Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ HỮU THƯ
THÁI NGUYÊN – 2013
Trang 3Mã số VAST04.07/13-14 do TS Đỗ Hữu Thư làm chủ nhiệm ” đã giúp tôi
có thể hoàn thành được luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động,
Uỷ ban nhân dân xã An Lạc, cán bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ đã chỉ bảo và cung cấp những tài liệu quan trọng Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp trường Trung học phổ thông Dương Tự Minh, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học cao học
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 3 năm 2013
Tác giả
ĐỖ THỊ HẢI HÀ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH M ỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 2
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN: 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THẢM THỰC VẬT VÀ HỆ THỰC VẬT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 4
1.1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật 4
1.1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 4
1.1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam 5
1.1 2 Những nghiên cứu về hệ thực vật 7
1.1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 7
1.1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam : 8
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, THÀNH PHẦN DẠNG SỐNG 9
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 9
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 13
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LOÀI THỰC VẬT QUÝ HIẾM CÓ NGUY CƠ BỊ TUYỆT CHỦNG: 17
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
Trang 52.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.2.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC) 19
2 2 2 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 20
2.2.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học của các loài thực vật: 21
2.2.5 Xây dựng bản danh lục thực vật : 21
2.2.6 Đa dạng về các kiểu thảm thực vật và các quần hệ thực vật: 21
2.2.7 Phương pháp điều tra trong nhân dân 21
Chương 3 : ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 22
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU 22
3.1.1 Vị trí địa lý 22
3.1.2 Địa hình 23
3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 24
3.1.4 Tài nguyên khoáng sản 26
3.1.5 Tài nguyên đất 26
3.1.6.Tài nguyên rừng 27
3.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU: 28
3 2.1 Dân số, dân tộc 28
3.2.2 Hoạt động nông - lâm nghiệp 29
3.2.3 Giao thông, thuỷ lợi 30
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 TÍNH ĐA DẠNG CỦA THẢM THỰC VẬT VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHỮNG QUẦN HỆ THỰC VẬT CHÍNH TRONG KHU VỰC 31
4.1.1 Lớp quần hệ rừng kín (Closed forest) 31
4.1.2 Lớp quần hệ rừng thưa (Wood land – Open stands of Trees) 37
4.1.3 Lớp quần hệ thảm cây bụi (Shrub = shrubland) 37
4.1.4 Lớp quần hệ thảm cỏ (Herbaceous vegetation) 39
4 2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA KHU HỆ THỰC VẬT TRONG KHU VỰC 39 4.2.1 Sự đa dạng của các taxon 39
4.3 Một số giá trị của khu hệ thực vật vùng Khe Rỗ 42
Trang 64.4 Những loài cây quý hiếm, có giá trị bảo tồn đã gặp tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khe
Rỗ 44
4.5 Các loài thực vật ngoại lai xâm hại cần chú ý 48
4.6 NHỮNG ĐỀ XUẤT LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ, BẢO TỒN TÍNH ĐA DẠNG SINH VẬT NÓI CHUNG VÀ THỰC VẬT NÓI RIÊNG Ở VÙNG KHE RỖ 49
4.6.1 Các giải pháp mang tính tổng hợp 49
4.6.2 Đề xuất các chương trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác động làm suy giảm đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật tại Khe Rỗ 52
4.6.3 Đề xuất một số nghiên cứu liên quan đến bảo tồn đa dạng thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ 55
KẾT LUẬN 57
ĐỀ NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Phụ lục 1: DANH LỤC CÁC LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH ĐÃ GẶP Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KHE RỖ 64
Trang 7KVNC Khu vực nghiên cứu
UNDP United Nations Development Programme – Chương trình
phát triển liên hiệp quốc
WWF Word Wide Fund For Nature - Quỹ quốc tế bảo vệ thiên
nhiên
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 8 Bảng 4.1 Tổng hợp sự đa dạng của các taxon thực vật bậc cao có mạch trong khu vực nghiên cứu 40 Bảng 4.2 Sự đa dạng về dạng thân cây của các loài đã thống kê trong hệ thực vật trong khu vực 41 Bảng 4.3 Giá trị sử dụng của các loài thực vật tại Khe Rỗ 42 Bảng 4.4 Các loài thực vật quý hiếm, có ý nghĩa bảo tồn đã gặp 44 Bảng 4.5 Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại (Theo tài liệu của IUCN 2001) đã gặp tại khu vực Khe Rỗ 48 Bảng 4.6 Các chương trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác động làm suy giảm đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật tại Khe Rỗ 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sự đa dạng của các taxon thực vật bậc cao có mạch trong khu vực nghiên cứu 40 Hình 4.2: Tỷ lệ về dạng thân cây của các loài trong KVNC 41
Trang 10MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng che phủ một phần ba diện tích lục địa Hiện nay, sinh kế của 1,6 tỷ người trên trái đất phụ thuộc vào rừng Rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu Rừng là một hệ sinh thái mà quần
xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…
Vì vậy tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng (diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trường của một quốc gia tối ưu là 45% tổng diện tích)
Vốn được mệnh danh là "lá phổi " của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra
Theo số liệu thống kê của các tổ chức IUCN, UNDP, WWF mỗi năm trên thế giới trung bình mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, do rất nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do sự kém hiểu biết vì mục đích cuộc sống, vụ lợi cá nhân đốt rừng làm nương rẫy (chiếm tới 50%), bên cạnh đó còn một số nguyên nhân như nạn cháy rừng (chiếm khoảng 23%), do khai thác quá mức (chiếm khoảng 5-7%) do một số nguyên nhân khác (chiếm khoảng 8%)
Trang 11Rừng Việt Nam là một kho tài nguyên vô cùng quý giá với 12.000 loài thực vật, trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc Chúng ta có 41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3) , loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha
Thế nhưng trong quá trình phát triển, con người đã tác động quá mức làm cho rừng bị suy kiệt, nhiều vùng trên trái đất đã tàn phá rừng để trồng cây lương thực hoặc khai thác lặp đi lặp lại nhiều lần làm cho rừng bị hủy diệt Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng chiếm 43% tổng diện tích thì nay chỉ còn 28 – 32%, có nơi như vùng Đông Bắc Bộ chỉ còn dưới 10%
Rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động (Bắc
Giang) được coi là một điển hình cho vùng Đông Bắc Việt Nam, Với diện tích
7.153 ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh Khe Rỗ có thảm động thực vật phong phú, đa dạng với nhiều loài gỗ, thảo dược quý hiếm Hiện tại, khu rừng có 236 loài thực vật và cây lấy gỗ, 255 loài dược liệu quý; ngoài ra còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ
Cùng với tình hình chung của cả nước, rừng ở đây bị khai thác, chặt phá mạnh ở nhiều nơi, nên để lại rừng tự nhiên có mức độ suy thoái khác nhau, chủ yếu là phục hồi sau khai thác kiệt, sau nương rẫy chiếm tới gần 2/3 diện tích có rừng tự nhiên Để góp phần đánh giá tính đa dạng thực vật ở rừng nguyên sinh Khe rỗ , làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật
của vùng , chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ; đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển ”
2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đề tài được thực hiện từ năm 2012 đến năm 2013 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khe rỗ - Huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang
Trang 12- Do điều kiện hạn chế về thời gian, kinh phí nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài, thành phần dạng sống ở khu vực nghiên cứu
4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:
- Bước đầu xác định được thành phần loài, thành phần dạng sống ở Khu bảo tồn
-Xác định được một số giá trị của khu hệ thực vật vùng Khe Rỗ, những loài cây quí hiếm có giá trị bảo tồn, xác định dược một số loài thực vật có nguy
cơ tuyệt chủng
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THẢM THỰC VẬT VÀ HỆ THỰC VẬT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [39] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh
Trần Đình Lý (1998) [28] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
1.1.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm Maurand (1943) [46] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương
đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó
Trang 141.1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) [44] là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninh dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây
Trang 15Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao Thái Văn Trừng (1978) [39] trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam,tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay
Phan Kế Lộc (1985) [30] dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau
Nguyễn Hải Tuất (1990) [33] nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: kiểu rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [26] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) [40] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu
Trang 16tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Nguyễn Thế Hưng (2003) [23] cũng dựa trên nguyên tắc phân loại UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Lê Ngọc Công (2004) [5] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa
Ngô Tiến Dũng (2004) [14] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
1.1 2 Những nghiên cứu về hệ thực vật
1.1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Năm 1965, Al.A.Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000- 20.000 loài địa y; 85.000-100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác Năm 1962, G N Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân bố ở các châu lục như sau:
+Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico+ Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam
Trang 17Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và
Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài
+ Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibrria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài
+ Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tân tây lan: 4.500 loài
Lecointre và Guyader (2001) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới
1.1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam :
Ở nước ta, trong thực vật chí Đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực
Trang 18vật bậc cao có mạch Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con
số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta
Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia - Malaisia, yếu
tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu
tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á
Nhận xét chung:
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình
Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao hơn nhiều
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, THÀNH PHẦN DẠNG SỐNG
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu
Trang 19được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu củaVưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật
Ramakrishman (1981 - 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy
ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét : Khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài Bỏ hoá 19 năm thì
có 60 họ, 134 chi và 167 loài Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1978) [29] đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài 1660 chi và 240 họ
Thái Văn Trừng (1978) [39] thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ
Phan Kế Lộc (1978) [29] điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam
có tannin
Hoàng Chung (1980) [12] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên
đã thống kê được 3210 loài chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1992) [22] trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống
kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10500 loài
Phan Nguyên Hồng (1991) [21] lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu
Trang 20khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn
Lê Mộng Chân (1994) [9] điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên
Trần Đình Đại (2001) [18] căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) [6] nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được
123 loài thuộc 47 họ khác nhau
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [25] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [34] đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng
Lê Ngọc Công (1998) [4] khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ
Thái Văn Trừng (1998) [40] khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã
có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của
Trang 21tầng cây bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae)
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998)[35] khi tổng kết các công trình nghiên cứu
về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [6]
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi
10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [31]
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1 - 2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hoà thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thầu dầu (6 loài)…; giai đoạn 3 - 5 tuổi có
65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11
- 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [41]
Nguyễn Thế Hưng (2003) đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở Huyện Hoành Bồ, Thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch [22]
Nguyễn Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh
tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy
Trang 22chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 - 25 loài, trên đất xấu 8 -
12 loài [36]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ,
468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây
gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[4]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn
La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [26]
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 - 5m [35]
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là
hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer
Trang 23(1934) để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB): SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu
tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ
và các dạng đặc thù
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm
Trang 24phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường
Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng
cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [10]
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [38]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [12]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [11]
Phan Nguyên Hồng (1991) khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
ký sinh (K), bì sinh (B) [20]
Phạm Hồng Ban (1999) [2] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:
Trang 25SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông
đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)[41]
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [22]
Vũ Thị Liên (2005) [26] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ dạng sống như sau: SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Nhận xét chung :
Những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình, khí hậu Tuy vậy số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia Về thành phần dạng sống : Khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả Tuy nhiên có thể nhận thấy, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer trong những nghiên cuáu của mình Hệ thống phân chia này của ông có ý nghĩa quan trọng , đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng Ông chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống
Trang 261.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LOÀI THỰC VẬT QUÝ HIẾM
CÓ NGUY CƠ BỊ TUYỆT CHỦNG:
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác
nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị bị suy giảm Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học, từ năm 1964 hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã cho xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới
Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới [44] Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: Loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…
Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong cuốn “sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ
Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:
- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân
Trang 27thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng
- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc
có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy
cơ tuyệt chủng Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II cũng được chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [9]
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công trình đáng chú ý là:
Nguyễn Thị Yến (2003) khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN [42]
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ (2009) khi nghiên cứu hiện trạng hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phương Hoàng gồm có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong nghị định số 32/2006/NĐ-CP
Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau
mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
Trang 28CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu tính đa dạng của TTV và những đặc trưng cơ bản của những quần hệ thực vật chính trong khu vực
2 Thành lập danh lục các loài thực vật được xếp theo vần ABC
3 Xác định nhóm các dạng sống và tỷ lệ % của chúng
4 Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách
đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ IUCN (2001)
5 Đề xuất một số giải pháp liên quan đến quản lý, bảo tồn tính đa dạng sinh vật nói chung và thực vật nói riêng ở vùng Khe Rỗ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC)
Để thu thập số liệu về đặc trưng của các quần thể thực vật và thành phần khu hệ thực vật đã sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn theo phương pháp thông dụng Các bước cụ thể được tiến hành như sau:
Căn cứ vào bản đồ thảm thực vật đã có xác định các kiểu thảm thực vật, các quần xã thực vật chính được thể hiện trên bản đồ
Điều tra theo tuyến : Dựa vào bản đồ thảm thực vật, bản đồ địa hình, vạch những tuyến điều tra chính Các tuyến điều tra phải đi qua tất cả môi trường sống của khu vực nghiên cứu Trên mỗi tuyến điều tra tiến hành kiểm kê tất cả các loài thực vật nằm trong phạm vi 10m ở mỗi bên tuyến TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Khoảng cách giữa các tuyến
là 50 - 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí OTC và ODB (2x2m) để thu thập số liệu OTC
Tên cây được xác định theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của người điều tra Những mẫu khó sẽ thu tiêu bản để xác định sau
Điều tra theo ô tiêu chuẩn: Trên các tuyến điều tra, chọn một số điểm
Trang 29chốt, đặc trưng nhất để xây dựng các OTC và ODB Trong các OTC và ODB này sẽ điều tra kỹ về thành phần loài và cấu trúc của các quần xã thực vật Hệ thống OTC và ODB phải đại diện cho tính chất của thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu, do đó nó sẽ được chọn một cách ngẫu nhiên song phải đảm bảo đại diện cho tất cả các khu vực khác nhau, các sinh cảnh khác nhau trong vùng nghiên cứu OTC: để thu thập số liệu thảm thực vật, chúng tôi áp dụng OTC
là 400m2 (20 x 20m) cho các trạng thái rừng và cây bụi Ô dạng bản (ODB) được bố trí trên các đường chéo, đường vuông góc và các cạnh của OTC Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích OTC Với thảm cỏ dùng diện tích 2x2m Ngoài ra dọc 2 bên tuyến điều tra cũng đặt thêm các ODB phụ để thu thập số liệu bổ sung Trong các OTC chúng tôi tiến hành xác định tên khoa học (các loài chưa biết tên thì thu thập mẫu về định loại ), dạng sống và đo chiều cao cây để xác định cấu trúc phân tầng của các trạng thái TTV
2 2 2 Phương pháp thu thập số liệu
- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu tất cả các thông tin về các loài đã gặp như: tên latinh (hoặc tên địa phương), Dạng sống (thân gỗ, thân bụi, thân thảo, dây leo) Những loài chưa biết tên lấy mẫu về để định loại
- Trong OTC, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ODB), cách thu mẫu cũng giống như tuyến điều tra
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Tên các loài cây được xác định theo Cẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Cây cỏ Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Tiến Bân và chỉnh lý theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Tập 1,2,3) [1],[21] Sau đó được TS Đỗ Hữu Thư kiểm tra lại trước khi thành
Danh lục chính thức
Trang 302.2.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học của các loài thực vật:
Chủ yếu dựa vào công trình danh lục các loài thực vật Việt Nam tập 1 (NXBNN, 2002) tập 2 (NXBNN2003), tập 3 (NXBNN,2005) và tham khảo công trình Cây cỏ Việt Nam quyển I (1991),II (1992), III (1993) của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ [21]
2.2.6 Đa dạng về các kiểu thảm thực vật và các quần hệ thực vật:
Các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu được xác định theo khu phân loại của UNESCO (1973) (từ bậc phân quần hệ trở nên) Các bậc phân loại dưới bậc phân quần hệ (quần hợp, ưu hợp, phức hợp) sẽ áp dụng bảng phân loại của Thái Văn Trừng (1970) Sự đa dạng của các quần hệ thực vật được đánh giá trên các phương tiện đa dạng về thành phần loài, đa dạng về số lượng cây, chỉ số diện tích tán, độ tàn che chung, mật độ cây … trong các quần
hệ đó
2.2.7 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn người dân địa phương hoặc các cơ quan chuyên môn (Chi cục kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở KVNC, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…
Trang 31Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG
Do nằm không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Nên vị trí địa lí đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế liên vùng, giao lưu kinh tế -
xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Đông Bắc và với các tỉnh thành khác trong cả nước
Bắc Giang hiện có 09 huyện và 01 thành phố, trong đó có 06 huyện miền núi và 01 huyện vùng cao; 230 xã, phường, thị trấn (207 xã, 7phường, và 16 thị trấn) Sơn Động là huyện vùng cao nằm ở phía đông của tỉnh Bắc Giang cách trung tâm tỉnh lỵ 80 km về phía Đông bắc; diện tích tự nhiên 844,32 km2 (chiếm 22% diện tích toàn tỉnh)
Phía Bắc giáp các huyện Lộc Bình, Đình Lập tỉnh Lạng Sơn Phía Đông
và phía nam giáp các huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ và thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh Phía Tây giáp các huyện Lục Nam, Lục Ngạn Huyện Sơn Động có địa hình dốc dần từ đông bắc xuống tây nam, độ dốc khá lớn, đặc biệt là các xã nằm ven dãy núi Yên Tử Độ cao trung bình của huyện là 450m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (1.068m), thấp nhất là 52m, cá biệt khu vực Ba Khe (Tuấn Đạo) chỉ cao hơn mực nước biển 24m
Trang 323.1.2 Địa hình
Về địa hình, có thể chia Bắc Giang thành một số khu vực sau đây:
- Khu vực miền núi xâm thực được nâng lên mạnh thuộc lưu vực Sông Lục Nam Khu vực này có những đỉnh núi cao và hiểm trở của tỉnh Bắc Giang Các dãy núi Bảo Đài – Cấm Sơn và Huyền Đinh – Yên Tử là đường phân giới của tỉnh với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Dương Trên đường đỉnh của dãy núi Huyền Đinh – Yên Tử có đỉnh cao nhất là Yên Tử ở Sơn Động – Lục Ngạn cao 1063m; trên đường đỉnh của các dãy núi Bảo Đài – Cấm Sơn có đỉnh Ba Vòi ở Lục Ngạn cao 975m
- Khu vực miền đồi trung du được nâng lên yếu, thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây Trong phạm vi của tỉnh, đường phân giới của khu vực này với khu vực miền núi nói trên là đường dọc theo chân núi Huyền Đinh lên Biển Đông, men theo chân núi Bảo Đài lên Bến Lường ở bắc thị trấn Kép Đây
là miền đồi trung du được cấu tạo bằng trầm tích đá gốc Các ngọn đồi ở đây thường có độ cao 30–50m
- Khu thềm phù sa cổ bị chia cắt yếu Địa hình chủ yếu là các đồi thoải lượn sóng, có độ cao dưới 30m, trên nền phù sa của sông Cầu, sông Thương Địa hình này thấy rất rõ ở các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên và thị xã Bắc Giang Các đồi không có lớp phủ thực vật nên nhiều nơi đất bị xói mòn trơ sỏi, đá Đây là địa bàn có thể phủ xanh đất trồng, đồi núi trọc bằng việc trồng cây công nghiệp dài ngày
- Khu vực thềm mài mòn cũ bị chia cắt yếu có những núi sót Địa hình chủ yếu là những đồi núi thấp khá bằng phẳng và những miền núi trũng với những khối núi sót như núi Neo ở Yên Dũng (cao 260m) Ngày nay nhiều đồi núi thấp và máng trũng ở Yên Dũng, Việt Yên đã được nhân dân cải tạo thành những ruộng cao, thấp khác nhau để trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 33Địa hình đa dạng là điều kiên để tỉnh Bắc Giang có thể phát triển nông – lâm nghiệp theo hướng đa dạng hóa với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị
3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Do nằm ở vị trí đệm giữa khu vực núi đông bắc và đồng bằng sông Hồng nên khí hậu Bắc Giang có tính đa dạng của chế độ hoàn lưu gió mùa nhiệt đới Mùa đông ít mưa, khí hậu khô, lạnh sương muối xuất hiện trên nhiều đồi núi Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, lượng mưa phân bố không đều do ảnh hưởng của địa hình Mưa giảm dần từ phía Quảng Ninh về các huyện Lục Ngạn, Sơn
Động và từ phía Hải Dương về huyện Yên Dũng
Độ ẩm trung bình trong năm là 83%, một số tháng trong năm có độ ẩm trung bình trên 85% Các tháng mùa khô có độ ẩm không khí dao động khoảng 74% - 80%
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.533 mm, mưa nhiều trong thời gian các tháng từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng nước bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 1.000 mm, 4 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa là từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau
Chế độ gió cơ bản chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam (mùa hè) và gió Đông Bắc (mùa đông) Một số khu vực thuộc miền núi cao có hình thái thời tiết khô lạnh, rét đậm, có sương muối vào mùa đông Ít xuất hiện gió Lào vào mùa
hè Một số huyện miền núi có hiện tượng lốc cục bộ, mưa đá, lũ vào mùa mưa Bắc Giang ít chịu ảnh hưởng của bão do có sự che chắn của nhiều dãy núi cao
Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho canh tác, phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
Nhiệt độ thấp dần từ trung du lên miền núi Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình từ 27 – 280C Mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 2, nhiệt độ trung bình là 16 – 170C Số tháng có nhiệt độ không khí dưới 150C chỉ
1 – 2 tháng, trên 270C có 3 tháng Khí hậu Bắc Giang với chế độ nhiệt ẩm như trên thích hợp với các nhu cầu sinh trưởng của các cây trồng nhiệt đới Vùng
Trang 34đồi trung du lạnh vừa và ẩm là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả và công công nghiệp Vùng núi lạnh và ẩm, thuận lợi cho việc trồng cây gây rừng, trồng chè, các loại rau ôn đới, chăn nuôi gia súc
Huyện Sơn Động ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên Tử ở phía nam nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi Hàng năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà; mùa hạ nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 22,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 32,90C, nhiệt
độ trung bình thấp nhất là 11,60C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.564mm Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5 ngày, những ngày có lượng mưa lớn nhất vào tháng 8, đạt 310,6mm Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên huyện Sơn Động ít chịu ảnh hưởng của bão
Bắc Giang có 3 con sông lớn sông Cầu, sông Thương, Sông Lục Nam:
- Sông Lục Nam chiều dài 347km Đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Giang có chiều dài khoảng 150 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 1,86 tỷ m3
- Sông Thương - lưu lượng nước hàng năm khoảng 1,46 tỷ m3
- Sông Cầu đoạn chảy qua địa phận Bắc Giang có chiều dài 101 km Lưu lượng nước sông Cầu hàng năm khoảng 4,2 tỷ m3
Chế độ thuỷ văn gồm hai mùa là mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ từ tháng 5-
9, chiếm trên 70% lượng nước cả năm trong khi nhu cầu dùng nước tưới không lớn Ngược lại mùa cạn từ tháng 10-4 chiếm có 30% lượng nước cả năm thì nhu cầu dùng nước lại nhiều Hệ thống ao hồ, đầm của tỉnh có diện tích 16,3 nghìn ha, chưa kể gần 1 vạn ha ruộng trũng Hệ thống này là những bể chứa nước quan trọng, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Bắc Giang có hai hồ lớn là hồ Cấm Sơn và hồ Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn
có diện tích là 2.600ha, chứa được hàng triệu m3
nước Hồ Khuôn Thần có diện tích 240ha chứa 18 triệu m3
nước Cả hai hồ này đều thuộc huyện Lục Ngạn
Trang 35Sông ngòi, ao hồ ở Bắc Giang có giá trị không chỉ về cung cấp nước mà còn cả
về việc phát triển thuỷ sản nước ngọt, du lịch Trên các sông còn có trữ lượng lớn về cát, sỏi, để làm vật liệu xây dựng
3.1.4 Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn tỉnh tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số loại là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp như mỏ than đá ở Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam có trữ lượng khoảng trên
114 triệu tấn, gồm các loại than antraxit, than gầy, than bùn, trong đó mỏ than Đồng Rì có trữ lượng lớn (107,3 triệu tấn)
Ngoài ra, Bắc Giang có một số loại quặng: Quặng sắt ước khoảng 0,5 triệu tấn thuộc huyện Yên Thế; quặng đồng khoảng gần 100 tấn ở huyện Lục Ngạn, Sơn Động; cao-lanh khoảng 03 triệu tấn ở huyện Yên Dũng Tỉnh cũng
có tiềm năng lớn về khoáng sét sử dụng làm gạch ngói, với 16 mỏ và điểm mỏ, tổng trữ lượng khoảng 360 triệu m3, chủ yếu ở các huyện: Việt Yên, Lục Nam, Lạng Giang,Yên Thế, Hiệp Hoà
3.1.5 Tài nguyên đất
Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123.000 ha đất nông nghiệp, 110.000 ha đất lâm nghiệp, 66.500 ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại khoảng 82.700 ha là các loại đất khác, trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn hơn cả khoảng 63,13% diện tích tự nhiên Nguồn tài nguyên đất được chia làm 6 nhóm đất chính:
- Nhóm đất phù sa: Diện tích khoảng 50.246 ha, chiếm 13,14% diện tích
đất tự nhiên Loại đất này được phân bố chủ yếu ở vùng địa hình bằng phẳng ven các sông Đây là nhóm đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp với các loại cây nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng ngắn ngày
- Nhóm đất bạc màu: Diện tích khoảng 42.897 ha, chiếm 11,22% diện tích đất tự nhiên, là loại đất bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở các huyện: Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hòa Đây là nhóm đất bằng, nghèo đạm, lâm,
Trang 36giàu ka-li, tơi, xốp, thoát nước tốt, thích hợp với các loại cây lấy củ, hạt như: Khoai tây, khoai lang, cây đậu đỗ và các loại cây công nghiệp ngắn ngày
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Diện tích khoảng 6.546 ha, chiếm 1,71% diện tích đất tự nhiên Loại đất này phân bố chủ yếu ở các thung lũng nhỏ, kẹp giữ các dãy núi Đây là loại đất được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất nên thường có độ phì khá, rất thích hợp với các loại cây trồng như: Ngô, đậu, đỗ và cây công nghiệp ngắn ngày
- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích khoảng 241.358 ha, chiếm 63,13% diện tích đất tự nhiên Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất trong các nhóm đất ở Bắc Giang Loại đất này thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng tùy theo mẫu chất, quá trình phong hóa và quá trình tích lũy hữu cơ
- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Diện tích 1.008 ha, chiếm 0,27% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở các ngọn núi cao giáp dãy núi Yên Tử và giáp tỉnh Thái Nguyên
- Nhóm đất xói mòn: Diện tích khoảng 18.809 ha, chiếm 4,92% diện tích đất tự nhiên Loại đất này có đặc điểm là tầng đất mỏng, độ phì kém, khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
Đất của khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ được hình thành trên phức hệ trầm tích, gồm các loại đá mẹ chính: sa thạch, phiến thạch sét, cuội kết và phù
sa cổ Đất củ yếu là Feranit hình thành trên các loại đá, có tầng đất từ trung bình cho đến dày hàm lượng mùn cao và rất giàu chất dinh dưỡng
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có khoảng 668,46 ha núi đá bằng 0,17% diện tích đất tự nhiên; khoảng 20.796 ha đất ao, hồ, chiếm khoảng 5,44% diện tích
đất tự nhiên
3.1.6.Tài nguyên rừng
Bắc Giang có rừng gỗ với nhiều loại cây (lim, lát, sến, dẻ) và các dải rừng tre nứa ở Sơn Động, Yên Thế Đến nay trên địa bàn Bắc Giang có 83,5
Trang 37nghìn ha rừng tự nhiên (rừng sản xuất 58,9 nghìn ha, rừng phòng hộ 19,1 nghìn
ha, rừng đặc dụng 5,5 nghìn ha) và 41,2 nghìn ha rừng trồng Trữ lượng gỗ cây đứng khoảng 2,9 – 3,5 triệu m3
và 458 triệu cây tre nứa Trong rừng còn có các loại cây đặc sản, thảo dược như thong, trầm, ba kích, sa nhân, đẳng sâm…Để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, cần hoàn thành công tác giao đất, khoán rừng và khai thác hợp lý theo quan điểm bền vững
- Rừng nguyên sinh Khe Rỗ ở xã An Lạc huyện Sơn Động, có diện tích
7153 ha nằm trong 3 khu vực Khe Rỗ, Khe Đin và Khe Nước Vàng Rừng tự nhiên Khe Rỗ thuộc loại rừng nguyên sinh nhiệt đới, thường xanh với 2 kiểu chính là: Rừng rậm thưòng xanh trên chân sườn đỉnh núi thấp với 8 quần xã thực vật và rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, lá kim á nhiệt đới núi thấp, trên sườn đỉnh núi cao, với 3 quần xã thực vật và những loài cây như : lim xanh, táu mật, gụ lan, pơmu, thông tre, thông nàng … là những loài cây đặc trưng cơ bản cho rừng Khe Rỗ Rừng trong khu Bảo tồn có 786 loài thực vật, thuộc 496 chi và 166 họ, được đánh giá là nơi có sự đa dạng về loài, đa dạng về các chi, các họ thực vật Trong số các loài thực vật đó có 43 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam Điển hình nhất là các loại cây như pơ mu, thông tre, thông nàng, chò chỉ, kim giao, trầm hương, lát hoa …Rừng nguyên sinh Khe Rỗ được đánh giá là nơi có nhiều loài thực vật quý hiếm nhất của vùng Đông Bắc Việt Nam
3.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU:
3 2.1 Dân số, dân tộc
Sơn Động là một huyện có có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Giang Toàn huyện có 21 xã và 2 thị trấn với 178 thôn, bản, khu phố (trong đó có 14 xã đặc biệt khó khăn )
- Dân số hơn 7,2 vạn người có gồm 18 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh 35.892 người (52,2%), còn lại là các dân tộc thiểu số 32.832 người (47,8%); gồm dân tộc Tày 13.433 người (19,5%), dân tộc Cao Lan và Sán Chí
Trang 388.888 người (12,9%), dân tộc Nùng 5,534 người (8%), dân tộc Dao 3.695 người (5,4%), dân tộc Hoa 984 người (1,4%), dân tộc Sán Dìu 166 người (0,26%) Còn 11 dân tộc khác có số dân từ 1 đến 39 người: Hmông, Thái, Mường, Khơ me, Giáy, Ê đê, Thổ, Khơ mú, Hà nhì, Lào, Mảng
- Mật độ dân số trung bình của huyện là 81 người/km2 Dân số phân bố không đều, thị trấn An Châu và các xã An Lập, Chiên Sơn, Quế Sơn có mật độ dân số cao, các xã Thạch Sơn, An Lạc dân cư thưa thớt Các làng của người Kinh, người Tày, người Nùng thường tập trung đông hơn và phân bố dọc theo các trục đường giao thông, ven các chợ, các trung tâm xã Các thôn bản của người Dao, Sán Chí thường thưa thớt và nằm rải rác trong các vùng sâu, vùng
xa của huyện Tỷ lệ hộ nghèo là 68%
3.2.2 Hoạt động nông - lâm nghiệp
Đất đai của huyện khá đa dạng, phong phú với nhiều loại đất được phân
bố ở cả địa hình bằng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ sinh thái nông - lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng có giá trị, từ cây lương thực như lúa và rau màu trên các dải đất phù sa dọc theo các sông suối, đến việc khai thác đất dốc trồng các loại cây ăn quả và cây lấy gỗ Sơn Động có 59.273 ha rừng (năm 2010), trong đó diện tích rừng tự nhiên có 38.675 ha, diện tích rừng trồng có 20.598 ha Rừng tự nhiên phân bố chủ yếu ở các xã An Lạc, Vân Sơn, Hữu Sản, Dương Hưu, thị trấn Thanh Sơn, Tuấn Mậu, Thanh Luận, Bồng Am, Tuấn Đạo Đặc biệt trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, thảm thực vật rừng
có độ che phủ lớn (68%), chủ yếu là các loài cây bản địa và các loại gỗ quý như lim, lát, pơmu, thông tre, sến, táu, dẻ Diện tích rừng trồng ngày càng tăng với các Chương trình 327, Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Dự án khu bảo tồn thiên nhiên tây Yên Tử do đó diện tích rừng ở các vùng dự án ngày càng phát triển, không chỉ góp phần nâng độ che phủ của rừng, giữ gìn môi sinh, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học mà còn phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế từ rừng, cải thiện cuộc sống người dân
Trang 393.2.3 Giao thông, thuỷ lợi
Mạng lưới giao thông của huyện chủ yếu là đường bộ, được phân bố tương đối hợp lý Toàn huyện có 1142km đường bộ (năm 2010), gồm: Đường quốc lộ có hai tuyến dài 65km, trong đó Quốc lộ 31 (trước đây là quốc lộ 13B)
từ Cẩm Đàn qua thị trấn An Châu đến Hữu Sản sang Lạng Sơn dài 38km, Quốc
lộ 279 từ thị trấn An Châu đi Quảng Ninh dài 27km Đường tỉnh lộ có 2 tuyến: Đường 291 có điểm đầu tại ngã ba Yên Định, điểm cuối ở Nhà máy Nhiệt điện Đồng Rì, dài 23km; Đường 293 (đoạn qua Sơn Động) từ khu vực Đèo Bụt (xã Tuấn Mậu) nối với Quốc lộ 279 ở chân đèo Hạ Mi (xã Long Sơn), dài 21km Đường tuyến huyện có tổng chiều dài 96km Đường tuyến xã có tổng chiều dài
202km Đường tuyến thôn, bản, nội đồng có tổng chiều dài 735km
Sông suối trong huyện chiếm 1,53% diện tích tự nhiên (1.292 ha) Trên địa bàn huyện có một sông chính chảy qua, đó là sông Lục Nam
Mật độ sông suối của huyện khá dầy, nhưng phần lớn là đầu nguồn nên lòng sông, suối hẹp, độ dốc lớn, lưu lượng nước hạn chế, đặc biệt về mùa khô
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 TÍNH ĐA DẠNG CỦA THẢM THỰC VẬT VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHỮNG QUẦN HỆ THỰC VẬT CHÍNH TRONG KHU VỰC
Thảm thực vật rừng tự nhiên Khe Rỗ tương đối đa dạng, trong đó có hai quần xã rừng nguyên sinh đặc trưng cho khu vực Đông Bắc Việt Nam là kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng mưa mùa trên đất thấp và kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, cây lá kim trên núi thấp với nhiều quần xã thực vật trong hai kiểu rừng này
4.1.1 Lớp quần hệ rừng kín (Closed forest)
4.1.1.1 Quần hệ rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa ở địa hình thấp ≤ 300m
a Phân quần hệ cây lá rộng
+ Rừng thường xanh lá rộng ít bị tác động, tập trung chủ yếu ở khu bảo
vệ nghiêm ngặt của phân ban Khe Rỗ Thành phân loài phong phú có họ Giẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cam (Rutaceae), họ Hồng quang (Hamamelidaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Na (Annonaceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Côm (Elaeocarpaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Dung (Symplocaceae), họ Ban (Hypericaceae), … ở phân quần hệ này gặp các ưu hợp
Ưu hợp Chò chỉ (Parashorea chinensis), tầng ưu thế sinh thái là chò chỉ (Parashorea chinensis) mọc chung với lim xanh (Erythrophleum fordii), chò nâu (Dipterocarpus retusus) Ngoài ra còn gặp rải rác các loài thuộc họ Giẻ
(Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Bứa (Clusiaceae)
Ưu hợp Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Đây là ưu hợp gần như thuần loài, tầng ưu thế sinh thái là chò chỉ (Parashorea chinensis) mọc rải rác có lim