ra các khoáng sản sericit và đá hoa, trước đây chưa được tổng hợp, cũng được bổ sung trong công trình này.

Trang 1

TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam rất đa dạng về chủng loại và nguồn gốc Các công trìnhnghiên cứu, điều tra, đánh giá và thăm dò koáng sản đã ghi nhận ở nước ta, không tính vật liệuxây dựng thông thường, có mặt 51 khoáng sản khác nhau Chúng đượch xếp vào 2 nhóm chính:nhóm khoáng sản kim loại và nhóm khoáng sản không kim loại

Urani và than trước đây được coi là tài nguyên khoáng sản nhưng theo quan niệm mới, đượcchuyển sang nhóm tài nguyên năng lượng Ngoài ra các khoáng sản sericit và đá hoa, trước đâychưa được tổng hợp, cũng được bổ sung trong công trình này

I.1 Nhóm khoáng sản kim loại

I.1.1 Sắt, hợp kim sắt

1 Sắt

Quặng sắt ở Việt Nam đã biết khoảng 230 tụ khoáng và điểm khoáng, phân bố tập trung chủyếu trong các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Có 4 kiểu nguồn gốc chính: skarn, nhiệt dịch, biến chất và phonghóa

- Quặng sắt skarn tuy có số lượng tụ khoáng đã biết không nhiều nhưng lại có tài nguyên

và trữ lượng lớn nhất trong các nhóm tụ khoáng sắt, điển hình là tụ khoáng sắt Thạch Khê (HàTĩnh) Tụ khoáng nằm trên vùng bờ biển, dưới lớp phủ 50-120 m, phân bố trên chiều dài hơn

3000 m, rộng 450-500 m, nơi rộng nhất tới 800 m, chiều dày trung bình thân quặng khoảng 200

m Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, một phần, ở phía đông bắc quặng bị phonghóa thành limonit, goethit nhưng vẫn có từ tính cao Hàm lượng Fe thay đổi trong khoảng 30-75%, trong đó quặng giàu (50-65% Fe) chiếm chủ yếu Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp121+122+333 (B+C1+C2) đã tính được khoảng 544 triệu tấn quặng [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].

Tụ khoáng này đã được thăm dò, đang được khai thác [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Ngoài tụ khoáng Thạch Khê, quặng sắt nguồn gốc skarn còn được biết ở một vài nơi khácnhư Bó Lếch, Ngườm Cháng, Nà Rụa, Bản Lũng (Cao Bằng) và một vài nơi khác

- Quặng sắt dạng mạch nhiệt dịch (nhiệt dịch-biến chất trao đổi) phân bố rộng rãi ở các

tỉnh Hà Giang (Sàng Thần, Tòng Bá), Thái Nguyên (Trại Cau) Các tụ khoáng nguồn gốc nhiệtdịch chỉ có quy mô trung bình và nhỏ Tụ khoáng có quy mô lớn nhất là Sàng Thần, có tổng trữlượng khoảng 32 triệu tấn, Tiến Bộ (Thái Nguyên) khoảng 22 triệu tấn, Trại Cau (Thái Nguyên)khoảng 11 triệu tấn, Tòng Bá (Hà Giang) khoảng hơn 6 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Tụ khoáng quặng sắt kiểu quarzit sắt (trầm tích – biến chất) phổ biến trên diện tích phát

triển các thành tạo biến chất trên lãnh thổ các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ thuộc địa khu Hoàng LiênSơn Vùng quặng sắt điển hình là Làng Mỵ-Hưng Khánh (Yên Bái) và Thanh Sơn (Phú Thọ),trong đó vùng quặng sắt Làng Mỵ-Hưng Khánh đã được điều tra, đánh giá còn một số tụ khoáng

đã và đang được thăm dò tính trữ lượng; Vùng quặng sắt Thanh Sơn có một số tụ khoáng đangđược thăm dò Quặng sắt dạng vỉa, dạng thấu kính, chủ yếu chỉnh hợp với đá vây quanh, có nơigặp quặng dạng mạch muộn xuyên cắt các thành tạo biến chất Quặng phân bố chủ yếu trong cáctập quarzit phân lớp, phân dải Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm magnetit và hematit, khoángvật không quặng chủ yếu là thạch anh Hàm lượng quặng thường nghèo, thay đổi trong khoảng25-30% Fe Tổng trữ lượng và tài nguyên quặng sắt vùng Làng Mỵ-Hưng Khánh và lân cậnkhoảng 76 triệu tấn quặng, vùng Thanh Sơn khoảng 30-35 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Quặng sắt nguồn gốc phong hóa phân bố gần như trong hầu khắp các tỉnh trung du miềnnúi Bắc Bộ, Trung Bộ Số lượng tụ khoáng quặng sắt thuộc nhóm này cũng chiếm ưu thế, gần

200 tụ khoáng Quặng có thành phần khoáng vật chủ yếu gồm limonit, goethit, được hình thành

Trang 2

do rửa lũa, làm giàu khoáng vật chứa sắt hoặc thấm đọng lấp đầy khe nứt Các tụ khoáng quặngsắt nguồn gốc phong hóa điển hình có quy mô lớn gồm tụ khoáng Quý Xa (Lào Cai) có trữ lượngkhoảng 135 triệu tấn quặng, vùng quặng Hương Sơn (Hà Tĩnh)-với tài nguyên khoảng 6-7 triệutấn; vùng quặng Mộ Đức (Quảng Ngãi) cói tổng tài nguyên khoảng 8 triệu tấn [Bùi Tất Hợp vànnk., 2007]

Một kiểu quặng sắt phong hóa phổ biến, có tài nguyên rất lớn nhưng chưa được điều trađây đủ là quặng phong hóa laterit trên bề mặt các đá giàu khoáng vật sắt, điển hình là trên các bềmặt phong hóa đá basalt vùng Tây Nguyên Thành phần khoáng vật kiểu quăng này chủ yếu làlimonit, goethit và sét Trước mắt, quặng laterit thích hợp cho sử dụng làm phụ gia xi măng Vấn

đề lớn nhất cần giải quyết đối với loại quặng này để có thể sử dụng cho luyện kim, là hàm lượng

Al2O3 trong quặng cao, có thể tới 10-15% gây ảnh hưởng lớn đến tiêu tốn nhiên liệu

Maghemit (Mg) Mỏ Làng Mỵ Cấu tạo dải Kiến trúc

hạt tha hình 40X Ảnh Hoàng Thị Thoa Manhetit hạt tự hình, nửa tự hình cùng

hematit hạt tha hình xâm tán trong đá

(100X) Mỏ Tùng Bá Ảnh Nguyễn Quang

Luật

Quặng sắt Làng Mỵ-Yên Bái.TPKV: manhetit,

hematit Cấu tạo dải (quarzit sắt) Ảnh Trần

Bỉnh Chư

Quặng sắt Tùng Bá- Hà Giang TPKV:hematit, magnetit, cấu tạo dải Ảnh NguyễnQuang Luật

Trang 3

Quặng sắt nâu Quý Xa-Lào Cai.TPKV:

Limonit, goethit, manganit Cấu tạo đặc sít Ảnh

Trần Bỉnh Chư

Quặng sắt, Nà Rụa - Cao Bằng TPKV:hematit, magnetit, cấu tạo đặc sít ẢnhNguyễn Quang Luật

Hematit hạt định hướng kéo dài, cấu tạo dải Mỏ

Làng Lếch, Lào Cai Ảnh Nguyễn Quang Luật

Hematit hạt định hướng kéo dài, cấu tạo dải

Mỏ Tùng Bá, Hà Giang Ảnh Nguyễn QuangLuật

- Quặng mangan trầm tích nằm trong đá vôi và đá phiến silic, phân bố chủ yếu ở Trùng

Khánh – Hạ Lang (Cao Bằng), một ít ở Hà Giang và Tuyên Quang Quặng trầm tích hầu hết đãđược tái tạo làm giàu nhờ quá trình phong hóa, thấm đọng Thành phần khoáng vật chính củaquặng gồm pyrolusit, psilomelan, manganit, limonit Các tụ khoáng có thân quặng quy mô tương

Trang 4

đối lớn, chất lượng quặng cao phân bố trong đá vôi: Tốc Tát, Bản Khuông, Roỏng Tháy, LũngLuông (Cao Bằng), trong đó các tụ khoáng lớn nhất là Tốc Tát, có trữ lượng và tài nguyên cấp121+122+333 (B+C1+C2) gần 1,3 triệu tấn quặng; tiếp đên Lũng Luông hơn 650 ngàn tấn cấp122+333 (C1+C2), Bản Khuông có hơn 700 ngàn tấn cấp 122+333, Roỏng Tháy có gần 600 ngàn

tấn cấp 122+333 [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007] Các tụ khoáng phân bố trong đá phiến silic thường

có thân quặng nhỏ, hàm lượng nghèo và hàm lượng Fe cao (quặng sắt-mangan)

- Quặng mangan thấm đọng và quặng lăn deluvi – eluvi có thành phần là sắt-mangan,

trong đó hàm lượng Mn ít khi đạt đến 15-20 % Quặng lăn deluvi – eluvi thường gặp ngay trêndiện tích phân bố quặng thấm đọng và là sản phẩm phá hủy của quặng thấm đọng Các tụ khoángquặng sắt-mangan thấm đọng điển hình là Đồng Tâm (Hà Giang, có tổng tài nguyên khoảng 3,2triệu tấn quặng) và Đức Thọ-Can Lộc (Hà Tĩnh, 2,4 triệu tấn quặng) [Bùi Tất Hợp và nnk.,

2007].

Ở một số nơi, thường là trong các thung lũng kiểu carst, gần các tụ khoáng mangan gốc,còn gặp kiểu tụ khoáng sa khoáng mangan kiểu kết vón, hàm lượng Mn trong tinh quặng giàu(trên 35%), tuy nhiên quy mô loại quặng này thường hạn chế

Pyroluzit phân bố lấp đầy tạo thành các vi

mạch trong đá Mỏ Mn Đồng Tâm, Hà Giang

Ảnh Ngô Xuân Đắc

Tổ hợp Psilomelan-Manganit- Pyroluzit phân

bố tạo thành các ổ đặc xit trong đá Mỏ MnĐồng Tâm, Hà Giang Ảnh Ngô Xuân Đắc

3 Crom

Quặng crom ở Việt Nam chỉ có sa khoáng là có ý nghĩa, gồm tụ khoáng cromit Cổ Định

và một số điểm sa khoáng nhỏ xung quanh Núi Nưa như Mậu Lâm, Bãi Áng (Thanh Hóa); một sốđiểm quặng gốc được phát hiện ở Núi Nưa và ở Làng Mun nhưng ít triển vọng

Tụ khoáng sa khoáng cromit Cổ Định nằm về phía đông – đông nam Núi Nưa, kéo dàitrên 12 km, rộng trung bình 2 km Theo thứ tự thăm dò tụ khoáng được chia thành các khu CổĐịnh, Hòa Yên – Mỹ Cái và Tinh Mễ-An Thượng Tuy nhiên, các thân quặng trong tụ khoánggần như liên tục Tụ khoáng gồm 2 thân quặng chính: thân 1 (thân quặng dưới) và 2 (thân quặnggiữa) Thân quặng 1 dài tới 12,5 km, rộng 2-3 km, bề dày trung bình 18 m Thân quặng 2 dàikhoảng 3 km, rộng 800- 1000 m, dày 2-10 m Lớp phủ trên quặng thường không đáng kể ở gầnchân núi Nưa và đạt tới 50 m ở trung tâm tụ khoáng Hàm lượng Cr2O3 trong quặng thay đổitrong khoảng 3 đến 4,6% Độ hạt quặng chủ yếu có ở cỡ hạt nhỏ và mịn (0,04-0,5 mm) Do độ hạtnhỏ, quặng bị thất thoát rất lớn khi khai thác và tuyển rửa

Tổng trữ lượng và tài nguyên của tụ khoáng đã tính được là hơn 21 triệu tấn, trong đó

quặng được cho là có giá trị kinh tế hơn 20 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Trang 5

Trong tụ khoáng có một số lượng đáng kể Ni và Co nhưng đến nay chưa có công nghệkhai thác, thu hồi thích hợp.

4 Molibden

Quặng molibden mới chỉ phát hiện và đăng ký được 1 tụ khoáng (Ô Quy Hồ) và 2 điểmkhoáng khác là Kin Chang Hồ (Lào Cai) và Núi Sam (An Giang) Ngoài ra molibden còn đượcbiết như quặng khoáng sản đi kèm thiếc ở Pia Oắc (Tuyên Quang), Du Long (Ninh Thuận) vàvàng Krong Pha

Tụ khoáng molibden Ô Quy Hồ nằm trên địa phận xã Lao Chải, huyện Sa Pa, tỉnh LàoCai, đã được Liên đoàn Địa chất Tây Bắc điều tra đánh giá

Quanh tụ khoáng phổ biến các đá phiến thạch anh biotit, đá phiến thạch anh mica hệ tầngSin Quyền; monzogranit, granit, plagiogranit, granosyenit, syenit phức hệ Yê Yên Sun Tụkhoáng gồm các mạch, vi mạch thạch anh-sericit chứa molibdenit Đã phát hiện và đánh giá 15thân quặng dạng mạch có chiều dày từ 0,5 m đến 18,71 m, chiều dài từ 200 m đến 1.408 m Hàmlượng trung bình từ 0,094 đến 0,603% Tổng tài nguyên cấp 333+334a (C2+P1) đã biết khoảng 15ngàn tấn Mo, trong đó tài nguyên cấp 333 (C2) khoảng 7 ngàn tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Quặng molipden Ô Quý Hồ, SaPa – Lào Cai

TPKV: Thạch anh, molipdenit Cấu tạo ổ, xâm

tán Ảnh Nguyễn Quang Luật

Molipđenit dạng vảy xâm tán trong đá granit tại

Ô Quý Hồ, SaPa – Lào Cai Ảnh Ngô XuânĐắc

5 Wolfram

Quặng wolfram ở Việt Nam có 3 kiểu tụ khoáng chính: sheelit skarn, mạch thạch anh –wolframit và casiterit – wolframit greisen

- Tụ khoáng kiểu sheelit skarn được phát hiện, thăm dò ở Đá Liền (Núi Pháo-Thái

Nguyên) Trên thực tế, đây là tụ khoáng đa khoáng, ngoài wolfram trong quặng còn có nhiềukhoáng sản khác có giá trị thu hồi: thiếc, bismut, đồng, vàng và fluorit Thân quặng chính cóchiều dài khoảng 2 km, rộng 200- 400 m, bề dày có nơi tới 159 m

Trữ lượng, tài nguyên đã tính được qua thăm dò gồm: gần 230 ngàn tấn WO3, 8,5 triệutấn CaF2, hơn 190 ngàn tấn Cu, gần 21 tấn Au và hơn 100 ngàn tấn Bi [Bùi Tất Hợp và nnk.,2007]

- Tụ khoáng kiểu mạch thạch anh-wolframit đã được phát hiện ở Thiện Kế (Sơn Dương,

Tuyên Quang), Đồi Tranh (Quảng Ngãi), Đak Rmăng (Đak Nông) Các mạch thạch anh chứawolframit thường có chiều dài vài chục đến vài trăm mét, phổ biến ở dạng thấu kính, bề dày

Trang 6

quặng thường 0,2-1 m, đôi nơi đến 2 m Hàm lượng wolframit trong mạch phân bố rất không ổnđịnh, chủ yếu ở dạng ổ, đôi nơi xâm tán thưa

Tại tụ khoáng Thiện Kế, quặng wolfram nằm trong các đá granit 2 mica, ryolit porphyr vàgreisen, thân quặng có dạng mạch, mạch nhỏ, hoặc mạng mạch, chiều dài thay đổi từ 10-1000m, dày0,1-4,85m, chiều sâu khống chế được 150m Đã phát hiện 12 thân quặng ở 2 khu Thiện Kế và Hội Kế,hàm lượng WO3 ≥ 0,1% Tuy nhiên chỉ có các thân quặng I, IA, IV, V (khu Thiện Kế), IXB, X (khuHội Kế) có triển vọng với hàm lượng WO3 từ 0,79-6,45% Tụ khoáng này đã được điều tra, đánhgiá, khai thác, đang được thăm dò bổ sung Trữ lượng và tài nguyên cấp 122+333 (C1+C2) đạtgần 3000 tấn WO3 Ngoài wolframit trong quặng còn có casiterit với hàm lượng từ rất ít đến 0,1%[Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Tụ khoáng kiểu thiếc-wolfram greisen có đặc trưng dạng mạch, vi mạch chứa wolframit,

casiterit trong các đới đá biến đổi greisen hóa trong đá xâm nhập hoặc núi lửa Thuộc kiểu tụ khoángnày đã biết các Điểm khoáng thiếc-wolfram Lũng Mười (Sơn Dương, Tuyên Quang) và Đồi Tròn-Bù

Me (Thanh Hóa) Kiểu tụ khoáng này có thể có triển vọng nhưng chưa được điều tra đầy đủ

Quặng thiếc - volfram, Lũng Mười – Pia Oắc

– Cao Bằng TPKV: thạch anh, muscovit,

volframit, caxiterit Cấu tạo ổ Ảnh Nguyễn

Quang Luật

Volframit hạt tha hình xâm tán trong đá greizen Điểm quặng Lũng Mười – Pia Oắc – Cao Bằng.Ảnh Ngô Xuân Đắc

Đá greizen chứa fluorit (CaF2) và seelit

(CaWO4) mẫu mắt thường khó quan sát thấy

seelit Mỏ volfram-đakim Núi Pháo Ảnh

Nguyễn Quang Luật

Seelit (CaWO4) xâm tán, mạch xâm tán trong đágreizen phát quang dưới đèn cực tím Mỏvolfram-đakim Núi Pháo Ảnh Nguyễn QuangLuật

Trang 7

Đá skarn chứa pyrotin, chalcopyrit, seelit

(CaWO4) mẫu mắt thường khó quan sát thấy

seelit Mỏ volfram-đakim Núi Pháo Ảnh

Nguyễn Quang Luật

Đá skarn chứa seelit (CaWO4) xâm tán thành ổ

và xâm tán rải rác phát quang dưới đèn cực tím

Mỏ volfram-đakim Núi Pháo Ảnh NguyễnQuang Luật

6 Nicken, coban

Quặng nicken, coban ở Việt Nam mới chỉ được phát hiện, thăm dò ở Bản Phúc và điềutra ở Bản Khoa (Sơn La)

Tụ khoáng nicken Bản Phúc nằm trên địa phận xã Tạ Khoa, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La,

đã được thăm dò tính trữ lượng Trong tụ khoáng đã xác định 3 kiểu quặng chính: quặng sulfurnickel-niken đặc sít dạng mạch, quặng sulfur nickel-niken xâm tán xung quanh mạch quặngsulfur nickel-niken đặc sít, quặng sulfur nickel-niken xâm tán trong khối siêu mafic Trong 3 loạiquặng trên chỉ có 2 loại quặng sulfur nickel-niken đặc sít dạng mạch và quặng sulfur nickel-nikenxâm tán xung quanh mạch phân bố trong đá trầm tích biến chất là có giá trị công nghiệp tại thờiđiểm hiện tại

Kết quả thăm dò tụ khoáng Nickel Bản Phúc đã khoanh nối, tính trữ lượng (cấp 122) cho

3 thân quặng là hơn 44 ngàn tấn Ni, hơn 20 ngàn tấn Cu, gần 2 ngàn tấn Co Tài nguyên(332+333+334) đã tính được là khoảng 360 ngàn tấn Ni, ần 30 ngàn tấn Cu, hơn 4 ngàn tấn Co[Đinh Hữu Minh và nnk., 2006]

Ngoài tụ khoáng Bản Phúc và Điểm khoáng Bản Khoa, quặng Ni còn được phát hiện ởtrong sa khoáng cromit Cổ Định với tài nguyên lớn nhưng chưa có công nghệ thu hồi thích hợp

Trang 8

Quặng sulfur Ni-Cu, Mỏ Bản Phúc – Sơn La.

TPKV: penlandit, pyrotin, chalcopyrit Cấu

tạo xâm tán mịn trong đá siêu mafic Biến đổi

serpentin hóa Ảnh Nguyễn Quang Luật

Quặng Ni-Cu, Đèo Chẹn – Sơn La Cấu tạo xâmtán Đá vây quanh siêu mafic, phức hệ BảnXang Ảnh Nguyễn Quang Luật

Chalcopyrit và pyrotin hạt tha hình xâm tán

trong đá siêu mafic phức hệ Bản Xang Mỏ

Ni-Cu Bản Phúc, Sơn La Ảnh Ngô Xuân Đắc

Chalcopyrit và penlandit hạt tha hình xâm tántrong đá siêu mafic phức hệ Bản Xang Mỏ Ni-

Cu Bản Phúc, Sơn La Ảnh Ngô Xuân Đắc

1.1.2 Kim loại cơ bản

1 Antimon

Khoáng sản antimon ở Việt Nam

có tiềm năng hạn chế, một số điểm

khoáng được phát hiện ở Quảng Ninh

(Khe Chim, Dương Huy, Đồng Mỏ),

Làng Vài, Khuôn Phục (Tuyên Quang),

Bá Thước (Thanh Hóa), trong đó chỉ có 2

tụ khoáng đã được thăm dò là Khuôn

Phục và Làng Vài Tổng trữ lượng và tài

Ảnh 3.1 Quang cảnh moong khai thác đồng, mỏ Sin Quyền (Lào

Cai) Ảnh: Phạm Bình

Ảnh 3.2 Quặng sắt magnetit - đồng - đất hiếm - vàng

tại mỏ đồng Sin Quyền Ảnh: Hideaki Fukasawa.

Trang 9

nguyên quặng antimon toàn quốc cấp 122+333 (C1+C2) khoảng 60 ngàn tấnc [Bùi Tất Hợp vànnk., 2007] Phần lớn đã bị khai thác.

Quặng antimon , Làng Vài – Tuyên Quang

TPKV: antimonit Cấu tạo đặc sít Ảnh

Nguyễn Quang Luật

Quặng antimon Mậu Duệ - Hà Giang TPKV:antimonit, carbonat Cấu tạo đặc sit ẢnhNguyễn Quang Luật

- Tụ khoáng đồng trong đá biến chất là kiểu tụ khoáng có tiềm năng lớn nhất ở Việt Nam.Các tụ khoáng kiểu này phân bố dọc hữu ngạn Sông Hồng, một số tụ khoáng đã được điều tra,thăm dò: Sin Quyền, Vi Kẽm, Lũng Pô, Làng Phát – An Lương, Tả Phời Đặc điểm chung củakiểu tụ khoáng này là quặng dạng mạch, ổ, thấu kính có nơi có kích thước lớn, dài hàng trăm đếnhàng ngàn mét, dày 3-5 m tới hàng chục mét Thành phần khoáng vật quặng đồng gồmchalcopyrit, cubanit, cuprit, bornit Khoáng sản đi kèm có vàng, đất hiếm, sắt (magnetit),molibden, bạc

Tụ khoáng đồng Sin Quyền nằm trên địa phận xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.Quặng phân bố trong trầm tích biến chất hệ tầng Sin Quyền có các mạch gabrodiabas,plagiogranit và pegmatit xuyên cắt Đã xác định thăm dò 17 thân quặng tập trung thành dải rộng10-100 m, dài khoảng 20 km Các thân quặng dày trung bình 4,2-8,0 m, dài 273-1.850m Khoángvật quặng gồm chalcopyrit, cuprit, bornit, magnetit, pyrotin Hàm lượng các thân quặng 0,01-11,58% Cu, trung bình là 1,03% Trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+Cs) đã tínhđược khoảng 550 ngàn tấn Cu Ngoài đồng, khoáng sản đi kèm đã tính được hơn 34 tấn Au và 25tấn Ag [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Tụ khoáng đồng Vi Kẽm là phần kéo dài của tụ khoáng Sin Quyền hướng theo cấu trúc,tài nguyên đã tính được tới trên 150 ngàn tấn Cu

Trang 10

Quặng đồng mỏ Sin Quyền – Lào Cai

TPKV: chalcopyrit, manhetit Cấu tạo đặc sít Ảnh

Nguyễn Quang Luật

Magnetit (Ma) hạt nửa tự hình đến tha hình,Chancopyrit (Ch) dạng hạt tha hình xâm tán trên

nền khoáng vật phi quặng (kvpq) (Khu mỏ Cu Vi Kẽm) Ảnh Vũ Thị May.

Tụ khoáng đồng Tả Phời nằm trên lãnh thổ xã Tả Phời, TX Cam Đường, tỉnh Lào Cai,mới được phát hiện, điều tra đánh giá, đang được thăm dò Trong diện tích điểm quặng phổ biếncác đá trầm tích biến chất cao thuộc hệ tầng Sin Quyền, bị các thể diorit xuyên cắt Đã phát hiện 3đới quặng dài 1.000-1.300m, rộng 25-350m; trong đó có 7 thân quặng được đánh giá tính tàinguyên có chiều dài 400 đến trên 1200 m, bề dày thân quặng chưa xác định được do lỗ khoan sâunhất mới chỉ 115m, thân dày nhất có thể tới 50-70m, có lỗ khoan sâu 115 m gặp quặng từ trênmặt nhưng vẫn chưa cắt qua hết thân quặng; hàm lượng Cu: 0,5-3,97% Tài nguyên cấp333+334a (C2+P1) đã tính được là hơn 300 ngàn tấn Cu, trong đó cấp 333 (tương ứng với C2) làgần 200 ngàn tấn Cu [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Tụ khoáng đồng trong đá phun trào gặp chủ yếu trong cấu trúc rift Sông Đà trên địa

phận các tỉnh Lai Châu, Điện Biên Thành phần khoáng vật chứa Cu ngoài chalcopyrit là khoángvật chính còn có chalcosin và đồng tự sinh Các thân quặng thường gặp dạng mạch, thấu kính quy

mô nhỏ, hàm lượng nghèo, tài nguyên hạn chế

- Tụ khoáng đồng kiểu mạch thạch anh chứa đồng trong đá lục nguyên chủ yếu gặp Lục

Ngạn, Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Thành phần quặng trong các điểm khoáng đồng đã phát hiệnchủ yếu là khoáng vật thứ sinh malachit, azurit nằm trong cát kết, do vậy bị ngộ nhận là tụkhoáng kiểu trầm tích, thuộc kiểu tụ khoáng cát kết chứa đồng Qua khảo sát một số thân quặngđang được khai thác, ở vùng Sơn Động, Lục Ngạn Phòng Địa chất của Cục Địa chất và Khoángsản Việt Nam phát hiện khoáng vật đồng đi kèm mạch thạch anh có nơi có arsenopyrit, galenit dovậy, cho rằng quặng đồng ở đây có nguồn gốc nhiệt dịch kiểu mạch thạch anh chứa đồng nằmtrong đá lục nguyên Quy mô và ý nghĩa các điểm khoáng này không đáng kể

- Quặng đồng nằm trong đá phiến lục (?) mới chỉ gặp duy nhất ở Mộ Đức Quảng Ngãi.Chưa được điều tra nghiên cứu đầy đủ nhưng theo tài liệu hiện có, quy mô hạn chế

Trang 11

Song tinh Chalcopyrit-Cubanit ( Mỏ Cu Tả Phời).

độ sâu 42 m, độ phóng đại 50X, quặng trong đá

biến chất trao đổi xẫm màu Ảnh Nguyễn Quang

Luật

Ảnh 4.6a Chalcopyrit màu vàng (1) thay thế gặmmòn và gắn kết pyrit màu xám trắng (2) Mẫu màiláng VL.1454 (100X) Khu mỏ Cu-Au Huổi Sấy ẢnhNguyễn Quang Luật

Quặng đồng, Lũng Pô – Bát Xát – Lào Cai

TPKV: chalcopyrit, malachit, chalcozin Cấu

tạo xâm tán, dải mạch Ảnh Nguyễn Quang

Luật

Chalcopyrit (Cc) hạt tha hình xâm tán thành đámhạt trong đá Mỏ Lũng Pô – Bát Xát – Lào Cai.Ảnh Nguyễn Quang Luật

Cu tự sinh xâm tán trong đá basal (Sìn

Hồ-Lai Châu) Ảnh Nguyễn Quang Luật

Quặng đồng Biển Động – Bắc Giang TPKV:azuzit, malachit Cấu tạo vết, loang lổ Ảnh

Trang 12

Nguyễn Quang Luật.

3 Chì-kẽm

Quặng chì-kẽm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc (Bắc Kạn (Chợ Đồn,Chợ Điền, Bản Lìm …), Tuyên Quang (Thượng Ấm, Trảng Đà, Núi Dùm …), Thái Nguyên(Lang Hít, Mễ Tích, Mỏ Ba), Cao Bằng (Bản Bó), một ít ở vùng Tây Bắc: Điện Biên (Nà Tòng –

Xá Nhè), Yên Bái (Tú Lệ); Thanh Hóa (Quan Sơn)

Theo nguồn gốc và thành phần, có thể phân chia quặng chì-kẽm ở Việt Nam thành 2 kiểu

tụ khoáng chính: quặng chì-kẽm trong carbonat, quặng chì-kẽm trong đá phun trào

- Quặng chì-kẽm trong carbonat là kiểu tụ khoáng phổ biến, có trữ lượng và tài nguyên

chì-kẽm chiếm chủ yếu ở Việt Nam Các mỏ, cụm mỏ chì-kẽm lớn ở Bắc Kạn, Cao Bằng, TháiNguyên, Điện Biên … đều thuộc kiểu tụ khoáng này Đặc trưng nổi bật của kiểu tụ khoáng là cácthân quặng thường có dạng mạch, chuỗi mạch, thấu kính hoặc dạng lớp giả tầng phân bố trongcác tập lớp đá vôi phân lớp mỏng hoặc đá vôi vị dập vỡ, dăm kết Biến đổi nhiệt dịch phổ biến làdolomit hóa, thạch anh hóa, sulphur hóa Trong đa số tụ khoáng và điểm khoáng thuộc kiểu chì-kẽm trong carbonat thường gặp một số mạch có chứa barit Thành phần khoáng vật quặng chính

là galenit, sphalerit, pyrit; ít hơn có chalcopyrit, arsenopyrit, đôi nơi có argentit, antimonit và cáckhoáng vật khác Hàm lượng Pb, Zn giao động trong khoảng lớn, từ dưới 1% đến 15- 20%, trungbình trong khoảng 5-10% Hầu hết các thân quặng đã bị phong hóa ở phần trên tạo nên kiểuquặng oxyt, đôi nơi độ sâu phong hóa đến 50 m hoặc hơn

Điển hình của kiểu tụ khoáng chì-kẽm trong carbonat là các mỏ (cụm mỏ) chì-kẽm ChợĐiền

Mỏ (cụm mỏ) chì-kẽm Chợ Điền trên thực tế là tên gọi chung của 14 tụ khoáng và điểmkhoáng (Lũng Hoài, Mán, Suốc, Bình Chai, Bó Luông, Đèo An, Phia Khao, Laponte, Suối Teo,Khuổi Khem, Lũng Cháy, Bản Thi, Cao Bình – Sơn Thịnh, Bo Pen Bop) có thành phần và cấutạo tương tự nhau, phân bố trong cùng một cấu trúc chứa quặng Trong 11 tụ khoáng, điểmkhoáng của cụm mỏ có 12 tụ khoáng đã được thăm dò tính trữ lượng (Phia Khao, Lũng Hoài, BoPen Bop, La Ponte, Đèo An, Bó Luông, Bình Chai, Sơn Thịnh, Suối Teo, Lũng Cháy, KhuổiKhem) số còn lại mới được điều tra, đánh giá Tuy nhiên, hầu hết đang được khai thác

Tổng trữ lượng và tài nguyên (kim loại) cụm mỏ Chợ Điền cấp 121+122+333 (B+C1+C2)

đã tính được là hơn 600 ngàn tấn Pb+Zn, trong đó trữ lượng cấp 121+122 (B+C1) là hơn 300ngàn tấn Pb+Zn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Trong tổng tài nguyên, trữ lượng nêu trên có hơn 200 ngàn tấn Pb+Zn từ quặng oxyt cònlại là từ quặng sulphur

Ngoài các tụ khoáng được thống kê trong cụm mỏ Chợ Điền, một số tụ khoáng kháctrong vùng được thống kê thành cụm mỏ Chợ Đồn (Đầm vạn, Than Tàu, Keo Nàng, Keo Tây, NàTùm, Nà Bốp, Ba Bồ, Nà Quan) với tổng trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) làgần 800 ngàn tấn Pb+Zn, trong đó trữ lượng cấp 121+122 (B+C1) là khoảng 55 ngàn tấn Pb+Zn[Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Những vùng mỏ tiêu biểu khác của quặng chì-kẽm thuộc kiểu tụ khoáng chì-kẽm trongcarbonat là các tụ khoáng thuộc vùng quặng chì-kẽm Cao Bằng (Bản Bó – Bản Lìn), TuyênQuang (Sơn Đô, Núi Dùm, Dốc Chò, Trảng Đà, Ba Xứ …), Thái Nguyên (Cúc Đường, Mỏ Ba,

Mễ Tích) và đặc biệt cụm mỏ ở Điện Biên (Nà Tòng – Xá Nhè) mới được phát hiện

Tổng trữ lượng, tài nguyên Pb+Zn cấp 122+333 (C1+C2) các tụ khoáng vùng TuyênQuang khoảng 614 ngàn tấn; vùng Thái Nguyên khoảng 203 ngàn tấn, Bản Bó trên 100 ngàn tấn

[Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Trang 13

Tài nguyên cụm mỏ ở Điện Biên (Nà Tòng, Xá Nhè) tuy không lớn (tổng tài nguyênkhoảng 160 ngàn tấn Pb+Zn) nhưng có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức về sinh khoáng chì-kẽm Việt Nam, chỉ ra tiềm năng quặng chì-kẽm cần được điều tra ở vùng Tây Bắc Việt Nam.

Quặng kẽm-chì Chợ Đồn – Bắc Kạn TPKV :

sphalerit, galenit Cấu tạo đặc sit Ảnh Nguyễn

Quang Luật

Quặng chì-kẽm, Bằng Lũng (Chợ Điền) - BắcKạn.TPKV: Galenit, sfalerit, pyrit, chalcopyrit.Cấu tạo đặc sít.Đá vây quanh: carbonat ẢnhNguyễn Quang Luật

Tổ hợp cộng sinh Galenit-sphalerit thay thế,

gắn kết khoáng vật của nền đá Điểm quặng

Xá Nhè, Yên Bái Ảnh Nguyễn Quang Luật

Sphalerit thay thế gặm mòn pyrit, chalcopyrit dạngemunxi trong nền sphalerit tạo kiến trúc phân hủydung dịch cứng Mỏ Cúc Đường Ảnh NguyễnQuang Luật

Trang 14

THCS galenit-sphalerit hạt tha hình thay thế

pyrit trong nền đá carbonat bị đolomit hóa Mỏ

Nà Bốp, Bắc Kạn Ảnh Ngô Xuân Đắc

THCS galenit-sphalerit hạt tha hình thay thếpyrit trong nền đá carbonat bị đolomit hóa Mỏ

Pù Xáp, Bắc Kạn Ảnh Ngô Xuân Đắc

- Quặng chì-kẽm trong đá phun trào ở Việt Nam có tiềm năng hạn chế, mới chỉ được

phát hiện ở vùng quặng Tú Lệ (Yên Bái) nhưng chưa có tụ khoáng nào được thăm dò

4 Thiếc

Quặng thiếc ở Việt Nam, gồm quặng gốc và sa khoáng, phân bố ở vùng Tĩnh Túc, PiaOắc (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên Quang), Đại Từ (Thái Nguyên), Bù Me (Thanh Hóa); QuỳHợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ tỉnh Nghệ An, Sơn Kim (Hà Tĩnh), Maty-DuLong (Ninh Thuận) và Đà Lạt (Lâm Đồng)

Quặng thiếc sa khoáng có 3 kiểu tụ khoáng: sa khoáng aluvi trong các thung lũng sông,

sa khoáng thung lũng carst và sa khoáng phong hóa eluvi trên tụ khoáng quặng gốc

- Sa khoáng aluvi phân bố ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sươn Dương (Tuyên Quang và Quỳ

Hợp (Nghệ An) Một số thung lũng chứa sa khoáng mang tính chất của thung lũng hỗn hợp aluvi– carst, điển hình là tụ khoáng Tĩnh Túc – Nậm Kép (Cao Bằng), Bản Poòng-Bản Hạt, ChâuCường, Na Ca (Nghệ An)

Thung lũng sa khoáng Tĩnh Túc kéo dài theo phương đông tây dài 2,2km, rộng trungbình 100-200m Bề dày trầm tích sa khoáng aluvi có nơi hơn 40m Từ trên mặt xuống đến 20mhàm lượng casiterit khá đều, đạt hàm lượng khai thác kinh tế Từ 20m trở xuống hàm lượng cao,

có nơi đạt trên dưới 500g/m3, khoáng vật quặng chủ yếu trong sa khoáng là casiterit, ít wolframit,rutin và vàng Đã khoanh định 7 thân quặng sa khoáng hàm lượng casiterit trung bình toàn tụkhoáng 1361g/m3 Tổng trữ lượng và tài nguyên tụ khoáng đạt hơn 18 ngàn tấn, trong đó casiterit

là hơn 16 ngàn tấn, wolframit xấp xỉ 14 ngàn tấn Tụ khoáng đã được khai thác gần hết, đang khaithác lại bãi thải Thung lũng Nậm Kép, dài 2400m, nơi rộng nhất khoảng 300 m, là phần thượngnguồn của sa khoáng Tĩnh Túc, có tài nguyên khoảng 5400 tấn casiterit [Bùi Tất Hợp và nnk.,2007]

Trang 15

Các tụ khoáng sa khoáng Quỳ

Hợp (Bản Poòng, Bản Hạt, Châu Cường,

Na Ca, Bản Cô, Sông Con và một số sa

khoáng nhỏ khác) có tổng trữ lượng và

tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2)

tới 30 ngàn tấn casiterit, trong đó lớn

nhất là Na Ca (Châu Quang, Quỳ Hợp),

hơn 13 ngàn tấn, Châu Cường gần 5

ngàn tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Các tụ khoáng sa khoáng thiếc ở

vùng Sơn Dương (Bắc Lũng, Khuôn

Phầy, Ngòi Lẹm, Trúc Khê) có trữ lượng

và tài nguyên cấp 121+122+333

(B+C1+C2) đạt ần 12 ngàn tấn casiterit

[Bùi Tất Hợp và nnk., 2007] Tuy nhiên,

cơ bản đã khai thác hết

- Sa khoáng thung lũng carst

Điển hình của thung lũng carst chứa sa khoáng thiếc là Thung Lũng 1, Thung lũng 3 (haycòn được gọi chung là Na Hiêng) và một số thung lũng nhỏ gọi là Bắc Na Ca (Quỳ Hợp, NghệAn) Thung lũng nằm trên địa hình cao, cách mực xâm thực xâm thực địa phương khoảng 20 m,trong thung lũng kín, dạng đẳng thước, xung quanh là đá vôi Bề dày trầm tích chứa thiếc tới trên

30 m Trữ lượng Thung Lũng 1 đến trên 4 ngàn tấn casiterit, đã được khai thác hết

- Sa khoáng phong hóa eluvi

Sa khoáng phong hóa eluvi gặp ở Na Ca (Bản Chiềng, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An),

là sản phẩm phong hóa của tụ khoáng thiếc gốc Na Ca Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp122+333 (C1+C2) là khoảng 2,4 ngàn tấn casiterit [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Quặng thiếc gốc gồm 3 kiểu tụ khoáng chính: tụ khoáng dạng mạch thạch anh-casiterit,

thiếc greisen và pegmati chứa thiếc

- Kiểu tụ khoáng mạch thạch anh-casiterit là kiểu tụ khoáng thiếc gốc chính, có mức độ

phân bố và tiềm năng lớn nhất đối với quặng thiếc gốc Các tụ khoáng kiểu này đã gặp ở QuỳHợp, Sơn Dương, Đà Lạt Các mạch riêng biệt thường có bề dày không lớn, 0,2 đến 1 m, ít khiđến 2-3 m Ngoài thiếc, trong một số tụ khoáng còn gặp wolframit, tantan- niobi và một sốkhoáng vật quặng khác Kiểu tụ khoáng này có 2 kiểu quặng điển hình là thạch anh chứa casiterit

và thạch anh-turmalin chứa casiterit

Tụ khoáng có triển vọng đáng chú ý nhất là Suối Bắc (Quỳ Hợp, Nghệ An), có tài nguyên

333 (C2) là 4,6 ngàn tấn Sn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Kiểu tụ khoáng thiếc greisen phân bố ở vùng quặng Pia Oắc (Cao bằng), Du Long

(Ninh Thuận) Hiện tại mức độ điều tra kiểu tụ khoáng này còn thấp, tổng tài nguyên cấp 333 (C2)chỉ khoảng vài ngàn tấn Sn

- Kiểu tụ khoáng pegmatit chứa thiếc

Kiểu tụ khoáng pegmatit chứa thiếc gặp ở điểm khoáng Khe Bún (Sơn Kim, Hương Sơn,

Hà Tĩnh) và La Vi (Quảng Ngãi) Tiềm năng các tụ khoáng này không lớn, có lẽ không quákhoảng 4-5 ngàn tấn Sn, ngoại trừ kim loại hiếm (Li, Ta, Nb) có trong chúng

Ảnh 3.9 Quặng oxit ở mỏ chì-kẽm Bản Bó, Bảo Lâm, Cao

Bằng Ảnh: Nguyễn Văn Quý

Trang 16

Casiterrit (Cas.) hạt tha hình cùng Gơtit (Goe) giả hình

pyrit xâm tán trong thạch anh.Điểm quặng Suối Mai, Quỳ

Hợp, Nghệ An Ảnh Nguyễn Quang Luật.

Casiterrit (Cas.) hạt tha hình xâm tán trong đá granit bị greizen hóa.Mỏ Tây Núi Pháo Ảnh Ngô Xuân Đắc.

1.1.3 Kim loại nhẹ

1 Nhôm

Quặng nhôm (bauxit) ở Việt Nam là khoáng sản có tiềm năng lớn Có 2 kiểu tụ khoángphổ biến là quặng trầm tích và quặng bauxit phong hóa

- Kiểu tụ khoáng bauxit trầm tích phổ biến ở các vùng quặng Hà Giang, Cao Bằng, Lạng

Sơn và vài nơi khác, được xem là nằm trên bề mặt bào mòn đá vôi Carbon – Permi Thượng, dướiđáy của đá vôi hệ tầng Đồng Đăng có tuổi Permi muộn Bauxit thường gặp trong các thung lũnggiữa đá vôi gồm quặng gốc và quặng lăn, trong đó quặng gốc thường có quy mô nhỏ, chất lượngquặng thấp hơn quặng lăn

Đặc điểm chung của bauxit trầm tích

gốc là quặng tồn tại ở dạng các lớp giữa đá vôi

(có đá mái); ở những nơi đá vôi đã bị bóc mòn

quặng lộ ra trên bề mặt (không có đá mái)

Quặng có thể có màu xanh đen hoặc nâu đỏ do

mức độ phong hóa Quặng lăn thường có màu

nâu đỏ, nâu nhạt gắn bó chặt chẽ với các thân

quặng gốc phân bố trong các thung lũng carst

kích thước vài trăm mét đến vài ngàn mét

Thành phần khoáng vật quặng gồm: diaspo:

20-50%, cá biệt tới 80%; boemit: thường nhỏ

hơn 10%, hạn hữu tới 20%; gibsit: 4-7%;

kaolinit, sericit, sét:1-2% Thành phần hóa học

quặng thay đổi trong khoảng rộng, ngay trong

một thân quặng có nơi gặp quặng có hàm

lượng Al2O3 trên 50%, có nơi chỉ dưới 20%; SiO2: 5-10% Tinh quặng bauxit (thường trên sàng

10 mm) thường có hàm lượng Al2O3 42-50,7%, modul silic 6-10 Một số tụ khoáng có quặng cóchất lượng đáp ứng yêu cầu luyện nhôm

Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) quặng bauxit trầm tích, kể cảquặng gốc và quặng lăn, đã tính được hơn 80 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Kiểu tụ khoáng bauxit phong hóa được hình thành từ quá trình phong hoá các đá giàu

nhôm, tập trung chủ yếu ở Đăk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Gia Lai Đặc điểm chung của tụkhoáng phong hoá là thường tồn tại dạng lớp có hình dạng phức tạp trên bề mặt đá basalt Cấu tạo

Ảnh 3.10 Quặng bauxit lộ ra ở thôn 1, xã Đăk D’Rông

(Cư Jút, Đắk Nông) Ảnh: Nguyễn Văn Thuấn

Trang 17

chung của mặt cắt thân quặng bauxit thường có tính phân đới, gồm: Đới laterit có màu đỏ sẫm,nâu đỏ, thành phần gồm bauxit cứng, limonoit dày 1-2 m, đôi khi đến 8 m; đới chứa bauxit màunâu đỏ, nâu nhạt, 2-15 m; đới litoma (sét sặc sỡ), tới 20 m; đới basalt bán phong hoá (đớisaprolit), 0-6 m; và đá basalt.

Gipbxit Tập hợp vi vảy, hạt, tấm nhỏ nửa tự

hình, tự hình; kích thước 0,5-1µm đến 10µm;

vài tấm có kích thước tới 20 µm Cấu tạo

quặng đặc xit Mỏ Đắc Nông Ảnh Nguyễn

Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu gồm gibsit, ít boemit và kaolinit Thành phần hoáhọc quặng nguyên khai: Al2O3: 35-40 %; SiO2: 10-15 %; Fe2O3: 20-25 %; TiO2: 2-3 % Chấtlượng tinh quặng rất ổn định, các thông số về độ thu hồi và chất lượng tinh quặng bauxit ít thayđổi Hàm lượng Al2O3 trong tinh quặng thay đổi trong khoảng 48-53%, SiO2: 1,5 – 5%, Fe2O3:15-19% Hệ số thu hồi tinh quặng 48-52% Khoáng vật tạo đá chứa oxyt nhôm chủ yếu là gibsit,

có 70-80% tổng hàm lượng Al2O3 trong

quặng nằm trong gibsit Phần oxyt nhôm còn

lại nằm trong caolinit và alumo-goethit

Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp

121+122+333 (B+C1+C2) bauxit phong hóa

đã tính được là gần 3.000 triệu tấn quặng

tinh, tương ứng với quặng nguyên khai gần

7.000 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

2 Titan

Việt Nam có tiềm năng lớn quặng

titan, trong đó có cả quặng titan gốc và sa

khoáng Tổng trữ lượng và tài nguyên quặng

titan ở Việt Nam đã tính được là 661 triệu tấn

khoáng vật nặng có ích, trong đó khoáng vật

titan chiếm khoảng 83-86%

Ảnh 3.11 Bauxit giả cầu tại vách Quốc lộ 14, thuộc xã

Trường Xuân (4/2005) Ảnh: Nguyễn Văn Thuấn

Trang 18

Quặng titan gốc: Tụ khoáng quặng titan gốc mới được thăm dò đánh giá duy nhất là tụ

khoáng Cây Châm (Thái Nguyên) Tụ khoáng Cây Châm nằm trên địa phận huyện Phú Lương,tỉnh Thái Nguyên

Quặng gốc trong tụ khoáng gồm 2 thân chính là thân quặng Tây và thân quặng Đông Cả

2 thân đều phân bố trong đá gabropegmatit hạt lớn

Thân quặng Tây là thân quặng có giá trị nhất, có đường phương gần kinh tuyến, cắm vềphía tây với góc dốc 30-50o; chiều dài theo đường phương tới 700m, theo hướng dốc thân quặng

có chiều sâu tới 450m; chiều dày thay đổi từ 5 đến 85m Hàm lượng ilmenit trong quặng đạt từ 10

% ở rìa ngoài và trên 30% ở trung tâm Thân quặng Đông có đường phương TB-ĐN cắm về phíatây với góc dốc khoảng 30-35o

Khoáng vật quặng chủ yếu gồm ilmenit, thứ yếu có pyrotin, rutin, pyrit, hematit,chalcopyrit; khoáng vật phụ có marcazit, magnetit Khoáng vật phi quặng gồm pyroxen,amphybon, plagioclas

Dựa vào hàm lượng ilmenit trong quặng có thể phân ra quặng giàu, trung bình và nghèo.Quặng giàu chỉ gặp ở thân quặng Tây, có hàm lượng khoáng vật quặng từ 30 đến trên 90%.Thành phần hóa học quặng giàu gồm (%): TiO2: 15-36; FeO: 23; Fe2O3: 2,8; SiO2: 16,7;Mn:0,56;

V2O5: 0,12-0,25; Ta2O5: 0,01-0,025; Nb2O5: 0,07; Cr2O3: 0,045; Al2O3: 3,8 Quặng trung bình baoquanh thấu kính quặng giàu ở thân quặng Tây và nằm ở trung tâm thân quặng Đông Hàm lượngTiO2 trong quặng loại này đạt 10-16%

Trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) của tụ khoáng Cây Châm đã tínhđược gần 5 triệu tấn TiO2, trong đó trữ lượng 121+122 (B+C1) gần 3 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk.,2007]

Quặng titan sa khoáng: Quặng sa khoáng titan ở Việt Nam gồm 3 kiểu tụ khoáng phổ

biến: tụ khoáng ilmenit phong hóa eluvi-deluvi, tụ khoáng sa khoáng cồn cát ven biến và tụkhoáng sa khoáng titan-zircon trong tầng cát đỏ

- Tụ khoáng phong hóa ilmenit eluvi-deluvi trên các khối xâm nhập phân bố ở Thái

Nguyên (xung quanh Núi Chúa), mới chỉ có tụ khoáng sa khoáng Đông và Tây Cây Châm đãđược thăm dò, khai thác; các tụ khoáng khác đã được điều tra, đánh giá Tổng tài nguyên quặng

sa khoáng phong hóa eluvi-deluvi ở vùng tụ khoáng Thái Nguyên đã tính được khoảng 3,4 triệutấn ilmenit [Phạm Thế Nhữ và nnk., 2007]

- Tụ khoáng sa khoáng ilmenit-zircon cồn cát ven biển là kiểu tụ khoáng phổ biến, phân

bố từ Thanh Hóa đến Bình Thuận Sa khoáng kiểu tụ khoáng này thường phân bố trên các cồn cátkéo dài song song với bờ biển, hàm lượng khoáng vật có ích không đều, có nơi tới hàng chụcphần trăm, có nơi chỉ 0,2, 0,3% Quặng dễ khai thác, dễ tuyển nhưng quy mô không lớn, khôngtập trung, chiều dày tầng chứa quặng ít khi tới 15m Tổng tài nguyên kiểu tụ khoáng này đã tínhđược khỏng 41 triệu tấn khoáng vật nặng có ích Tuy nhiên phần lớn các tụ khoáng đã bị khaithác, số lớn còn lại nằm trong các vùng có mồ mả, khu dân cư

- Tụ khoáng sa khoáng ilmenit-zircon trong tầng cát đỏ

Sa khoáng trong tầng cát đỏ có quy mô lớn, tập trung, diện tích chứa quặng tới hàng trămkilomet vuông, bề dày tới 60-70m, có nơi trên 100m, có 1 lỗ khoan tới 190 m; hàm lượng quặngkhông giàu, tối đa tới 1-2% (KVN có ích), trung bình 0,6-0,7%, nhưng khá đồng đều Một ưu thếlớn của quặng trong tầng cát đỏ là hàm lượng zircon cao, chiếm 13-15% tổng khoáng vật nặng cóích, do vậy, nếu tính hàm lượng TiO2 quy đổi, hàm lượng quặng sẽ cao hơn khoảng 1,3 lần, nếutính hàm lượng ilmenit quy đổi, sẽ là 2,0-2,6 lần, trung bình 2,3 lần Như vậy, hàm lượng trungbình quặng trong tầng cát đỏ theo ilmenit quy đổi nằm trong khoảng 1,3 đến 1,7%

Các sa khoáng trong tầng cát đỏ có tài nguyên lớn gồm Từ Hoa, Sơn Hải (Ninh Thuận)với tài nguyên khoảng 17 triệu tấn khoáng vật nặng có ích; Tuy Phong (24 triệu tấn), Bắc PhanThiết (trên 511 triệu tấn), Nam Phan Thiết (trên 60 triệu tấn) Tổng tài nguyên quặng titan trong

Trang 19

tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận – Bình Thuận hơn 600 triệu tấn khoáng vật nặng có ích, trong đótổng khoáng vật titan (ilmenit, rutin, leucoxen, annatas) hơn 500 triệu tấn [Trần Văn Thảo vànnk., 2011].

Khoáng vật ilmenit dạng đẳng thước trong cát

đỏ ven biển Ninh Thuận Ảnh Trần Ngọc Thái

Khoáng vật ilmenit dạng kéo dài trong cát đỏven biển Ninh Thuận Ảnh Trần Ngọc Thái

Ngoài khoáng vật titan, tài nguyên zircon trong sa khoáng titan – zircon đã tính đượckhoảng 87 triệu tấn

E.I.1.4 Kim loại quý

Khoáng sản kim loại quý ở Việt Nam mới chỉ điều tra, đánh giá thăm dò và khai thác vàng

1 Vàng sa khoáng

Vàng sa khoáng phổ biến ở nhiều nơi, nhưng các tụ khoáng được điều tra, đánh giá thăm

dò chỉ tập trung ở một số vùng như Na Rì (Bắc Kạn), Đại Từ (Thái Nguyên), Bồng Miêu (QuảngNam) và một số điểm nhỏ ở Hà Giang, Hòa Bình, Nghệ An,

Sa khoáng vàng ở Việt Nam có trữ lượng nhỏ Ngoài tụ khoáng vàng Tân An, LươngThượng (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn, trữ lượng 333 (C2) trên 1 tấn và các tụ khoáng Bồ Cu,Trại Cau-Suối Hoan (Thái Nguyên) thuộc loại quy mô trung bình, trữ lượng 122+333 (C1+C2) trên0,5 tấn, Cắm Muộn (gần 300 kg) thì các tụ khoáng còn lại đều có trữ lượng nhỏ, chủ yếu vài chụckilogam Hàm lượng vàng trong các tụ khoáng, điểm quặng thường thấp, chủ yếu dưới 1g/m3.Chiều dày tầng sản phẩm 0,5-3m, lớp phủ thay đổi từ 1 ÷ 5m, có nơi đến 15m [Bùi Tất Hợp vànnk., 2007]

2 Vàng gốc

Quặng vàng gốc ở Việt nam có ở nhiều nơi, đã thống kê, đăng ký trên bản đồ khoáng sảnkhoảng trên 200 tụ khoáng và điểm khoáng Tuy nhiên, các tụ khoáng và điểm khoáng có triểnvọng, được điều tra, đánh giá, thăm dò chỉ khoảng 50 tụ khoáng và Điểm khoáng

Theo nguồn gốc, quặng vàng gốc ở Việt Nam có 2 kiểu tụ khoáng chính: mạch thạch anhchứa vàng và vàng viễn nhiệt (epithermal)

- Kiểu tụ khoáng mạch thạch anh chứa vàng là kiểu tụ khoáng vàng phổ biến nhất ở

Việt Nam, phân bố khắp từ vùng Đông Bắc, Tây Bắc đến Trung Bộ và Tây Nguyên Trong số

50 tụ khoáng và Điểm khoáng vàng gốc có triển vọng kiểu tụ khoáng mạch thanh anh chứa

Trang 20

vàng chiếm 47 điểm Theo thành phần vật chất quặng và đá vây quanh người ta chia kiểu tụkhoáng này thành nhiều phụ kiểu hoặc kiểu quặng: mạch thạch anh nghèo sulphur chứa vàng,mạch thạch anh-sulphur chứa vàng, mạch thạch anh-antimon chứa vàng, mạch thạch anh chứavàng trong đá phiến lục v.v…

Đặc điểm chung của kiểu tụ khoáng vàng

gốc mạch thạch anh chứa vàng là thân quặng

thường dạng mạch, thấu kính, chuỗi thấu kính,

đới vi mạch có sulphur pyrit, sphalerit, galenit,

arsenopyrit, có nơi có antimonit, bulagierit,

chalcopyrit; khoáng vật mạch chủ yếu là thạch

anh, sericit, có nơi có canxit, clorit Một đặc

điểm đáng lưu ý là hầu hết các tụ khoáng và

Điểm khoáng vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc

Trung Bộ đều có góc dốc lớn, thường 60-80o,

trong lúc đó các mạch trong vùng Bồng Miêu,

Phước Sơn và một số điểm phía nam thường chỉ

có gốc dốc 10-30o, một số nơi đến 35o

Hàm lượng vàng trong quặng rất không

đồng đều, có thể đạt hàng trăm gam/tấn, nhưng

thông thường từ 0,5 đến 3-4g/t

Các tụ khoáng có trữ lượng và tài nguyên đáng kể đã được thăm dò gồm: Phước Sơn (haycòn gọi là Đăk Sa, gồm khu Bãi Đất và Bãi Gõ), Bồng Miêu (Núi Kẽm) (Quảng Nam); Sa phìn,Minh Lương (Lào Cai) trong đó tụ khoáng Bồng Miêu và Phước Sơn được biết là có trữ lượng vàtài nguyên lớn nhất: 12,3 và 24 tấn cấp 122 và 333 (C1 và C2), tụ khoáng vàng Minh Lương có trữlượng và tài nguyên cấp 122+333 gần 3.000 kg [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Tụ khoáng vàng Phước Sơn đã được Công ty TNHH vàng Phước Sơn thăm dò với khốilượng rất lớn công trình khoan Hiện tại trong phạm vi tụ khoáng đã phát hiện, thăm dò 12 thânquặng, trong số đó 3 thân quặng được nghiên cứu tốt nhất là thân quặng Chính Bãi Đất, thânquặng 1 và 3 Bãi Gõ

Các thân quặng đều nằm trong mạch thạch anh dập vỡ, đường phương kéo dài theohướng đông bắc – tây nam, cắm về phía tây bắc với góc dốc khoảng 30o Kích thước 3 thân quặnglớn thay đổi trong khoảng dài 300 đến 1300 m, rộng (lớn nhất) 80-460 m, bề dày mạch thay đổi

từ 0,5 đến trên 15 m, trung bình 2,28-2,75 m Thành phần khoáng vật quặng gồm: pyrit, galenit,pyrotin, sphalerit Khoáng vật mạch gồm thạch anh và sericit Hàm lượng sulphur từ 2 đến 15%,đôi nơi đến 45% Hàm lượng vàng trong các thân quặng thay đổi trong khoảng lớn, từ 0,22 đếnhàng trăm g/t Hàm lượng Pb+Zn từ hàng chục đến hàng chục ngàn, có nơi hàng trăm ngàn ppm

Tụ khoáng đang thiết kế khai thác và tiếp tục được thăm dò mở rộng

- Kiểu tụ khoáng vàng-bạc viễn nhiệt: Tụ khoáng quặng vàng-bạc kiểu viễn nhiệt điển

hình mới được biết duy nhất là tụ khoáng Xà Khía (Lệ Thủy, Quảng Bình), một số Điểm khoángnghi ngờ có thể thuộc kiểu này như Rào Mốc (Hà Tĩnh), Làng Nèo (Thanh Hóa) và vài nơi khácnhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ

Đới đá biến đổi kiểu quazit thứ sinh kèm theo mạch thạch anh chứa sulfur và chứa vàng,bạc Tụ khoáng Xà Khía nằm trong đứt gãy Xà Khía – Xà Lời phương TB-ĐN Đới chứa quặng

có chiều dài trên 1000m, rộng 5-12m, thế nằm 40 ∠ 75o Diện tích có quặng giàu mới chỉ pháthiện ngay trong tụ khoáng với chiều dài khoảng 250-300m, rộng 5-8m Thành phần khoáng vậtquặng: pyrit, vàng, electrum, sphalerit, galenit, chalcopyrit, tetraedrit, arsenopyrit; khoáng vật phiquặng: thạch anh, felspat, sericit, pyrophylit, adule Hàm lượng: Au: dưới 1 g/t-430g/t, Ag: 4-

Ảnh 3.12 Vàng tự sinh ở Bình Gia (Lạng Sơn)

Ảnh: Bảo tàng Địa chất, Hà Nội

Trang 21

1778,5g/t; Pb: 952-4947ppm, Zn: 134-1235ppm; As: 320-1298ppm; Sb: 187-546ppm Trữ lượng

và tài nguyên đã tính được 500 kg Au [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Au tự sinh và chalcopyrit quan hệ tiếp xúc

phẳng (đồng sinh) tạo THCS xâm tán trong

thạch anh (100X) Điểm quặng Suối Chát, Phù

Yên, Sơn La Ảnh Nguyễn Quang Luật

Au tự sinh và bismutin quan hệ tiếp xúc phẳng(đồng sinh) tạo THCS xâm tán trong thạch anh(100X) Điểm quặng Suối Chát, Phù Yên, Sơn

La Ảnh Nguyễn Quang Luật

Tổ hợp cộng sinh Au tự

sinh-chalcopyrit-galenit xâm tán trong thạch anh (50X) Điểm

quặng Làng Ngành Ảnh Nguyễn Quang Luật

Au tự sinh và sphalerit hạt tha hình xâm tántrong thạch anh (100X) Điểm quặng LàngNgành Ảnh Nguyễn Quang Luật

Au tự sinh hạt tha hình kích thước khác nhau

xâm tán trong thạch anh và pyrit Mỏ Bông

Miêu Ảnh Nguyễn Quang Luật

Tổ hợp cộng sinh Au tự sinh-galenit xuyên theokhe nứt trong thạch anh và pyrit Mỏ BôngMiêu Ảnh Nguyễn Quang Luật

Trang 22

Tổ hợp cộng sinh Au tự sinh-galenit-sphalerit

trong thạch anh Mỏ Phước Sơn Ảnh Nguyễn

Quang Luật

Tổ hợp cộng sinh Au tự sinh-galenit-sphalerittrong thạch anh Mỏ Phước Sơn Ảnh NguyễnQuang Luật

Tổ hợp cộng sinh Au tự sinh-antimonit trong

thạch anh (100X) Mỏ Tà Sỏi Ảnh Nguyễn

Quang Luật

Au tự sinh dạng bao thể trong pyrit hạt nửa tựhình (100X) Điểm quặng Suối Chát, Phù Yên,Sơn La.Ảnh Nguyễn Quang Luật

Tổ hợp cộng sinh Au tự sinh-galenit-sphalerit

trong thạch anh Au tự sinh dạng bao thể hình

dạng và kích thước khác nhau trong nền

Au tự sinh lấp đầy theo các lỗ hổng và vi khenứt tạo ổ và vi mạch trong thạch anh Mỏ PắcLạng Ảnh Lê Xuân Trường

Trang 23

sphalerit (500X) Mỏ Pắc Lạng Ảnh Đỗ Quốc

Bình

E.I.1.5 Đất hiếm và nguyên tố hiếm

Kim loại hiếm ở Việt Nam mới chỉ phát hiện Ta, Nb, Li, Zr, In, Cd và một số nguyên tốkhác Ta, Nb tồn tại ở dạng khoáng sản đi kèm trong quặng thiếc vùng Pia Oăc, Sơn Kim; In, Cd

là khoáng sản đi kèm của các tụ khoáng chì-kẽm, zircon là khoáng sản đi cùng sa khoáng ilmenit,

có giá trị tương đương hoặc cao hơn ilmenit

Tụ khoáng đất hiếm Đông Pao: đã phát hiện trên 60 thân quặng với 16 thân có khả năng

đạt chất lượng khai thác Có 2 loại quặng: quặng gốc dạng mạch và quặng phong hoá deluvi Quặng gốc dạng mạch có chiều dày 3-4m, chỗ dày 2-7,77m, càng xuống sâu hàm lượngcàng thấp Hàm lượng TR2O3=4,43-6,17% (đối với quặng fluorit-barit đất hiếm)

eluvi-Trữ lượng quặng: TR2O3: cấp 121+122+333 (C1+C2+P1) khoản 700 ngàn tấn; cấp 334b (P2)gần 1 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Tụ khoáng đất hiếm Bắc Nậm Xe: Quặng đất hiếm phân bố trong đá vôi bị biến đổi tạo

dải rộng 500-600m, dài ~ 4km theo phương TB-ĐN bao gồm hàng chục thân quặng công nghiệp

có chiều dày 0,5-5-6m, chiều dài từ vài chục mét đến 200-500m Trong quặng đất hiếm có xâmtán: barit, galenit, sphalerit, pyrit, fluorit, ilmenit, chalcopyrit, limonit Riêng galenit, sphaleritngoài xâm tán còn có dạng ổ, mạch nhỏ Hàm lượng ∑TR2O3 trung bình 4-6%; Pb=0,04-1,29%;Zn=0,008-0,18%; BaSO4=trung bình 3,258%; CaF2: trung bình 2,222% Cường độ phóng xạ đạt200-300µR/h (có chỗ 2000µR/h) Hàm lượng ThO2=0,023- 0,156%; U3O8=0,01- 0,041%

Trữ lượng ∑TR2O3 khoảng 7 triệu tấn, Pb=400.000 tấn, Zn=51.000 tấn, CaF2=1 triệu tấn

và BaSO4=1,6 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Tụ khoáng đất hiếm Nam Nậm Xe: Đã phát hiện được 4 thân quặng, hàm lượng TR2O3

trung bình 10,6 %

Khoáng vật quặng: barit, baritoxelextin, parzit, basnezit, ankerit, calcit, ít pyrit, galenit,sphalerit, magnetit, fluorit Trữ lượng TR2O3 cấp 121+122 (B+C) gần 200 ngàn tấn ; (P1)xấp xỉ 3triệu tấn

Tụ khoáng Yên Phú: Có 2 kiểu phân bố của quặng đất hiếm: quặng đất hiếm đi cùng

thạch anh-magnetit, quặng đất hiếm xâm tán trong các lớp đá phiến thạch anh-serixit có felspat,

đá phiến silic, phiến sét vôi với chiều dày 1-10 m

Hàm lượng quặng TR2O3=0,1- 7%, trung bình 1,12% Tỷ lệ đất hiếm nhóm nặng cao Trữlượng, tài nguyên cấp 122+333 (C1+C2)=17.190 tấn TR2O3, trong đó cấp 122 (C1) hơn 6 ngàntấn, 333 (C2) gần 11 ngàn tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

- Quặng đất hiếm phong hóa: Ngoài quặng phong hóa trên các tụ khoáng đất hiếm đã nêu

trên, ở Việt Nam mới phát hiện kiểu tụ khoáng đất hiếm phong hóa trên các khối granitoid kiếm

Trang 24

chứa các khoáng vật chứa đất hiếm như ortit, sfen ở Bến Đền (Là Cai) Quặng tồn tại cả trong đớisét phong hóa trên mặt và trong tầng granit bán phong hóa mềm bở Tuy hàm lượng đất hiếmkhông cao (hàng trăm đến hàng ngàn ppm) nhưng theo các nhà địa chất JOGMEC (Nhật Bản)quặng thuộc loại dễ tuyển, có thể có ý nghĩa kinh tế.

Quặng đất hiếm sa khoáng: gồm monasit, xenotim đi kèm trong sa khoáng titan – zircon

và sa khoáng monasit aluvi Kiểu đầu rất phổ biến nhưng hàm lượng khoáng vật chứa đất hiếmrất thấp Hàm lượng monasit chỉ khoảng 0,1 – 0,2% tổng khoáng vật nặng có ích, xenotim rất ít.Quặng monasit trong sa khoáng aluvi chỉ mới được biết ở Điểm khoáng Bù Khạng, mới đượcđiều tra, đánh giá, chưa được thăm dò

Tổ hợp Basnezit (Bas)-Barit(Ba)-Thạch anh

(Q) trong quặng Đất hiếm Nam Nậm Xe Ảnh

đỏ Tuy nhiên, hàm lượng zircon trong quặng ở các tụ khoáng không giống nhau

Trong các sa khoáng kiểu cồn cát ven biển vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế hàm lượngzircon chiếm đến 13-15%, có nơi đến 20%, tổng khoáng vật nặng có ích; các sa khoáng vùng ThanhHóa, Hà Tĩnh, Bình Định, Phú Yên có hàm lượng zircon thấp, chỉ chiếm 4-6%, cao nhất đến 8%tổng khoáng vật nặng có ích

Hàm lượng zircon trong sa khoáng titan – zircon trong tầng cát đỏ thường thay đổi trongkhoảng 12-15%, cao nhất, ở vùng Hàm Tân, tới 20-25%

Tổng tài nguyên zircon trong sa khoáng đã tính được khoảng 87 triệu tấn, trong đó, chủyếu tập trung trong tầng cát đỏ Do ảnh hưởng của zircon, hàm lượng ilmenit quy đổi của các sakhoáng có thể lớn hơn hàm lượng tổng khoáng vật nặng có ích tới 2,0-2,6 lần

Trang 25

Khoáng vật zircon màu xanh nhạt trong cát đỏ

ven biển Ninh Thuận Ảnh Trần Ngọc Thái

Khoáng vật zircon không màu trong cát đỏ venbiển Ninh Thuận Ảnh Trần Ngọc Thái

3 Liti

Quặng liti chỉ mới được biết ở dạng đi

kèm trong quặng thiếc ở vùng Pia Oắc (Cao

Bằng) và La Vi (Quảng Ngãi) (ảnh 3.17)

Tụ khoáng liti La Vi đã được điều tra,

đánh giá, xác định có ý nghĩa độc lập Phát

hiện, khoanh định 40 thân quặng, trong đó có

16 thân quặng tính được tài nguyên cấp 333

(C2) Các thân quặng trong tụ khoáng có dạng

mạch, thấu kính, ổ nằm trong các thân

pegmatoid hoặc aplit Chiều dài thân quặng lớn

nhất tới 600 -700m, dày trung bình khoảng 1-2

m Khoáng vật quặng chính là lepidolit, có nơi

có casiterit Khoáng vật không quặng gồm

thạch anh, muscovit, felspat, turmalin Hàm

lượng Li trong quặng thay đổi trong khoảng 0,1

đến trên 1% LiO2 Tổng tài nguyên cấp 333 đã tính được là 4.400 tấn LiO2, 1.400 tấn Sn [Phạm

Ảnh 3.13 Khoáng vật lepidolit chứa lithi trong quặng thiếc-lithi

mới phát hiện ở Ba Tơ, Quảng Ngãi Ảnh: Nguyễn Văn Quý

Trang 26

Văn Thông và nnk., 2009] Tuy nhiên, do số lượng công trình khoan còn quá ít, tài nguyên cácnguyên tố có thể thay đổi nhiều sau khi thăm dò

Casiterit với lepidolit trong mạch pegmatoit

vùng La Vi, Quảng Ngãi Ảnh Dương Ngọc

Tình

Lepidolit + casiterit trong pegmatit albitit greisen (2 nicon) vùng La Vi, Quảng Ngãi.Ảnh Đỗ Văn Nhuận

-I.2 Nhóm khoáng sản không kim loại

I.2.1 Khoáng chất công nghiệp

1 Hóa chất và phân bón

1 Apatit

Quặng Apatit ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực Lào Cai (ảnh 3.18), có nguồn gốc trầm

tích-biến chất Quặng phân bố dọc bờ phải

sông Hồng từ biên giới Việt-Trung ở phía bắc

đến vùng Làng Lếch (Văn Bàn) ở phía ĐN, tạo

thành dải kéo dài trên 100 km, rộng trung bình

1 km, chỗ rộng nhất 3 km Bể apatit Lào Cai

được chia thành 3 khu: 1) Lũng Pô-Bát Xát, 2)

Bát Xát-Ngòi Bo, và 3) Ngòi Bo-Bảo Hà, gồm

các thành tạo lục nguyên-carbonat chứa

phosphat biến chất thành apatit thuộc điệp Kốc

San do A.F Kalmưcov xác lập năm 1959 khi

nghiên cứu, thăm dò vùng tụ khoáng apatit

Lào Cai Trong các văn liệu địa chất hiện nay

chúng còn có tên gọi là hệ tầng Cam Đường

tuổi Cambri sớm, dày 600-800 m Điệp Kốc

San, sau này gọi là Hệ tầng Kốc San được

phân chia thành 8 tầng đá chuyển tiếp từ

dưới lên, được theo dõi, phân chia đầy đủ ở

khu Trung tâm của vùng tụ khoáng, trong đó

các tầng KS4, KS5, KS6 và KS7 chứa quặng apatit

Ảnh 3.14 Khai thác apatit ở vùng mỏ Lào Cai.

Ảnh: Mỏ Apatit Lào Cai 45 năm xây dựng và trưởng thành

Trang 27

Quặng apatit Lào Cai được phân thành 4 loại, trong đó các loại I và III là quặng phonghóa mềm xốp; các loại II và IV là quặng apatit carbonat nguyên sinh (Hình 3.17).

Quặng loại I thuộc phần phong hóa của vỉa apatit tập KS5 nằm trên mực nước dưới đất,

có độ xốp cao; hàm lượng trung bình P2O5: 34-36 % Quặng loại II là loại apatit carbonat chưaphong hóa của tập KS5 nằm trực tiếp dưới quặng loại I; hàm lượng trung bình P2O5: 23-24 %.Quặng loại III nằm trong đới phong hóa như quặng loại I, song hàm lượng apatit nghèo, thuộc tập

KS4, còn được gọi là quặng thạch anh-apatit; hàm lượng trung bình P2O5: 15-17 % Quặng loại IV

là phần quặng nghèo nằm trong tập KS6, KS7; hàm lượng trung bình P2O5: 11-12 %

Quặng apatit loại I, Lào Cai Cấu tạo dạng dải

Thân quặng số 5 Hàm lượng P205 : 28-38%

Ảnh Nguyễn Quang Luật

Quặng apatit loại II, Lào Cai Cấu tạo dạngdải.Thân quặng số 5 Hàm lượng P205 : 18-28% Ảnh Nguyễn Quang Luật

Kết quả thăm dò đã xác định tổng tài nguyên đến độ sâu 100 m từ mặt đất là 2,5 tỷ tấn Trữlượng và tài nguyên chắc chắn 111+211+121+212 là 900 triệu tấn [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

Trang 28

Hình 3.17 Mặt cắt địa chát tuyến 14 mỏ apatit Phú Nhuận

2 Barit

Cho đến nay trên 50 tụ khoáng, điểm quặng barit đã được ghi nhận, trong đo 15 tụkhoáng đã được điều tra, đánh giá thăm dò, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc Quặng cónguồn gốc nhiệt dịch được chia làm 3 kiểu: barit-thạch anh, barit-đất hiếm và barit-sulfur

Barit-thạch anh (barit dạng mạch thấu kính): Ở nước ta, đây là loại hình quặng có triển

vọng nhất, phân bố ở nhiều nơi, có cấu trúc địa chất khác nhau Các thân quặng thường có dạngmạch xuyên cắt các tập cát kết, đá phiến tuổi Mesozoi và đá phiến sericit, quarzit tuổi Paleozoisớm Gần đây, phát hiện mới điểm barit thạch anh trong các trầm tích biến chất tuổi Proterozoi ởNgọc Quan, Đoan Hùng, Phú Thọ đã mở ra tiền đề tìm kiếm loại khoáng sản này ở vùng Tây BắcViệt Nam Trong thân quặng, barit chiếm khoảng 80-85 %, thạch anh – 15-20 % và một khốilượng không đáng kể khoáng vật sulfur như galen, cinnabar, chalcopyrit

Barit loại hình này khá phổ biến, chiếm khoảng 4/5 các vùng triển vọng và các tụ khoáng

đã được tìm kiếm thăm dò Các tụ khoáng đặc trưng cho loại hình này đã được thăm dò, đánh giánhư Làng Cao, Nà Ke, Sông Đáy ở Đông Bắc Bộ, Sơn Thành ở Nghệ An, Ngọc Quan ở Phú Thọ

- Tụ khoáng barit Làng Cao thuộc thôn Nguyên (Tân Yên, Bắc Giang) Quặng barit ở đây

có dạng mạch xuyên cắt các lớp bột kết, cát kết màu đỏ của hệ tầng Mẫu Sơn Trias thượng Cácmạch dạng thấu kính dài 150-300 m, ở phần trung tâm dày 4 m Các thân quặng khác đều nhỏ vàbiến đổi mạnh, dày 0,5-1,5 m Hàm lượng quặng ổn định (BaSO4: 85 %, Fe2O3 <7 %, SiO2 ~ 14,2

%)

Trang 29

Tụ khoáng Làng Cao đã được thăm dò đánh giá trữ lượng chắc chắn khoảng 320.000 tấn,trữ lượng dự báo khoảng 1,3 triệu tấn [Trần Văn Trị và nnk, 2000].

Barit-đất hiếm: Loại hình này chỉ gặp ở Tây Bắc Bộ barit tổ hợp chặt chẽ với đất hiếm.

Đã phát hiện 6 mỏ, trong đó chỉ có mỏ Nặm Xe và Đông Pao có trữ lượng barit đáng kể Thànhphần rất phức tạp, gồm các khoáng vật bastnaesit, magnetit, uranopyrochlorit, pyrit, galenit,apatit, fluorit và barit Barit thường chiếm khoảng 30 % quặng nguyên khai

- Tụ khoáng Đông Pao nằm ở huyện Phong Thổ (Lai Châu) Quặng ở mỏ này thuộc

nhóm fluorocarbonat, với thành phần khoáng vật chủ yếu gồm bastnaesit, fluorit-barit, trong đó tỷ

lệ fluorit và barit chiếm phần lớn Hàm lượng BaSO4 của quặng thay đổi từ 6 đền 41 % Tổng trữlượng và tài nguyên quặng barit của mỏ khoảng 2,9 triệu tấn

- Barit-sulfur: Loại quặng này gặp khá nhiều ở Việt Nam, mà chủ yếu là barit-chì-kẽm.

Loại hình này chưa được nghiên cứu điều tra nhiều

Mỏ Húc thuộc huyện Sơn Dương (Tuyên Quang), phân bố trong vùng đá vôi tái kết tinh

xám đen, xám sáng, phân lớp mỏng, xen quarzit sericit, đá phiến sericit-thạch anh tuổi Đevon Đávôi bị hoa hóa, đolomit hóa, chlorit hóa Đã xác định dược 5 thân quặng có chiều dài 100-200 m.Quặng dạng mạch, vỉa dầy 0,6-4 m Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm barit, galenit,chalcopyrit Hàm lượng BaSO4 trung bình trên 40 % Hàm lượng các nguyên tố khác trong quặng(%): Pb = 5,29; Sr = 1-3; Zn = 0,08; Sb = 0,24; Cu = 0,06 và Sn = 0,03

Tài nguyên dự báo (cấp 333+334) của tụ khoáng khoảng 360 ngàn tấn Tổng trữ lượngchắc chắn và tin cậy khoảng 7,8 triệu tấn, tài nguyên khoảng trên 20 triệu tấn [Đinh Thành, 1995]

3 Fluorit

Quặng fluorit ở Việt Nam được phát hiện phần lớn là các tụ khoáng có nguồn gốc nhiệtdịch, trong đó 5 tụ khoáng đã được đánh giá thăm dò đánh giá trữ lượng và tài nguyên Trên cơ sởcác tài liệu hiện có, có thể chia ra 3 kiểu quặng fluorit gồm:

Fluorit-barit-đất hiếm: liên quan đến các đá xâm nhập kiềm phức hệ Pu Sam Cáp tuổi

Paleogen Tụ khoáng Đông Pao thuộc huyện Phong Thổ (Lai Châu) được coi là điển hình củakiểu tụ khoáng này Tụ khoáng có 15 thân quặng đất hiếm chứa đáng kể fluorit Thành phầnkhoáng vật chủ yếu là barit, fluorit, đất hiếm, trong đó fluorit thay đổi từ vài đến 95 % Quặngchủ yếu dạng khối, hạt nhỏ Đơn khoáng fluorit có thành phần hoá học (%): CaF2=98,69;SrO=1,45; La2O3=0,0356; Ce2O3=0,01; Nb2O5 rất ít Tụ khoáng Đông Pao có tiềm năng fluoritlớn nhất Việt Nam Trữ lượng tin cậy (122+222+332) hơn 900 ngàn tấn, tài nguyên dự báo hơn 6triệu tấn CaF2 [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]

Fluorit-thạch anh: Các tụ khoáng kiểu này có mối liên quan với các xâm nhập granit Tụ

khoáng Xuân Lãnh thuộc huyện Đồng Xuân (Phú Yên) nằm trong granitoid Trias phức hệ VânCanh Các thân quặng dạng mạch dài vài mét đến 180 m, dày 0,9 m Quặng cấu tạo khối đặc sít,rắn chắc Fluorit màu xanh lá cây nhạt thường đi với thạch anh, felspat Hàm lượng CaF2 thay đổilớn từ vài đến 85 % Trữ lượng tin cậy (122+222+332) khoảng 170 ngàn tấn, tài nguyên dự tính

107 ngàn tấn [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

Fluorit trong đá carbonat: Kiểu quặng này gặp ở tụ khoáng Bình Đường thuộc xã Phan

Thanh, huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) Có 3 thân quặng phân bố trong đới dập vỡ tiếp xúc giữa

đá hoa của hệ tầng Mia Lé tuổi Đevon sớm với granit phức hệ Pia Oắc tuổi Creta, trong đó 2 thân

có giá trị Quặng dạng ổ, mạch, bị phong hoá vỡ vụn Tụ khoáng đã bị khai thác cạn kiệt

4 Phosphorit

Ở Bắc Việt Nam đã phát hiện khá nhiều điểm quặng phosphorit, nhưng quy mô nhỏ, chỉvài ngàn đến vài chục ngàn tấn P2O5 Theo thống kê cho đến nay đã ghi nhận hàng trăm điểm

Trang 30

quặng phosphorit, trong đó 73 điểm đã được đánh giá, thăm dò vớ tổng trữ lượng và tài nguyênkhoảng 4 triệu tấn Tụ khoáng Vĩnh Thịnh có trữ lượng lớn nhất: 195 ngàn tấn [Trần Văn Trị vànnk, 2000] Có hai loại nguồn gốc thành tạo phosphorit: thấm đọng karst và phosphorit guano đảo thấp.

Phosphorit thấm đọng karst: phát triển chủ yếu trong đá vôi Carbon-Permi, gặp ở các

tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Sơn La, Yên Bái, Hoà Bình, Phú Thọ, NinhBình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam và Kiên Giang

- Tụ khoáng phosphorit Vĩnh Thịnh thuộc huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) nằm ở sườn núi đá

vôi có độ cao tuyệt đối từ 50 đến 250 m Quặng tồn tại dưới dạng quặng gốc và bở rời

Quặng gốc là những ổ, thấu kính phosphorit lắng đọng trên mặt bào mòn của dãy phễu karsttạo thành 2 thân quặng song song cách nhau 250 m, phương á vĩ tuyến, dài 60-150 m, rộng 10-20 m.Hàm lượng (%): P2O5 = 15-20; Al2O3 = 22; SiO2 = 10; Fe2O3 = 15

Quặng bở rời là sản phẩm phong hoá cơ học từ quặng gốc, tích tụ dưới chân núi đá vôi tạothành dải dài 380 m, rộng 150 m Hàm lượng P2O5 thấp, xấp xỉ 5-10 %

Phosphorit guano đảo thấp: có nguồn gốc thấm đọng từ phân chim trên các đảo ám tiêu

san hô vòng, phân bố rải rác trên quần đảo Hoàng Sa Phosphorit tạo thành lớp có bề dày thay đổi0,5-1,5 m nằm dưới lớp cát sâu từ 1 đến 3 m, có nơi lộ ngay trên mặt Quặng dạng kết hạch hoặcphân lớp uốn lượn lẫn trong mảnh san hô, xương cá, mùn hữu cơ bị phân huỷ, có màu nâu, bở rời;hàm lượng P2O5 thay đổi, trung bình 20 % Tổng tài nguyên khoảng 4,7 triệu tấn, trong đó tàinguyên dự tính là hơn 2 triệu tấn theo kết quả khảo sát của Đoàn Hợp tác Việt-Nhật [Trần HữuChâu, 1974] Ở quần đảo Trường Sa, quặng phosphat-cát-san hô-vỏ sò kết dính khá chắc hoặcdạng bột nâu đen, dày 1 m với hàm lượng P2O5 là 17-18 % Tài nguyên dự tính 180 ngàn tấn; tàinguyên dự báo khoảng 10 triệu tấn [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

5 Pyrit

Đến nay đã phát hiện trên 100 tụ khoáng và điểm quặng pyrit, trong đó 12 tụ khoáng đãđược điều tra và thăm dò, tập trung ở Bắc Bộ và Trung Bộ Pyrit có nguồn gốc nhiệt dịch có thểchia 4 kiểu quặng hoá gồm:

Nhiệt dịch trao đổi: Tụ khoáng pyrit Giáp Lai thuộc xã cùng tên, huyện Thanh Sơn (Phú

Thọ) thuộc kiểu quặng hóa này Tụ khoáng gồm 40 thân quặng nằm trong đá hoa dolomit, đá phiếnthạch anh-mica Neoproterozoi Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit và pyrrotin Có 2loại quặng: phong hoá và quặng gốc Quặng phong hoá có hàm lượng lưu huỳnh S >30 %, trongquặng sét chiếm 30-40 % Quặng gốc chủ yếu dưới dạng xâm tán trong đá hoa, hàm lượng S <30

%

Nhiệt dịch phun trào: Thuộc kiểu này có các tụ khoáng Minh Quang, Ba Trại, Cỏ Vọ, v.v

Tụ khoáng Ba Trại thuộc xã cùng tên, huyện Ba Vì (Hà Tây) nằm trong đá phun trào hệ tầng ViênNam tuổi Permi muộn Tụ khoáng có 1 thân quặng chính dài 1000 m, dày 2-3 m Quặng đặc sít, cóhàm lượng S=20,77 % Các thân quặng dạng lớp trong đá phun trào dài 800-2600 m, rộng 40-70 m,dày 0,6 -9,3 m

Kiểu quặng nhiệt dịch Gồm các tụ khoáng Bản Gôn, Na Pheo, v.v

- Tụ khoáng Bản Gôn thuộc xã Thượng Long, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên-Huế) đã được

thăm dò Quặng nằm trong đá phun trào đacit-ryolit, đá hoa, cát kết dạng quarzit hệ tầng AVương tuổi Cambri-Orđovic sớm Có hai loại quặng: eluvi-deluvi và quặng gốc Có 4 lớp quặngeluvi-deluvi nằm song song với nhau Tụ khoáng có 20 thân quặng gốc, trong đó 4 thân chứaarsenopyrit Khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit, pyrrotin, arsenopyrit Hàm lượng quặng giàu cóS=20 % Quặng pyrit chứa hàm lượng vàng từ 0,2 đến 1,8 g/tấn; bạc – 1-24,4 g/tấn

Quặng pyrit trong các tụ khoáng chì-kẽm, đồng

Trang 31

Kiểu quặng này được biết trong các tụ khoáng chì-kẽm Chợ Điền, Chợ Đồn (Bắc Cạn),Tòng Bá (Hà Giang), tụ khoáng đồng Sin Quyền (Lào Cai) v.v

6 Serpentin

Serpentin là sản phẩm biến đổi của đá xâm nhập siêu mafic Đã xác định được 2 tụkhoáng serpentin là Bãi Áng (Thanh Hoá) và Thượng Hà (Yên Bái)

Tụ khoáng serpentin Bãi Áng nằm ở tây nam dãy Núi Nưa, thuộc xã Tế Thắng, huyện

Nông Cống (Thanh Hoá) Serpentin được thành tạo từ biến đổi nhiệt dịch của các đá đunit,periđotit Dải serpentin kéo dài hàng chục kilomet tạo thành các vỉa quặng lớn, cấu tạo đặc sít.Serpentin màu xám, xám tro, xám xanh, rắn chắc Thành phần hoá học của quặng (%): MgO=27-40; SiO2=34-52; CaO vết; Al2O3+Fe2O3=6-12 Tụ khoáng đã được thăm dò đánh giá, trữ lượngcác cấp chắc chắn và tin cậy (cấp 111+122) là hơn 15 triệu tấn [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

Tụ khoáng Thượng Hà thuộc Phố Giàng (Yên Bái), cách ga xe lửa Bảo Hà 10 km Thành

phần hoá học quặng serpentin (%): MgO=22,3-37,8; SiO2=39,4-43,4; CaO=0,56-4,35;

Al2O3+Fe2O2=9,71-14,32 Tụ khoáng mới được điều tra; tài nguyên dự báo (cấp 333) đạt hơn 21triệu tấn [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

7 Than bùn

Hiện nay, đã phát hiện được hàng trăm mỏ, tụ khoáng và điểm quặng than bùn Chúngphân bố chủ yếu ở Nam Bộ và Bắc Bộ trong trầm tích Đệ tứ tuổi Holocen muộn, với trữ lượng tincậy khoảng 1,3 triệu m3 Có 4 kiểu tụ khoáng:

Kiểu đồng bằng giữa núi: phân bố chủ yếu ở Tây Bắc Bộ Tụ khoáng Phù Nham thuộc

huyện Văn Chấn (Yên Bái) phân bố trong thung lũng hẹp kéo dài, quy mô nhỏ Than nâu, xốp,nằm thành lớp dày 1-3 m có các đặc tính kỹ thuật sau: độ ẩm Wpt=7,9-37 %; độ tro Akh=25,9-56,8

%; chất bốc Vch=33-55,98 %; Vcb=66,2-76,4; Schg=2,1-12,36 %; Sk=21,67-40 %; nhiệt luợng

Qkh=3981-5513 kcl/kg Trữ lượng cấp 122 đạt gần 238 ngàn m3 [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

Kiểu đồng bằng núi thấp, bình nguyên: có quy mô nhỏ, phân bố chủ yếu ở Thanh Hoá,

Hà Tây, Hoà Bình Chiều dày lớp than 1-3,5 m, chiều dày lớp sét phủ là 0,4-1,4 m

Kiểu đồng bằng bồi tích Than tích tụ ở các trũng hồ, đầm lầy ven sông, chất lượng tốt,

nhưng quy mô nhỏ Lớp than có chiều dày 0,1-5 m, chiều dày lớp phủ từ 0,25 đến 5 m

Kiểu đồng bằng ven biển Than có quy mô rất lớn, thường lộ trên mặt hoặc bị phủ bởi lớp

cát mỏng, được tạo thành từ thực vật thân gỗ nước mặn và lợ gồm đước sú, vẹt, chàm bị phân huỷ

từ trung bình đến rất mạnh Trữ lượng chắc chắn riêng hai tụ khoáng U Minh Thượng và U MinhHạ: 210 triệu m3, chiếm trên 75 % trữ lượng than bùn cả nước [Trần Văn Trị và nnk, 2000]

2 Nguyên liệu sứ gốm

1 Sét gốm sứ

Sét gốm sứ phân bố rộng rãi trên cả nước Nhiều tụ khoáng, điểm sét gốm sứ đã đượcphát hiện, trong đó 29 tụ khoáng đã được thăm dò, đánh giá với trữ lượng tính được khoảng 81,7triệu tấn cấp 111+121+122+333 (A+B+C1+C2), tài nguyên cấp 122+333 (C2+P1) khoảng 137 triệutấn Có hai loại nguồn gốc sét gốm sứ là trầm tích và phong hoá tàn dư

Sét gốm sứ nguồn gốc trầm tích: chủ yếu nằm trong các thành tạo Neogen-Đệ tứ.

- Sét thành tạo trong trầm tích Holocen, phân bố rải rác ở các miền Đông Bắc Bộ, Tây

Bắc Bộ và Trung Trung Bộ Sét quặng nằm dưới lớp đất trồng hay lớp sạn cát Thân sét dạng thấukính dày từ 1 đến vài mét, chiều dài thay đổi từ vài chục đến vài trăm mét Thành phần hoá học(%): Al2O3=19-20; Fe2O2=2-4 Độ thu hồi qua rây 0,21 mm: 70-90 % Quy mô các tụ khoángthường nhỏ, trữ lượng thay đổi với tài nguyên dự báo từ 100 ngàn đến 1 triệu tấn

Trang 32

- Sét thành tạo trong trầm tích Pleistocen: phân bố rải rác ven các châu thổ, các sông lớn,

trên thềm bậc 2, bậc 3, thềm biền có độ cao 5-10 m như ở Thị Cầu (Bắc Ninh), Blao (Lâm Đồng),Suối Đôi (Bình Dương), Đức Tu (Tp Hồ Chí Minh) Thành phần hoá học (%): Al2O3=17;

Fe2O2=2,7; SiO2=70 Độ thu hồi qua rây 0,05 mm: 68-80 % Các tụ khoáng có quy mô từ nhỏ đếnlớn; trữ lượng từng tụ khoáng và tụ khoáng thay đổi từ 300 ngàn đến 100 triệu tấn

- Sét thành tạo trong trầm tích Pliocen-Pleistocen, phân bố ở Đông Nam Bộ trên địa hình

cao thuộc các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương Tân Uyên là tụ khoáng được biết đến từlâu Các thân sét có dạng lớp dài 1-3 km, rộng 700-1000 m, dày 2-3 m Thành phần hoá học (%):

Al2O3=7; Fe2O3=2-4; SiO2=72 Độ thu hồi qua rây 0,005 mm: 23-68 % Các tụ khoáng và tụkhoáng có quy mô từ trung bình đến lớn, trữ lượng từng tụ khoáng thay đổi từ 1 ngàn đến 100ngàn tấn

- Sét thành tạo trong trầm tích Miocen Các tụ khoáng sét Miocen được phát hiện ở Nà

Dương (Lạng Sơn) và rìa châu thổ Sông Hồng Tụ khoáng Việt Dân có trữ lượng 350 ngàn tấn,thành phần hoá học (%): Al2O3=17,8; Fe2O2=1,1

Sét phong hoá tàn dư, gồm các loại dưới đây:

- Sét thành tạo trong vỏ phong hoá đá gabbro: Đại diện cho kiểu này là tụ khoáng Đồng

Danh (Tuyên Quang) Sét gốm là sản phẩm phong hoá của đá gabbro pyroxen, gabbro norit,gabbro thuộc phức hệ Núi Chúa Thân sét có chiều dài 100-900 m, rộng 40-500 m, dày 3-4 m.Thành phần hoá học (%): Al2O3=19; Fe2O2=4 Trữ lượng 5 triệu tấn

- Sét thành tạo trong vỏ phong hoá trầm tích lục nguyên: Các tụ khoáng Hợp Thành

(Lạng Sơn), Rú Rồng (Nghệ An) là sản phẩm phong hoá từ các tập sét kết, bột kết các hệ tầngMẫu Sơn Trias thượng và Quy Lăng Trias trung Thân sét dạng thấu kính, dạng ổ, dài 60-1000 m,rộng 15-30 m, dày 2-4 m Thành phần hoá học (%): Al2O3=16,2-18,5; Fe2O3=6-8; SiO2=67-70,3.Thành phần khoáng vật chủ yếu là hyđromica, kaolinit, halloysit, montmorilonit Trữ lượng tụkhoáng Hợp Thành khoảng 370 ngàn tấn

2 Dolomit

Có nhiều điểm dolomit đã được phát hiện, trong đó 14 tụ khoáng đã được thăm dò, đánhgiá với tổng trữ lượng và tài nguyên cấp 122+221+333 gần 1.000 triệu tấn Có hai loại nguồn gốcdolomit là trầm tích và biến chất trao đổi

Dolomit trầm tích: được thành tạo trong các trầm tích carbonat có tuổi từ Đevon đến

Trias tập trung ở Ninh Bình, Lạng Sơn và Thái Nguyên

- Tụ khoáng dolomit Thạch Bình thuộc huyện Nho Quan (Ninh Bình) là một trong những

tụ khoáng lớn đã được thăm dò Tụ khoáng phân bố trong hệ tầng Đồng Giao tuổi Anisi tạo thành

4 dải hẹp Dolomit có hàm lượng (%): CaO=30-31; MgO=20,2-21,4; Fe2O3=0,04-0,19;MKN=43,57-55 Trữ lượng cấp 221+333 là 95 triệu tấn

Dolomit biến chất trao đổi Kiểu nguồn gốc này được phát hiện trong các tập đá vôi bị

biến chất thành đá hoa và đolomit tái kết tinh của các thành tạo địa chất có tuổi từ Proterozoi đếnCambri giữa Các tụ khoáng đặc trưng là Ngầm Bà Huỳnh, Sa Pa, Cốc San, Ngọc Lập, LàngDoi Kiểu này thường tạo thành các thân dạng thấu kính, dạng dải, có quy mô lớn

- Tụ khoáng dolomit Sa Pa thuộc huyện cùng tên, tỉnh Lao Cai Đolomit nằm trong đá

carbonat xen lục nguyên bị biến chất Quặng tập trung thành dải dài 15-20 km, dày 50-200 m.Thành phần hoá học của quặng (%): CaO = 30-36; MgO = 16-22; SiO2 = 0,01-3; FeO = 0,1-0,2;

Al2O3 = 0,01-0,05; SO3 = 0,02-0,04; MKN = 42-46 Trữ lượng cấp 221+333 khoảng 400 triệutấn

3 Felspat

Ngày đăng: 21/11/2014, 13:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình mới được biết duy nhất là tụ khoáng Xà Khía (Lệ Thủy, Quảng Bình), một số Điểm khoáng nghi ngờ có thể thuộc kiểu này như Rào Mốc (Hà Tĩnh), Làng Nèo (Thanh Hóa) và vài nơi khác nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ. - TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam
Hình m ới được biết duy nhất là tụ khoáng Xà Khía (Lệ Thủy, Quảng Bình), một số Điểm khoáng nghi ngờ có thể thuộc kiểu này như Rào Mốc (Hà Tĩnh), Làng Nèo (Thanh Hóa) và vài nơi khác nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ (Trang 20)
Hình 3.17.  Mặt cắt địa chát tuyến 14 mỏ apatit Phú Nhuận - TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam
Hình 3.17. Mặt cắt địa chát tuyến 14 mỏ apatit Phú Nhuận (Trang 28)
Hình 3.19. Sơ đồ phân khối cấu trúc bể than Quảng Ninh - TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam
Hình 3.19. Sơ đồ phân khối cấu trúc bể than Quảng Ninh (Trang 48)
Hình 3.20. Than dạng vỉa phân nhánh đuôi ngựa rất phức tạp ở  tụ khoáng Lộ Trí (vỉa Dày và vỉa G) - TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam
Hình 3.20. Than dạng vỉa phân nhánh đuôi ngựa rất phức tạp ở tụ khoáng Lộ Trí (vỉa Dày và vỉa G) (Trang 49)
Hình 3.22. Tiềm năng thu hồi dự báo chưa phát hiện ở các bể trầm tích Đệ tam Việt Nam. - TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam
Hình 3.22. Tiềm năng thu hồi dự báo chưa phát hiện ở các bể trầm tích Đệ tam Việt Nam (Trang 62)
Hình 3.21. Trữ lượng và tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích Đệ tam Việt Nam - TÀI NGUYÊN KHOÁNG sản việt nam
Hình 3.21. Trữ lượng và tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích Đệ tam Việt Nam (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w