1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn xuân khánh qua đội gạo lên chùa

106 620 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Xuân Khánh tuy sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm của nhà văn thực sự là những viên ngọc quý của thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng và của văn học Việt Nam thời kỳ đổi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU HƯƠNG

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH

QUA “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA”

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thái Nguyên – Năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU HƯƠNG

NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH QUA “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA”

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS TRỊNH BÁ ĐĨNH

Thái Nguyên – Năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả hoạt động nghiêm túc, tìm tòi trong quá trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4, năm 2013

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Trịnh

Bá Đĩnh - người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Với trình độ và kiến thức hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót Kính mong nhận được sự lượng thứ và góp

ý chân thành của các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm đến vấn đề được tìm hiểu trong luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

NỘI DUNG 9

Chương 1: HAI XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 9

1.1 Hai xu hướng đổi mới của tiểu thuyết 9

1.1.1 Xu hướng “hiện đại hóa” triệt để 11

1.1.2 Xu hướng đổi mới dựa trên lối viết truyền thống……… 20

1.2 Quá trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh 27

1.2.1 Quá trình sáng tác 27

1.2.2 Quan niệm về nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh 34

1.2.3 Vài nét về hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Đội gạo lên chùa 36

Chương 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA 38

2.1 Khái niệm nhân vật tiểu thuyết 38

2.2 Các kiểu nhân vật trong Đội gạo lên chùa 41

2.2.1 Nhân vật hành động “tuỳ duyên” 41

2.2.2 Nhân vật tư tưởng 48

2.2.3 Nhân vật bản năng 51

Trang 6

2.2.4 Các nhân vật khác 54

2.3 Nghệ thuật thể hiện nhân vật 56

2.3.1 Nghệ thuật thể hiện nhân vật qua miêu tả ngoại hình 56

2.3.2 Nghệ thuật thể hiện nhân vật qua miêu tả nội tâm 60

2.3.3 Nghệ thuật thể hiện số phận nhân vật 65

Chương 3: NGHỆ THUẬT KẾT CẤU VÀ TỰ SỰ 72

3.1 Nghệ thuật kết cấu 72

3.1.1 Mở đầu và kết thúc tiểu thuyết Đội gạo lên chùa 72

3.1.2 Tổ chức kết cấu cốt truyện 74

3.2 Nghệ thuật tự sự 81

3.2.1 Điểm nhìn tự sự 81

3.2.2 Vị thế và ngôn ngữ người kể chuyện……….83

3.2.3 Các yếu tố kì ảo, ẩn dụ, tượng trưng 88

KẾT LUẬN 93

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt

Nam đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm song cũng đầy hào hùng Trong quá trình sinh tồn, việc giữ gìn bản sắc văn hoá người Việt luôn được quan tâm Do đó, mảng đề tài viết về lịch sử - văn hoá luôn thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà văn và độc giả

Trong khoảng thời gian từ 1945 đến thời kỳ Đổi mới, văn học ưu tiên cho các vấn đề thời sự nên tiểu thuyết lịch sử ít được chú trọng Sau Đại hội Đảng VI (1986) với tinh thần đổi mới “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng

sự thật, nói rõ sự thật” văn học Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh

về văn xuôi Trong đó, tiểu thuyết lịch sử không còn bị bó buộc, chi phối bởi nhiệm vụ chính trị mà được tự do sáng tác Vì thế, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này gặt hái được nhiều thành công với nhiều cây bút tên tuổi như Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh,… Các tác giả tiểu thuyết lịch

sử thời kỳ Đổi mới đã có nhiều thể nghiệm, cách tân nhằm đem lại sự chuyển biến mới mẻ, sâu sắc về tư tưởng và nghệ thuật tiểu thuyết Việc tìm hiểu tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng là đề tài thời sự và được sự quan tâm sát sao của giới nghiên cứu văn học nước nhà

1.2 Nguyễn Xuân Khánh sáng tác từ cuộc kháng chiến chống Mỹ

nhưng phải sang thập kỷ đầu của thế kỷ XXI mới được biết đến như một cây bút tiểu thuyết hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại Tiểu thuyết gia “lão thành” này đã lần lượt “trình làng” bộ ba tiểu thuyết lịch sử - văn hoá đồ sộ:

Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) và Đội Gạo lên chùa (2011)

Về tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh quan niệm “Lịch sử là cái

kho tàng chứa đựng những mơ ước ẩn ngầm của cái vô thức tập thể của cộng đồng dân tộc Viết về lịch sử ta có thể tìm hiểu dân tộc ta sâu hơn Văn hoá

Trang 8

Việt cũng là vấn đề nằm trong dòng ấy, nhất là văn hoá làng xã” (“Chúng ta là

những người nhà quê”, Báo Tuổi trẻ, số ra ngày 16-7-2006) Do đó, Đội gạo

lên chùa tiếp tục mạch tự sự văn hoá - lịch sử trong Hồ quý Ly và Mẫu thượng ngàn Tác phẩm viết về ảnh hưởng của văn hoá Phật giáo trong đời sống

người dân nông nghiệp Bắc Bộ, qua những biến thiên của lịch sử Việt Nam gần như trải dài suốt thế kỷ XX, từ công cuộc xây dựng và khai hoá của thực dân Pháp, cuộc kháng chiến chống Pháp, đến cải cách ruộng đất, kháng

chiến chống đế quốc Mỹ, những ngày đầu thống nhất đất nước Đội gạo lên

chùa vừa ra đời đã nhận được sự đánh giá cao của giới nghiên cứu phê bình,

báo chí và sự đón nhận nồng nhiệt của nhiều độc giả yêu văn học Sự thành công của tác phẩm được ghi nhận bằng các giải thưởng cao nhất của Hội nhà văn Việt Nam 2011, Hội nhà văn Hà Nội 2011 Và chỉ sau khi “xuất xưởng” hai tháng, nhà xuất bản Phụ Nữ đã chuẩn bị tái bản để đáp ứng đòi hỏi của độc giả

1.3 Đội gạo lên chùa ra mắt bạn đọc khi nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

gần 80 tuổi, đã cho ta thấy được bút lực dồi dào, khả năng sáng tạo đáng kính

nể của nhà văn Ngay sau khi xuất bản, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa đã thu

hút được sự quan tâm chú ý của xã hội và trở thành một trong những tác phẩm thành công nhất của thể loại tiểu thuyết đương đại Làm nên thành công của

Đội gạo lên chùa không chỉ có nội dung tư tưởng mà còn có cả những yếu tố

hình thức nghệ thuật đặc sắc để truyền tải những tư tưởng đó Sẽ thật thiếu sót khi chúng ta chỉ quan tâm tới nội dung mà quên mất những sáng tạo, đóng góp của tác giả về mặt nghệ thuật Do đó, tìm hiểu Nghệ thuật tiểu thuyết

Nguyễn Xuân Khánh qua tác phẩm Đội gạo lên chùa là một công việc cần

thiết, giúp ta nhìn nhận tác phẩm một cách toàn diện Qua đó cũng chỉ ra được tài năng của nhà văn, những đóng góp quan trọng của Nguyễn Xuân Khánh cho nền tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Vài nét về tác giả

Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933, bút danh là Đào Nguyễn, quê gốc

ở làng Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội Năm 1953 vào bộ đội sau đó ông làm

việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội rồi Báo Thiếu niên Tiền Phong Nguyễn

Xuân Khánh là một cây bút khá đa dạng, ông sáng tác truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết và dịch thuật, trong đó có thể kể đến:

- Rừng sâu (tập truyện ngắn, Nxb Văn học, 1962),

- Miền hoang tưởng (tiểu thuyết, Nxb Đà Nẵng, 1990),

- Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi (Nxb Nhi đồng, Hà Nội, 2002),

- Mưa quê (Nxb Nhi đồng, Hà Nội, 2003)

- Hồ Quý Ly (tiểu thuyết), 2000 Tác phẩm này nhận được một loạt các

giải thưởng: Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 - 2000) của Hội nhà văn Việt Nam; Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội 2001; Giải thưởng Mai vàng của Báo Người lao động, 2001; Giải thưởng Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2002

- Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết), 2006 Giải thưởng Hội nhà văn Hà

Nội, 2006; Giải thưởng văn Doanh nhân, 2007

- Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết), 2011 Giải thưởng Hội nhà văn Việt

Nam, 2011; Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2011

- Và nhiều tác phẩm dịch

Nguyễn Xuân Khánh tuy sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm

của nhà văn thực sự là những viên ngọc quý của thể loại tiểu thuyết lịch sử

nói riêng và của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới nói chung

2 2 Các bài viết có liên quan tới tác phẩm Đội gạo lên chùa

Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được sáng tác khi nhà văn Nguyễn Xuân

Khánh đã ở cái tuổi “ xưa nay hiếm”, sự thành công của tác phẩm một lần nữa

Trang 10

đã góp phần khẳng định tên tuổi và tài năng của ông trong nền tiểu thuyết

Việt Nam hiện đại Tác phẩm vừa ra mắt đã thành sự kiện:

- Ngày 20 tháng 6 năm 2011 Hội nhà văn Hà Nội và Nhà xuất bản Phụ

Nữ tổ chức giới thiệu và tọa đàm tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của nhà văn

Nguyễn Xuân Khánh Nổi bật trong cuộc tọa đàm này là một số ý kiến sau:

+ Nhà văn Hoàng Quốc Hải một người tâm huyết với loại tiểu thuyết

lịch sử đã nêu những điều tâm đắc của mình về tiểu thuyết Đội gạo lên chùa

của tác giả Nguyễn Xuân Khánh: “Anh luôn đụng đến những vấn đề bản chất

của văn hoá Việt, đó là Mẫu thượng ngàn - hiện tượng văn hoá thuần Việt; và

giờ đây là đạo Phật - hiện tượng văn hoá du nhập nhưng đã được Việt hoá

Đội gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp

đẽ của văn hoá Việt đang bị phá huỷ, đang dần biến mất”[21]

+ Nhà nghiên cứu trẻ Phạm Xuân Thạch nhìn nhận ở một góc độ khác -

góc độ hình thức thể loại đã chỉ ra sự độc đáo của Đội gạo lên chùa trong

tương quan sự phát triển của tiểu thuyết hiện đại Đó là “Nguyễn Xuân Khánh

là một trường hợp độc đáo khi mọi sự thể nghiệm, đột phá về hình thức đã trở nên bão hoà thì ông lại trở về với dạng sơ khai của tiểu thuyết: tiểu thuyết truyền thống”[21]

Không chỉ nhìn nhận nhận ở hình thức thể loại, Phạm Xuân Thạch còn

chỉ ra rằng, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa cho ta cái nhìn sâu sắc hơn về các

giá trị văn hoá, tinh thần của người Việt trong sự vận động của lịch sử Đó là

“Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh giống như một “kẻ cạnh tranh” của sử học, nó buộc chúng ta phải nhìn hiện thực lịch sử với một con mắt phức tạp hơn Nó buộc ta phải suy tư về những nền móng của sự tồn tại bền bỉ của làng

xã ở đồng bằng Bắc Bộ, những cơ chế tự điều tiết về mặt tinh thần và về cả những gì đã bị những sự vận động của lịch sử tàn phá…”(trang bìa 4 - Tiểu

thuyết Đội gạo lên chùa)

Trang 11

+ Ngoài ra, cũng trong cuộc toạ đàm này, ý kiến của Nguyễn Xuân Khánh khi nhìn nhận “đứa con‟‟của mình sau bốn năm miệt mài viết đã góp

phần giúp độc giả hiểu rõ hơn về quá trình ra đời của tác phẩm: „„Tôi Đội gạo

lên chùa bằng tất cả vốn sống của cuộc đời mình, bằng tất cả sự trải nghiệm

79 năm của đời mình Có những chi tiết đời giúp tôi nhặt được: năm 1977 tôi

bị nghi ung thư, nằm viện, có sư ông nằm cùng phòng Sư lại có chú tiểu theo chăm sóc, chú tiểu nguyên là bộ đội, đi lính về thì vào chùa Tôi rỉ rả tâm sự cùng sư cụ và chú tiểu, và tiểu thuyết là sự thu nhặt, gắn kết, đúc rút, tỉa gọt…từ tất cả”[21]

Ngoài các ý kiến đóng góp trong cuộc tọa đàm, còn có ý kiến của nhiều cây bút trong các bài báo, các cuốn sách khác Trong đó có thể kể đến:

- Bài viết của tác giả Mai Anh Tuấn “Tiểu thuyết như một tham khảo

phật giáo” đã đưa ra nhận định: Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

“là cuốn tiểu thuyết ngay từ tiêu đề đã tiết lộ một dấu chỉ Phật giáo và bởi thế, liền sau đó, vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri thức tiếp nhận thuộc chốn cửa thiền” Cũng trong bài viết này tác giả đã chỉ ra thể loại của tác phẩm:

“Vẫn miệt mài với lối viết tiểu thuyết trường thiên, Đội gạo lên chùa ngót

một ngàn trang có lẽ không quá xa lạ với cây bút từng tạo điều tương tự với hai tiểu thuyết trước đó Nhưng vẫn đầy bất ngờ với thời tiểu thuyết ngắn mà

văn đàn thì tranh nhau hoài nghi đại tự sự Đội gạo lên chùa ở khía cạnh này,

lại trở thành tham khảo thể loại trường thiên tiểu thuyết và chắc rằng, chưa dễ

đã mất đi vị thế cho những nỗ lực phục hưng dung lượng tiểu thuyết của một nhóm người, chí ít là cao tuổi”[66]

- Nhà thơ Hoàng Việt Hằng trong bài viết Thong thả kiếp người đội

gạo lên chùa đưa ra nhận định:“Từng nổi tiếng với Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, tiểu thuyết gia Nguyễn Xuân Khánh lại mang đến cho làng văn một

cuốn sách tầm cỡ Đội gạo lên chùa giản dị và lôi cuốn”[25] Đồng thời tác

Trang 12

giả bài viết cũng chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ trong Đội

gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh đều là “điển hình của chịu thương,

chịu khó, sống vì gia đình, quê hương”[25]

- Nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương với Nguyễn Xuân Khánh và tiểu

thuyết văn hóa - lịch sử đã khẳng định Đội gạo lên chùa sáng tác theo “mạch

tự sự văn hoá - lịch sử”[14] Và Đội gạo lên chùa “Phải chăng đấy cũng là

một kiến giải của nhà văn về dân tộc, tương lai dân tộc?”[14]

- Với bài viết Người đưa lịch sử vào tiểu thuyết, tác giả Vĩnh Hưng cũng đã đề cập đến nghệ thuật của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, đó là: “viết theo lối cổ điển, mang tính luận đề về ảnh hưởng của đạo Phật”[29]

Như vậy, qua các bài viết và các công trình nghiên cứu các nhà nghiên

cứu, phê bình đều khẳng định sự thành công của Đội gạo lên chùa và tài năng

của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khi tiếp tục đề tài văn hoá - lịch sử Tuy nhiên có thể nhận thấy chưa có một bài viết hay một công trình nghiên cứu

chuyên sâu, tổng quát về Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua Đội

gạo lên chùa Vì thế, chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề mới mẻ và có ý

nghĩa chờ đợi sự khám phá của người nghiên cứu

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Trước tiên luận văn giới thuyết về các xu hướng tiểu thuyết Việt Nam đương đại và sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

Phần chính của luận văn tiến hành khảo sát, phân tích đặc sắc nghệ thuật

tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua tác phẩm Đội gạo lên chùa về: nghệ

thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật kết cấu và tự sự

Ngoài ra luận văn cố gắng đi vào tìm hiểu sâu hơn kiến thức lý luận

về nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết, nghệ thuật kết cấu và tự sự tiểu thuyết

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn

Xuân Khánh qua Đội gạo lên chùa Tức là chỉ ra những nét đặc sắc trong lối

viết, lối dựng tiểu thuyết của nhà văn ở tất cả các bình diện

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung khảo sát tiểu thuyết Đội gạo lên chùa (Nguyễn

Xuân Khánh) Những tác phẩm khác của Nguyễn Xuân Khánh, luận văn chỉ

sử dụng để đối chiếu, tham khảo, củng cố thêm nhận định của mình về nghệ

thuật tiểu thuyết của ông qua tác phẩm Đội gạo lên chùa Đồng thời khảo sát

tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh chúng tôi cũng đặt nó trong tương quan với các tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích theo thể loại

- Phương pháp phân tích hệ thống các thủ pháp biểu hiện

- Phương pháp so sánh đối chiếu và khái quát tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Thông qua đề tài, luận văn muốn khẳng định vai trò không thể thay thế được của thể loại tiểu thuyết truyền thống trong việc thể hiện nội dung văn

hoá - lịch sử mà tiểu thuyết Đội gạo lên chùa đã truyền tải

6.2 Luận văn đưa ra cái nhìn chuyên sâu và tổng quan về nghệ thuật

tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua Đội gạo lên chùa về: xây dựng nhân vật,

nghệ thuật kết cấu và tự sự

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của luận văn được triển

khai thành ba chương:

Trang 14

- Chương 1: Hai xu hướng tiểu thuyết Việt Nam đương đại và sáng tác

của Nguyễn Xuân Khánh

- Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Đội gạo

lên chùa

- Chương 3: Nghệ thuật kết cấu và tự sự

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 HAI XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

1.1 Hai xu hướng đổi mới của tiểu thuyết

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khẳng định “Đối với đất nước ta, đổi mới có ý nghĩa sống còn” Có thể nói, đổi mới là là yếu tố duy nhất, đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, đồng thời cũng là khát khao, nguyện vọng của toàn dân tộc khi đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt Đời sống sau hoà bình với những khó khăn, bề bộn đòi hỏi các nhà văn phải sáng tác được những tác phẩm phản ánh được hơi thở của thời đại Với tinh thần “cởi trói”, “dân chủ” mà Đảng khuyến khích, các nhà văn không còn bị gò bó theo những quy phạm, khuôn khổ của giai đoạn trước nữa mà được thoả sức sáng tạo, thể nghiệm Các nhà văn luôn trăn trở, chủ động tìm cho mình một hướng đi mới thích hợp với sự vận động của

xã hội - thời đại và xu hướng vận động của bản thân văn học Và điều cốt yếu của cuộc đổi mới này chính là việc đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm, làm cho đúng và phù hợp với quy luật khách quan Trên cơ sở lý luận và

thực tiễn Giáo sư Phan Cự Đệ đưa ra quan niệm mới về đổi mới tư duy: “Đổi

mới tư duy là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nhưng đồng thời cũng là một công việc lâu dài, phải tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc… Trong quá trình đổi mới tư duy, tất nhiên không chỉ có phê phán mà chủ yếu là phải suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, cá nhân và tập thể cùng đổi mới và sáng tạo theo tinh

thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI ”[16]

Trang 16

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã nói: “Ai cũng đổi mới

nhưng đổi mới thật sự là gì? Theo tôi đổi mới là nghĩ đúng, làm đúng quy luật

khách quan, là tôn trọng tinh thần khoa học”[48]

Cùng nhìn nhận về vấn đề đổi mới tư duy, trong cuộc toạ đàm “Văn học đổi mới và phát triển”, nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường đã nhận

định:„„Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái

nhìn và cái tâm của nhà văn Đề tài, nhân vật, phong cách cá tính không là cái gì nếu không có cái nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không

có được một cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân

mình Không có những cái đó thì không có đổi mới ‟‟[67, tr.49-50]

Dưới ánh sáng của đại hội Đảng lần thứ VI, văn học Việt Nam sau thời

kỳ Đổi mới (1986) đang dần chuyển mình và có những thành tựu đáng ghi nhận Đời sống văn học đổi mới một cách toàn diện: Với nhà văn có sự thay đổi sâu sắc về quan niệm nghệ thuật, hiện thực về con người; Với tác phẩm có

sự thay đổi về chủ đề, cảm hứng sáng tác, các thủ pháp nhệ thuật; Với độc giả

là sự thay đổi về thị hiếu thẩm mĩ Cùng với sự vận động chung của nền văn học, thể loại tiểu thuyết cũng đã và đang nỗ lực “đổi mới” để phù hợp với phản ánh hiện thực, phù hợp với sự phát triển của văn học và thị hiếu của người đọc Bởi tiểu thuyết là “thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển

và cũng chưa định hình Những hiện tượng cấu thành thể loại này cũng đang hoạt động trước mặt chúng ta Thể loại tiểu thuyết ra đời dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử Nòng cốt thể loại tiểu thuyết này chưa hề rắn lại

và chúng ta chưa hề dự đoán được khả năng uyển chuyển của nó”[46] Hơn nữa trong sáng tạo nghệ thuật việc sáng tạo, không lặp lại là quy luật phát triển của văn học nghệ thuật Điều đó cũng đã được khẳng định trong hội nghị

Trang 17

“Đổi mới tư duy tiểu thuyết”: đổi mới tư duy là điều cần kíp để có được những tiểu thuyết có giá trị thực sự trong bối cảnh văn hoá hiện nay

Sự đổi mới văn học phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan: khách quan là môi trường xã hội, thị hiếu độc giả; chủ quan là sự thay đổi của thế hệ nhà văn sau Đổi mới, bên cạnh các nhà văn lão thành, các nhà văn trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, đã xuất hiện thế hệ nhà văn hậu chiến, nhà văn thời Đổi mới Sự thay đổi này khiến cho trong văn học xuất hiện hai xu hướng tìm tòi, sáng tạo tiểu thuyết Thứ nhất là xu hướng “hiện đại hoá” triệt để và thứ hai là xu hướng đổi mới dựa trên lối viết truyền thống

1.1.1 Xu hướng “hiện đại hóa” triệt để

Đổi mới không chỉ là đòi hỏi của đời sống văn học, của độc giả mà còn mục đích sáng tạo các nhà văn Các nhà văn luôn trăn trở phải viết như thế nào để tự đổi mới chính mình và khác với những nhà văn khác Vì thế xu hướng “hiện đại hoá triệt để” chính là xu hướng mà người viết tiểu thuyết mong muốn vượt qua sự “tồn dư ngoan cố của lối viết cũ”( Roland Barthes) Sau thời kỳ Đổi mới, người ta đã quan niệm tiểu thuyết truyền thống (kết cấu tuyến tính) đã xưa rồi, không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại Các nhà văn, nhất là những cây bút trẻ đã thể nghiệm những kỹ thuật tự sự mới nhằm cách tân thể loại tiểu thuyết, đưa tiểu thuyết Việt Nam hoà nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới Những cách tân, đổi mới tiểu thuyết theo xu hướng “hiện đại hoá triệt để” dựa trên sự đổi mới quan niệm tiểu thuyết, vận dụng những kỹ thuật tự sự hiện đại phương Tây, chủ yếu về lối viết và những thủ pháp nghệ thuật của văn học hiện sinh, văn học phi lý….Tuy nhiên không đơn thuần là việc sao chép máy móc, các cây bút tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã tiếp thu, học tập có chọn lọc Những cách tân tiểu thuyết Việt Nam theo xu hướng “hiện đại hoá” thể hiện ở những khía cạnh:

Trang 18

Trước hết đó là đổi mới quan niệm về tiểu thuyết theo tinh thần dân chủ, các nhà tiểu thuyết thoả sức với những đề tài của cuộc sống bởi tiểu thuyết lúc này đã được giải phóng khỏi nhiệm vụ phản ánh hiện thực một cách chính xác, đầy đủ Sự phản ánh hiện thực không còn là cái nhìn đơn giản, xuôi chiều như thời kỳ trước nữa mà được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Mọi ngõ ngách về đời sống con người đều được đào xới, mọi góc khuất trong tâm hồn con người đều được khai thác một cách triệt để

Về hình thức, chúng ta có thể nhận diện những tiểu thuyết viết theo xu hướng “hiện đại hoá” triệt để ở một số dấu hiệu sau:

- Về dung lượng: thường ngắn

- Cốt truyện: tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống, có xu hướng mờ nhạt về tính “chuyện”, cốt truyện có sự “phân rã”, lỏng lẻo, cấu trúc là sự lắp ghép của mảng tâm trạng, mảng cốt truyện không theo trình tự thời gian mà đảo ngược theo dụng ý của tác giả tạo nên những hiện thực đứt gãy, quanh co phức tạp trong cấu trúc tiểu thuyết, tạo ra kiểu “truyện lồng trong truyện” Ở đó, những sự kiện, tình huống, những biến cố như không có quan hệ với nhau nhưng lại liên đới gần nhau Nói cách khác, đó là lối kết cấu đa tầng, đa tuyến, song hành, xoắn vặn, sắp đặt, lắp ghép…

- Tiểu thuyết đương đại khước từ truyền thống với sự đề cao tính chất

“Trò chơi”: chơi ngôn từ, chơi kết cấu, chơi nhân vật, chơi lịch sử… với những sắp đặt, dán ghép, nhảy cóc, dòng ý thức, xen cài lồng ghép, vật hoá,

số hoá, nhiều kết thúc, phá vỡ mạch truyền thống Cuộc chơi kết cấu dẫn đến

sự pha trộn giữa các thể loại, có nhiều văn bản khác nhau trong một tác phẩm: tiểu thuyết đan xen kịch, tiểu thuyết - nhật kí, tiểu thuyết - thư, tiểu thuyết - phóng sự, tiểu thuyết trong tiểu thuyết, tiểu thuyết đan xen thơ, ca dao, truyền thuyết, huyền thoại…

Trang 19

- Nhân vật tiểu thuyết là kiểu nhân vật phức hợp, đa bình diện Đó là những nhân vật có tính cách và tâm lý phức tạp; kiểu nhân vật phi trung tâm, vênh lệch giữa vai tính cách và vai hình tượng, không có nhân vật lý tưởng Khá phổ biến là kiểu nhân vật dị biệt, kì ảo, bản năng, người điên, kẻ lạc loài,

có khi chỉ là cái bóng mờ ảo,

- Ngôn ngữ đa thanh, mang tính đối thoại, kết hợp nhiều kênh ngôn ngữ, có xu hướng làm nhòa ranh giới giữa tính tinh tuyển và thông tục Trong tác phẩm có sự kết hợp nhiều giọng điệu: giọng điệu trữ tình, giọng điệu triết

lý, giọng điệu hoài nghi, chất vấn, giọng điệu đối thoại, giọng điệu giễu nhại

và giọng vô âm sắc

- Về nghệ thuật trần thuật, tiểu thuyết đương đại quay lưng lại với vai trò toàn tri của người kể chuyện ngôi ba, trần thuật theo ngôi thứ nhất chiếm

ưu thế Trong tác phẩm có nhiều điểm nhìn trần thuật, có sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật, sự luân chuyển điểm nhìn người trần thuật

- Về thủ pháp nghệ thuật, trong tiểu thuyết đương đại nhà văn sử dụng các thủ pháp huyền thoại, kì ảo Nó cho phép nhà văn nhìn sâu hơn vào thế giới, vừa tạo ra sự lạ hoá để thu hút người đọc Trong nhiều tiểu thuyết, bút pháp huyền thoại có khả năng tạo nên những hình tượng mang tính ẩn dụ cao

và các hình tượng ẩn dụ này tồn hiện như một kí hiệu nghệ thuật đa nghĩa giàu chất tượng trưng Ngoài ra các nhà tiểu thuyết con sử dụng bút pháp tượng trưng, giễu nhại…

Để làm rõ loại tiểu thuyết với lối viết “hiện đại”, chúng tôi xin lược qua một số ví dụ tiêu biểu:

Trang 20

(1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kì thủy (2004), Ngồi (2006) Tiểu thuyết của Nguyễn Bình

Phương ám ảnh người đọc bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào cuộc đời, sự đổ vỡ của trật tự gia đình và xã hội, sự đánh mất bản ngã, sự băng hoại về đạo đức, sự khốc liệt, đau đớn, bơ vơ, tình trạng bất an của con người Vì thế, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường có cốt truyện

phân mảnh, lối kết cấu song hành xoắn vặn Trong Vào cõi gồm hai mạch

truyện: mạch chuyện của Tuấn với cõi thực và cõi mơ và mạch chuyện của chị em Vang, Vọng với cõi quê và cõi phố, cõi thế và cõi chết Hay trong

Những đứa trẻ chết già với mạch cõi âm (Câu chuyện về mấy hồn ma trở về

làng trong các Vô thanh) và cõi trần (câu chuyện về hai gia đình ông Trường hấp và ông Trinh gắn với bí mật kho báu mà cả hai gia đình đều quyết giành

lấy) Trong Thoạt kì thủy có cấu trúc ba phần: A- Tiểu sử (của 18 nhân vật

được đánh số thứ tự từ 1 đến 18 sắp xếp không theo một tiêu chí cụ thể nào Phần này chưa có sự thống nhất giữa tiêu đề và nội dung triển khai, nhà văn không tập trung vào tiểu sử mà chỉ miêu tả ngoại hình, thói quen của các nhân

vật); B- Chuyện (gồm hai câu chuyện được đan lồng vào nhau: câu chuyện về

con cú bị bắn rụng trên sông Cái từ lúc 11 giờ 15, bay lên lúc 12 giờ và câu chuyện ở một làng nhỏ ven sông chủ yếu xoay quanh nhân vật tên Tính, bị

mọi người coi là điên); C - Phụ chú (gồm một tác phẩm của ông Phùng tên là

Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, nhân vật thường có tính cách, tâm lý phức tạp Đó là những con người luôn sống với thế giới tâm linh, nhiều dằn vặt, đau khổ Nhiều kiểu nhân vật có tính dị biệt, bản năng,… Trong

Ngồi các nhân vật chính đều bị xoá tên, hoặc bị làm mờ hay làm cho bị vắng

mặt Đó là Khẩn, Minh, Thuý, Trương, Kim đều bị xoá tên đi bằng kỹ thuật

Trang 21

bàn phím Nhân vật dị biệt như: Tính bị coi là điên hay nhân vật con Cú trong

lạ thường và các nhân vật kỳ ảo: những bào thai trong Người đi vắng, những người điên trong Thoạt kì thuỷ, cô gái trong Trí nhớ suy tàn với những ám ảnh

về Tuấn, Vũ, những góc phố Hà Nội…Với sự dịch chuyển điểm nhìn giúp cho ý nghĩa của tác phẩm trở nên phong phú hơn, dân chủ hơn

Thủ pháp huyền thoại, kỳ ảo được Nguyễn Bình Phương sử dụng một

cách triệt để Trong Vào cõi ta thấy xuất hiện cõi thực và cõi mơ, cõi ảo Ở cõi

ảo là những giấc mơ nhân vật Tuấn, cảnh đáng thương của chị em Vang, Vọng Cõi thực bị chi phối bởi cõi ảo, để quên đi những việc đã làm Tuấn tìm

về với tình yêu đã mất thủa nào, nhân vật “Hắn” luôn sống trong ám ảnh kẻ

ăn cắp vô tình hắn giết sẽ quay lại báo thù Vang thì cam chịu, buông xuôi

tất cả, Vọng cuối cùng phải trở về quê Trong Những đứa trẻ chết già có

nhiều yếu tố kì ảo đan cài với hiện thực giữa cõi sống và cõi chết, quá khứ

và hiện tại Không gian hiện tại là vùng đất sống linh dị và quái gở với những điềm báo, mộng mị Cõi âm là hình ảnh chiếc xe trâu lao vào hư ảo, những người ngồi trên xe đối đáp trong hồi ức, liên tưởng Với thủ pháp huyền thoại hoá giúp nhà văn khám phá những tầng chìm của hiện thực cuộc sống, xã hội mà còn đi sâu miêu tả, phản ánh đời sống nội tâm, thế giới tâm linh của con người

Trong tiểu thuyết cúa mình, Nguyễn Bình Phương đã xóa nhòa ranh giới giữa các thể loại, đan xen các thể loại khác vào tiểu thuyết, mang đến

Trang 22

một hình thức cấu trúc tiểu thuyết mới Sự hòa nhập của các thể loại đã mang lại cho tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương những cách tân độc đáo về cấu trúc

để tái hiện một cách sinh động, đa dạng cuộc sống: Vào cõi, Những đứa trẻ

chết già (tiểu thuyết lồng tiểu thuyết), Người đi vắng (tiểu thuyết - huyền -

sử), Trí nhớ suy tàn (tiểu thuyết - thơ), Thoạt kì thuỷ (Tiểu thuyết - điện ảnh), Ngồi ( tiểu thuyết - âm nhạc)

Như vậy, với sự đổi mới trong cách viết Nguyễn Bình Phương đã khẳng định được tài năng cũng như những đóng góp của nhà văn trong quá trình

hiện đại hoá thể loại tiểu thuyết

1.1.1.2 Nguyễn Việt Hà

Trong không khí chung của thời kỳ đổi mới, Nguyễn Việt Hà cũng là một

trong số những người mạnh dạn cách tân thể loại tiểu thuyết Với Cơ hội của

chúa và Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà đã được các nhà phê bình đánh

giá cao trong nỗ lực làm mới thể loại tiểu thuyết

Chúng ta bắt gặp trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà một thế giới hỗn loạn, hoang mang, sự tha hoá của con người với những đổ vỡ giá trị truyền thống và con người “chơi cùng cái hỗn loạn ấy” Qua đó nhà văn cho người đọc thấy được sự bế tắc, bất lực, thiếu niềm tin và hoài nghi về cuộc sống Trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà có sự đan xen, phức hợp nhiều thể

loại khác nhau trong tiểu thuyết Ở tiểu thuyết Cơ hội của chúa có sự xuất

hiện của các thể loại: kịch (Vở kịch nhiều màn ở chương năm), nhật ký (của Thuỷ, Nhã, Tâm, Hoàng); truyện ngắn (2 truyện ngắn của Hoàng); nghị luận (những vấn đề của đời sống); thư (Thuỷ viết cho Bình, Thuỷ viết cho Nhã…) Nhà văn còn đưa vào tác phẩm của mình kiểu kết cấu nhân vật trong nhân vật,

truyện lồng trong truyện Khải huyền muộn có kết cấu song trùng của hai câu

chuyện: một câu chuyện được hư cấu cùng với quá trình hư cấu của chính câu chuyện đó

Trang 23

Điểm đặc biệt trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là các nhân vật đều có thể thay nhà văn trong việc kể chuyện Vì thế, điểm nhìn trần thuật linh hoạt với nhiều trường nhìn, nhân vật có thể tự kể chuyện của mình, kể về

cái nhìn của mình với những nhân vật khác Trong Cơ hội của Chúa ngoài lời

người kể chuyện còn có những lời tự thuật dưới hình thức nhật ký, độc thoại nội tâm của Hoàng, Tâm, Nhã, Thuỷ Nhân vật kể chuyện xưng “tôi” với nhiều điểm nhìn khác nhau của nhân vật “lập thân”, “ lập nghiệp” Các nhân vật Tâm, Thuỷ, Bình với trường nhìn đẳng lập với nhau đã có những nhận xét khá toàn diện về Hoàng Nhân vật Tâm cho rằng Hoàng là người thông thái, đáng kính nhưng không hợp thời Thuỷ nhìn thấy ở Hoàng là con người sống tạm bợ, “dựa dẫm”, nghiện ngập và ích kỷ Còn Bình lại cho rằng Hoàng là gã lưu manh, kẻ đã “quen hàng chục đàn bà rồi” Với điểm nhìn tự trị, Hoàng nhận thấy mình “là kẻ bạc nhược không neo đứng bất cứ chỗ nào” Còn trong

Khải huyền muộn điểm nhìn trần thuật cũng luôn có sự thay đổi: gồm người

trần thuật và Bạch cùng các nhân vật của anh là Vũ, Cẩm, My

Viết về hiện thực hỗn mang cho nên nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Việt Hà không phải là những con người mang lý tưởng mà là những

con người lạc lõng, thiếu hội nhập với cuộc sống thực tại (Hoàng trong Cơ hội

của Chúa); Là kiểu nhân vật tha hoá, chạy theo danh lợi, bất chấp thủ đoạn

(Lâm, Trần Bình, Sáng trong Cơ hội của Chúa; Vũ trong Khải huyền muộn)

Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà với lối kết cấu truyện của nhiều truyện, tính liên văn bản, lối trần thuật phi trung tâm, thủ pháp nhại, tự nhại… đã biến tiểu thuyết thành cuộc chơi ngôn từ với nhiều thử nghiệm của nghệ thuật

1.1.1.3 Tạ Duy Anh

Tạ Duy Anh quan niệm viết văn là một nghề cao quý và mỗi người

phải đi và tạo ra con đường đi của riêng mình, nếu ai cũng giống ai thì điều đó

thật vô nghĩa Do đó trong sự đổi mới của văn học, Tạ Duy Anh xuất hiện như

Trang 24

một hiện tượng nổi bật và là một cây bút sung sức với những thể nghiệm táo

bạo trong sáng tác văn chương

Với khát vọng đem lại luồng gió mới cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạ Duy Anh đã tiếp nhận văn học phương Tây để xây dựng cho tiểu thuyết của mình hướng đi riêng Trong những tác phẩm của mình, Tạ Duy Anh không ngần ngại viết về cái xấu xa, thói lừa lọc, bỉ ổi, đê tiện… của người đời để hướng con người tới sự hoàn mỹ Nhà văn đã cho ra đời những

tác phẩm tâm huyết gây được sự chú ý: Lão Khổ (1992), Đi tìm nhân vật (1999), Thiên thần sám hối (2004), Giã biệt bóng tối (2008) Tạ Duy Anh đã

có những cách tân táo bạo, cốt truyện là sự lồng ghép, đan chéo của các câu

chuyện Trong Thiên thần sám hối cốt truyện là mảnh ghép của nhiều câu

chuyện Đó là câu chuyện của bào thai còn trong bụng mẹ kể về ba ngày trước khi nó chào đời với hàng loạt những chuyện mà nó nghe được khi mẹ nó giúp

đỡ các sản phụ khác Là câu chuyện một cô gái bị gã sở khanh lừa có thai, cô

đi vào bệnh viện phá bỏ cái thai như trút một gánh nặng Chuyện một người đàn bà nông dân đẻ toàn con gái bị người chồng nghiện rượu đánh đập, bỏ ra thành phố trở thành vợ chung của bốn người đàn ông, mang thai mà không biết là con ai… Qua những mảnh ghép đó Tạ Duy Anh đã cho người đọc thấy được hiện thực xã hội với sự tha hoá, xuống cấp của con người Trong

tiểu thuyết Lão khổ các chương đều được đặt tên và dường như mỗi chương là

một sự hoàn kết các sự kiện vì thế người đọc có thể đọc chương nào trong tác

phẩm đều được Hay trong Giã biệt bóng tối có nhiều câu chuyện được móc

ngoặc vào nhau trên sườn câu chuyện là một chú bé mồ côi tên Thượng Còn

trong Đi tìm nhân vật, Tạ Duy Anh đã có những cố gắng tạo thể nghiệm tính

liên văn bản: tác giả trích dẫn nguyên văn lời tự thú trong cuốn sổ của tiến sĩ

N, nhật ký của Bân, lá thư của Thảo Miên, đặc biệt là trong đó còn có bốn câu chuyện tích, …

Trang 25

Cách tân về điểm nhìn trần thuật là điều ta dễ nhận thấy trong tiểu

thuyết của Tạ Duy Anh Trong Giã biệt bóng tối luôn có sự di chuyển điểm

nhìn từ nhân vật chính sang nhân vật phụ, tất cả các ngôi kể đều ở ngôi thứ nhất Trong tác phẩm nhà văn đã sử dụng tới tám điểm nhìn: điểm nhìn của nhân vật chính - Thượng, lời người dẫn chuyện, lời người kể chuyện, lời nhân

vật xưng Tao, lời tự truyện của một cô cave, lời của nhà thiết kế, lời kể của

Bính, lời người tường thuật và lời người biên tập Với việc sử dụng linh hoạt nhiều điểm nhìn, tác phẩm hấp dẫn hơn với sự đa dạng trong cách kể và hiện thực được nhìn nhận một cách khách quan

Ngoài ra Tạ Duy Anh còn sử dụng nhiều yếu tố huyền thoại (Nhân vật

bào thai kể chuyện trong Thiên thần sám hối), sử dụng giọng giễu nhại (Giã biệt

bóng tối) Với mong muốn đi sâu vào hiện thực cuộc sống, tiểu thuyết của Tạ

Duy Anh đã khẳng định một xu hướng tất yếu trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại “Tiếp thu lối viết hiện đại của tiểu thuyết phương Tây đã là một thực tế lịch sử của quá trình hiện đại hoá văn học dân tộc từ đầu thế kỷ 20”[69]

Như vậy có thể thấy, đổi mới tiểu thuyết theo xu hướng hiện đại hoá thực tế cũng là xu thế tất yếu của văn học Việt Nam đương đại nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng Các cây bút tiểu thuyết với khát vọng đổi mới thể loại đã có những dấn thân đầy táo bạo Sự cách tân đó có thể một số người chưa chấp nhận nhưng đó là kết quả của những tháng ngày “lao tâm khổ tứ” của các nhà văn tâm huyết Và những cách tân đó đã đem lại nguồn sinh khí mới cho nền tiểu thuyết đương đại của chúng ta Trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam những nỗ lực, đóng góp của Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương…đáng ghi nhận và trân trọng Lối viết của họ khác hẳn với lối viết tiểu thuyết của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Xuân Khánh

Trang 26

1.1.2 Xu hướng đổi mới dựa trên lối viết truyền thống

Trong không khí dân chủ của đời sống hoà bình, các nhà tiểu thuyết có thể tự do khám phá mọi ngõ ngách trong cuộc sống, tâm hồn, số phận của mỗi

cá nhân Mọi vấn đề của cuộc sống được nhìn nhận từ nhiều góc độ, mọi khía cạnh với những tốt, xấu, trắng, đen…Nhà văn không né tránh hiện thực, không ngại phản ánh những hi sinh mất mát, những sai lầm, khuyết điểm, những suy nghĩ ấu trĩ của một thời văn học ngại nói đến Để truyền tải những

tư tưởng mới đó nhiều cây bút tiểu thuyết đã không ngại thể nghiệm lối viết

tự sự mới nhằm cách tân thể loại bằng cách phủ nhận hoàn toàn lối viết truyền thống (Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, …) Nhưng bên cạnh đó vẫn

có những nhà văn vẫn giữ cho mình một lối viết gần với lối viết hiện thực chủ nghĩa Ở đó các nhà văn đề cập đến những đề quen thuộc trong đời sống văn chương như: chiến tranh, cải cách ruộng đất, số phận con người trong xã hội… với lối viết bám sát khung truyền thống nhưng bằng một cái nhìn mới của sự đổi mới về tư duy tiểu thuyết, sự đổi mới về tư tưởng Về hình thức, các nhà tiểu thuyết dựa trên lối viết truyền thống của chủ nghĩa hiện thực nhưng có gia tăng một số yếu tố như có sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, sử dụng các yếu tố hư cấu, kỳ ảo…

Tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa không lý tưởng hoá con người và cuộc sống, các nhà văn miêu tả hiện thực một cách khách quan, không né tránh bất

cứ sự thực nào Bạn đọc chúng ta trong một thời gian khá dài đã quen tiếp nhận lối viết hiện thực chủ nghĩa, từ Phạm Duy Tốn đến Ngô Tất Tố, Nam Cao với các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa một lối tiếp nhận đã thành truyền thống

Trên tinh thần đổi mới một số nhà văn đã nỗ lực khẳng định tên tuổi của mình với lối viết “ngược lại” với những xu hướng của thời hiện tại, cách tân trên lối viết hiện thực chủ nghĩa để làm mới thể loại Chủ yếu là những

Trang 27

tìm tòi, cách tân về tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Những tiểu thuyết theo xu hướng này vẫn thu hút được sự quan tâm của độc giả bởi những yếu tố mới đó người đọc dễ tiếp nhận Minh chứng cho sự tồn tại và phát triển của xu hướng này chính là sự xuất hiện, thành công của các nhà văn như: Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu, Ma Văn Kháng.…Dưới đây chúng tôi sẽ nêu qua lối viết của một số nhà tiểu thuyết tiêu biểu gần lối viết Nguyễn Xuân Khánh, còn về trường hợp Nguyễn Xuân Khánh sẽ đề cập kỹ ở phần sau

1.1.2.1 Lê Lựu

Là nhà văn trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ nhưng

Lê Lựu vẫn tiếp tục khẳng định được tên tuổi của mình trong nền văn học Việt Nam sau 1975 Cuộc sống sau chiến tranh với nhiều bộn bề, nhiều ngã rẽ mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình một hướng đi phù hợp với bản thân, sự vận động của thời đại và của nền văn học Nhà văn Lê Lựu cũng hoà mình vào cuộc sống mới với cái cảm hứng thế sự thay thế cho cảm hứng sử thi ở giai đoạn trước Với sự đổi mới trên bước đường nghệ thuật Lê Lựu đã gây

tiếng vang cho mình qua tiểu thuyết Thời xa vắng Đây là tác phẩm đánh dấu

bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu và cũng là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự đổi mới của nền văn học Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới Chúng ta vẫn bắt gặp một Lê Lựu với lối viết gần với truyền thống ở cách xây dựng cốt truyện, nghệ thuật trần thuật nhưng cũng có những yếu tố mới về hình thức nghệ thuật và đặc biệt là sự thay đổi về tư duy Về cốt

truyện, Thời xa vắng có kết cấu của tiểu thuyết truyền thống Bố cục gồm có

ba phần: Phần 1 gồm 6 chương, Phần 2 gồm 6 chương và phần kết Trong tác phẩm các sự kiện, các biến cố được trình bày theo trật tự thời gian, các sự kiện của các biến cố được phát triển phù hợp với lôgic khách quan Ở đó ta không bị bất ngờ bởi các yếu tố ly kỳ, xuất hiện đột ngột do đó người đọc dễ tiếp nhận Song cái mới là nhà văn đã đưa vào tác phẩm hệ thống những chi

Trang 28

tiết nghệ thuật, hệ thống tính cách góp phần khắc hoạ tính cách nhân vật và làm hấp dẫn hơn nghệ thuật xây dựng cốt truyện Chẳng hạn chi tiết cuộc họp của dân làng Hạ Vị, chi tiết Sài mua phở cho vợ ăn ba ngày liên tục khiến vợ phải bỏ về nhà mẹ đẻ, chi tiết Sài cùng mẹ đi làm thuê rồi cay đắng nhận ra nỗi tủi nhục của kẻ đi làm thuê kiếm miếng ăn, chi tiết Sài và Hương tỏ tình cùng nhau giữa mênh mông nước lụt…

Thời xa vắng đã thể hiện những cách tân của Lê Lựu cả về nội dung và

hình thức Trước hết chính là sự đổi mới về đề tài, các đề tài quen thuộc trong văn chương bấy giờ là viết về nông thôn, chiến tranh, xây dựng đất nước sau chiến tranh, viết về người lính, việc viết về đề tài thành thị đã đem đến cho

Thời xa vắng có nét khác so với các tác phẩm văn học cùng thời Lê Lựu đã

không còn nhìn nhận số phận cá nhân gắn với cộng đồng nữa mà nhìn con người ở góc độ đời tư Với nhà văn, hạnh phúc của mỗi con người, mỗi cá nhân không chỉ là được ăn no mặc ấm mà là phải làm chủ được số phận, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội Trước đây với cái nhìn sử thi, văn học thường gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc của cộng đồng, dân tộc

cho dù cá nhân đó không thực sự hạnh phúc Thời xa vắng của Lê Lựu chính

là sự nhìn lại, “đánh giá lại” về cuộc sống riêng tư của mỗi con người Điều này thể hiện rất rõ qua tính cách và số phận của Giang Minh Sài Đây là nhân vật “sống hộ” người khác, “không được là chính mình‟‟, lúc nhỏ Sài phải làm theo ý muốn của gia đình, đến lúc trưởng thành cũng không được làm theo ý mình, không lấy được Hương mà phải lấy người vợ mình không yêu, khi nhập ngũ cũng phải làm theo ý muốn của thủ trưởng Qua nhân vật Giang Minh Sài nhà văn Lê Lựu đặt ra một vấn đề khẩn thiết: con người phải được là chính mình, cá nhân cần được tôn trọng

Với cái nhìn hiện thực về cuộc sống, Thời xa vắng ngoài cảm hứng

ngợi ca thể hiện niềm tin, hi vọng những điều tốt đẹp của con người thì cảm

Trang 29

hứng chủ đạo chi phối chính là bi - hài Cảm hứng bi - hài đã mang đến cho người đọc cái nhìn sâu hơn, biện chứng hơn về con người và cuộc đời Cũng

vì thế giọng điệu trong tác phẩm không còn là ngợi ca nữa mà kết hợp nhiều giọng điệu: ngậm ngùi xót xa, triết lý, khắc khoải da diết, giễu nhại….Trong

đó giọng điệu giễu nhại là cơ bản nhất (giễu nhại thói xu nịnh, đánh giá người khác chủ quan, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích….)

Về nghệ thuật trần thuật, nhà văn ít đi vào miêu tả mà chủ yếu là kể kết hợp với bình luận, sử dụng ngôi thứ ba với sự dịch chuyển nhiều điểm nhìn Qua đó nhân vật được hiện lên từ nhiều phương diện, góc độ góp phần khắc hoạ tính cách, số phận nhân vật Giang Minh Sài một cách sống động và để lại

dư âm trong lòng người đọc

Như vậy có thể thấy Thời xa vắng có những nét gần với tiểu thuyết thời

kỳ trước 1975 nhưng với những cách tân cả về nội dung và hình thức đã cho thấy đây là một tác phẩm hiện đại xứng đáng của thời kỳ đổi mới

1.1.2.2 Ma Văn Kháng

Ma văn Kháng là một trong những nhà văn có đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới Trước những năm 80 của thế kỷ XX, với cài nhìn đậm chất sử thi, đề tài miền núi trở thành đề tài chủ yếu và quen thuộc trong các sáng tác của Ma Văn Kháng Từ sau năm 80, Ma Văn Kháng

đã có bước chuyển đổi trong sáng tác của chính mình, ông viết về cuộc sống đời thường với cảm hứng thế sự đời tư Đây chính là sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật về cuộc sống con người của Ma Văn Kháng Chúng ta có thể nhận

thấy những đổi mới này qua các tiểu thuyết: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá

rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú,…

Ma văn Kháng luôn tâm niệm: Viết là để bảo vệ, khẳng định những giá trị chân chính của con người Những giá trị tốt đẹp ấy không chỉ có ở thời hiện tại mà nó bắt nguồn từ trong quá khứ xa xưa của lịch sử dân tộc, lịch sử

Trang 30

loài người Vì thế, dựa trên giá trị nhân văn chân chính từ ngàn đời của dân tộc, Ma Văn Kháng không ngừng tự đổi mới ngòi bút của mình Những tác phẩm của ông dễ tiếp nhận với người đọc bởi nó không chỉ có kết cấu mạch lạc, dễ đọc mà còn bởi ở đó nhà văn đã thể hiện một cái nhìn hiện thực mới

Đó là hiện thực với những biến động, bề bộn, ngổn ngang phức tạp pha lẫn xấu tốt Song ở đó nhà văn luôn nhìn thấy, trân trọng những gì tốt đẹp của con người Là nhà văn nhạy cảm với nỗi đau, những vui buồn của cuộc sống, Ma Văn Kháng cũng là người nâng đỡ con người vượt lên những lam lũ khốn khó của cuộc đời Cuộc sống sau hoà bình với quá trình đô thị hoá đang phát triển dẫn đến nhứng giá trị truyền thống, giá trị con người có những đổ vỡ, rạn nứt Trước cuộc sống xô bồ, chạy theo danh lợi đồng tiền khiến cho con người quên mất những đạo lý trên đời Sống trong môi trường đó khiến cho con người không giữ được những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp của mình Trong

các tác phẩm: Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có

giấy giá thú các nhân vật là những con người với tính cách đầy mâu thuẫn

Nhân vật không chỉ đơn thuần một tính cách mà là những con người phức tạp,

lưỡng diện, không nhất quán với chính mình (Nhân vật Lý trong Mùa lá rụng

trong vườn) Có thể thấy qua Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú Ma Văn Kháng đã xuất hiện cái nhìn mới trong

quan niệm về hiện thực và con người Hiện thực phức tạp, không thể biết trước, biết hết được và con người vẫn còn nhiều bí ẩn phải tìm tòi, khám phá mới có thể hiểu được Khám phá con người ở nhiều tầng bậc, góc cạnh khác nhau Ma Văn Kháng đã tìm thấy những giá trị đạo đức tốt đẹp nằm ở những giá trị văn học, văn hoá

Về hình thức nghệ thuật, tiểu thuyết Ma Văn Kháng vẫn bám sát cách viết của hiện thực chủ nghĩa nhưng nhà văn đã đưa vào đó những yêu tố mới góp phần làm cho các tác phẩm của mình hấp dẫn hơn Về ngôn ngữ, nếu

Trang 31

trước 1975 với cái nhìn sử thi ngôn ngữ thường trang trọng, mực thước thì đến thời kỳ này là ngôn ngữ dung dị đời thường khai thác khả năng miêu tả và biểu hiện, gần với cuộc sống hơn Ngôn ngữ Ma văn Kháng là ngôn ngữ trau

chuốt mang tính biểu cảm, biểu trưng, đa nghĩa (Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng

trong vườn) Tuy nhiên để phản ánh những phức tạp của cuộc sống, con

người nhà văn cũng không ngần ngại đưa vào tiểu thuyết của mình những lối nói khẩu ngữ, tục ngữ, thành ngữ, thậm chí là cả những câu nói tục tĩu, thô

thiển (Mưa mùa hạ) Cùng với sự đổi mới trong tư duy trong cách nhìn về

hiện thực, về con người giọng điệu trong các sáng tác của Ma Văn Kháng không còn chủ đạo là giọng điệu ngợi ca nữa Ta bắt gặp ở đó sự kết hợp nhiều giọng điệu: giọng điệu hài hước mỉa mai, giọng điệu triết lý suy tư, giọng điệu trữ tình thiết tha sâu lắng hay giọng điệu suồng sã….qua đó thấy được hiện thực nhiều màu của cuộc sống

Có thể thấy, sự đổi mới chủ yếu trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng là sự chuyển đổi về tu duy nghệ thuật được đánh dấu bằng việc chuyển đổi từ đề tài miền núi sang đề tài miền xuôi Những đóng góp của Ma Văn Kháng là thành tựu đáng ghi nhận của nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

1.1.2.3 Nguyễn Khắc Trường

Trong chặng đường đổi mới văn học, nhà văn Nguyễn Khắc Trường cũng đã lựa chọn cho mình một lối đi riêng Nhà văn đi sâu khám phá về con người, về hiện thực nông thôn trong một cái nhìn mới Sự đổi mới về cái nhìn, cách nghĩ về vấn đề nông thôn thời kỳ hoà bình được nhà văn tập trung khai

thác và làm sáng tỏ trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, nhà văn đã cho người

đọc thấy được bộ mặt của nông thôn Việt Nam với sự xuống cấp, tha hoá đạo đức Tác giả đã nhìn nhận về cuộc sống nông thôn trong cái nhìn mới với những xung đột làng xã, nhất là xung đột giữa các dòng họ Nhà văn cũng cho

Trang 32

người đọc thấy được những ấu trĩ, sai lầm trong cải cách ruộng đất Đây là vấn đề mà văn học thời kỳ cách mạng né tránh không đề cập đến Bởi văn học thời kỳ 45 -75 chủ yếu là ngợi ca, những gì là xấu, tiêu cực đáng lên án, nhất

là vấn đề mang tính lịch sử dân tộc đều bị tạm gác lại Trong cái nhìn mới của đời sống hoà bình, những mặt sáng tối của con người, đời sống xã hội với những bon chen, đấu đá, tranh giành nhau đều được các nhà văn đưa lên trang

viết với cái nhìn khách quan Ở tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma

chúng ta cũng nhận thấy kết cấu của câu chuyện là sự tiếp nối của các sự kiện,

bi kịch này nối tiếp bi kịch khác Kết cấu tác phẩm có sự phân tuyến rõ rệt xoay quanh xung đột giữa hai dòng họ: Trịnh Bá và Vũ Đình Qua mối mâu thuẫn của hai dòng họ chúng ta thấy được những phong tục, tập quán, nền nếp gia đình họ tộc vốn đã cố hữu ở người dân quê khó có thể thay đổi được Con người để đạt được mục đích của mình đã không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn đáng khinh bỉ nhất, tàn bạo nhất Hiện thực mà nhà văn cho ta thấy qua tác phảm là những việc làm sai trái, thù hận nhau giữa các dòng họ lại mang danh tính Đảng khiến nó tàn bạo hơn, khốc liệt hơn Tác phẩm cũng trở lại với vấn đề cải cách ruộng đất ở nông thôn Việt Nam Một đề tài mà văn học sau năm 1986 mới có cơ hội trở lại - vì trước đó đất nước đang có chiến tranh Trong tác phẩm chúng ta cúng thấy được mặt trái của cải cách ruộng đất ở nông thôn Cuộc cải cách này đã bị những kẻ có quyền lực lợi dụng để trả thù riêng, mưu toan những lợi ích riêng tư Đây chính vấn đề nhạy cảm

một thời của lịch sử nhưng văn học không dám động đến Mảnh đất lắm

người nhiều ma chính là sự “nhận thức lại”, nhìn lại lịch sử đúng với sự thật

khách quan mà suốt một thời gian dài bị che khuất, tránh né hay bởi cái nhìn xuôi chiều, đơn giản sơ lược Tác phẩm đã thể hiện cái nhìn mới, cái nhìn của thời hiện tại về những cái đã qua để con người nhận thức lại những giá trị về con người Về giọng điệu, nếu như tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa thiên về

Trang 33

ngợi ca những con người anh hùng, những người có phẩm chất tốt thì trong tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường lại mang giọng điệu xót thương bi thảm

và hài hước Giọng điệu xót thương bi thảm khi nói về cuộc sống khổ nhục, tủi hổ của bà Son, của nhân vật Tùng…Giọng điệu hài hước hóm hỉnh khi nói

về những người trong tổ chức Đảng, vấn đề làng xã, cách thức tổ chức tiệc tùng, ma chay cưới hỏi ở nông thôn….Với hai giọng điệu chủ đạo này nhà văn đã phản ánh được nông thôn Việt Nam thời kỳ trước dưới ánh sáng của Đại hội VI

Tóm lại, với các nhà văn Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường….đã cho thấy một xu hướng đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam Họ là những nhà văn gắn bó với lối viết hiện thực chủ nghĩa, nhưng đã đổi mới trong sự nhìn nhận về hiện thực, về con người, cuộc đời, số phận cá nhân, cùng với những cách tân về mặt hình thức để làm mới thể loại tiểu thuyết Sự đóng góp của các nhà văn theo xu hướng đổi mới trên lối viết hiện thực chủ nghĩa đã góp phần phát triển thể loại tiểu thuyết nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung Nổi bật và làm sáng danh cho xu hướng truyền thống này là nhà tiểu thuyết Ma Văn Kháng

1.2 Quá trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh 1.2.1 Quá trình sáng tác

Nguyễn Xuân Khánh sáng tác từ những nănm 50, cùng thời với các nhà văn như Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Thị Thường, Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn…Nhưng phải đến năm 2000 nhà văn mới được khẳng định về tài năng trên văn đàn chính thống

Tác phẩm đầu tay là tiểu thuyết Làng nghèo (1958) khi nhà văn tham

dự trại sáng tác của Văn nghệ quân đội ở Thanh Liệt Nhưng cuốn tiểu thuyết này bị đình chỉ không cho in vì người ta ngại người đọc sẽ sợ chiến tranh vì thấy

nó hiện lên trong tác phẩm tàn khốc quá Đầu năm 1959, Nguyễn Xuân Khánh

Trang 34

với truyện ngắn Một đêm đã được giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi viết về

đời sống bộ đội trong hoà bình của tạp chí Văn nghệ quân đội nhân dân

Năm 1962, Nguyễn Xuân Khánh in tập truyện ngắn đầu tay có tên là

Rừng sâu ( tập hợp những truyện ngắn viết từ 1958 đến 1962) Trong những

năm tháng bị “tai nạn nghề nghiệp” phải nghỉ hưu sớm, mặc dù phải bươn chải nhiều nghề để kiếm sống như: nuôi lợn, làm thợ may, thậm chí là đi bán máu nhưng niềm đam mê sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh không hề bị thiêu rụi Ngược lại ngọn lửa của niềm đam mê đó tiếp tục cháy sáng mặc dù chưa được toả ánh hào quang Nhà văn vẫn miệt mài sáng tác cho dù những tác phẩm đó không được in hoặc in dưới bút danh khác Năm 1971 nhà văn viết

tiểu thuyết Hoang tưởng trắng nhưng đến tận năm 1990 mới được nhà xuất bản Đà Nẵng in với tên gọi Miền hoang tưởng cùng bút danh Đào Nguyễn Tiểu thuyết Trư cuồng( 1981- 1982) vừa ra đời liền bị phê phán nặng nề và

đến nay vẫn chưa được in mà chỉ mới có mặt trên internet

Phải đến năm 2000 Nguyễn Xuân Khánh mới được hưởng hạnh phúc lớn lao khi được “trả lại tên” trên tác phẩm của mình Đến lúc này bạn đọc

gần xa mới biết nhiều đến Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000) Tác phẩm đã nhận được bốn giải thưởng: Giải thưởng Cuộc thi tiểu

thuyết (1998 - 2000) của Hội nhà văn Việt Nam; Giải thưởng của Hội nhà văn

Hà Nội 2001; Giải thưởng Mai vàng của Báo Người lao động, 2001; Giải

thưởng Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2002

Sau khi xuất bản Hồ Quý Ly, nhà văn đã tiếp tục cho ra mắt bạn đọc

Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi (Nxb Nhi Đồng, Hà Nội, 2002), và Mưa quê (Nxb Nhi Đồng, Hà Nội, 2003) Nguyễn Xuân Khánh là người say mê

với tiểu thuyết lịch sử, văn hoá vì thế không dừng lại ở Hồ Quý Ly, nhà văn lão thành này lại tiếp tục chấp bút một cách miệt mài, hăng say đưa đến bạn

đọc hai tiểu thuyết đồ sộ với nhiều giải thưởng lớn Đó là tiểu thuyết Mẫu

Trang 35

thượng ngàn (2006) với Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội, 2006; Giải thưởng

văn Doanh nhân, 2007 Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa (2011) với Giải thưởng

Hội nhà văn Việt Nam, 2011; Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2011

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh viết khá nhiều tiểu thuyết nhưng được

biết đến phần lớn qua bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội

gạo lên chùa Đây là những tiểu thuyết viết đề tài về lịch sử, văn hóa với

những biến thiên của thời đại, dân tộc, kiếp người Từ đó nhà văn đưa ra

những kiến giải của mình về lịch sử dân tộc, về những nét đẹp văn hoá của

người Việt và hiện thực của cuộc sống với những số phận con người chịu sự

va đập của lịch sử Viết về lịch sử nhưng Nguyễn Xuân Khánh không nhằm

mục đích phản ánh lịch sử mà lịch sử chỉ là cái cớ để nhà văn nói chuyện đời,

chuyện xã hội Con người trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh không phải

chỉ của một thời đại mà của mọi thời đại Nhưng Nguyễn Xuân Khánh không

đưa vào đó cái nhìn tiêu cực hay tuyệt đối hoá với những vấn đề xấu - tốt, đen -

trắng, địch - ta…mà nhìn tất cả bằng thái độ nhân bản và khoan dung Nguyễn

Xuân Khánh trở về với lối viết đại tự sự gần với truyền thống, với đề tài quen

thuộc của văn chương truyền thống là lịch sử, kháng chiến chống Pháp, chống

Mỹ, cải cách ruộng đất, thời kỳ hoà bình… Dấu ấn của lối viết truyền thống thể

hiện rõ nét ở bộ ba tiểu thuyết này của Nguyễn Xuân Khánh

Trước hết là về dung lượng cả ba tác phẩm đều là những trường thiên

tiểu thuyết với đồ dài hơn 800 trang (Hồ Quý Ly 802 trang, Mẫu thượng Ngàn

807 trang và Đội gạo lên chùa 866 trang) đã cho thấy trường bút đáng kính

phục của nhà văn Bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh đều có cốt

truyện mạch lạc, dễ đọc, dễ hiểu Cả ba tiểu thuyết có kết cấu gần với tiểu

thuyết chương hồi - tiểu thuyết truyền thống của phương Đông Các phần

trong tác phẩm đều được đặt tên và trong mỗi phần lại có nhiều tiết nhỏ

Trong Hồ Quý Ly có 13 phần (mỗi phần lại có những tiết nhỏ): 1-Hội thề

Trang 36

Đồng Cổ, 2-Hồ Nguyên Trừng, 3-Ông vua già, 4-Cái chết của ông vua già, 5- Trần Khát Chân, 6-Cô gái vườn Mai, 7-Vua Thuận Tông và bà hoàng Thánh Ngẫu, 8-Trong vườn ngự uyển, 9-Một ngày của Thái sư (Minh Đạo I), 10- Một ngày của Thái sư (Minh Đạo II), 11-Ngôi chùa đổ, 12-Đường lên Yên

Tử, 13-Hội thề Đốn Sơn

Trong Mẫu thượng ngàn gồm 15 phần và trong mỗi phần lại chia thành

nhiều tiết nhỏ: 1-Người trở về, 2-Nhụ và Điều, 3-Đồn điền Messmer, 4-Họ

Vũ, họ Đinh, 5-Pierre và Julien, 6-Người cổ Đình, 7-Bà cô Tổ, 8-Philippe Messmer, 9-Con chim cu cườm, 10-Đối thoại, 11-Bà ba Váy kể chuyện, 12- Tai hoạ lớn, 13-Ông Đùng, bà Đà, 14-Hội kẻ Đình, 15-Chương kết

Đội gạo lên chùa có ba phần lớn: Trôi sông (1-Lưu lạc, 2-Chùa Sọ, 3-

Tây lai Bernard, 4-Trường làng, 5-Sư Vô Trần, 6-Tôi học võ, 7-Nhà sư cách mạng, 8-Bốt đình Sọ, 9-Đại uý Thai Lan, 10-Nhà giam phòng nhì, 11-Trận lúa vàng, 12-Thiền sư Vô Uý, 13-Sư Khoan Độ, 14-Sư cụ và thầy giáo Hải, 15-Cô Nguyệt, 16-Đại sư Huynh, 17-Đom đóm, 18-Trôi sông); Bão nổi can qua (1-Ngày mới, 2-Mặt trời bừng sáng trên cánh đồng quê, 3-Giếng thơm, 4 -Trên sông Bồ Đề, 5-Đã mang lấy nghiệp vào thân); Về cõi nhân gian (1- Ngày giỗ Tổ, 2-Tân binh, 3-Chuẩn bị lên đường, 4-Nhà sư bộ đội, 5-Duyên nhà phật, 6-Tiếng chuông chùa, 7-Hai đối thủ, 8-Gặp gỡ, 9-Về cõi nhân gian)

Cả ba tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đều có kết cấu phân hai tuyến đối lập khá triệt để: Đó là sự phân tuyến về hệ thống nhân vật, giữa một bên là nhân vật Hồ Quý Ly với những khát vọng cải cách, đổi mới với sự pha trộn

giữa Khổng gia và Pháp gia với một bên là các hoàng đế nhà Trần (Hồ Quý

Ly); Là sự phân tuyến đối lập giữa một bên là thực dân Pháp - những kẻ đi

xâm lược với dân tộc Việt Nam - những người chịu áp bức và những người

kháng chiến chống Pháp (Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa); là sự phân

tuyến giữa cái thiện (thầy trò nhà sư Vô Uý, là những người Việt Minh được

Trang 37

nhà chùa che chở) và cái ác (Thực dân Pháp và bè lũ Việt gian theo Pháp (Đội

gạo lên chùa)…Song cái mới trong cách viết của Nguyễn Xuân Khánh là dựa

vào khung lịch sử nhưng cốt truyện không bám sát biên niên như tiểu thuyết truyền thống Hơn nữa các phần của tác phẩm không bám sát một hành động chung mà nó là nhiều câu chuyện đan xen, đồng hiện giữa quá khứ và thực tại Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Xuân Khánh cơ bản vẫn kể theo kiểu truyền thống Các nhân vật được giới thiệu về lai lịch, ngoại hình một cách tỉ mỉ

theo tinh thần hiện thực bất khả tín: nhân vật Hồ Quý Ly, Nguyên Trừng,…(Hồ

Quý Ly); Nhụ, Điều, Trịnh Huyền, ông Hộ Hiếu…(Mẫu thượng ngàn); sư Vô

Uý, Sư Vô Trần, sư bác Khoan Độ, An, Nguyệt…(Đội gạo lên chùa)

Một trong những điểm mới trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

là ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình yếu tố dục tính đậm phồn thực,

nhất là người đàn bà (bà Ba Váy với Lý Cỏn, với Trịnh Huyền…(Mẫu thượng

Ngàn), Sư Vô trần với bà Nấm, Vợ chồng Hạ….(Đội gạo lên chùa) Đây cũng

là một sự đổi mới trong tư duy tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh Bởi trước đây người ta quan niệm tiểu thuyết lịch sử phải phản ánh lịch sử một cách chính sử, do đó những vấn đề về tình yêu nam nữ, tính dục thường không được đề cập đến Nguyễn Xuân Khánh nhìn nhận những con người lịch

sử, những người làm nên lịch sử như những cá nhân “người”, họ cũng có những tình cảm, ham muốn đời thường như những người bình thường khác Điều này giúp cho tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh không khô khan và hấp dẫn được người đọc

Nguyễn Xuân Khánh đã có sự đổi mới về kỹ thuật trần thuật, bên cạnh

sử dụng điểm nhìn truyền thống ngôi thứ ba - người kể toàn tri thì trong tác phẩm của nhà văn đã có thêm những điểm nhìn ở ngôi thứ nhất Đây là một

cách kể khác với kể chuyện lịch sử truyền thống (Hoàng Lê nhất thống chí),

Nguyễn Xuân Khánh đã “khước từ lối tự sự tiêu cự zero với một điểm nhìn

Trang 38

duy nhất” Trong tác phẩm luôn có sự dịch chuyển, đan xen các điểm nhìn

trần thuật, chuyển đổi vai kể Trong Hồ Quý Ly điểm nhìn dịch chuyển từ

người kể chuyện sang các nhân vật: Hồ Nguyên Trừng, Nghệ Hoàng, Hồ Quý

Ly, Sử Văn Hoa, Hồ Nguyên Trừng Sự dịch chuyển các điểm nhìn giúp cho

ta có một cái nhìn khách quan chứ không mang nặng ý kiến chủ quan của tác giả Nhân vật Hồ Quý Ly được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn: nhà chép sử Sử Văn Hoa, Hồ Nguyên Trừng, trong cái nhìn của những bề tôi trung thành và

những người ở phía đối đầu Hay trong Mẫu thượng ngàn cũng là sự dịch

chuyển từ người kể chuyện sang các nhân vật: Nhụ, Điều, Cụ đồ Tiết, Trịnh Huyền, Bà Ba Váy, Philíp, Piere, Julie, Quản Liến Các nhân vật tự kể chuyện người, kể chuyện chính mình làm cho câu chuyện thêm khách quan Có thể nói trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh lần đầu tiên xuất hiện ngôi kể thứ

nhất xưng “tôi” trong tiểu thuyết lịch sử (nhân vật Nguyên Trừng trong Hồ

Quý Ly, nhân vật An trong Đội gạo lên chùa), nhân vật tự kể chuyện Bà Ba

Váy (Mẫu thượng ngàn)…

Trước nhà văn nguyễn xuân Khánh các yếu tố huyền thoại, hư cấu đã được nhiều nhà văn sử dụng Nhưng điều đáng nói ở đây là, tiểu thuyết lịch

sử truyền thống tôn trọng sự kiện, phản ánh sự kiện một cách thuần tuý thì đến với tiểu thuyết lịch sử hiện đại Nguyễn Xuân khánh đã đưa vào tiểu thuyết của mình những yếu tố hư cấu huyền thoại làm cho tác phẩm trở nên hấp dẫn, ly kỳ hơn Tác giả hư cấu cả những sự kiện lịch sử, hư cấu nhân vật

lịch sử (Hồ Quý Ly), hư cấu nhân vật, mối quan hệ giữa các nhân vật, lịch sử - văn hoá (Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa) Các yếu tố huyền thoại, kỳ ảo

về cách chữa bệnh cho Thuận Tông: vua Thuận Tông uống bát canh có thuốc độc mà không chết; sự lý giải nguồn gốc của họ Hồ, bóng ma Ngọc Lan…

(Hồ Quý Ly), mô típ cái chết đi liền với hiện thân của sự trở về: con đóm là

hiện hồn của ông cụ Khố chồng bà vãi Thầm, của cô Thắm; Rêu chết hiện về

Trang 39

trong hình hài một con chim (Đội gạo lên chùa)….Huyền thoại về nhân vật Mẫu, bà cô Tổ, ông Hộ Hiếu và cách chữa bệnh kỳ lạ của ông (Mẫu thượng

ngàn)…

Như vậy, với bộ ba tiểu thuyết lịch sử - văn hóa, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thu hút được sự quan tâm của độc giả trở về với lối viết đại tự sự truyền thống Dựa trên lối viết hiện thực chủ nghĩa Nguyễn Xuân Khánh đã

có những cách tân so với lối viết truyền thống và cũng là sự chuyến hướng trong chặng đường sáng tác nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, với nhà văn đổi mới về hình thức nghệ thuật không phải là cốt yểu mà cái quan trọng chính yếu là sự đổi mới về tư tưởng

Ngoài ra, xen kẽ vào những giai đoạn viết văn Nguyễn Xuân khánh còn

cộng tác với các nhà xuất bản tham gia dịch sách: tiểu thuyết Những quả vàng

(bản dịch, in năm 1996) của Nathalie Sarraute (1902 - 1999, Pháp), tiểu

thuyết Lời nguyện cầu cho kẻ vắng mặt (bản dịch in năm 1996) của nhà văn Tahar Ben Jelloun (1940 -, Morocco, viết tiếng Pháp), Nhận dạng nam (bản dịch, in 1999) của Elisabeth Badinter, Bí thuật đen (bản dịch Phạm Thuỷ

Triều, hiệu đính Nguyễn Xuân Khánh, in 2000) của Marguerite Yourcenar

(1903 - 1987, Pháp), Nữ hoàng Sisi (bản dịch, in 2003) của Anne Francoise

Loiseau…

nhiều Song như con tằm rút ruột nhả tơ, những tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đều được viết bằng chính sự trải nghiệm cuộc đời, bằng cái tâm trong sáng và lòng nhiệt huyết của nhà văn Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong hơn mười năm trở lại đây đã đem đến cho nền tiểu thuyết Việt Nam một nguồn sinh khí mới Đồng thời qua đó cũng khẳng định được tài năng chân chính của nhà văn

Trang 40

1.2.2 Quan niệm về nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

Trong một tác phẩm văn học, nội dung và hình thức là phạm vi chủ yếu thể hiện giá trị tư tưởng và nghệ thuật của nó Một tác phẩm có giá trị không những được thể hiện ở nội dung mà còn phải có một hình thức nghệ thuật phù hợp, bởi hình thức của một tác phẩm văn học mang tính cụ thể, thẩm mỹ và không lặp lại Điều làm nên dấu ấn phong cách cá nhân của mỗi nhà văn là chọn cho mình những thủ pháp, cách thức nghệ thuật mang một nét riêng không giống với người khác

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh những năm gần đây đã trở thành một

“hiện tượng lạ” của nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam Ông đã đưa ra một cách nhìn nhận, lý giải mới của mình về con người, lịch sử dân tộc, văn hoá Việt thông qua thể loại tiểu thuyết lịch sử Qua thể loại tiểu thuyết, nhất là qua

ba tiểu thuyết lịch sử: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa nhà

văn đã bộc lộ quan điểm về nghệ thuật của mình

Nguyễn Xuân Khánh đã từng bày tỏ: “Tôi quan niệm tiểu thuyết lịch sử tạo ra một hiện thực làm sao để gây cho người đọc một ảo tưởng là nó có thật Tiểu thuyết lịch sử phải dựng lại bối cảnh không khí của thời đại Tôi phải đọc rất nhiều tư liệu cùng sự trải nghiệm thực tế để nhào nặn thành nhân vật, sự kiện, những mối liên hệ Tiểu thuyết phải có đời sống, bi hài trữ tình Trong khi

đó, kí sự lịch sử chỉ là bám chắc vào các văn bản sử để viết”[30] Như vậy, theo Nguyễn Xuân Khánh thì người viết tiểu thuyết lịch sử phải am hiểu, có kiến thức sâu rộng về lịch sử và phải có trí tưởng tượng Một tiểu thuyết hấp dẫn phải là sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố lịch sử và hư cấu nghệ thuật

Nhà văn cũng đưa ra ý kiến của cá nhân về cách viết tiểu thuyết lịch sử:

“Theo tôi, tiểu thuyết lịch sử có hai loại Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn, chỉ có thể hư cấu về tâm lý hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi

Ngày đăng: 21/11/2014, 07:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà An (2012), “Nguyễn Xuân Khánh: Lịch sử chỉ là cái đinh treo cho văn chương”, http://vnexpress.net, ngày 16/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Khánh: Lịch sử chỉ là cái đinh treo cho văn chương
Tác giả: Hà An
Năm: 2012
2. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí văn học, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
3. Tạ Duy Anh (2002), Đi tìm nhân vật, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm nhân vật
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
4. Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên thần sám hối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
5. Tạ Duy Anh (2004), Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão Khổ, Thiên thần sám hối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
6. Tạ Duy Anh (2008), Giã biệt bóng tối, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giã biệt bóng tối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
7. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2008), Yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Luận văn thạc sỹ ngữ văn, Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Anh
Năm: 2008
8. Lại Nguyên Ân (2002), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
9. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
10. Lê Thị Thanh Bình (2007), “Nguyễn Xuân Khánh về từ miền hoang tưởng”, http://antgct.cand.com.vn, ngày 13/2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Khánh về từ miền hoang tưởng
Tác giả: Lê Thị Thanh Bình
Năm: 2007
11. Hoàng Cát, “Tiểu thuyết Hồ Quý Ly - thưởng thức và cảm nhận”, tạp chí Sách 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Hồ Quý Ly - thưởng thức và cảm nhận”, "tạp chí Sách
12. Lê Nguyên Cẩn (1999), Cái kì ảo trong tác phẩm Balzac, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kì ảo trong tác phẩm Balzac
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 1999
13. Châu Diên (2006), “Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc”, đăng trên http:// vtc.vn, ngày 17/7/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc
Tác giả: Châu Diên
Năm: 2006
14. Đoàn Ánh Dương (2012), “Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết văn hoá - lịch sử”, http://qdnd.vn, ngày 22/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết văn hoá - lịch sử
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2012
15. Phan Cư Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập1,2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cư Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1974
16. Phan Cự Đệ (1978), “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học”, Văn nghệ quân đội, (số 12), Tr 108 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận, phê bình văn học”, "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1978
17. Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên) (2012), Lịch sử và văn hoá cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh, Nxb Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và văn hoá cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Phụ Nữ
Năm: 2012
18. Hà Minh Đức (chủ biên), (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
19. Nguyễn Việt Hà (1999), Cơ hội của chúa, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội của chúa
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
20. Nguyễn Việt Hà (2005), Khải huyền muộn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khải huyền muộn
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w