Trong quá trình tìm hiểu và điền dã, chúng tôi nhận thấy ở bộ phận dân cư người Thái ở huyện Sốp Cộp của tỉnh Sơn La đã và đang lưu truyền và tồn tại một số lượng lớn những làn đi
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
SỐP CỘP TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG DUY THẮNG
HÁT RU VÀ NHỮNG NGHI LỄ ĐẦU ĐỜI CHO TRẺ NHỎ CỦA NGƯỜI THÁI HUYỆN
SỐP CỘP TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Đặng Duy Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS.TS Nguyễn Thị Huế, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới bạn bè cùng gia đình
và những người thân đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Đặng Duy Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu: 5
6 Bố cục luận văn 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ, XÃ HỘI, TỘC NGƯỜI THÁI Ở SỐP CỘP, SƠN LA 6
1.1 Nguồn gốc lịch sử 6
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tộc người Thái Sốp Cộp , Sơn La 8
1.2.1 Đặc điểm kinh tế 8
1.2.2 Đặc điểm xã hội 10
1.3 Văn hoá, văn học dân gian của người Thái ở Sốp Cộp, Sơn La 12
1.4 Những lời hát ru của người Thái Sốp Cộp đậm đà bản sắc dân tộc 14
1.4.1 Những nhận định chung nhất về sự lưu truyền, bảo tồn, sử dụng hát ru trong đời sống sinh hoạt của dân tộc Thái Sốp Cộp, Sơn La 14
1.4.2 Khái quát giới thiệu về số lượng những lời hát ru đã sưu tầm được ở Sốp Cộp, Sơn La 15
Tiểu kết 18
Trang 6Chương 2 NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT HÁT RUCỦA NGƯỜI
THÁI Ở SỐP CỘP, SƠN LA 20
2.1 Vài nét về khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La 20
2.2 Nội dung những khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La 21
2.2.1 Cảm hứng về thiên nhiên 22
2.2.2 Cảm hứng về đời sống văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc Thái Sốp Cộp 38
2.3 Ngôn ngữ của những khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La 53
2.3.1 Hệ thống từ ngữ mang đậm bản sắc tộc người 53
2.3.2 Phương thức diễn đạt 56
2.4 Thể thơ và gieo vần 59
2.4.1 Thể thơ 59
2.4.2 Gieo vần 62
Tiểu kết: 65
Chương 3 HÁT RU TRONG NGHI LỄ VÕNG ĐỜI CHO TRẺ NHỎ Ở SỐP CỘP, SƠN LA 67
3.1 Hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ 67
3.1.1 Hát ru trong nghi lễ " Ra cữ " ( giai đoạn trẻ nhỏ trong bụng mẹ ) 67
3.1.2 Hát ru trong nghi lễ " Păn chư nháư " ( lễ đặt tên ) 69
3.1.3 Hát ru trong nghi lễ " nhập tổ tiên " ( nghi lễ đầy tháng ) 71
3.2 Giá trị và ý nghĩa 74
3.2.1 Giá trị 74
3.2.1.1 Giá trị văn hóa 75
3.2.1.2 Giá trị nghệ thuật 75
3.2.1.3 Giá trị tinh thần 76
3.2.1.4 Giá trị giáo dục 78
Trang 73.2.2 Ý nghĩa 81
3.3 Thực trạng bảo lưu câu hát ru gắn với nghi lễ vòng đời con trẻ ở Sốp Cộp- Sơn La 81
3.3.1 Hiện trạng bảo lưu câu hát ru của người Thái ở Sốp Cộp 82
3.3.2 Nguyên nhân của thực trạng 85
3.3.3 Những kiến nghị, đề xuất 87
Tiểu kết 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam , văn học các dân tộc thiểu số chiếm một vị trí không nhỏ Văn học các dân tộc thiểu số trong đó có văn học dân gian đã có được những thành tựu đáng kể , góp phần làm phong phú cho nền văn học của nước nhà
1.2.Sự chung sống, đoàn kết, hài hòa về nhiều mặt trong đó những nét riêng trong văn hóa của tộc người thiểu số ở Việt Nam đã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam và nó làm cho văn hóa các tộc người thiểu số “đa dạng trong thống nhất” Do
đó việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc đặc biệt trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng
1.3 Văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa của 54 dân tộc anh em, trong đó sự góp mặt của văn hóa Thái Tây Bắc Đồng bào Thái Tây bắc đã sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần đa dạng, phong phú đậm đà sắc thái bản địa ; tiêu biểu là những mái nhà sàn có mái che hai hồi hình khum khúm, hoa văn mặt chăn mặt phà, cùng nền văn hóa văn học dân gian đa dạng phong phú Trong sự đa dạng và phong phú đó có những làn điệu hát ru đang dần đi vào quên lãng từ người Kinh đến các dân tộc miền núi phía bắc Hát ru là những lời hát có chức năng giáo dục, thẩm mỹ cao góp phần hình thành và phát huy nuôi dưỡng tâm hồn trẻ nhỏ Với người Kinh hát ru như một ký ức tuổi thơ mà không ai có thể quên trong ký ức của mình, qua lời ru của bà, của mẹ hình ảnh vầng trăng, cánh cò, dòng sông, cánh đồng, lũy tre làng nó đã được in sâu vào tâm hồn trẻ thơ Bằng những lời ru êm ả tha thiết của bà, của mẹ đã gieo vào tâm thức tuổi thơ những ký ức và hình ảnh tốt lành về lòng nhân
ái, đạo lý làm người, tình yêu quê hương, đất nước
1.4 Xã hội ngày nay, do sự bùng nổ của các phương tiện thông tin, các loại hình giải trí, nghệ thuật, hát ru có nguy cơ bị mai một trong đời sống hiện đại Từ thành thị đến nông thôn, hình ảnh người mẹ ẵm con, ầu ơ cất tiếng hát ru ngày một thiếu vắng Thay vào đó, là những ca khúc có nội dung ca từ không phù hợp trẻ thơ hoặc là những bài hát được thu sẵn trong băng đĩa Nhiều bà mẹ không biết hát ru hoặc không thuộc dù chỉ một bài hát ru Thậm chí, nhiều gia đình vợ chồng trẻ có
Trang 9xu hướng “hiện đại”, ngay từ khi mang thai đến khi nuôi trẻ đã cho con nghe nhạc
cổ điển, nhạc không lời với quan điểm giúp trẻ phát triển trí não, thông minh hơn Mặt khác, trong cơ chế thị trường, do bận rộn công việc, nhiều ông bố, bà mẹ, không có thời gian ru con, muốn con ngủ mau, không ít người tìm mọi cách rung, lắc, hoặc quát tháo làm mất đi tình cảm thân thương, tình mẫu tử cao đẹp trong truyền thống gia đình Việt Nam…
Thiết nghĩ, nghệ thuật hát ru và những bài hát ru không chỉ mang tính di sản văn hóa mà còn là nguồn mạch quan trọng, có ý nghĩa nhân văn tiêu biểu của gia đình Việt Nam, là mạch nguồn của sự sống nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, giáo dưỡng nhân cách hồn nhiên, trong sáng, trọng lẽ phải, trọng đạo hiếu nghĩa cho trẻ từ khi lọt lòng
1.5 Trong kho tàng văn học dân gian Thái , có một bộ phận dân ca còn chưa được quan tâm giới thiệu , đó là những làn điệu hát ru trẻ nhỏ Trong quá trình tìm hiểu và điền dã, chúng tôi nhận thấy ở bộ phận dân cư người Thái ở huyện Sốp Cộp của tỉnh Sơn La đã và đang lưu truyền và tồn tại một số lượng lớn những làn điệu hát ru trẻ nhỏ với những nội dung phong phú , hấp dẫn cùng với những nghi lễ kèm theo Điều này đã thu hút sự chú ý của chúng tôi và thúc đẩy chúng tôi lựa chọn
việc giới thiệu “Hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái huyện
Sốp Cộp tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn
2 Lịch sử vấn đề
2.1.Trong lịch sử của mình, tiếng Thái đã có cả một thời kỳ lâu dài làm ngôn
ngữ giao tiếp chung với các dân tộc khác vùng Tây Bắc Với đặc điểm dân số đông
và cư trú lâu đời tại vùng Tây Bắc văn hóa Thái có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa
các dân tộc khác trong khu vực
Xác định được vị trí tầm quan trọng của văn hóa các dân tộc Tây Bắc nói chung và dân tộc Thái nói riêng, Đảng và nhà nước đã rất coi trọng đầu tư cho việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo lưu các giá trị văn hóa cộng đồng các đân tộc, trong đó văn hóa Thái không nằm ngoại lệ
2.2 Từ năm 1960 đã có nhiều công trình nghiên cứu , sưu tầm về văn học dân gian của người Thái ở Việt Nam được xuất bản Các công trình sưu tầm ,
Trang 10nghiên cứu này đã vẽ lên một bức tranh khá hoàn chỉnh, sinh động về lịch sử và toàn bộ đời sống , lao động , sản xuất , tín ngưỡng tâm linh , tập tục…của dân tộc
Thái Trong đó có những công trình tiêu biểu như : Phương ngôn tục ngữ Thái của Hoàng Trần Ngịch , Quam Son Côn – Bản tiếng Thái sưu tầm ở Mai Sơn, Quam Tô
Mương (Chuyện kể bản mường …) – Tài liệu cổ, Bảo tàng Sơn La, Tục ngữ Thái,
Quan Chiêm Lang (NXB văn hóa dân tộc Hà Nội 1978), Truyện cổ dân tộc Thái
(3 tập) của Cầm Cường (NXB Khoa học xã hội , Hà Nội, 1978), Tiếng ru – hát ru – hát đố dân tộc Thái của Hoàng Trần Nghịch , Lò Văn Lả , Khi đứa trẻ dân tộc Thái chào đời của Hà Long , Hà Thu (NXBVăn hóa dân tộc - Năm 2006), Tản chụ siết sương (ca dao) – tài liệu cổ sưu tầm ở Thuận Châu, Âm nhạc dân gian văn học Thái Tây Bắc - của Tô Ngọc Thanh và nhiều những nhà thơ, những nhà sáng tác, nhà sưu
tầm, nghiên cứu về dân tộc Thái KaDai Việt Nam Hội nghị Thái học Việt Nam tổ
chức tại tỉnh Điện Biên – Năm 2009, Hội nghị Thái học Việt Nam tổ chức tại tỉnh Thanh Hóa – Năm 2012, và cũng trong năm 2012 đã diễn ra một hội nghị vô cùng
quan trọng nhằm phát huy tài năng, tôn vinh những nhà sưu tầm, nghiên cứu bản địa,
Hội nghi mạng lưới bảo tồn và phát triển tri thức bản địa dân tộc Thái Việt Nam –
Ngày 10/5/2012 Tại hội nghị này đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm dân tộc Thái bản địa trong 8 tỉnh thành miền núi như Lò Minh Ón, Lò Văn Cạy, Lò Văn
Lả, Hà Long – Hà Thu Có thể nhận thấy, những công trình, bài viết, những bài sưu tầm trên đây mới chỉ dừng lại ở phạm vi biên dịch, sưu tầm, khảo sát sơ bộ và giới thiệu chung
2.3 Theo sự khảo sát, điền dã sưu tầm c ủa chúng tôi, cho đến nay chưa có
một công trình nào nghiên cứu về hát ru và nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của
người Thái huyện Sốp Cộp – Sơn La một các hoàn chỉnh, thấu đáo và hệ thống
Điều đó vừa là thuận lợi nhưng cũng vô cùng khó khăn và đầy thách thức đối với chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng:
Đề tài lựa chọn các lời hát ru của người Thái Sốp Cộp, Sơn La là tư liệu điền dã nhiều nơi của vùng Thái Sốp Cộp, Sông Mã làm đối tượng nghiên cứu
Trang 11Ngoài ra, tác giả đề tài tìm hiểu thêm một số lời hát ru của một số dân tộc khác để
so sánh, đối chiếu khi cần thiết
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn chúng tôi chủ yếu tập chung đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu, phân tích lời hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái huyện Sốp Cộp, Sơn La trên một số mặt: Nội dung, nghệ thuật, giá trị và ý nghĩa những câu hát đầu đời của trẻ nhỏ từ đó thấy được phong tục tập quán, đời sống tín ngưỡng và đời sống tâm hồn của người Thái ở Sơn La
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài sẽ là nguồn tư liệu giúp người đọc có được một sự hiểu biết đầy đủ, sâu sắc hơn về văn hóa dân tộc Thái Việt Nam nói chung và Thái Sốp Cộp nói riêng Điều đó sẽ góp phần vào việc quản lý, giữ gìn bảo tồn ngữ hệ và bản sắc văn hóa của người Thái Sốp Cộp, Sơn La
- Có cái nhìn khái quát và tổng thể về văn hóa , văn học dân gian của dân tộc Thái Qua đó thấy được dấu ấn văn hóa dân gian trong những nghi lễ đầu đời cho
trẻ nhỏ của người Thái Sốp Cộp, Sơn La
- Chỉ ra đặc trưng của văn học dân gian Thái trong những khúc hát ru biểu hiện trên phương diện nội dung, nghệ thuật và giá trị, ý nghĩa
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn cố gắng làm sáng tỏ và khẳng định những đặc điểm, giá trị hát ru
và nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái Sốp Cộp, Sơn La Đó cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên về hát ru, qua đó thấy được tầm quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần đa dạng, phong phú và mang tính giáo dục, răn dạy trẻ đi đến chân thiện mỹ
như những vấn đề của thể loại dân ca, trong đó có hát ru
- Khảo sát, phân tích những khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La về phương diện nội dung và nghệ thuật
Trang 12- Tìm hiểu thêm một số những khúc hát ru của các dân tộc khác để so sánh đối chiếu làm rõ hơn đặc trưng hát ru trong nghi lễ vòng đời cho t rẻ nhỏ của người Thái ở Sốp Cộp, Sơn La
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
5.1 Phương pháp điền dã văn học:
Do đặc điểm của đề tài, chúng tôi chủ yếu trú trọng đến phương pháp điền dã: Đi thực tế tại các bản người Thái ở Sốp Cộp, đến một số bản người Thái phỏng vấn những bậc cao tuổi, bậc trung niên để ghi chép lại, nghe lại những câu hát ru của phụ nữ Thái, đồng thời chứng kiến một số các nghi lễ đầu đời của trẻ nhỏ Điều
đó sẽ rút ra những kết luận chung nhất về hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái Sốp Cộp, Sơn La
5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu:
Việc sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để tìm ra sự khác biệt giữa hát
ru và nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái Sốp Cộp với các dân tộc anh em khác…, từ đó đi đến khẳng định những giá trị, đặc điểm nổi bật của hát ru
Trang 13NỘI DUNG Chương 1: VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ, XÃ HỘI, TỘC NGƯỜI THÁI
Ở SỐP CỘP, SƠN LA
1.1 Nguồn gốc lịch sử
Dân tộc Thái là một dân tộc lớn trong các dân tộc thiểu số Việt Nam, là một
dân tộc đông dân cư nhất của khu vực Tây Bắc Việt Nam “Theo sự thống kê ở
bảng danh mục của thành phần dân tộc Việt Nam, tổng cục thống kê, Hà Nội 4 –
1999 thì dân tộc Thái có dân số đông thứ ba ( sau người Kinh và người Tày ) Còn
ở Sơn La người Thái chiếm 54,7% dân số” [ 6, tr.14 ]
Cho đến nay việc nghiên cứu lịch sử cư trú của người Thái ở Sơn La nói chung, người Thái ở Sốp Cộp nói riêng còn rất nhiều những ý kiến khác nhau Căn
cứ vào tài liệu thành văn “Quan tô mương” (kể chuyện bản mường) hay “Tày pú
sấc” (dõi theo những bước đường chinh chiến của cha ông) “Hịt khoỏng bản mường” (phong tục tập quán) Piết mương, phanh mương… Những công trình
nghiên cứu lịch sử người Thái của các nhà khoa học đã kết luận rằng: Người Thái ở Việt Nam nói chung và người Thái ở Sơn La nói riêng đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á cổ đại thuộc chủng Mônggôít Đại chủng Mônggôlôít gồm các tiểu chủng : Mônggôlôít Phương Bắc, Mônggôlôít Phương Nam và tiểu chủng da đỏ Châu Mỹ Hầu hết các tộc người ở Đông Nam Á cổ đại thuộc tiểu chủng Mônggôlôít Phương Nam Tiểu chủng Mônggôít thuộc các nhóm loại hình: Anhđônêdiêng, Nam Á, Vêđôti, Nêgrôti Người Thái thuộc nhóm hình Nam Á
Theo các văn tự chữ Thái tồn tại đến ngày nay, những văn bản trên lá cây, giấy bản, sách, những cuốn sách sử chép tay hàng trăm trang… đã nói về quê hương
của mình là vùng “ba dải đất lớn được tưới bởi chính con sông và là nơi sông Đà
gặp sông Hồng” (Him xam xẩu, nậm cẩu que, Pú Té Tao) Đó là vùng Vân Nam
(Trung Quốc) vào Tây Bắc Việt Nam, chốn đầu nguồn của Nậm Tao (Hồng Hà), Nậm Tè (Sông Đà), Nậm Ma (Sông Mã), Nậm Khoong (Sông MêKông), Nậm U, Nậm Na…Trước thế kỷ XI, nhiều nhóm Thái lẻ tẻ di cư vào vùng tây bắc (Việt Nam), sống xen kẽ bên người Khơmú, nhưng lại có truyền thuyết nói nguồn gốc người Thái ra đời từ mảnh đất Mường Thanh (Điện Biên) mà xưa kia gọi là Mường Then, Mường Bó Té (đầu nguồn sông Đà)
Trang 14Người Thái cũng như những dân tộc anh em khác đã góp công vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Để khẳng định giá trị văn hoá của dân tộc mình họ đã xây dựng lên những câu chuyện bản Mường, các truyền thuyết đầy kỳ
bí Tiêu biểu là truyền thuyết “Ải Lậc Cậc” người có công khai phá bốn cánh đồng
lớn vùng Tây Bắc Sau nạn Đại Hồng Thuỷ, ông trời (Then) đã sai vợ chồng Ải xuống trần gian để xây dựng lại mường người (Mường Côn) Vợ chồng Ải đã ra sức
lao động tạo ra bốn vựng lúa của vùng Tây Bắc và “Thông” cho sông Đà chảy xuôi
dễ dàng Trong sử thi kể chuyện bản mường “Quan Tô Mương” của người Thái đen
còn kể rằng họ trực tiếp là con cháu của Ải Ngú Háu (Chúa Hổ Mang) Sở dĩ nghành Thái đen lấy rắn hổ mang làm ông tổ là bắt đầu từ mối tình giữa Tạo Quang ( đời thứ 10 chủa tù trưởng Thái đen Lang Chượng) với Nàng Xo người KhơMú dòng dõi Khum Quảng, Ămpoi là vợ hai Hai người sinh hạ được một người con trai khôi ngô tuấn tú đó chính là Hổ Mang sau này Do ghen ghét, vợ của Tạo Qua tìm chách giết chàng trai này bằng cách bắt chàng trèo lên hốc cây có rắn Hổ Mang
Chàng đã bắt được con rắn độc to lớn này Từ đó chàng mang tên rắn Hổ Mang “Ải
Ngu Háu” và là ông tổ của người Thái đen hiện nay [11,tr.22] Có thể nói Tây Bắc
là một trong những cái nôi của ngươi Thái cổ “Từ lâu đời quê hương của người
Thái, cũng như một số dân tộc anh em nằm trong một khu rộng lớn với những khu trung tâm nổi tiếng như Xip – Xoong – Pănna (Vân Nam), khu vực Mường Ôm, Mường Ai ( thuộc các châu Tung Lăng, Hoàng Nham), khu vực Bỏ Te (thuộc miền tây nam Vân Nam) Họ đến Tây Bắc từ lâu lắm rồi, tổ tiên của họ có thể là một phần trong nhóm cư dân bản địa của các nghành người Việt cổ” [11,tr.12]
Khác với dân tộc khác, dân tộc Thái thường sống tập trung trong các vùng lòng chảo, thung lũng, cao nguyên, những nơi đất đai phì nhiêu tương đối bằng phẳng chạy dọc theo những con suối, tiện lợi giao thông Chính vì vậy đã hình thành, sáng tạo nên một nền văn hoá vật chất, tinh thần đa dạng và độc đáo Với những văn hoá vật chất người Thái đã tạo ra hình ảnh ngôi nhà sàn mang đậm văn hoá của núi rừng Tây Bắc, các giá trị văn hoá tinh thần mang đậm hình ảnh dân tộc Quan Tô Mương (chuyện kể bản mường), Tày Pú Sấc, Truyện Thơ đã mang lại những giá trị văn hoá tinh thần phong phú, đa dạng của dân tộc Thái
Trang 15Người Thái ở Sơn La nói chung và người Thái Sốp Cộp nói riêng vẫn mang đậm những đặc trưng văn hoá truyền thống và nó được lưu truyền qua nhiều thế hệ Sôp Cộp một vùng đất mới, mang đậm văn hoá hoang sơ đã thu hút độc giả nghiên cứu về mảnh đất này
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tộc người Thái Sốp Cộp , Sơn La
1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Sốp Cộp là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Sơn La , cách thành phố Sơn
La khoảng 130 km, cách Hà Nội khoảng hơn 400 km
Huyện Sốp Cộp được thành lập từ ngày 2/12/2003, (trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sông Mã ) theo Nghị định số 148/2003/NĐ-CP của Chính phủ.Dưới thời thuộc Pháp , Sốp Cộp được gọi là tổng Sốp Cộp thuộc châu M ường Thanh (Điện Biên ngày nay ), gồm 7 mường: Mường Lạn, Mường Và, Mường Sốp Cộp, Mường Ten, Mường Lói, Mường Luân, Mường Lèo Huyện Sốp Cộp về phía
phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; phía Bắc và phía Đông giáp huyện Sông Mã Địa hình khá phức tạp, phần lớn là đồi núi, đất đai tương đối màu
mỡ, phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp, phát triển nông nghiệp và chăn nuôi đại gia súc Độ cao trung bình từ 900-1000m so với mặt nước biển , đỉnh cao nhất 1.925m ở Pu Sâng xã Mường Lèo Các dãy núi dài và đứt gãy đều chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo ra hướng chảy của các suối lớn trong vùng , thuận tiện cho việc sản xuất và sinh ho ạt của dân cư trong vùng Sốp Cộp có tới 15 con suối lớ n nhỏ trong đó có 3 con suối chảy về trung tâm là Nặm Ca , Nặm Lạnh và Nặm Ban ,
ba suối này gặp nhau tại một điểm nơi bản Sốp Nặm xã Sốp Cộ p, tạo nên suối Nặm Công đổ ra Sông Mã tại bản Pá Công (Pá Công cũng có nghĩa là cửa suối Nặm
Công) thuộc huyện Sông Mã Theo tiếng Thái thì “Sốp” nghĩa là mồm , miệng,
“Cộp” có nghĩa là nơi gặp nhau, bởi vậy địa danh này được đặt tên là Sốp Cộp
Toàn huyện Sốp Cộp có 8 đơn vị hành chính cấp xã , đó là các xã : Sốp Cộp, Mường Lạn, Dồm Cang, Sam Kha, Mường Và, Mường Lèo, Púng Bánh, Nậm Lạnh.Trung tâm huyện lỵ đặt tại xã Sốp Cộp Huyện Sốp Cộp khi mới thành lập có 146.841 ha diện tích tự nhiên và 31.467 nhân khẩu, đến cuối năm 2008 dân số toàn
Trang 16huyện có 6.753 hộ với 39.160 nhân khẩu, trong đó có 6 dân tộc anh em sinh sống: Thái 62,2%; H`mông 17,8%; Khơ Mú 6,1%; Lào 11,3%; Kinh 2,4%) Người Thái, người L ào chủ yếu sống ở vùng thấp , theo dọc các con suối , người Hmông sinh sống ở các điểm trên núi cao , người Khơ Mú sống theo các khe suối đầu nguồn nước, còn người Kinh tập trung ở các thị trấn , các trung tâm xã, nơi gần đường giao thông
Sộp Cộp là một huyện mới thành lập đặc biệt khó khăn nền kinh tế lạc hậu, kết cấu hạ tầng thấp kém nguồn lương thực chủ yếu tự cung tự cấp như lúa, ngô, khoai, sắn… Nguồn thực phẩm được sản xuất từ chăn nuôi gia cầm ( gà, vịt, ngan…), gia súc nhỏ ( chó, lơn…), gia súc lớn ( trâu, bò, ngựa…) Đặc biệt là gia súc lớn ( trâu, bò, ngựa…) vừa để cung cấp sức kéo làm nương, ruộng, kéo gỗ làm nhà, đó cũng là nguồn cung cấp sức kéo cho từng nhà, từng bản Tự nhiên cũng là nơi cung cấp cho thôn bản nguồn thực phẩm lớn: hái lượm, rau, măng, củ quả, dược liệu, săn thú rừng, chim muông, đánh bắt cá ở suối, sông…Người Thái Sộp Cộp đã
đúc kết đặc điểm kinh tế của mình là “miếng cơm ở đất, thức ăn ở rừng” Trong
“Quam Tô Mương” đã có đoạn nhắc đến vấn đề này:
- Nguyên văn tiếng Thái:
“Kháu mết, kháu hak ma
Pa mết, pa hak táu Mịt kháu to nuối mák phặc Thút phắc po khoan hẳm”
- Dịch sang tiếng việt:
“Lúa hết lúa tự đến
Cá hết cá tự lại Hạt lúa to bằng quả bí xanh Ngọn rau dùng rừu chặt” [11,tr.31]
Nền kinh tế của người Thái Sốp Cộp chưa có sự phân công lao động lớn như chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp chưa tách ra khỏi nông nghiệp nên chưa xuất hiện các thị trường tập trung Điều đó không thực sự quan trọng vì nền kinh tế của họ vẫn là tự cung tự cấp Họ có thể tự cung tự cấp từ lương thực,
Trang 17thực phẩm, vải vóc đến các đồ dùng như dao, cuốc, xẻng, vật dụng gia đình bằng các nghề thủ công truyền thống
Ngày nay theo sự đổi mới của Đảng, Nhà nước và sự quan tâm đặc biệt tới vùng cao, vùng sâu xa vùng đồng bào dân tộc Cơ cấu kinh tế chuyển đổi trở nên linh hoạt hơn Cây trồng vật nuôi cũng trở nên phù hợp, giao lưu buôn bán cũng trở nên phát triển Cuộc sống được cải thiện dần kinh tế khá giả Người Thái Sốp Cộp cùng với các dân tộc anh em trong khu vực đã tham gia làm chủ, xây dựng quê hương, địa phương mình ngày càng phát triển, văn minh hơn
Các nghề phụ gia như : làm mộc, đan lát, dệt vải… cũng phát triển Đầu tiên
là cung cấp cho nhu cầu gia đình sau là trao đổi với các vùng, các dân tộc khác theo hình thức vật đổi vật, vật đổi tiền Chính như vậy người Thái Sốp Cộp trở nên rất giỏi giang, phụ nữ thì giỏi dệt vải, thêu thùa, đàn ông thì có tài nghệ đan nát vì thế sản phẩm của họ làm ra rất đẹp và mang tính thẩm mĩ cao
Các hoạt động trong nghề thủ công truyền thống này, nếu xét về thời gian thì
có thể nói là một nghề phụ Vì tranh thủ làm những lúc nông nhàn sau những buổi đồng áng
Thực chất sản phẩm của nó mang lại là rất cần thiết, rất quan trọng nên để đánh giá vai trò của nó là một điều cần thiết Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay cuộc sống của người Thái Sốp Cộp được ổn định, điều kiện kinh tế khá giả hơn, nếu có những chính sách phù hợp thì các nghề này có thể góp phần rất lớn trong việc phát triển kinh tế, đồng thời giúp người Thái Sốp Cộp có thể giữ lại những nét văn hoá truyền thống của mình trong mỗi một sản phẩm của họ làm ra ( mây tre đan, đồ mộc, dệt thổ cẩm…) những sản phẩm này đã khắc hoạ sự khéo léo, tài hoa tuyệt vời của họ
Với 62,2% dân số trên toàn huyện người Thái Sốp Cộp hôm nay đang hoà nhập cùng sự phát triển kinh tế của đất nước, bên cạnh đó còn giữ gìn phát triển văn hoá truyền thống riêng của dân tộc mình
1.2.2 Đặc điểm xã hội
Người Thái ở Tây Bắc nói chung, và người Thái Sốp Cộp nói riêng do địa hình cao, bị chia cắt mạnh, với sự tồn tại của phương thức sản xuất cũ dùng cuốc dùng cày của nền nông nghiệp độc canh mang tính chất tự cấp tự túc tự nhiên Tổ
Trang 18chức xã hội của người Thái Sốp Cộp cũng có những nét đặc thù: vừa mang tính cát
cứ địa phương vừa thể hiện tính thống nhất của người Thái trên vùng Tây bắc
Trước cách mạng 1945, tính cát cứ địa phương thể hiện rõ ràng từng đơn vị Châu mường, mỗi đơn vị Châu mường là một lãnh địa đảm bảo quyền lợi theo tục
lệ của một dòng hay một nghành quý tộc đặt dưới sự thống trị của Chẩu Mường (chủ mường) Lịch sử hình thành các Châu mường gắn chặt với lịch sử phát triển của các dòng quý tộc Thái mà trong nhiều đời đã được triều đình phong kiến trung ương công nhận quyền thống trị ở địa phương với tính cách thế tập Người Thái có
câu “Dòng họ nhà trời làm chủ đất vàng” (sinh bẩu chẩu căm) đã nói nên quyền
làm chủ của quý tộc Thái với vùng đất đai của họ là Châu mường
Trước cách mạng 1945, các đơn vị Châu mường Tây bắc trực thuộc tỉnh Hưng Hoá nhưng cũng có những thời kỳ Châu mường lại được thống nhất thành
khối xung quanh các mường lớn trung tâm – có người “Chẩu mường” đứng đầu thể
hiện với triều đình (các trung tâm lớn: Mường Lò Luông – nay thuộc Văn Chấn, Yên Bái, Mường Muổi Luông – nay là Thuận Châu, Mường Sang Luông – nay là Mộc Châu…)
Tuy nhiên, Mương Luông không có đầy đủ tính chất như một cấp tỉnh mà chủ yếu là nhiệm vụ truyền đạt và đôn đốc châu mường thực hiện các chiếu chỉ của triều đình
Về hình thức bộ máy hàng chính của cả nước, các Châu mường chỉ có vị trí như cấp huyện Song về thực chất mỗi Châu mường có tính chất như một “triều đình thu nhỏ” được triều đình phong kiến trung ương công nhận quyền “thế tập” của quý tộc, cũng như quyền tổ chức bộ máy hành chính và cai quản địa phương theo tập quán và tục lệ riêng Trong đơn vị Châu mường thường có nhiều tộc người
cư trú cho nên quý tộc Thái cùng với bộ máy hành chính của họ không những thống trị nhân dân lao động Thái mà còn cả các dân tộc khác
Sơ đồ tổ chức các đơn vị Châu mường: [22, tr.331]
Í tu thống quán thế Các giáo Mường phía ngoài: Xuổng Các bản
Châu mường: Mường phía trong: Lộng Quan Xuổng
Trang 19Sau khi đất nước độc lập thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng đồng bào Thái Tây bắc nói chung và người Thái Sốp Cộp nói riêng đã quy tụ và sống ổn định hơn dưới các đơn vị hành chính bản mường, mỗi bản gồm khoảng 30 – 40 nóc nhà cùng nhau sinh sống, đều có người đứng đầu gọi là trưởng bản Là một trong những
cư dân bản đị rất lâu đời ngưòi Thái Sốp Cộp đã chọn cho mình những vị trí đẹp và thuận lợi cho đời sống để lập bản mường Đó là những vùng núi thấp, gần sông suối, có địa thế rộng rãi, bằng phẳng thuận tiện cho việc canh tác, dễ dàng đi lại, giao lưu với bản mường khác
Tổ chức dòng họ của người Thái Sộp Cộp thường là sự gắn bó chặt chẽ trong phạm vi bốn đời: Ông (pú), cha (ải/ó), con (lực) và cháu (lan) Gia đình của người Thái Sốp Cộp thường là những gia đình nhỏ / gia đình hạt nhân, gồm đôi vợ chồng, con cái hoặc còn cha mẹ già Nhiều thế hệ cùng nhau chung sống dưới một nóc nhà, cùng ăn, cùng làm việc và cùng chia sẻ những thành quả làm việc cũng như những khó khăn
Có thể nói, Sốp Cộp là vùng đất tụ cư của nhiều dân tộc anh em nên văn hóa của Sốp Cộp vừa phong phú đa dạng , vừa mang nét độc đáo ở t ừng dân tộc Chỉ tính riêng lễ hội ở Sốp Cộp đã có khá nhiều lễ hội khác nhau được tính theo từng tộc lịch, thí dụ Lễ tết cổ truyền của người Thái , Lễ Khẩu xá khẩu hó của người Lào (tháng Chín ), Lễ thu dọn hoa , quả, củ trên nương của người Khơ Mú , Lễ tết của người Hmông (tháng 12), vào dịp thu hoạch xong mùa vụ … Trong đó nổi bật là văn hóa của người Thái , vốn là một dân tộc có số đông dân cư hơn cả , do vậy văn hóa của họ đã có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa của cả vùng Sốp Cộp nói riêng và Sơn La, Điện Biên cũng như Tây Bắc nói chung
1.3 Văn hoá, văn học dân gian của người Thái ở Sốp Cộp, Sơn La
Trong suốt một thời kỳ dài lịch sử, tộc người Thái Tây Bắc nói chung và người Thái Sốp Cộp nói riêng với cơ sở nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng thấp, đã từng kế tục nhau làm chủ mường chinh chiến mở rộng vùng lãnh thổ sang phía Tây: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào …đó là quá trình lâu dài và gian khổ Tác phẩm
sử thi “Tày Pú Xấc” đã ghi lại rất rõ quá trình chinh chiến đó Người Thái đã ca ngợi lãnh thổ của mình trong quấn sách “Quan Chiêm Lang”, phần lãnh thổ Thái
Bốn cánh đồng rộng : Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc Mường Thanh có mỏ muối, mỏ thóc, mỏ thiếc
Trang 20“Đi Sốp Cộp ăn cá Sang Mường Và ăn cơm Tới Búng Lạnh ăn măng vầu đắng”[7, tr.77]
Qua đó họ đã có những đóng góp vào quá trình xây dựng và gìn gữ đất nước:
Người Thái đã được “vua Kinh cần, vua Lào yêu”
Trong quá trình xâm lược của các thế lực ngoại bang những giá trị truyền thống của người Thái Tây Bắc nói chung, đồng bào Thái Sốp Cộp nói riêng vẫn được giữ gìn và bảo lưu: Hát, múa xòe, luật tục,lễ hội… Nhiều lúc mục đích và ý nghĩa của nó bị thay đổi nhưng hình thức vẫn giữ được Nếp văn hoá truyền thống đặc trưng nhất của người Thái là ngôi nhà sàn cùng với các hoạt động sinh hoạt văn hoá gia đình không hề bị biến hoá (Đường lên Tây Bắc quanh co, nếp nhà sàn thấp thoáng) Người Thái Sốp Cộp làm nhà sàn 3 – 5 gian, chôn cột hình khum như mái
rùa, hai đầu nóc hồi được trang trí “khau cút” biểu tượng mang ý nghĩa chỉ vai trò,
địa vị của các tầng lớp trong xã hội
Bên cạnh nếp nhà sàn đặc sắc đó người Thái Sốp Cộp nói riêng và tộc người Thái Tây bắc nói chung còn có trang phuc truyền thống riêng biệt mà ta không thể nhầm lẫn với các dân tộc khác Trang phục nữ vừa đẹp vừa gọn và đặc biệt làm nổi bật những đường nét trên cơ thể họ Họ mặc áo cánh ngắn (Xửng cỏm), khuy cài bằng bạc hình bướm ve ôm sát lấy thân người, váy màu đen không trang trí hoa văn Trang phục nam giới ngày thường họ mặc áo màu đen, cổ tròn, xẻ ngực, cài cúc vải
có hai túi dưới vạt trước, quần kiểu chân què, màu chàm đen Dịp lễ tết hộ mặc loại
áo dài xẻ nách phải, màu chàm đầu quấn khăn, chân đi guốc Trong tang lễ họ mặc nhiều loại áo sặc sỡ, tương phản màu sắc với ngày thường có lối cắt may dài, thụng, không lượn lách với các loại: xẻ ngực, xẻ lách, chui đầu
Điều này có ý nghĩa lớn với dân tộc Thái nói chung và người Thái Sốp Cộp nói riêng trong việc ghi chép lại những giá trị văn hoá, thiết chế xã hội, những lời truyền dây của người xưa… mà đến ngày nay những tài liệu đó được giữ lại là nguồn tài sản vô giá cho tộc người cùng các nghành nghiên cứu khoa học
Trang 21Trong kho tàn văn hoá truyền thống của người Thái đen còn nổi lên những
tác phẩm sử thi, thơ ca, tục ngữ… đồ sộ nổi tiếng như: Thiên trường ca “Sống Chụ
Xôn Xao” (Tiễn dặn người yêu), sử thi “Tày Pú Xấc” (Những bước đường chinh
chiến của ông cha), tục ngữ thái “Quan chiêm lang” và bên cạnh đó còn một kho
tàng giá trị nhân văn sâu sắc chưa được biên soạn đang tồn tại trong nhân gian: Bài cúng tổ tên, bài cúng hồn, các bài bùa thuốc, những câu hát ru cho trẻ nhỏ… nó như
là con thuyền cứu vớt, củng cố tinh thần cho con người Thông qua đó họ gần như
có sức mạnh siêu nhiên vừa sống ở Mường người vừa sống ở Mường trời (Tác
phẩm “Mo Hồn” đã được Vương Trung sưu tầm và biên soạn thành sách)
Vào các ngày lễ, tết của người Thái họ còn tổ chức các hội hát lớn gọi là
“Hạn Khuống”, giữa đám lửa cháy bập bùng những làn điệu múa xoè, múa sạp của
các đôi trai gái thanh tân duyên dáng đến dịu dàng làm say lòng người với lời ca
quen thuộc “Inh lả ơi, xao noọng ời…” vang lên
Không những thế trong xã hội còn nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo,
“vạn vật hữu linh”, tín ngưỡng linh hồn, tô tem ma thuật, thờ cúng tổ tiên… Tất cả những nét truyền thống xưa kia của người Thái đến nay vẫn được bảo lưu và duy trì làm giàu có kho tàng văn hoá tộc người, tạo cơ sở nền tảng cho cuộc sống của đân tộc Thái ở Sốp Cộp
1.4 Những lời hát ru của người Thái Sốp Cộp đậm đà bản sắc dân tộc
1.4.1 Những nhận định chung nhất về sự lưu truyền, bảo tồn, sử dụng hát ru trong đời sống sinh hoạt của dân tộc Thái Sốp Cộp, Sơn La
Người Thái ở Sốp Cộp, do điều kiện tiếp xúc qua lại với các tộc người bản địa khác và với người Lào láng giềng nên văn hóa Thái ở đây có nhiều điểm giao thoa, tích hợp, đồng thời cũng mang đậm nét văn hóa Thái Mường Thanh xưa Bởi vậy, trong kho tàng văn hóa cộng đồng của người Thái ở Sốp Cộp vẫn hiện hữu những tác phẩm cổ truyền có giá trị của người Thái truyền thống nói chung như
truyện kể (Quắm tố mướn , …), những lời khắp (Tản chụ xiết xương ,…), những câu tục ngữ, câu đố (Thái kỏm kẻm), v.v đã được lưu giữ qua nhiều thế hệ Song đặc
Trang 22biệt, có một thể loại tác phẩm là những lời hát ru và đồng dao cho trẻ nhỏ được gắn
phong phú cho đến tận ngày nay
Những câu hát ru của người Thái Sốp Cộp đã được dịch sang thành tiếng Thái một cách rất lô gíc và tình tứ Điều đó tạo thêm sự phong phú về văn hoá, tín ngưỡng của người Thái, người phụ nữ Thái Sốp Cộp thể hiện tình yêu thương con mình qua những lời hát ru, mang lại cho tâm hồn trẻ nét tươi sáng, hồn nhiên, mang tính giáo dục trẻ cao Từ khi đứa trẻ sinh ra được mẹ ôm ấp bế bồng vừa hát ru vừa tập cho trẻ cách nằm ngửa, nằm nghiêng, bế đung đưa, bế đứng, bế đi lại, vui đùa làm cho trẻ thói quen bắt nhịp vào tai những lời hay, ý đẹp Chính điều đó đã nuôi dưỡng tâm hồn trẻ một sự hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng
Người Thái ở Sốp Cộp quan niệm rằng một em bé được sinh ra là một tài sản
vô cùng quý giá của gia đình , của ông bà , họ mạc, đối với người mẹ thì em bé “là hơi ấm là sức sống” của mẹ , Do vậy, trong tiếng Thái có nhiều từ để gọi trẻ nhỏ một cách yêu mến, để so sánh trẻ với những vật vô giá như “tón ngân tón kắn” , “tón khọt tón xanh”, “khua chau ấm” , … nghĩa là “hòn ngọc hòn vàng” , “hòn ngọc sáng nhất của mẹ” , “trái tim sống còn của mẹ” , v.v…Với sự đa dạng của những câu hát
ru được lưu truyền qua nhiều thế hệ từ ông bà, cha mẹ, con cháu, với ngôn từ thì dễ nhớ, những lời hát ru đó của người Thái Sốp Cộp đã mang lại những giá trị văn hoá tinh thần hết sức độc đáo cho văn hoá Thái Tây Bắc
1.4.2 Khái quát giới thiệu về số lượng những lời há t ru đã sưu tầm được ở Sốp Cộp, Sơn La
Trong đề tài này chúng tôi muốn giới thiệu những bài hát ru và đồng dao được thu thập qua đợt điền dã của chúng tôi tiến hành vào những tháng đầu năm
2012 ở Sốp Cộp tỉnh Sơn La Những bài hát này phần lớn được cung cấp từ tư liệu của ông Lò Minh Ón , người dân tộc Thái, sinh năm 1945, hiện sinh sống ở bản Sốp Nặm, huyện Sốp Cộp , tỉnh Sơn La và một số người thân trong gia đình ông cùng một số bà con người Thái ở địa phương Theo ông Lò Minh Ón, những bài hát ru và đồng dao này ngoài vùng Sốp Cộp có thể cũng thường được lưu truyền ở các vùng của người Thái đen khác như Điện Biên , Điện Biên Đông và Thuận Châu , Mai Sơn, Sông Mã v.v… của Sơn La, nhưng hầu như chưa được sưu tầm , giới thiệu Ông Lò
Trang 23Minh Ón đã nhiều năm lưu tâm ghi chép và tự dịch ra tiếng phổ thông được một số
dân Thái trong bản
Bảng thống kê những bài hát ru và những bài đồng dao
của người Thái Sốp Cộp
STT Tên lời bài hát Giai đoạn Giá trị, ý nghĩa Nguồn
Lời hát ru đầu tiên này người
mẹ phát hiện ra mình đã mang thai
“Lại thèm muốn ăn thịt cá bỗng
Bé vào bụng sáu tháng có thai”
Trang 24“Đã được tám tháng tạm
Đã được chín tháng mong
Mở cửa mẹ ra bé thành người…”
Sưu tầm
thóp
Trẻ nhỏ khi mới chào đời
Người mẹ thường hả hơi vào thóp con vừa hát
Sách Thái cổ
Đối với trẻ em Thái, những lời
ru đã sưởi ấm tâm hồn trẻ Sưu tầm
Với biết bao lời âu yếm, tiếng ngon ngọt để dỗ dành cho trẻ bùi tai lắng nghe mà nín khóc, ngủ quên không dậy
Sách Thái cổ
14
Lời ru “doạ” bé
ngủ
Lời ru bé từ 1tuổi đến 2 tuổi
Hình ảnh con cò trắng, cú mèo, cày đen mang hình ảnh thiên nhiên hoang sơ của núi rừng Tây Bắc
“…Trên cẳng mẹ xinh xinh Trên đùi mẹ lơm lơm Thon thon tron trịa trịa…”
Những lời hát day bảo bétránh các thói xấu tật hư mà người đời thường mắc phải như làm bậy, lười biếng hay trộm cướp
Sưu tầm
Trang 25Sách Thái cổ
Sưu tầm
Trên đây là bảng thống kê một số bài hát ru, một số những câu hát đồng dao tiêu biểu của người Thái Sốp Cộp – Sơn La Trong quá trình đi điền dã thực tế, chúng tôi nhận thấy văn hoá Thái truyền thống rất đa dạng và phong phú Vấn đề bảo lưu, phát triển hát ru nói riêng và những loại hình nghệ thuật dân gian của người Thái nói chung cần được lưu giữ, bảo tồn một cách có hệ thống
Tiểu kết
Dân tộc Thái là một dân tộc có dân số đông trong số các dân tộc thiểu số Việt Nam và là một dân tộc đông dân cư nhất của khu vực Tây Bắc Việt Nam
Trang 26Người Thái cũng như những dân tộc anh em khác đã góp công vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Để khẳng định giá trị văn hoá của dân tộc mình họ
đã xây dựng lên những câu chuyện bản Mường, các truyền thuyết đầy kỳ bí Khác với dân tộc khác, dân tộc Thái thường sống tập trung trong các vùng lòng chảo, thung lũng, cao nguyên, những nơi đất đai phì nhiêu tương đối bằng phẳng chạy dọc theo những con suối, tiện lợi giao thông Chính vì vậy đã hình thành, sáng tạo nên một nền văn hoá vật chất, tinh thần đa dạng và độc đáo
Trong kho tàng văn hóa cộ ng đồng của người Thái ở Sốp Cộp vẫn hiện hữu những tác phẩm cổ truyền có giá trị của người Thái truyền thống nói chung như
truyện kể (Quắm tố mướn , …), những lời khắp (Tản chụ xiết xương ,…), những câu
Thái cũng đã dành những lời tinh tế , du dương, uyển chuyển nhất để đặt ra những bài hát ru cho trẻ nhỏ , quan tâm và giáo dục trẻ ngay từ khi người mẹ đang m ang
tuổi, người Thái đều có những bài hát ru và những bài đồng dao ứng với từng giai
sinh hoạt hàng ngày của người Thái ở Sốp Cộp còn được bảo lưu khá phong phú cho đến tận ngày nay Điều đó khẳng định, Hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái Sốp Cộp – Sơn La, đây là một chủ đề quan trọng mang đến màu
sắc đăc trưng cho nền văn hoá Thái Tây Bắc
Trang 27Chương 2 NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT HÁT RU CỦA NGƯỜI THÁI
Ở SỐP CỘP, SƠN LA
Ở chương thứ hai của luận văn, chúng tôi đi tìm hiểu những nét cơ bản về nội dung và nghệ thuật của những lời hát ru người Thái ở Sốp Cộp, xem đây là những yếu tố cơ bản làm nên giá trị và sức sống lâu bền của những lời ru, đồng dao trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Thái ở vùng đất này
2.1 Vài nét về khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La
Khi nói đến lời ru hay những khúc hát đồng dao, chúng ta đều nhận thấy, ở mỗi vùng đất, mỗi dân tộc lại có kho tàng lời hát ru mang bản sắc của dân tộc mình Đối với người Thái ở Sốp Cộp, lời hát ru, đồng dao không đơn thuần là những lời ru trẻ nhỏ của người lớn nhằm dỗ dành đứa trẻ mà mỗi câu hát ru, mỗi câu đồng dao còn gắn liền với nghi lễ mang tính phong tục trong đời sống văn hoá của đồng bào nơi đây Điều này lý giải vì sao, những khúc hát ru lại có sức sống lâu bền trong đời sống của cư dân người Thái Sốp Cộp đến như vậy
Ngay từ khi người phụ nữ mới mang thai , đồng bào Thái đã cho rằng cần
thể nhìn thấy thai nhi một cách cụ thể , nên người ta không biết đó là thai thật hay là
“thai bầu nước”, thai sẽ được đủ tháng hay thiếu tháng , do vậy họ thường phải làm
khỏe mạnh, cho đứa bé trong bụng cũng được tốt lành Khi thai nhi được đến tháng thứ Chín – gọi là Tháng mong , người ta làm lễ cúng “bươn cóng” nhằm xua đi mọi rủi ro, cầu mong cho việc sinh đẻ diễn ra tốt đẹp Lúc đứ a trẻ mới sinh ra , người
khỏe mạnh, lúc đó người ta mới yên tâm để họ tổ chức “lễ ra cữ”, “lễ đặt tên” cho trẻ Lễ đặt tên, tiếng Thái là “păm chư nháư” nhằm mục đích đặt tên cho trẻ và chính thức
Người Thái cho rằng khi đứa trẻ sinh ra có 80 hồn được chia thành hai, 30 hồn ở phía trước và 50 hồn ở phía sau, 80 hồn này luôn bảo vệ cho em bé Khi
Trang 28người mẹ mang thai tháng thứ nhất phải mời thầy mo đến cúng lễ vật cúng bắt buộc phải là một con gà trống, lễ cúng được diễn ra trong một ngày, thầy mo mời gọi các hồn về để nhập vào thai nhi trong bụng mẹ Từ khi đó thai nhi trong bụng mẹ mới yên tâm, khoẻ mạnh đến khi sinh ra
Ngay từ khi trong bụng mẹ , người Thái cũng đã dành những lời tinh tế , du dương, uyển chuyển nhất để đặt ra những bài hát ru cho trẻ nhỏ , quan tâm và giá o
bụng đến lúc trẻ ra đời và cho đến khi lên 6 tuổi, người Thái đều có những bài hát
ru và những bài đồng dao ứng với từng giai đoạn phát triển của trẻ
hay cầm dây võng vừa đu đưa vừa hát , hết bài này tới bài khác cho đến khi nào trẻ ngủ mới thôi Đó là “ú lục” trong nhà Còn “ứ lục” là khi người lớn bế trẻ , có thể là
mẹ bế cho con bú, hoặc là bà hay bố vừa bế ru bé vừa đi đi lại lại trong nhà hay ngoài sàn Lời “ứ lục” được hát ru cho đến khi bé ngủ thật say mới đặt lên võng hoặc vào
Ư, ư… ứ
Mọk, mók … mók Nộc chok chí tót hu hu
To pu chí níp cổn cổn…mók, mók…
Lời “ú lục” hay “ứ lụk” bao gồm các loại lời ru cho bé ngoan , lời ru cho bé khỏe chóng lớn , lời ru cho bé lúc bú mẹ , có lời ru cho bé lúc ngủ , có cả lời ru cho
bé lúc đi “tè” , đi “ị”, lời ru cho bé lúc tắm , lời ru cho bé lúc gội đầu , lời ru cho bé lúc chải tóc, v.v …
2.2 Nội dung những khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La
Khi xem xét về nội dung những khúc hát ru nói chung của các dân tộc, chúng tôi nhận thấy một điểm chung của các lời hát là sự đa dạng, phong phú về nội dung thể hiện trong câu hát ru Thế giới thiên nhiên, xã hội và con người đã được người
ta đưa vào những câu hát ru để hình thành, bồi đắp và nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ
Trang 29Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có những sắc thái riêng trong nội dung thể hiện của những câu hát ru và đồng dao Điều này phụ thuộc vào quan niệm, lối sống, địa bàn mưu sinh của con người dân tộc đó Khi tìm hiểu nội dung những khúc hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp- Sơn La, chúng tôi nhận thấy có hai nội dung chính sau đây:
2.2.1 Cảm hứng về thiên nhiên
Thiên nhiên là một yếu tố không thể thiếu trong những khúc hát ru của các dân tộc trên mọi miền đất nước Chúng ta từng bắt gặp hình ảnh cánh cò trong lời ru nơi đồng bằng Bắc Bộ:
“Con cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng”
Hay hình ảnh núi cao, suối ngàn trong lời ru của người Tày:
“à a à ơi…
Ngủ ngon con ngủ cho ngoan Trên núi cao nhiều cây to Dưới suối nhiều cá đuôi hồng”
(Lời ru Tày Lào Cai) Trong những khúc hát ru của người Thái Sốp Cộp, hình ảnh thiên nhiên xuất hiện nhiều, đa dạng Sở dĩ, trong lời ru con trẻ khi mới sinh ra đến khi lớn lên, thiên nhiên luôn giữ một vị trí quan trọng và phong phú trong những khúc hát ru của người Thái vùng này là bởi trước hết, điều đó phụ thuộc vào địa bàn sinh sống của người Thái Người Thái Sốp Cộp có câu ngạn ngữ:
“Xá ăn theo nửa Thái ăn theo nước H’Mông ăn theo sương mù”
(Ngạn ngữ dân tộc Thái) Đồng bào Thái ở Sốp Cộp- Sơn La trong hành trình mưu sinh của mình luôn lấy thiên nhiên làm điểm tựa Đời sống và những phong tục tập quán chủ yếu gắn liền với thiên nhiên Những đối tượng của thiên nhiên như rừng già, thú dữ, ruộng nước, nắng, mưa, gió bão…luôn gắn liền với cuộc sống lao động cực nhọc từ bao
Trang 30đời nay của người Thái Bên cạnh đó, thiên nhiên đi liền với những nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Thái Sốp Cộp như nghi lễ tôn thờ rắn hổ mang chúa, nghi lễ cầu mưa, cầu mùa…Đây là những nghi lễ ăn sâu vào tiềm thức của người dân vùng này Chính vì vậy, trong những câu hát ru đầu đời cho con trẻ, đồng bào Thái
đã gửi gắm những hình ảnh thiên nhiên cùng những quan niệm về địa bàn sinh sống nơi núi rừng, suối ngàn để hình thành và nuôi dưỡng tâm hồn những đứa trẻ về tình yêu thiên nhiên, biết yêu thương và gắn bó với mảnh đất mình sinh ra và lớn lên
Thế giới thiên nhiên trong những khúc hát ru của người Thái Sốp Cộp hết sức
đa dạng và phong phú, gắn chặt với đời sống của đồng bào vùng này Những hình ảnh nắng, gió, con vật, trăng, sao xuất hiện khá nhiều trong những lời ru
Đó là hình ảnh các con vật nơi núi rừng:
Lời Thái:
Bươn ơi bươn – bươn Đao ơi đao – đao Xao tăm khẩu khẩu Thẩu đốc nuốt cưa mu – mu Ngú phẳng chựa – chựa Ngựak ko lai lai
Tó kha dãng páu pí – pí Manh bỉ hụ dăm ná ná Manh la hụ pẳng hay Káy nọi hụ kếp phắc Nộc bắc ú nọng nón nón Chí chón hụ cuột khuôi Pết cón cuọi pay ta – ta Xiển cá hụ đến pán xan he – he Pon seke chéo húa pay kạ - kạ Dịch nghĩa:
Trăng ơi trăng Sao ơi sao Gái giã gạo
Trang 31Lão nhổ rau nuôi lợn Rắn bện thừng
Thuồng luồng cổ vàng Ong đùi vằn thổi sáo Chuồn chuồn cấy lúa
Cà cuống phát nương
Gà nhỏ hái rau Chim quốc ru em ngủ Con dế đào lỗ
Vịt sám lội suối tắm Thằn lằn ngồi đan chài Tắc kè chèo thuyền đi buôn Bằng biện pháp nhân hóa độc đáo, thế giới loài vật ngộ nghĩnh, đáng yêu đã lần lượt xuất hiện trong câu hát ru của người Thái Đó là hình ảnh con rắn, con thuồng luồng, con ong, con vịt, con dế Điều dễ nhận thấy là qua phép nhân hóa lời
ru, những con vật vốn sống nơi núi rừng nay lại gắn với những công việc thường nhật của con người Điều đó làm cho câu hát ru thêm vừa sinh động, vừa gần gũi Người lớn như kéo thiên nhiên về gần với con trẻ, hình thành trong chúng những khái niệm về thế giới loài vật trên núi cao, đối tượng mà khi lớn lên, những đứa trẻ phải thường xuyên tiếp xúc và gắn bó Cùng với đó là giáo dục đức tính chăm chỉ lao động trong tâm hồn mỗi đứa trẻ Thế giới loài vật trong câu hát ru của người Thái có nét tương đồng với thế giới loài vật trong những khúc đồng dao của người Kinh:
“Bồ các là bác chim ri Chim ri là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú
Trang 32Ngủ ngon bà dẫn con đi dạo Thế gian này đâu thiếu chỗ chơi Thế gian này đâu thiếu chỗ đẹp
Bà đ-a cháu vào giấc mơ
Mơ thấy gà con dỡn mắt mẹ Mơ thấy gà chọi mổ mắt cha Mơ thấy đại bàng quật rắn chúa Mơ thấy đôi rùa cõng ba ba
Mơ thấy quạ đen cõng con nhỏ Mơ thấy cây b-ởi quả lòng đào
Mơ đi chơi v-ờn đào bờ suối Mơ thấy gốc cây ngão rừng xanh Mơ thấy đôi chó ngao đuổi hoẵng Mơ thấy đôi trai bản lạc rừng
(Lời ru Tày vựng Lào Cai) Trờn rừng, trờn nỳi hay trong vườn nhà cú biết bao hoa thơm quả ngọt, khi cũn nhỏ, những đứa trẻ cần nhận diện và biết được tờn những loài hoa, loại quả Những cõu hỏt ru đó đưa trẻ bước vào thế giới muụn màu ấy:
Bú khụm ươn bú nguộn
Bú pờn tuấn bú muụng
Bú luống lủa bú kờn
Bú hờn chỳ bú kại
Bú pờn chai bú xụm
Trang 33Bó chom hua bó ỏi
Bó xao hỏi têng kăn – bó kắm
Bó năng na xao ha bó phải
Hoa toả ngát hương thơm hoa ngọc lan Hoa cay đắng hoa ngón
Hoa ly ti có cuống hoa soài Hoa đơn lẻ hoa bồ quân Hoa có thời có vụ hoa vải Hoa chen chúc hoa cơi Hoa chẳng ai ưa thích hoa độc Hia đu đưa hoa lúc nắc
Hoa theo cây hoa dâu gia Hoa vàng ly ti hoa thì là Hoa chi chít hoa đậu ván Hoa chùm nhỏ hoa xoan Hoa trong ao hoa sen Hoa trên ngọn hoa mía hoa ngô
Trang 34Hoa giá mang trong người hoa thêu Hoa ở nương quý nhất hoa bông Hoa ở bĩa gái sợ hoa cỏ may Hoa giá yêu đội đầu hoa piêu Điều này có nét tương đồng với những khúc đồng dao của người Kinh khi dạy trẻ:
Lúa ngô là cô đậu nành Đậu nành là anh dưa chuột Dưa chuột là là ruột dưa gang Dưa gang là nàng dưa hấu Dưa hấu là cậu lúa ngô Lúa ngô là cô đậu nành
Từ việc hát ru để cho trẻ nhận biết những loài hoa đẹp trên núi rừng, người lớn đã hát ru để dạy trẻ đếm hoa từ đó hình thành trong chúng những kỹ năng đầu đời:
Lời Thái:
Nưng mák muông Xong mák kham Xam mák mị
Xí mák vả
Hả mák cốc Hốc mák kệt Chết mák đét Đét mák khẩu Cẩu mák lai Xíp mák sai tóng tỏi Dịch nghĩa:
Một quả muỗm Hai quả me
Ba quả mít Bốn quả vải Năm quả xim Sáu quả sồi
Trang 35Bảy quả nhót Tám quả nhãn Chín quả thiều Mười quả giống của bé Khi sinh ra, vũ trụ bao la và xa thẳm luôn là những điều bí ẩn đối với những đứa trẻ sinh ra nơi đại ngàn Bởi vậy, trong những lời hát ru đầu đời, đồng bào Thái Sốp Cộp không quên đưa vào hình ảnh thiên nhiên là trăng, sao để giúp con trẻ nhận biết được thế giới Hình ảnh trăng sao gắn với hình ảnh các con vật làm cho lời hát ru trở nên tự nhiên, phù hợp với tâm hồn trẻ thơ
Câu hát gọi trăng, gọi sao luôn nằm ở đầu mỗi lời ru:
Lời Thái:
Bươn ơi bươn – bươn Dao ơi đao – đao Xao tăm khẩu – khẩu Thẩu cua mu – mu
Pú ká hựa – hựa Lứak khốp quái quái Quái kin nhả - nhả Chạng nga khao khao Dao hưa giỏn giỏn Dịch nghĩa:
Trăng ơi trăng Sao ơi sao Gái dã gạo Lão chăn lợn Cua mắc rào Mòng cắn trâu Trâu ăn cỏ Voi ngà trắng Sao sáng rực – rực
Trang 36Hình ảnh vầng trăng, chòm sao trên bầu trời soi sáng cho thế gian, soi sáng để con người làm việc là ý tưởng mà người lớn gửi gắm vào những khúc hát ru Mở đầu mỗi lời ru lại có tiếng hát gọi trăng, gọi sao như muốn gieo vào tâm hồn của những đứa trẻ khái niệm đầu đời về vũ trụ xa xôi nhưng rất đỗi gần gũi trong đời sống của con người
Khi trẻ lớn lên, cùng với sự khám phá thế giới muôn màu và nhiều bí ẩn, trẻ còn tập nói, tập đếm Vì vậy, trong những lời hát ru nói về trăng sao, đồng bào Thái không quên sáng tác những bài hát ru đếm trăng, đếm sao để dạy con trẻ tập đếm- một trong những kỹ năng đầu đời của chúng:
Lời Thái:
Nưng đuông đao Xáo đuông lý
Xí cắp phạ
Hả cắp Then Dịch nghĩa:
Một ngôi sao Hai ngôi mờ Bốn với trời Năm với Then Lời hát với hình ảnh hết sức mộc mạc, dễ thuộc, dễ nhớ làm lời hát có thể hát đi hát lại theo kết cấu vòng tròn Con trẻ có những kỹ năng vừa đếm, vừa có khả năng nhận biết vũ trụ xa xôi Trong đồng dao của người Kinh, chúng ta cũng bắt gặp cách đếm nay:
Một ông sao sáng Hai ông sáng sao
Ba ông sao sáng Bốn ông sáng sao Năm ông sao sáng
Cùng với thế giới loài vật, trong những khúc hát ru của người Thái ở Sốp Cộp còn xuất hiện những hiện tượng tự nhiên như nắng, gió, mưa Giúp cho trẻ
Trang 37vừa nhận biết, vừa hình thành ý thức sống hòa mình để dạn dày cùng sự khắc nghiệt của thiên nhiên
Hình ảnh gió xuất hiện khá nhiều trong những lời ru, khi là hình ảnh làn gió nhè nhẹ thổi vào cây cối trên rừng sâu, khi là hình ảnh đung đưa của cây cối trong vườn nhà:
Lời Thái:
Ma xỉ ma co kók kók Phạ bók lếm chắng đêm đếm Lôm dơ đôm đốm
Lốm má tỏng co kók hảư vay Lôm má tỏng ca bay tạo độm Độm dơ đốm đốm
Lôm pay tỏng co pục huấn quan Lôm day tỏng co khan hướn chá Lôm má tỏng cảng lang lốm đên đên Đôm đốm
Gió thổi vào cây bưởi nhà quan Gió thổi vào cây me nhà chá Gió thổi vào nhà em cho mát mát Gió đi gió ơi gió
Khi là cơn gió mạnh làm quật đổ cây rừng:
Lời Thái:
Gọi gió to Lốm đơ lốm lốm Lốm luông lốm ô ô
Trang 38Tỏm co kưởm sức lương Tỏng co phương tốc pản pản Tỏng co muông tốc cong cong Tỏng co chai hắc tháng tháng Hảư nọng nọi tếng ban kếp kin kin Lôm dơ ô lốm lốm
Dịch nghĩa:
Gió đi gió gió Gió to gió ào ào Gió vào quật cây trám chín vàng Gió vào quật cây khế chín vàng Gió ào quật cây muỗm bẻ đôi Gió ào quật quả chai rụng đống Cho bé con cả làng nhặt ăn Gió đi gió thật to
Gió ào ào trên rừng đại ngàn làm cho lá, quả của cây bị rụng, cây bị quật đổ Gió là biểu trưng cho sức mạnh của thiên nhiên vì vậy người Thái thường lấy đó làm hình ảnh cho những câu hát để trẻ nhận biết được sức mạnh của thiên nhiên Sự
dữ dội của gió càng làm tăng sự hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng:
Lời Thái:
Lốm lốm phạ đốm pặt Phạ đôm pin pin Mạk liu long long Tỏng co mạy cotok lôm hô Đốm đốm
Dịch nghĩa:
Gió đi gió gió Trời gió to to Quả chanh thối Gió quật vào cây gỗ cây tre ào ào
Trang 39Đó là những lời ru nói về mưa:
Lời Thái:
Bó Phôn Phôn dơ phôn phôn Phạ đăm cá pu cưởm cưởm Phạ lưởn cá pu tong tong Phôn tốc cá pu cưởm đay ló Phôn tốc cá pu có đay đin Phôn lả lếch há tóng nhá ưởn Mịt phân to maks muổi muổi Chu huổi nặm chu nóng nóng Chu nong ná chu như như Hảư lan nọi dú đên đên Hải êm nái dú sáng sáng Phôn dớ phôn nhá ưởn ưởn Dịch nghĩa:
Bảo mưa Mưa đi trời mưa to to Mây đen ngập rừng chám Sấm chớp tận rừng cao Nước mưa tràn khe rãnh Rừng dẻ mưa như thác Cơn mưa lớn không ngớt Mưa như dồn không nghỉ Hạt mưa bằng quả gắm Cho mọi suối lũ to Cho ruộng đồng ao chuôm đầy nước Cho chúng em mát mẻ
Cho bà thoả mái người Mưa đi mưa mưa
Trang 40Con người như trò chuyện được với mưa, một hiện tượng thiên nhiên quen thuộc Với những lời lẽ nhẹ nhàng, hình ảnh ngộ nghĩnh, phù hợp với tâm hồn con trẻ, lời hát ru mô tả cơn mưa với đầy đủ những tín hiệu qua hiện tượng mây đen , sấm chớp trên bầu trời rồi con người bảo mưa trút nước xuống làm cho nước về đầy đồng, đầy ruộng, cho con người thỏa sức cấy cày Nhờ vậy, qua lời ru, đứa trẻ dần hình thành được khái niệm mưa, một hiện tượng rất cần thiết trong đời sống nông nghiệp của cư dân Thái Sốp Cộp nói riêng và đồng bàoThái Tây Bắc nói chúng Trong đời sống văn hóa của người Thái, lễ hội cầu mưa là một phong tục rất quan trọng Cầu mưa để mong mưa thuận gió hòa cho mùa màng được tươi tốt, cho ruộng đồng không bị nứt nẻ Do vậy, hòa điệu vào trong những khúc hát ru, người Thái Sốp Cộp đã có những bài nói về gọi mưa:
Lời Thái:
Phôn ơi phôn phôn Phôn hó đếc há tóng nhá ươn ươn Chu huổi nặm chú nóng nóng Chu haư nong haư ná hảu nhưng nhưng Hảư pưng một tai cong cong
Hảư pưng pa đít giỏn Hảư nọng lả dú dên dên Hảư pên huống khẩu mạk mạk Phôn dơ phôn phôn
Dịch nghĩa
Mưa hỡi mưa ơi mưa Mưa cân sắt cân đồng chớ thôi thôi Mọi khe suối lũ cao cao
Ruộng ao nước tràn đầy đầy Cho kiến chết thành đống đống Cho đàn cá tung tăng
Cho bé em mát mẻ mẻ Cho lúa bông chắc hạt hạt Mưa đi trời mưa to to