ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THỦY NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÖC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA THẢM THỰC VẬT SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ KÝ PHÖ - HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI N
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÖC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN CỦA THẢM THỰC VẬT SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ KÝ PHÖ - HUYỆN ĐẠI TỪ- TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên - Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÖC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN CỦA THẢM THỰC VẬT SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ KÝ PHÖ - HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS MA THỊ NGỌC MAI
Thái Nguyên - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực Nếu sai tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Thuỷ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo- người
hướng dẫn khoa học: TS Ma Thị Ngọc Mai đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa , các thầy cô khoa Sinh – KTNN và phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận l ợi giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Hạt kiểm lâm huyện Đại Từ, Trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên, UBND xã Ký Phú huyện Đại Từ, Trường THPT Ngô Quyền đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình , bạn bè và đồng nghiệp đã động viên , giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Thuỷ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan .i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật 3
1.1.2 Thảm thực vật thứ sinh 3
1.1.3 Khái niệm về rừng 4
1.1.4 Tái sinh rừng 4
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5
1.2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng 5
1.2.1.2 Hình thái cấu trúc rừng 6
1.2.1.3 Định lượng về cấu trúc rừng 7
1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 8
1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 11
1.3.1.1 Nghiên cứu về phân loại rừng 11
1.3.1.2 Nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng 14
1.3.1.3 Nghiên cứu về phân chia tầng thứ trong rừng mưa nhiệt đới 14
1.3.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 16
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 21
Trang 62.1.1 Vị trí địa lý 21
2.1.2 Địa hình 21
2.1.3 Khí hậu thuỷ văn 21
2.1.4 Điều kiện đất đai 23
2.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội của vùng nghiên cứu 23
2.3 Rừng và đất lâm nghiệp 25
Chương 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Mục tiêu nghiên cứu 27
3.2 Đối tượng nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp luận 28
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 28
3.4.2.1.Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế- xã hội 28
3.4.2.2 Phương pháp phân chia giai đoạn phục hồi 29
3.4.2.3 Thu thập các số liệu tại khu vực nghiên cứu 29
3.4.2.4 Điều tra sơ bộ theo tuyến 29
3.4.2.5 Điều tra chi tiết theo ô tiêu chuẩn 30
3.4.2.6 Phương pháp phân tích mẫu vật 33
3.4.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Hiện trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 34
4.2 Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến quá trình tái sinh phục hồi rừng sau nương rẫy 39
4.2.1 Ảnh hưởng của vị trí địa hình 39
4.2.2 Ảnh hưởng của độ dốc 42
4.2.3 Ảnh hưởng của sự thoái hóa đất 43
4.3 Thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống 46
4.4 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 48
4.5 Phân bố cây theo cấp đường kính ngang ngực 52
Trang 74.6 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 55
4.7 Chất lượng cây tái sinh 57
4.8 Đa dạng về thành phần dạng sống 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 70
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
8 FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc
( Food and Agriculture Organization)
9 IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
( International union conservation of nature)
10 UNDP: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
( Union national development programme)
11 WWF: Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới
( Word widlife fund)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Ký hiệu độ nhiều của thực bì theo tiêu chuẩn Drude 33
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của vị trí địa hình đến tái sinh thảm cây gỗ 40
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của độ dốc đến tái sinh thảm cây gỗ 42
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của sự thoái hóa đất đến cây gỗ tái sinh trong một số quần xã thực vật tại KVNC 45
Bảng 4.4.Thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống 47
Bảng 4.5 Mật độ cây gỗ tái sinh theo cấp chiều cao 49
Bảng 4.6 Phân bố cây theo cấp đường kính ngang ngực 53
Bảng 4.7 Phân bố cây gỗ tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 56
Bảng 4.8 Đánh giá chất lượng của cây tái sinh ở các giai đoạn phục hồi rừng 58
Bảng 4.9 Kết quả phân tích phổ dạng sống ở KVNC 60
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Đại Từ- tỉnh
Thái Nguyên 26
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí các ODB trong OTC 30
Hình 4.1 Thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống 47
Hình 4.2 Mật độ cây gỗ tái sinh theo cấp chiều cao 50
Hình 4.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính 54
Hình 4.4 Nguồn gốc cây tái sinh 58
Hình 4.5 Chất lượng cây tái sinh 58
Hình 4 6 Phân bố phổ dạng sống hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 60
Trang 11Nhưng thực tế hiện nay thảm thực vật rừng vẫn đang trên đà suy giảm về
số lượng và chất lượng Theo số liệu công bố của tổ chức IUCN, UNDP và WWF (1993) 18, trung bình mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng Trong đó diện tích rừng bị mất đi do đốt rừng làm nương rẫy chiếm 50%,
do cháy rừng 23%, do khai thác từ 5 -7 %, còn lại là do các nguyên nhân khác
Ở Việt Nam, năm 1954 nước ta có 14,3 triệu ha rừng với độ che phủ là 43%; năm 1975 còn 11,169 triệu ha rừng với độ che phủ là 33,8%; năm 1985 còn 9,892 triệu ha rừng; năm 1995 chỉ còn 9,302 triệu ha rừng với độ che phủ 28,2% Nguyên nhân chủ yếu làm giảm độ che phủ của thảm thực vật rừng ở Việt Nam là do đốt rừng làm nương rẫy Nhưng từ năm 1992 trở lại đây, nhờ vào các chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước như: giao đất giao rừng cho từng hộ dân, chương trình 327, chương trình PAM…nên diện tích rừng của nước ta đang tăng lên Theo thống kê của Cục kiểm lâm Việt Nam 52, năm
2005, diện tích rừng tăng lên 12,64 triệu ha rừng với độ che phủ 36,3% Năm
2007, nước ta có 12,837 triệu ha rừng với độ che phủ 38,2% Năm 2009, nước
ta có 13,259 triệu ha rừng với độ che phủ 39,1% Năm 2011, nước ta có 13,515 triệu ha rừng với độ che phủ 39,7%
Trang 12Tuy diện tích rừng ở nước ta có tăng lên nhưng chủ yếu là rừng trồng, rừng non với độ đa dạng thấp Còn rừng giàu, rừng nguyên sinh với độ đa dạng loài cao vẫn tiếp tục bị suy giảm và hiện nay chỉ còn chưa đến 10%
Để thực hiện mục tiêu nâng độ che phủ của thảm thực vật rừng ở Việt Nam lên 42- 43% vào năm 2015 và lên 44 - 45% vào năm 2020 thì một trong những biện pháp kỹ thuật vô cùng quan trọng là bảo vệ và phục hồi lại rừng dựa trên cơ sở lợi dụng triệt để khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng
Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc Bộ nói chung Diện tích đất có rừng của tỉnh là 155.063 ha chiếm 43,9% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 93.002 ha, diện tích rừng trồng khoảng 62.061 ha và đất chưa
có rừng là 20.213 ha (chiếm 11,23% tổng diện tích đất lâm nghiệp) Rừng tập trung chủ yếu ở các huyện Đại Từ, Võ Nhai, Định Hoá…với nhiều lâm sản quý như: Nghiến, Đinh, Lát hoa, Sến, Táu…Nhưng hiện nay số lượng và chất lượng rừng tự nhiên vẫn đang bị suy giảm nghiêm trọng do tập quán đốt rừng làm nương rẫy của đồng bào dân tộc, sự khai thác gỗ bừa bãi của lâm tặc và sự quản
lý chưa đồng bộ của chính quyền
Ký Phú là một xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Đây là một xã thuộc vùng núi Tam Đảo thuộc phía nam của huyện Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng sau nương rẫy tại xã Ký Phú Mà việc tìm hiểu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy là cơ sở cung cấp những kiến thức thực tế cũng như cơ
sở khoa học cho việc bảo vệ và phục hồi lại rừng tại huyện Đại Từ nói riêng, tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và cũng như các khu vực khác
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy tại xã Ký Phú - Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên”
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng và vận dụng một số khái niệm có liên quan sau:
1.1.5 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là một khái niệm được nhiều nhà khoa học
trong và ngoài nước đề cập đến Theo J Schmithusen (1959) 33, thì thảm thực vật là lớp thực bì của Trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Theo Thái Văn Trừng (1978) 46 cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Còn Trần Đình Lý (1998) 25 cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất
Như vậy, dù hiểu theo khái niệm nào đi nữa thì thảm thực vật cũng là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: Thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật thứ sinh…
1.1.6 Thảm thực vật thứ sinh
Thảm thực vật thứ sinh là các trạng thái thảm thực vật xuất hiện sau khi thảm thực vật nguyên sinh bị mất đi do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan như: Do sự biến động của vỏ Trái đất, do con người khai thác, do chiến tranh, do đốt rừng làm nương rẫy…Thảm thực vật thứ sinh được hình thành theo thời gian và thường bao gồm các trạng thái sau: Thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng tái sinh tự nhiên ở các giai đoạn khác nhau (rừng non, rừng trưởng thành, rừng già) Cấu trúc của thảm thực vật thứ sinh và thảm thực vật nguyên sinh rất khác nhau ở thành phần thực vật, cấu trúc tầng tán, khả năng phát triển, sinh khối, hoàn cảnh rừng và các yếu tố khác
Trang 141.1.7 Khái niệm về rừng
Năm 1964, VN Sukhatrép đề xướng học thuyết sinh địa quần lạc Theo
ông “Rừng là một quần lạc sinh địa Quần lạc sinh địa là tổ hợp các yếu tố
thiên nhiên đồng nhất trên vùng đất xác định (khí hậu, đá mẹ, đất, các điều kiện thuỷ văn, thực vật, động vật, vi sinh vật) Các yếu tố tự nhiên có vai trò thiết lập ra các mối quan hệ, cùng với các nhóm sinh vật chúng hình thành nên kiểu trao đổi chất và năng lượng đặc trưng giữa chúng với nhau và với các yếu
tố tự nhiên, nó là một thể thống nhất đang biến động và phát triển” (Dẫn theo
Hoàng Chung, 2005) 5
Theo Trần Đình Lý (1995) 24, sự có mặt của các loài cây gỗ có chiều cao từ 3m trở lên và độ tàn che (k) của chúng là thông số cho thấy trạng thái của rừng gỗ Nếu k < 0,3 là đất chưa có rừng Nếu k = 0,3 – 0,6 là rừng thưa Nếu k > 0,6 là rừng kín Đối với rừng vầu, nứa theo tiêu chuẩn tại điểm c mục 2 điều 7 quy phạm QPN 21-98 3 độ che phủ đạt trên 80%, nhưng điểm bổ sung
là độ che phủ tính cho cả vầu, nứa và cây gỗ hỗn giao
1.1.8 Tái sinh rừng
Tái sinh rừng được nhiều nhà lâm học nghiên cứu và đề xuất các khái niệm khác nhau Xét về phương diện lý luận, khái niệm tái sinh rừng gồm cả
hai thuật ngữ: “Restoration” thuật ngữ dùng để diễn đạt sự hoàn trả, sự lặp lại
của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên (Jordan,
Peter và Allan, 1988) và thuật ngữ “Rehabitilation” chỉ sự phục hồi lại và đã
được hiểu là những xúc tiến, quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái (Schereckenbeg, Hadley và Dyer, 1990)
Ở Việt Nam, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của cả
hệ sinh thái rừng Tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ (Phùng Ngọc Lan, 1986) 19 Trong luận văn, tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi các thành phần của hệ sinh thái rừng
Trang 151.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng nhằm đưa ra cơ sở khoa học cho việc kinh doanh rừng một cách hiệu quả Có thể điểm qua một số công trình có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như sau:
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng, trong đó các sinh vật rừng luôn có mối quan hệ qua lại với nhau và với môi trường thông qua các mối quan hệ sinh thái giúp rừng có cấu trúc ổn định trong một thời gian nhất định
1.2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học,
hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là: Cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Theo quan điểm sinh thái học thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Thực tế cấu trúc rừng có tính trật tự và theo quy luật của quần xã
Các nghiên cứu về cấu trúc rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1933- 1934), Baur G N (1962), Odum E P (1971)…tiến hành Các nghiên cứu này nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Theo Baur G N (1962) 2 đã nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó
đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức
Trang 16phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại hiệu quả cao trong trồng rừng
Trong công trình nghiên cứu của Catinot R (1965) 4 đã biểu diễn cấu trúc sinh thái rừng bằng các phẫu đồ ngang và đứng với các nhân tố cấu trúc sinh thái được mô tả phân loại theo các khái niệm: dạng sống, tầng phiến… Nổi bật nhất có nghiên cứu của Odum E P (1971) [57] về sinh thái rừng mưa nhiệt đới Tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa rừng và các yếu tố hoàn cảnh của rừng Hệ sinh thái rừng mưa rất phức tạp, ngoài việc tuân theo quy luật vận động chung nhất, bản thân từng nhân tố lại vận động theo quy luật riêng Tác giả cho thấy, muốn ổn định hệ sinh thái rừng nhất thiết phải nắm vững các quy luật vận động đó, biết cách điều tiết hài hoà mối quan hệ trong sự phức tạp đó
1.2.1.2 Hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng theo chiều ngang và theo chiều thẳng đứng Phương pháp vẽ biểu đồ trắc diện của rừng do Davit và Richards P.W (1933- 1934) đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng đến nay vẫn
là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951)
đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều của rừng
Richards P.W (1952) [32] đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa nhiệt đới thành hai loại là: Rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ cây bụi và cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và tầng cây cỏ còn có nhiều loài dây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều loài trên thân hoặc cành cây
Trang 17Hiện nay có nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng, trong đó phương pháp phân loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái ngoại mạo của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất
Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng Dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng, tác giả đã chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp Hệ thống phân cấp cây rừng này của ông
đã phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi
Còn đối với rừng nhiệt đới tự nhiên, việc phân cấp cây rừng là một vấn đề phức tạp mà cho đến nay chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng tối ưu được chấp nhận rộng rãi Sapion Gripfit (1984), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa trên kích thước và chất lượng cây rừng
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu hình thái cấu trúc rừng thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
1.2.1.3 Định lượng về cấu trúc rừng
Để kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng mang tính chính xác, thực tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chuyển dần từ mô tả định tính sang nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của toán học và tin học Trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng (cấu trúc không gian và thời gian), xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất
Rollet B (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài theo mô
Trang 18hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Ngoài ra các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ…cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho
hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973)…Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái
Khác với hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động, Melkhov
đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng Có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc thảm thực vật tự nhiên phục hồi sau nương rẫy còn ít
1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng: Dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ
Trang 19Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933, 1939; Schultz, 1960; Baur G.N, 1964; Rollet, 1969) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loại cây có ý nghĩa kinh tế nhất định
Đối với rừng nhiệt đới, quá trình tái sinh tự nhiên có nhiều điểm khác biệt Van Steenis (1956) [60] đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng Tác giả gọi những loài cây tiên phong là các loài cây tạm cư, còn những loài cây mọc sau là những loài cây định cư hay định vị Cách tái sinh để hàn gắn các
lỗ trống trong tán rừng được ví như hàn gắn các vết thương ở con người, mà loài cây tạm cư giữ vai trò làm đông máu Mangenot lại gọi những loài cây đó
là những loài “ làm liền vết sẹo”
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thưc xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức
đối với tái sinh đã được Baur G.N (1964) [2] tổng kết trong tác phẩm “Cơ sở
sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại 24 điểm thuộc vùng rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài cây nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ giai đoạn đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi phụ thuộc vào mức độ, tần
số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Trang 20Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambert et al (1989), Warner (1991), Rouw (1991) đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: Đầu tiên đám nương được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần tụ các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con Những cây gỗ tiên phong chết đi sau 5- 10 năm và được thay thế dần bằng các rừng cây mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu
Sau khi nghiên cứu khả năng tái sinh của thảm thực vật sau nương rẫy từ 1- 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981- 1992) đã cho thấy chỉ
số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993)
đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam- Trung Quốc nhận xét: Tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi,
176 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Tóm lại, tái sinh rừng nhiệt đới là vấn đề cực kỳ phức tạp bởi tính đa dạng sinh học cao trong trong cùng một quần xã thực vật Mặc dù vậy nhưng đến nay các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới, tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy khá phong phú Từ các kết quả nghiên cứu đó cho ta những hiểu biết về phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh rừng tự nhiên ở một số nơi để vận dụng xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách có hiệu quả
1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng trồng, rừng tự nhiên, rừng sau nương rẫy nhằm đưa ra cơ sở khoa học cho việc kinh doanh rừng một cách hiệu quả Có thể điểm qua một số công trình có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như sau:
Trang 211.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.3.1.1 Nghiên cứu về phân loại rừng
Năm 1918, nhà bác học Pháp, Quang Huy là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này, rừng ở miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu
Năm 1960, Cục điều tra và Quy hoạch rừng thuộc Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam đưa ra bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam Theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
- Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
- Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
- Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
- Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng
45, đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù
Trang 22hợp nhất trên quan điểm sinh thái cho đến nay Theo tác giả, thảm thực vật rừng Việt Nam được chia thành 14 kiểu:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới
- Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới
- Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới
- Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới
- Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ẩm núi vừa
- Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu quần hệ khô lạnh vùng núi cao
- Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Khi bàn về vấn đề rừng theo hệ thống phân loại kinh doanh, Vũ Biệt Linh (1984) [20] cho rằng cần phân chia rừng, đất rừng theo mục đích, nội dung, phương thức, biện pháp kinh doanh nhằm tổ chức định hướng tác nghiệp kinh doanh theo các đối tượng khác nhau để đạt được hiệu quả cần thiết
Phan Kế Lộc (1985) [21] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Đình Thìn (1994- 1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong
những nghiên cứu của ông
Vũ Đình Phương (1985- 1988) [30] đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục vụ cho công tác điều chế với đơn vị phân chia là lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả
Trang 23năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong quá trình phân chia Phương pháp phân chia này đã được áp dụng trong khi xây dựng đề án điều chế cho một số lâm trường ở Tây Nguyên và Quảng Ninh đã tỏ ra có nhiều ưu điểm Đặng Kim Vui (2002) 56 nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)
Nguyến Thế Hưng (2003) [17] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), cũng đã xây dựng 8 trạng thái thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh
Lê Ngọc Công (2004) [9] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973),
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ là: Rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ
Ngô Tiến Dũng (2004) [12] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973),
đã phân chia thảm thực vật của vườn quốc gia Yok Don thành: Kiểu rừng kín thường xanh, kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
Như vậy, việc phân chia loại hình rừng tự nhiên ở Việt Nam là rất cần thiết đối với công tác nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất Nhưng tuỳ thuộc vào mục tiêu đề ra mà cần xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích là làm rõ hơn các đối tượng cần quan tâm Công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng đã đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên ở nước ta một cách tổng quát Phương pháp của Vũ Đình Phương tỉ mỉ hơn và cho ta những thông số cơ bản về tình trạng rừng hiện tại không chỉ về góc độ trữ lượng Nhờ đó người quản lí dề phác hoạ được các biện pháp xử lí
Trang 24lâm sinh tác động vào rừng Phương pháp này đã tỏ ra hữu hiệu khi áp dụng ở nơi có trình độ kinh doanh cao và ổn định
1.3.1.2 Nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng
Những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng như những công trình nghiên cứu mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác xuất khác nhau Nổi bật là công trình nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) [14] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng
tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1981- 1986) 50, [51] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh, đồng thời cũng áp dụng đường cong Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng
Trần Văn Con (1992) [8] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở ĐăkLắk
Nguyễn Duy Chuyên (1995) [7] cho rằng tái sinh tự nhiên nhiều loài cây dưới tán rừng có thể biểu diễn bằng các hàm toán học Kết quả nghiên cứu cho thấy ở trạng thái rừng IIIA2 có phân bố Poisson
Nhìn chung các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng đã giúp cho việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức độ mô tả rừng
mà đã từng bước đi sâu vào phân tích quy luật kết cấu của rừng chính xác hơn phù hợp với xu hướng nghiên cứu chung của thế giới
1.3.1.3 Nghiên cứu về phân chia tầng thứ trong rừng mưa nhiệt đới
Ở Việt Nam, hiện nay những nghiên cứu về phân chia tầng thứ trong rừng mưa nhiệt đới còn rất ít, nhất là theo xu hướng định lượng hoá
Có thể điểm qua một số công trình của các tác giả sau đây:
Thái Văn Trừng (1978) [46] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng của rừng mưa nhiệt đới như sau: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B), tầng cỏ quyết (C) Tác giả đã vận dụng và cải tiến bổ
Trang 25xung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit- Richards để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với
tỉ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái, cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý và địa hình
Nguyễn Văn Trương (1973, 1983) 48, 49, khi nghiên cứu cấu trúc hỗn loài cũng đã nghiên cứu sự phân tầng theo hướng định lượng Nhưng ở đây tác giả đã sử dụng phương pháp phân tầng theo chiều cao một cách cơ giới mà điều này không thể chỉ rõ kiểu phân tầng ở rừng nhiệt đới Việt Nam
Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (1988) [31] xuất phát từ kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đã nhận định rằng: Việc xác định tầng thứ sinh thái của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, do đó bằng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng thứ là có thể
làm được Nhưng chỉ có thể có sự phân tầng “rõ rệt” khi rừng ở một giai đoạn
phát triển nào đó của quá trình sinh trưởng và phát triển, mà theo tác giả đó là giai đoạn thành thục khi sự sinh trưởng và phát triển của rừng diễn ra ở mức độ chậm chạp Còn trong giai đoạn rừng đang có sự thay đổi mạnh sau thành thục với một số lượng cây lớn, già cỗi bị đào thải, rừng bắt đầu một giai đoạn mới thì ranh giới các tầng khó phát hiện được Cũng theo tác giả, cần phân biệt rõ tầng tán với các lớp chiều cao cây rừng Tầng tán là một khoảng không gian chứa đựng một số cây nhất định, tán cây trọn vẹn từ đỉnh đến đáy tán, còn lớp chiều cao mà một số tác giả đề cập đến là không chính xác, vì thực chất đây chỉ
là một khoảng không gian chứa đựng một số lượng nào đó của đỉnh tán cây trong rừng cây hoặc lâm phần Xuất phát từ luận điểm này, dựa vào số liệu quan sát và hơn 10 phẫu diện đồ theo mặt cắt đứng, tác giả đã sử dụng phương pháp toán học để phân tầng sinh thái ở miền Bắc Việt Nam Đây là một nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ nhưng đã bước đầu giúp các nhà nghiên cứu có một định hướng quan trọng đó là: Sự phân tầng tán trong rừng mưa nhiệt đới là một hiện thực, nhưng có thể chỉ rõ ràng khi rừng đã phát triển ổn định và bằng toán học
Trang 26có thể định lượng được sự phân tầng này Theo Vũ Đình Phương rừng lá rộng thường xanh ở miền Bắc nước ta vào giai đoạn ổn định thường có 3 tầng
Như vậy, các tác giả trên đã đề cập và phân chia tầng thứ trong rừng mưa nhiệt đới ở nước ta bằng các cách khác nhau, nhưng đều có chung một quan điểm là: Có sự phân tầng trong rừng mưa nhiệt đới và sự phân tầng này cần phải được định lượng thông qua các trắc đồ và công cụ toán học
1.3.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới ở nước ta đã được tiến hành từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX Từ năm 1962- 1967, Viện Điều tra và Quy
hoạch rừng đã thực hiện chuyên đề “Tái sinh rừng tự nhiên” tại một số khu vực
trọng điểm thuộc các tỉnh: Quảng Ninh (Tiên Yên, Ba Chẽ, Yên Hưng), Yên Bái (Văn Bàn), Nghệ An (Quỳ Châu, Nghĩa Đàn), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình (Long Đại) Với sự tư vấn của ông Hà Cự Trung- chuyên gia Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn kết hợp với điều tra theo tuyến Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại hình thực vật rừng và trên cơ
sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình hình tái sinh tự nhiên và đề xuất biện pháp kinh doanh rừng
Trần Ngũ Phương (1970) [28] khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên đã phân biệt thành hai trường hợp lớn: Rừng khí hậu và rừng thứ sinh nhân tác Tác giả nhận định: Trong trường hợp rừng khí hậu, rừng có thể được tái sinh ở dạng về căn bản giống rừng cũ Còn trong trường hợp rừng thứ sinh nhân tác, thành phần thực vật có thể đơn giản (sau nương rẫy) và cũng có thể phức tạp (rừng khí hậu sau chặt tỉa) Nhận định trên của tác giả chỉ phù hợp với tổ thành cây
gỗ tái sinh sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn những giai đoạn đầu Tác giả chưa đề cập chưa đề cập đến tổ thành cây gỗ tái sinh sau nương rẫy ở giai đoạn sau và rừng vầu, nứa
Trang 27Phạm Đình Tam (1987) [34] nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các lỗ trống của rừng thứ sinh vùng Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã có nhận xét: Số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn lớp cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi rừng kín tán
Nguyễn Vạn Thường (1991) [42] đã tổng kết và bước đầu đưa ra kết luận
về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ có h 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp có kích thước khác nhau Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên Bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sự chung sống của các cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ
Vũ Tiến Hinh (1991) [15] nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng
tự nhiên ở lâm trường Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: Hệ số tổ thành tính theo (%) số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao
có liên hệ chặt chẽ Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì
hệ số tổ thành tầng cây tái sinh cũng vậy Qua tính toán 20 phương trình tương quan giữa 2 hệ số tổ thành cho thấy chúng có quan hệ theo dạng đường thẳng: n%= a + bN% (Trong đó n% và N% lần lượt là hệ số tổ thành tính theo (%) số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao)
Nguyễn Văn Thêm (1992) [36] đã nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên
của Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre) ở Đồng Nai đã kết luận: Tái
sinh theo lỗ trống là kiểu tái sinh phổ biến của Dầu song nàng Nếu mở lỗ trống kịp thời vào lúc cây con đã sẵn có dưới tán rừng từ hai năm trở lên sẽ rút ngắn
Trang 28được thời kỳ cây con bị ức chế Nhận định trên của tác giả giống như tái sinh sau nương rẫy ở đám nương nhỏ mà xung quanh còn rừng gieo giống
Đinh Quang Diệp (1993) [11] đã nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên của rừng khộp vùng Easup, Đắk Lăk kết luận: Độ tàn che của rừng, thảm mục,
độ dày của thảm tươi, điều kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến số lượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, trong
đó lửa rừng là nguyên nhân gây nên hiện tượng cây chồi Về quy luật phân bố cây trên mặt đất, tác giả nhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh có phân bố cụm Ảnh hưởng của lửa rừng tương tự như canh tác nương rẫy, vì vậy phân bố cây con trên bề mặt mặt đất có điểm tương đồng với cây tái sinh sau nương rẫy
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [22] cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hướng sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên với mức độ cao nhất là tái sinh nhân tạo Theo các tác giả, quá trình tái sinh tự nhiên phụ thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây:
- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích
- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tươi…)
- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trưởng: Đất, nước, ánh sáng
Ba điều kiện đó chính là các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên nói chung và tái sinh sau nương rẫy nói riêng
Trần Đình Lý và các cộng sự (1995) [23], [24] nghiên cứu tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng tại đảo Kế Bào, lâm trường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Nghiên cứu khả năng tái sinh, diễn thế của thảm thực vật trên đất sau nương rẫy tại lâm trường Sơpai- Kon Hà Nừng Nghiên cứu cấu trúc thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy tại Chiềng Sinh, tỉnh Sơn La Kết quả nghiên cứu đã
đề xuất quy phạm (tạm thời) về khoanh nuôi phục hồi rừng tỉnh Quảng Ninh,
Trang 29quy trình kỹ thuật (tạm thời) về khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Tây Bắc Kết quả đề tài đã xây dựng quan niệm về phục hồi rừng và cơ sở lựa chọn đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng ở một số vùng sinh thái
Đỗ Hữu Thư, Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [41] khi nghiên cứu năng lực tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng trong các trạng thái thực bì ở Việt Nam
đã nhận xét: Về số lượng và chất lượng của lớp cây tái sinh tự nhiên, tốc độ sinh trưởng và những thay đổi của lớp cây tái sinh tự nhiên trong giai đoạn đầu của quá trình phục hồi thảm thực vật rừng thì các dạng thực bì ở trạng thái IB,
IC, IIA, IIB đều có thể xếp vào đối tượng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [37] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó tác giả kết luận: Rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây
ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu; nhóm cây tái sinh lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Trần Xuân Thiệp (1996) [38] căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (Theo hệ thống phân loại của Loschau) theo 3 cấp: Tốt, trung bình, xấu Về phân bố theo cấp chiều cao đều có sự tương đồng ở các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Meyer từ cấp 1–5 ( 3 m), cấp 6 có chiều cao cộng dồn của cây có đường kính nhỏ hơn
10 cm nên không thể hiện rõ quy luật này
Lê Đồng Tấn (1999) [35] nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy ở Sơn La có kết luận: Mật độ cây tái sinh ở các
vị trí địa hình và các cấp độ dốc khác nhau là khác nhau
Trang 30Trần Ngũ Phương (2000) [29] khi nghiên cứu các quy luật rừng phát triển
tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng
tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già
cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế có sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
Phạm Ngọc Thường (2003) [43] khi nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây gỗ là khá cao
Lê Ngọc Công (2004) [9] khi nghiên cứu quá trình phục hồi bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật tại Thái Nguyên cho rằng: Giai đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1 – 6 năm), mật độ cây tăng lên, sau
đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập
cư và quá trình đào thải của các loài cây
Thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay nhiều khu vực vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên, còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác và hiệu quả
Trang 31Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Ký Phú là một xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Đây
là một xã thuộc vùng núi Tam Đảo thuộc phía nam của huyện Xã có tuyến tỉnh
lộ 261 đi qua địa bàn nối với các xã của Đại Từ và các xã của huyện Phổ Yên Tọa độ địa lý của xã là: 210
32’28’’ vĩ độ bắc và 105038’16’’ kinh độ đông Theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc, Ký Phú lần lượt giáp với các xã Lục Ba, Vạn Thọ, Phúc Tân, Cát Nê, Đại Bình, dãy núi Tam Đảo và Văn Yên
Ký Phú là một trong 19 xã ATK của tỉnh Thái nguyên Xã có 10 xóm là: xóm Chuối, xóm Soi, xóm Dứa, xóm Cả, xóm Đặn 1, xóm Đặn 2, xóm Đặn 3,
xóm Giố, xóm Cạn, xóm Duyên
2.1.2 Địa hình
Do vị trí địa lý của xã thuộc vùng núi Tam Đảo thuộc phía nam của huyện nên địa hình phức tạp, chia cắt mạnh Độ cao của xã từ 100- 1400m so với mực nước biển, độ dốc trung bình từ 150
– 200 Nhìn chung địa hình của xã Ký Phú nói riêng và của huyện Đại Từ nói chung, cùng với khí hậu đất đai phù hợp với nhiều loại cây lâm, nông nghiệp
2.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Xã Ký Phú nằm trong huyện Đại Từ có nền chung của khí hậu vùng núi miền Bắc Việt Nam, đặc trưng cơ bản của nền khí hậu này là: có mùa đông lạnh hanh khô, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều Như vậy xã Ký Phú có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa và chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Các đặc trưng chính của khí hậu như sau:
Trang 32- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí bình quân năm là 21,50 C Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13,50
C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 30C (vào tháng 2) Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 27,20C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 42,60C vào tháng 7 Số giờ nắng trung bình năm là 1.460 giờ, năm cao nhất là 1.770 giờ, năm thấp nhất là 1.370 giờ Đây là nguồn năng lương dồi dào thúc đẩy quá trình quang hợp mạnh mẽ, góp phần làm tăng năng suất cây trồng trong nông - lâm nghiệp
- Chế độ ẩm:
+ Lượng mưa trung bình năm là 1750 mm, cao nhất là 2.450 mm, thấp nhất là 1.250 mm Lượng mưa phân bố không đồng đều, từ tháng 4 đến tháng 9 lượng mưa chiếm tới 84% tổng lượng mưa cả năm, ngày mưa lớn nhất có thể đạt tới 3000 mm Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa thấp chiếm 16% lượng mưa cả năm Các tháng có lượng mưa từ 10 – 20 mm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 Lượng mưa tập trung vào mùa mưa tuy thuận lợi cho công tác trồng rừng và cho cây trồng sinh trưởng tốt nhưng có thể gây ra lũ lụt cục
bộ làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng
+ Lượng bốc hơi bình quân năm là 885 mm, bằng 50,6% lượng mưa trung bình năm Lượng bốc hơi lớn thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng ảnh hưởng đến cây trồng vụ đông xuân
+ Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75 – 86% Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm vào tháng 4 và tháng 5 Các tháng mùa khô mặc dù ít mưa nhưng có sương mù nên độ ẩm không khí khá cao
- Sương muối: Ở các thung lũng, sương muối thường xuất hiện vào tháng
12 và tháng 1 với tần suất xuất hiện là 2 – 3 lần/năm Đây là yếu tố bất lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, đặc biệt là giai đoạn cây non
Nhìn chung, khí hậu xã Ký Phú, huyện Đại Từ có một số yếu tố hạn chế như mưa tập trung với cường độ lớn làm xói mòn đất, gây ra lũ lụt, lốc xoáy,
Trang 33sương muối…Nhưng vẫn tương đối thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cây rừng
Ký Phú có đập Gò Miếu chắn suối Ký Phú được đưa vào sử dụng từ năm
2000, đã tạo nên hồ chứa nước lớn (hồ Vai Miếu) đảm bảo tưới tiêu cho 868 ha lúa của 4 xã: Ký Phú, Văn Yên, Vạn Thọ, Lục Ba và điều tiết nước cho hồ Núi Cốc Nguồn nước ngầm của huyện Đại Từ khá phong phú Theo số liệu của Liên đoàn Địa chất II có khoảng 400.000m3/ ngày có khả năng khai thác được Đây là yếu tố thuận lợi cơ bản phục vụ nước sinh hoạt, nước tưới cho các loại cây trồng nông, lâm nghiệp
2.1.4 Điều kiện đất đai
Trên địa bàn vùng nghiên cứu có 8 nhóm đất trong đó có 4 nhóm đất chính:
- Đất xám mùn trên núi chiếm 28,37%
- Đất Feralit phát triển trên đá biến chất chiếm 26,12%
- Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ chiếm 22,55%
- Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ chiếm 22,94%
Như vậy, đất trên địa bàn vùng nghiên cứu nói chung là phù hợp với các loại cây trồng nông, lâm nghiệp đặc biệt là cây Chè
2.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội của vùng nghiên cứu
- Theo thống kê tỉnh Thái Nguyên đến tháng 12 năm 2011, xã Ký Phú có diện tích 19,5 km², dân số là 6.874 người, mật độ là 353 người/km² Tỷ lệ tăng dân số là 1,17% Các dân tộc chủ yếu tại địa bàn xã là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu phân bố khá đồng đều trên toàn xã
- Tổng số lao động là: 3.820 người, chiếm 55,57% tổng dân số, trong đó: + Lao động nông nghiệp: 3.614 người, chiếm 94,6% tổng số lao động + Lao động nghành nghề khác: 206 người, chiếm 5,4% tổng số lao động
Trang 34Nhìn chung nguồn lao động trên địa bàn xã dồi dào, nhân dân cần cù lao động, song chủ yếu là lao động nông nghiệp, trình độ lao động còn thấp, lao động còn thiếu việc làm Mặt khác tỷ lệ tăng dân số còn cao, nhu cầu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng tăng lên, đặc biệt nhu cầu cao về chất đốt (sao sấy chè) và diện tích canh tác lương thực, diện tích đất làm nhà ở… Đây là những sức ép lớn đến rừng và đất lâm nghiệp
- Về sản xuất lương thực: Đã xây dựng Chương trình sản xuất lương thực giai đoạn 2011- 2015 Tổng sản lượng lương thực có hạt tăng lên Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng trọt đạt 75 triệu đồng (năm 2010 là 62 triệu đồng)
- Chương trình phát triển cây chè: Đã hoàn thành quy hoạch phát triển cây chè huyện Đại Từ đến năm 2020 tầm nhìn 2030 Thực hiện kế hoạch thâm canh, cải tạo, trồng mới năm 2011 và đã đạt kết quả khả quan Toàn huyện đã trồng mới, trồng lại bằng các giống chè cành là 314 ha Chỉ đạo chăm sóc tốt 6.305 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 5.788 ha, sản lượng chè búp tươi đạt 51.604 tấn
- Về chăn nuôi: Đến năm 2011, tổng đàn gia súc tăng hơn năm 2010 Cụ thể toàn huyện có 16.800 con trâu, 1.700 con bò, 70.000 con lợn
- Cơ sở hạ tầng:
+ Giao thông: Hệ thống giao thông trên địa bàn xã và huyện khá phát triển gồm cả trục chính và đường nhánh Đã có đường ô tô đến trung tâm xã và các xóm
Trang 35+ Xã có UBND được xây kiên cố có đủ các phòng ban Có trường học và trạm xá được xây nhà cấp 4 tương đối khang trang
+ 100% hộ dân trong xã được sử dụng điện lưới quốc gia
+ 80% số hộ trong xã được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh
- Văn hoá xã hội:
+ Giáo dục: Do được sự quan tâm của Nhà nước, các cấp chính quyền nên trường học được xây nhà cấp 4 tương đối khang trang, đời sống giáo viên từng bước được cải thiện Tuy nhiên trang thiết bị trong giảng dạy còn thiếu nên đã ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh + Y tế: Nhìn chung công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong xã còn nhiều khó khăn dù trạm xá được cung cung cấp trang thiết bị y tế khá tốt nhưng do thiếu cán bộ y, bác sỹ có trình độ cập chuẩn
+ Thông tin văn hoá: Đã được chú ý phát triển cả bề rộng và chiều sâu Hiện tại 100% số dân trong khu vực được xem truyền hình và nghe đài phát thanh sóng Trung ương Xã đã có trạm bưu điện và nhà văn hoá xã Nên mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước sớm được cập nhật, góp phần nâng cao trình độ văn hoá và trình độ dân trí của nhân dân
2.3 Rừng và đất lâm nghiệp
Xã Ký Phú có cả 3 loại rừng như: Rừng đặc dụng (VQG Tam Đảo), rừng phòng hộ và rừng sản xuất Kết quả rà soát 3 loại rừng và kết quả rà soát lại diện tích đất đai theo Công văn số 253/CV- UBND huyện Đại Từ của Hạt kiểm lâm huyện Đại Từ, cùng với số liệu điều tra bổ sung của Trung tâm tư vấn dự
án “Đầu tư bảo vệ và phát triển rừng huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2011- 2020” tháng 8 năm 2012 13 cho thấy tổng diện tích đất có rừng của xã Ký Phú là 1.065,05 ha chiếm 54,6% diện tích tự nhiên của xã Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 573,85 ha chiếm 53,88%; diện tích rừng trồng là 491,2 ha chiếm 46,12% Ở xã hiện nay không còn diện tích đất lâm nghiệp nào
Trang 36
Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên
Trang 37Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Về lý luận: Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự
nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy tại xã Ký Phú- Huyện Đại Từ- Tỉnh Thái Nguyên sẽ góp phần bổ sung thêm những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc
và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy, làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc tác động các biện pháp lâm sinh trong việc bảo vệ và phục hồi tái sinh tự nhiên tại KVNC
- Về thực tiễn:
+ Xác định một số đặc điểm cấu trúc của một số quần xã rừng tái sinh sau nương rẫy
+ Xác định được thành phần dạng sống của cây tái sinh
+ Xác định một số đặc điểm của lớp cây gỗ tái sinh sau nương rẫy
+ Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh xúc tiến việc khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, nâng cao tính bền vững và bảo vệ tính đa dạng của hệ sinh thái rừng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Điều kiện thời gian và kinh phí có hạn do vậy tôi chọn đối tượng nghiên cứu là rừng tái sinh sau nương rẫy tại xã Ký Phú-Huyện Đại Từ-Tỉnh Thái Nguyên ở 5 độ tuổi:
- Thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy từ 1 - 3 năm
- Rừng tái sinh sau nương rẫy từ 4 - 6 năm
- Rừng tái sinh sau nương rẫy từ 7 - 9 năm
- Rừng tái sinh sau nương rẫy từ 10 - 12 năm
- Rừng tái sinh sau nương rẫy từ 13 - 15 năm
Trang 383 3 Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến quá trình tái sinh phục hồi rừng sau nương rẫy
- Sự thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống
- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
- Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính ngang ngực
- Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
- Chất lượng cây tái sinh
gian nghiên cứu và kinh phí có hạn, nên đề tài không thể nghiên cứu trên OĐV
từ 15- 20 năm được Vì thế trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã vận dụng
phương pháp dãy phát triển tự nhiên để “lấy không gian thay thế thời gian”, kết
hợp với việc đo đếm trên OTC để nghiên cứu quá trình tái sinh
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
3.4.2.1 Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế- xã hội
Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc trong thu thập số liệu cơ bản về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu Phỏng vấn trực tiếp và thu thập các thông tin từ các cơ quan chức năng như: Uỷ ban nhân dân xã Ký Phú, UBND huyện Đại Từ, Hạt kiểm lâm huyện Đại Từ, Chi cục
Trang 39Lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên…Đồng thời tham khảo các tài liệu của các tác
giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
Các tài liệu thu thập bao gồm:
+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên (Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thuỷ văn,
điều kiện đất đai)
+ Tài liệu về dân sinh, kinh tế- xã hội
+ Bản đồ tài nguyên rừng
+ Các tài liệu báo cáo có liên quan
3.4.2.2 Phương pháp phân chia giai đoạn phục hồi
Vận dụng quan điểm và phương pháp luận trên để phân chia đối tượng
nghiên cứu thành các giai đoạn kế tiếp nhau Các giai đoạn được phân chia theo
thời gian bỏ hoá Mỗi giai đoạn có đặc trưng về tổ thành loài cây, mật độ,
độ che phủ và cấu trúc khác nhau Chúng tôi phân thời gian bỏ hoá thành 5 giai đoạn:
- Giai đoạn I: 1 - 3 năm
- Giai đoạn II: 4 - 6 năm
- Giai đoạn III: 7 - 9 năm
- Giai đoạn IV: 10 - 12 năm
- Giai đoạn V: 13 - 15 năm
3.4.2.3 Thu thập các số liệu tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp tổng quát được áp dụng để giải quyết các nội dung nghiên
cứu của đề tài là điều tra thu thập mẫu vật và các số liệu ngoài thực địa
Phương pháp cụ thể được áp dụng để tiến hành nghiên cứu các nội dung
của đề tài là phương pháp điều tra nghiên cứu theo tuyến và theo ô tiêu chuẩn
của Hoàng Chung (2008) [6]
3.4.2.4 Điều tra sơ bộ theo tuyến
Dựa trên cơ sở bản đồ địa hình của khu vực, hồ sơ quản lí rừng của xã
Trang 40Ký Phú - Huyện Đại Từ- Tỉnh Thái Nguyên và các tài liệu thu thập được chúng tôi lập tuyến điều tra (TĐT) Các TĐT có hướng vuông góc với đường đồng mức chính và được đánh dấu trên bản đồ Chiều rộng của TĐT là 4 m Khoảng cách giữa các TĐT là 50- 100m tuỳ vào địa hình cụ thể của từng quần xã Quan sát thống kê tất cả các loài đã gặp trên TĐT như: Tên loài (Tên khoa học hay tên địa phương) Thống kê thành phần dạng sống theo Raunkiaer (1943) [58]
3.4.2.5 Điều tra chi tiết theo ô tiêu chuẩn
Dọc theo tuyến điều tra bố trí 4- 6 ô tiêu chuẩn ( OTC) Mỗi OTC có diện tích 400 m2 ( 20 x 20m) đối với rừng thứ sinh, 16m2 ( 4 x 4m) đối với thảm cây bụi và 1m2
( 1 x 1m) đối với thảm cỏ
Trên các OTC 400 m2 bố trí các ô dạng bản (ODB) nằm trên đường các đường chéo, các góc vuông và các cạnh sao cho tổng diện tích các ODB phải đạt từ 1/3 diện tích OTC trở lên Kích thước ODB là 4m2
( 2 x 2m) Ngoài ra, dọc hai bên tuyến điều tra cũng đặt các ODB phụ để thu thập số liệu bổ sung
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí các ODB trong OTC
Tại mỗi OTC thống kê các thông tin về thành phần loài, dạng sống, chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính thân cây (D1.3) và độ phủ (%) vào phiếu điều tra + Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu mẫu để xác minh
+ Số lượng cây trong loài