Điều 28.2 của Luật Giáo dục có nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
ĐẶNG THỊ HOÀI THU
ÁP DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
ĐẶNG THỊ HOÀI THU
ÁP DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC
MÔN TOÁN LỚP 12
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THỊ THÁI
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hoài Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS.Vũ Thị Thái đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy môn Toán Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Hà Nội; Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Toán, Ban Chủ nhiệm khoa Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn, Lãnh đạo trường trung học phổ thông Việt Bắc cũng như toàn thể các đồng nghiệp trong trường THPT Việt Bắc đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả thực hiện đúng kế hoạch học tập và nghiên cứu
Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, các học viên trong lớp Cao học Toán Khóa 19 và các bạn đồng nghiệp xa gần về sự động viên, khích lệ cũng như trao đổi về chuyên môn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả luận văn
ĐẶNG THỊ HOÀI THU
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ, cụm từ viết tắt trong luận văn v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Nhu cầu và định hướng đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT 6
1.2 Một số phương pháp dạy học tích cực 13
1.3 Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 15
1.3.1 Mô hình quan điểm dạy học - phương pháp dạy học - kĩ thuật dạy học 15
1.3.2 Kĩ thuật dạy học tích cực 16
1.4 Thực tiễn áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Toán ở trường THPT 24
1.5 Chương trình sách giáo khoa và thực trạng dạy học Toán 12 THPT 29
1.5.1 Chương trình sách giáo khoa Toán 12 29
1.5.2 Thực trạng dạy học Toán 12 THPT 30
Kết luận chương 1 32
Trang 6Chương 2 XÂY DỰNG MỘT SỐ GIÁO ÁN DẠY HỌC MÔN TOÁN
CÓ ÁP DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC 33
2.1 Một số định hướng khi tổ chức áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực 33
2.1.1 Bám sát mục tiêu dạy học và chuẩn kiến thức 33
2.1.2 Lựa chọn các kĩ thuật dạy phải học đảm bảo tính tiên tiến, phát huy 33
2.1.3 Bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của phương án đề xuất 33
2.2 Một số tiêu chí lựa chọn những kĩ thuật dạy học có thể áp dụng trong tiết học 33
2.3 Một số kĩ thuật dạy học tích cực áp dụng vào soạn giáo án 34
2.3.1 Kĩ thuật khăn phủ bàn 34
2.3.2 Sơ đồ tư duy 36
2.3.3 Kĩ thuật “KWL” 41
2.3.4 Kĩ thuật mảnh ghép 44
2.4 Thiết kế một số bài soạn 48
Kết luận chương 2 64
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 65
3.3 Kế hoạch và nội dung thực nghiệm sư phạm 66
3.3.1 Kế hoạch và đối tượng thực nghiệm 66
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 68
3.4 Tiến hành thực nghiệm 70
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.5.1 Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.5.2 Kết quả của thực nghiệm sư phạm 75
3.6 Những kết luận ban đầu rút ra được từ kết quả thực nghiệm sư phạm 76
Kết luận chương 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Chữ viết tắt, ký hiệu Ý nghĩa chữ viết tắt, ký hiệu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng so sánh PPDH hiện đại và PPDH truyền thống 10Bảng 1.2: Một số hình thức dạy học tích cực 15Bảng 1.3: Kết quả sử dụng PPDH 27Bảng 3.1: Kết quả thi học kỳ I môn Toán ở lớp 12C2 và 12C1 trường
THPT Việt Bắc Lạng Sơn năm học 2012 - 2013 67Bảng 3.2: Kết quả bài kiểm tra môn Toán ở lớp 12C2 và 12C1trường
THPT Việt Bắc Lạng Sơn năm học 2012 - 2013 71
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phần trăm kết quả thi học kì I môn Toán của học sinh hai
lớp 12C2 và 12C1 trường THPT Việt Bắc 68
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ phần trăm kết quả thi thực nghiệm môn Toán của học sinh hai lớp 12C2 và 12C1 trường THPT Việt Bắc 72
Sơ đồ 2.1: Kĩ thuật “Khăn phủ bàn” 35
Sơ đồ 2.2: “Phương pháp giải PT mũ” 39
Sơ đồ 2.3: “Chương III: Nguyên hàm-tích phân” - Giải tích 12 40
Sơ đồ 2.4: Kĩ thuật “Mảnh ghép” 45
Sơ đồ 2.5: “Chương II: Hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit” - Giải tích 12 51
Sơ đồ 2.6: Các dạng lập phương trình mặt phẳng - Hình học 12 58
Sơ đồ 2.7: “Chương IV: số phức” - Giải tích 12 61
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và nhà nước ta
rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, coi “Giáo dục - Đào tạo là quốc sách
hàng đầu” Trong đó con người luôn được coi là nhân tố quan trọng nhất “vừa
là động lực, vừa là mục tiêu’’ cho sự phát triển bền vững của xã hội
Toàn cầu hóa và quốc tế hóa là đặc điểm quan trọng, chi phối mọi hoạt động kinh tế xã hội hiện nay và đang định hình lại nền giáo dục nước nhà Công cuộc hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi giáo dục cần đào tạo ra một đội ngũ có năng lực hành động, sáng tạo, tự lực, trách nhiệm trong công việc và năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, và đào tạo ra những con người phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hiện nay Điều 28.2 của Luật Giáo dục có nêu:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh’’
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông trong
giai đoạn hiện nay là dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm
giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập Làm cho “Học” là quá trình người học tìm tòi khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin để chiếm lĩnh tri thức, tự hình thành phẩm chất và năng lực cho bản thân
Trang 11Theo Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier [dự án phát triển THPT - Hà Nội 2010] [6], Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH, là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống, hoạt động nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS
Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, việc vận dụng các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh đang được nhiều giáo viên nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn dạy học trong trường phổ thông nước ta
Bên cạnh đó sách giáo khoa 12 mới được xây dựng theo quan điểm hiện đại, thực tiễn và có nhiều chủ đề có thể vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực vào việc dạy và học
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nêu, chúng tôi đã chọn đề tài: “Áp
dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn Toán lớp 12”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về phương pháp dạy học tích cực
và khả năng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học ở trường THPT, xây dựng kế hoạch vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn Toán lớp 12 nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng học tập của học sinh THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với những mục đích trên thì nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về PPDH tích cực - kĩ thuật dạy học tích cực
- Phân tích chương trình Toán lớp 12
- Đề xuất vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Toán 12 nhằm cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng học toán cho học sinh THPT
- Triển khai dạy thử nghiệm một số giáo án đã xây dựng tại trường THPT Việt Bắc Lạng Sơn
Trang 124 Giả thuyết khoa học
Nếu biết khai thác, áp dụng tốt những kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học thì sẽ tạo được hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, sáng tạo và rèn luyện được kĩ năng tự học cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học
5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu: Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực 5.2 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực vào
dạy học Toán 12
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn Toán 12 theo chương trình và SGK dành cho ban cơ bản
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu có liên quan tới đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK Toán 12, các sách tham khảo khác và các tài liệu có liên quan đến đề tài
7.2 Điều tra, quan sát
- Quan sát điều tra về thực trạng sử dụng các kĩ thuật dạy học ở một số trường THPT tỉnh Lạng Sơn Dự giờ, tổng kết rút kinh nghiệm
- Tham khảo ý kiến đồng nghiệp, học sinh về việc áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học Toán 12
7.3 Thực nghiệm sư phạm
- Dạy thử nghiệm một số tiết trên lớp trong đó có sử dụng một số kĩ thuật đã đề xuất trong luận văn nhằm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của đề tài
- Dùng phiếu điều tra đánh giá tính hiệu quả của đề tài thông qua ý kiến đánh giá của giáo viên, phiếu trưng cầu ý kiến của học sinh
Trang 137.4 Thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu trước và sau khi thực nghiệm sư phạm
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Xây dựng một số giáo án dạy học môn Toán 12 có áp dụng
kĩ thuật dạy học tích cực
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Nhu cầu và định hướng đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và cách học Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, nhà trường, giáo viên nói riêng Giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học sinh mà cần dạy cho học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời
Bên cạnh đó, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng Như vậy ngành giáo dục phải không ngừng đổi mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Ngoài ra, những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong một phần tư thế kỉ qua chứng minh rằng mỗi học sinh đều có một cách học theo sở thích riêng hay còn gọi là phong cách học Có học sinh thích học theo cách nghiên cứu tài liệu, phân tích dựa trên lý thuyết, có học sinh thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm thử, có học sinh thích học qua thực hành áp dụng, có
Trang 15học sinh thích học qua quan sát Nếu như dạy học không quan tâm đến đặc điểm của người học, giáo viên truyền thụ một chiều, dạy kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học
Suất phát từ những nhu cầu trên, đổi mới phương pháp là yêu cầu tất yếu của giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ra nguồn nhân lực chủ động, tích cực, sáng tạo cho xã hội
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực Trong việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực thì phương pháp học của học sinh là mối quan tâm hàng đầu
Theo [7, Tr.15-16], để thiết kế và tổ chức dạy học hiệu quả, giáo viên cần suy nghĩ đến các vấn đề sau:
- Đâu là mối quan tâm hàng đầu của người học ?
- Học sinh nên học như thế nào thì hiệu quả?
- Điều gì tạo nên động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực ?
Như vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là “Học sinh nên biết gì” mà thêm vào đó là “Điều gì sảy ra với học sinh” khi các em tham gia vào quá trình học tập Giáo viên cần quan tâm đến quá trình học tập, đến việc xây dựng kiến thức của người học Khi lấy người học làm trung tâm, giáo viên cần xác định thế nào là quá trình học tập hiệu quả nhất Trên cơ sở đó, giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy và học sao cho phù hợp với năng lực, sở thích và nhu cầu của người học Điều này đòi hỏi giáo viên có một cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mối quan hệ của giáo viên với học sinh và các vấn đề liên quan
Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải kế thừa có chọn lọc, vận dụng một cách hiệu
Trang 16quả các phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với các phương pháp giáo dục không truyền thống và khai thác có hiệu quả phương tiện kĩ thuật hỗ trợ dạy học Ngoài ra khi đổi mới PPDH cần thực hiện theo các định hướng sau:
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình , từ đó HS vừa nắm được kiến thức kĩ năng mới , vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có; được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo hướng này, giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn hành động Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin , khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấp tiểu học và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng
Trang 17Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến
từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay
trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công việc độc lập
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều
Trang 18kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng
và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn
là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ
để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có thể nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV Có thể so sánh đặc trưng của dạy học không tích cực với dạy học tích cực như sau:
Trang 19Bảng 1.1: Bảng so sánh PPDH hiện đại và PPDH truyền thống
Học là quá trình tiếp nhận, lĩnh hội, trên cơ sở đó hình thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, tư tưởng, thái độ, tình cảm
Dạy là quá trình tổ chức, điều khiển, thiết kế các hoạt động nhận thức học tập Học là quá trình kiến tạo Học sinh được tìm tòi, phát hiện, khám phá, luyện tập, khai thác, bảo lưu và xử lí thông tin, trên cơ sở đó tự hình thành hiểu biết, năng lực, phẩm chất
BẢN CHẤT
DẠY HỌC
Dạy học hướng tập trung vào giáo viên: giáo viên là trung tâm, đóng vai trò quyết định
Quan tâm nhiều đến dạy học cái gì, truyền thụ những tình huống nào
Dạy học hướng tập trung vào học sinh : học sinh là trung tâm GV tổ chức và điều khiển các hoạt động Quan tâm đến cách học, khai thác động lực của học tập, gắn với nhu cầu, lợi ích HS
MỤC TIÊU
DẠY HỌC
Coi trọng cung cấp kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo
Học để đối phó với thi cử
Kiến thức sau khi thi xong thường mau chóng quên, ít được sử dụng đến
Coi trọng hình thành các năng lực hoạt động: độc lập, sáng tạo, hợp tác
Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện đại
và tương lai
Các tri thức lĩnh hội được trở thành sản phẩm văn hóa cần thiết và bổ ích cho bản thân
và sự phát triển xã hội
Trang 20Từ nhiều nguồn khác nhau: sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế… gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm
và nhu cầu của học sinh
- Tình huống thực tế, bối cảnh
và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Phát huy tính tự giác, tích cực, tự lực của học sinh; tác động đến tình cảm, niềm vui, hứng thú học tập
GV điều khiển lớp học tuỳ theo kinh nghiệm, nghiệp vụ
sư phạm
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế… học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối diện với GV
Trang 21là lời nói
Phấn, bảng đen, sách giáo khoa Phát huy nhiều kênh truyền tin: nói, hình, với sự
hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại, radio, tivi, máy tính, máy chiếu…
Đánh giá sau khi học, sau khi kết thúc một modun kiến thức
Đánh giá thông qua điểm số Hình thức kiểm tra là tự luận
Đánh giá theo nội dung và mục tiêu, đánh giá tư duy, năng lực học tập của học sinh
Đánh giá ngay trong khi học
và cả sau khi học một modun kiến thức
Kết hợp tự luận và trắc nghiệm khách quan
- Phát triển tư duy và rèn luyện các hoạt động trí tuệ
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Sử dụng đa phương tiện để giải quyết vấn đề, minh họa cho học sinh tìm tòi từ tình huống, nghiên cứu, phát hiện vấn đề …
- Bồi dưỡng phương pháp tự học, phương pháp đọc sách
Trang 22- Đổi mới phương pháp đánh giá, kết hợp đánh giá của thầy, với tự đánh giá của trò
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập tương tác: Hoạt động theo nhóm…
- Tăng cường các hoạt động hỗ trợ: Tự học, chuyên đề, hội thảo, báo cáo thực hành
- Rèn luyện phong cách hòa nhập với cộng đồng
Nhìn chung tư tưởng chủ đạo của phương pháp đổi mới là: tập trung vào các hoạt động của trò; trò tự nghiên cứu, tìm tòi, khám phá; tăng cường giao lưu trao đổi giữa trò và trò
Các định hướng này phù hợp với quan điểm tâm lý học cho rằng hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách, phù hợp với luận điểm cơ bản của giáo dục học Macxit: Con người phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt động
Đồng thời, khi thực hiện đổi mới PPDH cần phải tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới, đặc biệt là phải bám sát các hướng đổi mới của
họ Chẳng hạn như thực hiện các phương pháp đổi mới dạy học sau:
+ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
+ Dạy học hợp tác
+ Dạy học sử dụng phiếu học tập
+ Dạy học theo tư tưởng của lý thuyết kiến tạo
+ Dạy học với sự trợ giúp của máy tính điện tử nói riêng và dạy học có tính áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin nói chung
1.2 Một số phương pháp dạy học tích cực
- DH phát hiện và GQVĐ là kiểu DH mà ở đó thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, HĐ tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo để GQVĐ, thông qua đó kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được các mục tiêu học tập khác
Trang 23- Dạy học hợp tác là kiểu dạy học mà ở đó giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động trong những nhóm nhỏ để học sinh cùng thực hiện một nhiệm
vụ nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác
cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao
- Phương pháp dạy học khám phá được hiểu là phương pháp dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua các hoạt động học sinh khám phá ra một tri thức nào đấy trong chương trình môn học
Theo phương pháp này học sinh tự có những tri thức kĩ năng mới, chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri, kĩ năng do thầy truyền thụ cho
- Học theo hợp đồng là một hoạt động học tập trong đó mỗi học sinh được giao một hợp đồng trọn gói bao gồm các nhiệm vụ/bài tập bắt buộc và
tự chọn khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Học sinh chủ động
và độc lập quyết định về thời gian cho mỗi nhiệm vụ/ bài tập và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ/ bài tập đó theo khả năng của mình
- Học theo dự án là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống
Học theo dự án cho phép HS phát triển tư duy logic; gắn lý thuyết với thực tiễn cuộc sống; tăng cường giao tiếp; tạo ra mối liên hệ giữa các môn học, liên trường, liên quốc gia…
HS chuẩn bị kế hoạch HĐ, khung thời gian và phân công nhiệm vụ cho
dự án của mình
HS thu thập dữ liệu (thư viện, internet, cộng đồng) và xử lý dữ liệu, viết báo cáo, chuẩn bị trình bày và truyền đạt kết qủa
Ví dụ một số hình thức tổ chức dạy học tích cực:
Trang 24Bảng 1.2: Một số hình thức dạy học tích cực Các hình thức dạy học trên lớp Các hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp
Giờ lý thuyết tích hợp Làm việc nhóm
Làm việc nhóm Thực hiện dự án
Thực hành thí nghiệm Tư vấn
1.3 Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
1.3.1 Mô hình quan điểm dạy học - phương pháp dạy học - kĩ thuật dạy học
Phương pháp dạy học có thể được chia theo ba cấp độ: cấp độ vĩ mô (Quan điểm dạy học), cấp độ trung gian (Phương pháp dạy học cụ thể), cấp độ
vi mô (Kĩ thuật dạy học) [7, tr 45]
- Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học (có thể hiểu QĐDH tương đương với các trào lưu sư phạm) Ví dụ: dạy học nghiên cứu, dạy học theo tình huống, dạy học khám phá, dạy học định hướng học sinh [7, tr 45]
- Phương pháp dạy học (PPDH) là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học Ví dụ: phát hiện và giải quyết vấn đề, khám phá, dự án
- Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.Ví dụ: kĩ thuật bể cá, kĩ thuật 3 lần 3, kĩ thuật tia chớp [7, tr 45]
Tuy nhiên, việc phân định chỉ mang tính tương đối Sự phân biệt giữa QĐDH và PPDH, PPDH và KTDH nhiều khi không thật rõ ràng Mối quan hệ giữa QĐDH, PPDH và KTDH có thể được thể hiện ở sơ đồ sau
Trang 25MÔ HÌNH BA BÌNH DIỆN CỦA PPDH Quan điểm DH – PPDH - Kỹ thuật DH (Bernd MEIER)
Bình diện trung gian
Mô hình ba bình diện của phương pháp dạy học
1.3.2 Kĩ thuật dạy học tích cực
Các KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Có những KTDH chung, có những kĩ thuật đặc thù của từng PPDH, ví dụ kĩ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại…
Các KTDH tích cực là những kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS
Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các KTDH phát huy
tính tích cực, sáng tạo của người học như:
1.3.2.1 Kĩ thuật động não
Động não tức là đứng trước một sự vật, một hiện tượng cá nhân suy nghĩ để sáng tạo ra những nhận xét, ý tưởng mới không theo lối mòn kinh nghiệm hoặc tìm ra tối đa những yếu tố liên quan đến sự vật, hiện tượng đó
Trang 26Cách tiến hành
Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình Đánh giá, lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng: Có thể ứng dụng trực tiếp, có thể ứng dụng cần nghiên cứu thêm, không có khả năng ứng dụng
Ưu điểm
Phát huy tư duy sáng tạo, phát hiện ra các ý tưởng mới, khuyến khích tất
cả mọi người tham gia, khai thác được kiến thức và kinh nghiệm của mọi người,
có sự kích thích làm nảy sinh ý tưởng mới từ các ý tưởng của người khác
Nhược điểm
Các ý kiến có thể phân tán và làm mất nhiều thời gian của lớp học Có thể có một số HS quá tích cực, số khác thụ động
1.3.2.2 Sơ đồ tư duy
Theo [7, tr 67], sơ đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một
sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề
Cách tiến hành:
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ
in thường
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
Trang 27Ưu điểm:
Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng
Nhược điểm: Một số ý kiến cho rằng:
Sơ đồ tư duy sử dụng quá nhiều màu sắc, trông như tranh vẽ trẻ con và mất công tô màu Sơ đồ tư duy thì phải vẽ, nhưng nhiều người không có năng khiếu vẽ, vẽ xấu Mất nhiều thời gian hơn ghi chép thông thường Tốn giấy
1.3.2.3 Kĩ thuật tia chớp
Kĩ thuật tia chớp là thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề
Cách tiến hành:
Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và
đề nghị Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, ví dụ: Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không? Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong
Tất cả các thành viên phác họa những ý nghĩ đầu tiên về cách quyết vấn
đề trên trên một tờ bìa, rồi dính lên bàn hay lên tường như một triển lãm tranh
Trang 28Cách tiến hành:
Trong vòng một triển lãm tranh mỗi một thành viên trình bày suy nghĩ của mình về cách giải quyết Trong giai đoạn thứ hai của việc tìm lời giải cá nhân, các phương án giải quyết tiếp tục được tìm kiếm Trong giai đoạn đánh
giá tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu
Ưu điểm:
Tìm ra phương án tối ưu hợp lý nhất
1.3.2.5 Kĩ thuật 3 lần 3
Kĩ thuật “3 lần 3″ là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động
sự tham gia tích cực của HS
Cách tiến hành:
HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung buổi thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận…) Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt, 3 điều chưa tốt, 3 đề nghị cải tiến Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý
và thảo luận về các ý kiến phản hồi
Trang 29Học sinh điền các thông tin trên phiếu nhƣ sau:
- Yêu cầu học sinh viết vào cột K những gì đã biết liên quan đến nội
dung bài học hoặc chủ đề
- Sau đó viết vào cột W những gì các em muốn biết về nội dung bài
học hoặc chủ đề
- Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, học sinh điền vào cột L của
phiếu những gì vừa học đƣợc Lúc này, học sinh xác nhận về những gì các em
đã học đƣợc qua bài học đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá đƣợc kết quả học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học
Ƣu điểm:
Giúp học sinh xác định nhiệm vụ, động cơ, ý thức, tự giác học tập, biết nhìn lại quá trình học tập của mình và tự điều chỉnh cách học Giáo viên đánh giá đƣợc kết quả giờ dạy của mình để điều chỉnh cách dạy Giáo viên đánh giá đƣợc khả năng nhận thức của học sinh ngay sau mỗi nội dung/ bài học không cần chờ đến giờ kiểm tra
Nhƣợc điểm:
Cần nhiều thời gian
Trang 30HS thảo luận Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi
HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào
cuộc thảo luận
Hoạt động học tập được tiến hành theo 2 giai đoạn
Giai đoạn 1:“Nhóm chuyên sâu”
- Lớp học chia thành các nhóm (khoảng từ 3 - 6 học sinh) Mỗi nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu hoặc nghiên cứu sâu một phần nội dung học tập khác nhau nhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau Các nhóm này được gọi
là “nhóm chuyên sâu”
- Các nhóm nhận nhiệm vụ và nghiên cứu, thảo luận, đảm bảo mỗi thành viên trong các nhóm đều nắm vững và có khả năng trình bày lại được các nội dung trong nhiệm vụ được giao cho các bạn ở nhóm khác Mỗi học sinh trở thành “chuyên sâu” của lĩnh vực đã tìm hiểu trong nhóm mới ở giai đoạn tiếp theo
Trang 31Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
- Sau khi hoàn thành ở giai đoạn 1, mỗi học sinh từ các nhóm “chuyên sâu” khác nhau hợp thành các nhóm mới, gọi là “nhóm mảnh ghép” Lúc này mỗi học sinh “chuyên sâu” trở thành những “mảnh ghép” trong “nhóm mảnh ghép” Các học sinh phải lắp ghép các mảng kiến thức thành một “bức tranh” tổng thể
- Từng học sinh từ các nhóm “chuyên sâu” trong nhóm “mảnh ghép” lần lƣợt trình bày lại nội dung tìm hiểu của mình Đảm bảo tất cả các thành viên trong nhóm “mảnh ghép” nắm bắt đƣợc đầy đủ toàn bộ nội dung của các nhóm chuyên sâu giống nhƣ nhìn thấy một “bức tranh” tổng thể
- Sau đó nhiệm vụ mới đƣợc giao cho các nhóm “mảnh ghép” Nhiệm
vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã đƣợc tìm hiểu từ các nhóm “chuyên sâu” Bằng cách này, học sinh có thể nhận thấy những phần vừa thực hiện không chỉ để giải trí đơn thuần mà thật sự là những nội dung học tập quan trọng
Trang 32Cách tiến hành:
Ví dụ kĩ thuật 635 thực hiện như sau: Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi
người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác
1.3.2.10 Kĩ thuật tranh luận ủng hộ - phản đối
Tranh luận ủng hộ - phản đối (tranh luận chia phe) là một kĩ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột
Cách tiến hành:
Các thành viên được chia thành hai nhóm: Nhóm ủng hộ hay phản đối Một nhóm cần thu thập những lập luận ủng hộ, còn nhóm đối lập thu thập những luận cứ phản đối Nhóm ủng hộ đưa ra một lập luận ủng hộ, tiếp đó nhóm phản đối đưa ra một ý kiến phản đối và cứ tiếp tục như vậy Nếu mỗi nhóm nhỏ hơn 6 người thì không cần đại diện mà mọi thành viên
có thể trình bày lập luận Tiếp theo là giai đoạn thảo luận chung và đánh
giá, kết luận thảo luận
Trang 33Cách tiến hành:
- Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy Ao
- Trên giấy Ao chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm (ví dụ nhóm 4 người) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi (hoặc nhiệm vụ) theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi
cá nhân và viết vào phần giấy của mình trên tờ Ao
- Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, học sinh thảo luận nhóm,
thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy Ao “khăn phủ bàn”
Ưu điểm:
Kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật đơn giản, dễ thực hiện, có thể tổ chức trong tất cả các bài học, môn học, cấp học giống như học theo nhóm Kĩ thuật khăn phủ bàn khắc phục được hạn chế của học theo nhóm vì mỗi học sinh đều phải suy nghĩ đưa ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm, không ỷ lại vào các bạn khá, giỏi Có thể thay số trên khăn phủ bàn bằng tên học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh
Trang 34Chúng tôi đã điều tra , phỏng vấn GV dạy toán ở một số trường THPT thuộc tỉnh Lạng Sơn về việc vận dụng các phương pháp dạy học và các kĩ thuật dạy học trong hai năm học 2010 - 2011 và 2011 - 2012 Mẫu phiếu điều tra như sau:
PHIẾU PHỎNG VẤN GIÁO VIÊN
Xin các thầy (cô) cho biết ý kiến về các vấn đề sau (đề nghị chọn
những đáp án mà các thầy (cô) cho là đúng) :
1 Theo các thầy (cô), chương trình mới của môn Toán ở trường THPT từ năm 2005 đến nay đã phù hợp chưa:
B Trình độ về công nghệ hiện đại
C Nghiệp vụ sư phạm của giáo viên
4 Khi giảng dạy T oán ở trường THPT thì thầy (cô) đã sử dụng các phương pháp dạy học sau ở mức độ nào?
Trang 35TT PPDH
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Chưa bao giờ
D Đặt thêm nhiều câu hỏi
7 Thầy (cô) cho học sinh hoạt động nhóm trong tiết học theo tiêu trí nào?
Trang 369 Thầy (cô) có sử dụng các kĩ thuật như “khăn phủ bàn”, “mảnh ghép”, “sơ
đồ tư duy” trong tiết học của mình không?
C Không hiệu quả
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các thầy (cô)!
Kết quả thống kê về việc sử dụng những PPDH ở bảng sau:
Qua điều tra tình hình vận dụng các phương pháp dạy học trong giảng dạy toán ở những năm học gần đây, có thể thấy một số đặc điểm như sau:
Trang 37- Việc sử dụng các phương pháp dạy học có thay đổi theo hướng giảm dần phương pháp thuyết trình , tăng dần các phương pháp gợi mở vấn đáp và phương pháp PH&GQVĐ
- Các phương pháp dạy họ c không truyền thống như dạy học chương trình hóa, dạy học tự học còn chưa được sử dụng
- Xu hướng giảng dạy chung của các GV là phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy nhưng chủ yếu là phối hợp giữa các phương pháp thuyết trình , phương pháp gợi mở vấn đáp , phương pháp trực quan với nhau Tuy nhiên , tình trạng phổ biến vẫn là : GV thuyết trình giảng giải có xen kẽ hỏi - đáp (song chưa thực sự gây được tình huống lôi cuốn HS ), thiếu
minh họa trực quan , thậm chí vẫn còn cả “thầy đọc, trò chép” Đây chính là
nguyên nhân dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao , còn nặng về hình thức truyền đạt cho hết kiến thức quy định trong SGK ; HS không phát huy được tính tích cực , chủ động và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức và kĩ năng trong môn Toán
- Về cơ bản giáo viên đã có kiến thức và kĩ năng để tổ chức dạy học theo nhóm Giáo viên đã biết lựa chọn những nội dung/bài học phù hợp để tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm Qua đó có thể thấy giáo viên đã nhận thức được tác dụng tích cực của hình thức tổ chức dạy học này trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Học sinh bước đầu
đã có kĩ năng làm việc theo nhóm, các em biết nhanh chóng gia nhập vào nhóm khi giáo viên yêu cầu, thảo luận, trao đổi ý kiến để giải quyết nhiệm
vụ học tập mà giáo viên đưa ra, trình bày kết quả làm việc của nhóm trước giáo viên và trước lớp
Tuy nhiên tìm hiểu thực tiễn dạy học môn Toán chúng tôi nhận thấy, khi tổ chức dạy học giáo viên chủ yếu thành lập nhóm từ những cặp đôi hoặc theo bàn để các em hỗ trợ nhau làm một bài tập ở mức độ phức tạp mà cá
Trang 38nhân chưa tự mình giải quyết được Điều hạn chế là các hình thức hoạt động nhóm còn đơn điệu, chưa tạo ra hứng thú học tập cho học sinh Mặt khác khi
tổ chức dạy học theo nhóm giáo viên chủ yếu chú trọng đến việc giao nhiệm
vụ học tập cho nhóm bằng phát phiếu học tập, sau đó theo dõi, giám sát, hướng học sinh hoàn thành nhiệm vụ, đánh giá kết quả của nhóm chứ chưa chú ý giáo dục học sinh các kĩ năng xã hội cần thiết Giáo viên thường chỉ định những học sinh khá giỏi, chữ đẹp, nhanh nhẹn để báo cáo kết quả nên đôi khi một số học sinh khác không có cơ hội nêu ý kến của mình
- Khi được hỏi về những kĩ thuật như “khăn phủ bàn”, “mảnh ghép”, “sơ đồ tư duy”,…hầu hết các giáo viên trả lời là không biết, chưa nghe nói bao giờ
1.5 Chương trình sách giáo khoa và thực trạng dạy học Toán 12 THPT
1.5.1 Chương trình sách giáo khoa Toán 12
Chương trình Toán 12 là một bộ phận của chương trình Toán THPT Chương trình được xây dựng theo quan điểm: sát thực, trực quan, đúng chuẩn và đổi mới Biên soạn đủ các dạng bài tập, ví dụ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải toán và phân hóa theo mức độ Chú trọng các ví dụ, bài tập có nội dung thực tiễn đời sống và gắn với các môn học khác (làm cho học sinh thấy rõ Toán học gắn với cuộc sống và làm quen với việc áp dụng tri thức Toán học để giải các bài Toán thực tế, các bài toán của môn học Vật Lí, Sinh học, Hóa học…)
Theo [24], nội dung chương trình toán 12 được phân chia thành các mảng
kiến thức, cụ thể là (phần in nghiêng dành riêng cho chương trình nâng cao)
+) Số
Số phức Dạng đại số và các phép cộng, trừ, nhân, chia số phức Căn
bậc hai của số phức Giải phương trình bậc hai Dạng lượng giác của số phức
và ứng dụng
Trang 39+) Đại số
Hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit Phương trình, bất phương
trình mũ và lôgarit đơn giản Một số hệ phương trình mũ lôgarit đơn giản
+) Giải tích
1 Ứng dụng đạo hàm để khảo sát hàm số Đường tiệm cận đứng,
đường tiệm cận ngang, đường tiệm cận xiên của đồ thị hàm số Một số phép
biến đổi đơn giản đồ thị Sự tương giao của hai đồ thị
2 Nguyên hàm Tích phân Ứng dụng tích phân để tính diện tích và thể tích vật thể
+) Hình học
1 Khối đa diện Khối đa diện đều Thể tích của khối đa diện
2 Mặt nón, mặt trụ, mặt cầu và tương giao của chúng với mặt phẳng Mặt tròn xoay Diện tích mặt cầu Diện tích xung quanh, diện tích toàn phần của hình trụ, hình nón Thể tích của khối trụ, khối nón
3 Phương pháp tọa độ trong không gian Phương trình mặt cầu Phương trình mặt phẳng Phương trình đường thẳng trong không gian Vị trí tương đối giữa: hai đường thẳng, đường thẳng và mặt phẳng, hai mặt phẳng Khoảng cách giữa: một điểm và một đường thẳng, một đường thẳng và một mặt phẳng, hai đường thẳng chéo nhau
1.5.2 Thực trạng dạy học Toán 12 THPT
Qua việc điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra và thông qua hình thức
dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề nổi bật lên như sau:
- Do thời gian của một tiết học bị hạn chế, khối lượng kiến thức theo quy định lại nhiều Nên phần lớn GV vẫn dùng những PPDH truyền thống như: PPDH thuyết trình và PPDH vấn đáp vẫn chiếm ưu thế và được vận dụng theo quy trình sau:
Trang 40+ Dạy giờ lý thuyết: GV dạy theo các bước: Đặt vấn đề, giảng giải để dẫn HS tới kiến thức kết hợp với PPDH vấn đáp để củng cố kiến thức, hướng dẫn việc học ở nhà
+ Dạy giờ luyện tập: HS chuẩn bị bài tập ở nhà hoặc ít phút tại lớp, GV gọi HS lên bảng chữa bài, sau đó gọi HS khác nhận xét lời giải của bạn, GV đưa ra lời giải chính xác thông qua đó củng cố kiến thức cho HS Đối với HS khá, giỏi một số ít GV phát triển bài toán bằng cách khái quát hoá, đặc biệt hoá bài toán
-Việc giảng dạy còn tùy thuộc vào mỗi GV, một số GV chỉ dành nhiều thời gian vào những tiết dự giờ thao giảng, chú trọng đến việc chấm điểm, chưa khuyến khích HS chủ động, sáng tạo trong học tập
- Phương tiện, thiết bị dạy học ở một số trường còn quá nghèo nàn, do
đó cũng không thuận lợi cho việc áp dụng PPDH mới, nên cũng ảnh hưởng đến thái độ học tập thụ động, tính tự giác không cao của HS
- Số lượng bài tập để cho HS luyện tập còn ít Phần lớn bài tập chỉ mục đích áp dụng Cần phải có những bài toán nhằm phát triển tư duy, hoặc có
những gợi ý để giúp HS tự nghiên cứu phát triển bài học
- HS chưa làm quen nhiều với các PPDH mới, nên khi thực hiện các
HĐ học tập còn gặp nhiều lúng túng
- Một số HS đã rỗng kiến thức nên ảnh hưởng đến việc thực hiện các
HĐ học tập, hay tiếp thu kiến thức mới HS chưa giác ngộ mục đích học tập,
tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, HS chưa biết tự học
- Một số GV còn chưa biết ứng dụng CNTT, một số phần mềm Toán học để phục vụ cho dạy học, hay vận dụng chưa đúng mục đích nên hiệu quả chưa cao