TBDH là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, được xem như một trong những điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giáo dục như Nghị quyết số 40/20002/QH X ngày 9 tháng 12 năm 2000 củ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRANG NHUNG
QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRANG NHUNG
QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI VĂN QUÂN
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trang Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn, em xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo khoa Tâm lí giáo dục, các cán bộ Khoa sau Đại học, Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ em trong thời gian học tập và viết luận văn
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học - PGS.TS Bùi Văn Quân người đã tận tình định hướng, chỉ dẫn giúp
đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo, chuyên viên phòng Giáo dục Trung học Sở GD & ĐT Hải Phòng, đã khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả luận văn kính mong được sự chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo và góp ý kiến thêm của các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trang Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lí 9
1.2.2 Quản lí giáo dục 13
1.2.3 Quản lí nhà trường 16
1.2.4 Thiết bị dạy học 18
1.2.4.1 Khái niệm thiết bị dạy học 18
1.2.4.2 Phân loại thiết bị dạy học 19
1.2.5 Quản lí TBDH 20
1.3 Vị trí và vai trò của TBDH và quản lí TBDH trong trường THPT 21
Trang 61.4 Nội dung quản lí TBDH ở trường THPT 26
1.4.1 Quản lý trang bị và tái trang bị TBDH 26
1.4.2 Quản lý bảo quản TBDH 28
1.4.3 Quản lý sử dụng TBDH 29
Kết luận chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 35
2.1 Vài nét về địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 35
2.1.1.Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 35 2.1.2.Tình hình phát triển giáo dục của huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 35 2.1.3 Tình hình giáo dục của các trường THPT huyện An Dương 37
2.1.3.1 Về quy mô trường lớp 37
2.1.3.2 Về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 38
2.1.3.3 Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên 40
2.1.3.4 Chất lượng giáo dục của các trường THPT 42
2.2 Thực trạng TBDH tại các trường THPT huyện An Dương, thành phố Hải Phòng 44
2.2.1 Thực trạng về trang bị, tái trang bị TBDH 44
2.2.2 Thực trạng về sử dụng TBDH 53
2.2.3 Thực trạng về bảo quản TBDH 55
2.3 Thực trạng quản lí TBDH ở các trường THP huyện An Dương thành phố Hải Phòng 58
2.3.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NVTB, HS, PHHS về vai trò của quản lý TBDH trong nhà trường 58
2.3.3 Thực trạng về quản lí trang bị và tái trang bị TBDH 60
2.3.4 Thực trạng về quản lí sử dụng và bảo quản TBDH 61
2.3.5 Thực trạng quản lí nâng cao năng lực, tạo điều kiện cho CB, GV, NV tham gia quản lí TBDH 62
Trang 72.4 Đánh giá thực trạng TBDH và QL TBDH của các trường THPT huyện
An Dương 64
2.4.1 Ưu điểm 64
2.4.2 Tồn tại 65
2.4.3 Nguyên nhân tồn tại 66
Kết luận chương 2 67
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC CỦA CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 68
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 68
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp 68
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp 68
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 68
3.2 Các biện pháp quản lí TBDH của các trường THPT huyện An Dương thành phố Hải Phòng 69
3.2.1 Biện pháp 1: Thường xuyên nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, NVTB, HS, PHHS về vai trò TBDH và QL TBDH 69
3.2.1.1 Mục tiêu biện pháp 69
3.2.1.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 69
3.2.1.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 72
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng máy quản lí TBDH và tổ chức để bộ máy hoạt động hiệu quả 72
3.2.2.1 Mục tiêu biện pháp 72
3.2.2.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 72
3.2.2.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 73
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới quản lí trang bị và tái trang bị TBDH 74
3.2.3.1 Mục tiêu biện pháp 74
3.2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 74
3.2.3.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 76
Trang 83.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo tăng cường sử dụng TBDH một cách linh hoạt,
hiệu quả 77
3.2.4.1 Mục tiêu biện pháp 77
3.2.4.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 77
3.2.4.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 81
3.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng và triển khai thực hiện các quy định bảo quản TBDH phù hợp thực tiễn của trường THPT 81
3.2.5.1 Mục tiêu biện pháp 81
3.2.5.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 82
3.2.5.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 84
3.2.6 Biện pháp 6: Tạo động lực thúc đẩy QL TBDH 85
3.2.6.1 Mục tiêu biện pháp 85
3.2.6.2 Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp 85
3.2.6.3 Điều kiện thực hiện biện pháp 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý TBDH các trường THPT huyện An Dương 88
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 89
3.4.1 Ý kiến đánh giá của chuyên gia về các biện pháp đề xuất 89
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Khuyến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC
Trang 9CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả thống kê quy mô trường lớp, HS các trường THPT 37
Bảng 2.2 Kết quả thống kê CSVC và TBDH hiện có của các trường THPT 38
Bảng 2.3 Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ CBQL 40
Bảng 2.4 Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ giáo viên 41
Bảng 2.5 Kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực của học sinh năm học 2012 - 2013 42
Bảng 2.6: Điểm chuẩn vào lớp 10 và kết quả thi tốt nghiệp của 2 trường THPT trong 3 năm từ 2010-2011 đến 2012-2013 43
Bảng 2.7: Thống kê số học sinh đoạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi thành phố từ năm học 2010-2011đến năm học 2012-2013 44
Bảng 2.8: Nhận thức của CBQL và GV, NV về mức độ trang bị số lượng TBDH theo danh mục TBDH quy định 45
Bảng 2 9: Nhận thức của CBQL và giáo viên, nhân viên về chất lượng của TBDH hiện có 46
Bảng 2.10: Nhận thức của CBQL và GV, NV về tính đồng bộ của TBDH hiện có 48
Bảng 2.11 Nhận thức của CBQL và GV, NV về mức độ đáp ứng nhu cầu sử dụng của TBDH hiện có 49
Bảng 2.12: Nhận thức của CBQL và GV, NV về số lượng TBDH tự làm 51
Bảng 2 13: Nhận thức của CBQL và GV, NV về chất lượng TBDH tự làm 51
Bảng 2.14 Nhận thức của CBQL, GV và HS về phong trào tự làm TBDH của GV và hướng dẫn HS làm TBDH 53
Bảng 2.15 Nhận thức của CBQL, GV và HS về mức độ sử dụng các loại TBDH của GV trong giảng dạy 54
Bảng 2 16: Nhận thức của CBQL và GV và HS về kỹ năng sử dụng TBDH của GV 55
Bảng 2 17: Nhận thức của CBQL và GV và HS về tính cần thiết và mức độ thực hiện việc bảo quản TBDH của CB, GV, NV, HS 56
Trang 11Bảng 2 18: Nhận thức của CBQL và GV, NV về kho, phương tiện bảo quản TBDH 57 Bảng 2.19 Nhận thức của các đối tượng về vai trò và mức độ cần thiết
của QL TBDH 58 Bảng 2 20: Nhận thức của các đổi tượng về tính cần thiết và mức độ thực
hiện biện pháp nâng cao nhận thức về vai trò của TBDH và QL TBDH trong nhà trường 59 Bảng 2.21: Nhận thức của CB, GV, NV về mức độ thực hiện nguồn kinh
phí trang bị TBDH 60 Bảng 2.22: Nhận thức của CB và GV, NV về tính cần thiết và mức độ
thực hiện quản lí việc sử dụng TBDH 61 Bảng 2 23: Nhận thức của CB và GV, NV về tính cần thiết và mức độ
thực hiện quản lí bảo quản TBDH 62 Bảng 2.24: Nhận thức của CB và GV, NV về tính cần thiết và mức độ
thực hiện biện pháp nâng cao năng lực và điều kiện QL TBDH 63 Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp đề xuất 90
Trang 12DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học 24
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp QL TBDH của HT 88 Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất 93
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục và Đào tạo là vấn đề đặc biệt quan tâm của mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc Sự nghiệp phát triển giáo dục luôn được Đảng và nhà nước ta coi trọng, được đánh giá là quốc sách hàng đầu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: "Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” [1]
Bước vào thế kỉ thứ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và xã hội tri thức đã đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam những thách thức lớn phải đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, nghề nghiệp trong khu vực cũng như quốc tế; phải đào tạo được con người toàn diện, có khả năng hoà nhập và cạnh tranh quốc tế; đặc biệt là con người có năng lực hành động, tính sáng tạo và năng động, tính tự lực và tự chịu trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực
giải quyết các vấn đề phức hợp, khả năng học tập suốt đời
Vì vậy, đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải tiến hành đổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung, chương và phương pháp dạy học Trong đó đổi mới phương
Trang 14pháp dạy học là trọng tâm: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện dạy học vào quá trình dạy học”
Thiết bị dạy học (TBDH) là phương tiện đặc biệt quan trọng quyết định đến việc đổi mới phương pháp dạy học Nó là một bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy và trò cùng sử dụng TBDH có khả năng to lớn giúp cho việc tổ chức hoạt động của học sinh theo hướng tích cực, chủ động góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
TBDH là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, được xem như một trong những điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giáo dục như Nghị quyết số 40/20002/QH X ngày 9 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam nhấn mạnh: “Đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lí giáo dục”
Do đó, trong quá trình quản lí nhà trường đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lí giáo dục nói chung và công tác quản lí trang thiết bị dạy học nói riêng
Quản lí TBDH làm cho TBDH có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đã vạch ra là khâu quan trọng trong quản lí chung của nhà trường
Quản lí TBDH là một trong những nội dung quản lý nhà trường của hiệu trưởng, nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH Quản lý hiệu quả TBDH góp phần to lớn trong việc đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học, đưa việc dạy và học đến một tầm chất lượng mới đáp ứng đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã đầu tư tăng cường CSVC-TBDH cho các nhà trường nhằm xây dựng CSVC-TBDH của nhà
Trang 15trường thành một hệ thống hữu hiệu do đó TBDH trong các nhà trường ngày càng được trang bị nhiều hơn Tuy nhiên việc quản lí, sử dụng TBDH sao cho
có hiệu quả cao nhất vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn như nguồn kinh phí ít, bổ sung không đồng đều, không đồng bộ, chưa thường xuyên, chưa khoa học; khả năng và nhu cầu sử dụng của giáo viên ít; công tác chỉ đạo, quản lí sử dụng và bảo quản chưa thật sự được quan tâm sát sao Vì vậy mà việc nghiên cứu biện pháp quản lý TBDH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH là vấn đề mà các nhà trường cần phải quan tâm nhiều hơn, đặc biệt
là trường THPT, nhà trường mà mọi hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách của nhà nước
Thời gian qua đã có một số nhà khoa học, một số thạc sỹ đã chú ý nghiên cứu về vấn đề quản lý CSVC- TBDH nhưng chủ yếu đi sâu về lý luận, cách sử dụng thiết bị dạy học nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu việc quản lí thiết bị dạy học nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học đặc biệt là địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này nên tôi chọn đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Quản lý giáo dục của mình là: “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường
THPT huyện An Dương thành phố Hải Phòng” nhằm nghiên cứu thực trạng
quản lý TBDH đạt kết quả và đưa chất lượng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng ngày càng phát triển hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục tại các cơ sở giáo dục
và đánh giá thực trạng quản lý thiết bị dạy học, đề tài luận văn đề xuất một số giải pháp quản lý TBDH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT huyện An Dương Thành phố Hải Phòng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn quản lý thiết bị dạy học của
hiệu trưởng ở các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lí TBDH ë các trường THPT huyÖn
An D-¬ng, thµnh phè H¶i Phßng
Trang 164 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác quản lí TBDH ở các trường THPT huyện
An Dương thành phố Hải Phòng đã đạt được kết quả đáng khích lệ tuy nhiên các biện pháp quản lý vẫn còn nhiều hạn chế Nếu đề xuất và sử dụng đồng bộ các biện pháp quản lý theo hướng tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học đi đôi với việc nâng cao tính pháp chế trong kế hoạch hóa đầu tư, sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ chuyên trách quản lý thiết bị dạy học thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH và có cơ sở tạo nên sự hiện thực, tình khả thi cho việc triển khai các biện pháp này vào thực tiễn giáo dục tại các trường THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lí TBDH, sử dụng thiết bị dạy học
trong các hình thức tổ chức dạy học ở các trường THPT huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng TBDH, quản lí TBDH các trường THPT
huyện An Dương thành phố Hải Phòng
5.3 Đề xuất biện pháp quản lí TBDH nhằm nâng cao hiệu quả TBDH tại các
trường THPT huyện An Dương thành phố Hải Phòng
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lí TBDH ở các trường THPT 6.2 Về địa bàn nghiên cứu: Các trường THPT huyện An Dương thành phố
Hải Phòng
6.3 Về khách thể khảo sát: 2 trường THPT trên địa bàn huyện An Dương
thành phố Hải Phòng Mỗi trường gồm có: HT, PHT, tổ trưởng chuyên môn, ban đại diện CMHS, đại diện học sinh, nhân viên TBDH, giáo viên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống thống, khái quát hóa và so sánh và để:
Trang 17- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nhà trường phổ thông: Luật giáo dục, Điều lệ trường THPT, quy chế về các lĩnh vực GD phổ thông
-Tìm hiểu các nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước về GD&ĐT
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
Các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa và so sánh để:
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nhà trường phổ thông: Luật giáo dục, Điều lệ trường THPT, quy chế về các lĩnh vực GD phổ thông
- Tìm hiểu các nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước về GD&ĐT
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát: Dùng để thu thập những số liệu thực tế từ các tíêt
dạy có sử dụng TBDH
7.2.2.Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dùng để điều tra thực trạng tình
hình kinh tế, xã hội, giáo dục; thực trạng sử dụng, thực trạng quản lí
7.2.3 Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm: Dùng để phân tích đánh
giá về thực trạng tình hình kinh tế, xã hội, giáo dục của địa phương; đánh giá thực trạng quản lí TBDH ở các trường THPT huyÖn An D-¬ng thµnh phè H¶i Phßng
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Dùng để điều tra thực trạng quản lí
TBDH tại các trường THPT, đề xuất các giải pháp quản lí TBDH
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng các
công thức toán thống kê để định lượng các kết quả thu được, rút ra các nhận xét
khoa học cho đề tài
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn cấu trúc gồm
3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học ë c¸c tr-êng THPT huyÖn An D-¬ng thµnh phè H¶i Phßng
Trang 18Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ë c¸c tr-êng THPT huyÖn
An D-¬ng thµnh phè H¶i Phßng
Chương 3: Biện pháp tăng cường quản lý thiết bị dạy học ë c¸c tr-êng THPT huyÖn An D-¬ng thµnh phè H¶i Phßng
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lí luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kì triết học: Trực quan trong triết học
cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm, trực quan trong triết học duy vật biện chứng
Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lí, giáo dục học,
lí thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện - thiết bị dạy học trực quan Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tượng
TBDH- phương tiện dạy học trực quan, có vai trò lớn trong quá trình nhận thức của học sinh Theo Lênin quy luật nhận thức của con người là “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”
Theo tài liệu của Dự án Việt - Úc về đào tạo giảng viện (VAT): Kiến thức thu được qua nghe là 11%, qua nhìn là 81%, qua các giác quan khác là 9% Kiến thức nhớ được qua nghe là 20%, qua nhìn là 30%, qua nghe và nhìn
là 50%, qua nói là 80%, qua nói và làm là 90%
Đối với Việt Nam, việc đầu tư CSVC-TBDH đặc biệt được Đảng và Nhà nước quan tâm, từ những năm 1960 Bộ giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành tiêu chí TBDH từ mẫu giáo đến phổ thông, đến 2000 đã chính thức ban hành quy chế thiết bị giáo dục, đến 2010 chính thức ban hành danh mục thiết bị tối thiểu đối với các nhà trường
Đối với các trường THPT, từ năm học 2006-2007, tiến hành chương trình cải cách sách giáo khoa đại trà đã được Nhà nước đầu tư cấp phát trang
Trang 20thiết bị dạy học với số lượng lớn Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng TBDH của giáo viên chưa đạt hiệu quả do nhiều hạn chế về chất lượng TBDH, kĩ năng sử dụng của giáo viên, biện pháp quản lí của cán bộ quản lí
Chính vì vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về xây dựng hệ thống CSVC
và việc sử dụng TBDH, quản lí TBDH nhằm tìm ra những biện pháp quản lý hiệu quả TBDH nâng cao đào tạo, gắn lý thuyết với thực hành Vấn đề này có thể điểm một số công trình như:
"Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH đáp ứng yêu cầu giáo dục đào tạo trong tình hình mới" của Trần Quốc Đắc năm 2001
Năm 2005, chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết
bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên và Trung tâm học tập cộng đồng”.Mã số B2004-53-17
Năm 2006, đề tài luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp quản lí CSVC và thiết bị trường học của hiệu trưởng các trường THCS huyện miền núi Sơn Dương- Tuyên Quang” của tác giả Nguyễn Thị Huế
Năm 2008, đề tài luận văn thạc sỹ: “Biện pháp quản lí phương tiện dạy học của hiệu trưởng các trường Tiểu học quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phan Kim Anh
Một số luận văn Thạc sĩ và Tiến sĩ trong những năm gần đây đã chú ý nghiên cứu vấn đề TBDH về quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở các cấp học các bậc học
Hiện nay, ở nước ta TBDH còn thiếu so với yêu cầu, vì vậy vấn đề đặt ra cho những nhà quản lý giáo dục nói chung là cần thiết phải nghiên cứu thực trạng đơn vị mình, kế hoạch đầu tư, mua sắm TBDH và quản lý sử dụng hiệu quả TBDH phù hợp với điều kiện vùng miền và địa phương Các công trình trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến quản lý TBDH Tuy nhiên, cho đến nay việc nghiên cứu vấn đề quản lí TBDH tại các trường THPT
Trang 21còn ít công trình, chính vì vậy mà tác giả đã tiến hành nghiên cứu về việc quản
lý TBDH ở các trường THPT huyÖn An D-¬ng thµnh phè H¶i Phßng để từ đó
đề xuất biện pháp quản lí TBDH góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH
và nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường THPT tại huyện nhà
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lí
Trong lịch sử phát triển của xã loài người, hoạt động quản lí đã xuất hiện
từ rất sớm Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập trung sức lực để tự vệ hoặc lao động kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển đối với họ Những hoạt động đó xuất hiện, tồn tại và phát triển như một yếu tố khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động chung của con người đạt được kết quả mong muốn
Đó chính là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động QL
Khi nghiên cứu về cơ sở quản lí, Các Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân
và hiện thực những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó” Như vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định - được gọi là hoạt động quản lý
Do đó, Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện và phát triển cùng với
sự phát triển của xã hội loài người Quản lí là nhân tố khách quan được ra đời
từ bản thân nhu cầu của con người trong mỗi chế độ xã hội và không thể thiếu được trong đời sống con người Quản lí là một phạm trù tồn tại khách quan và
là một tất yếu lịch sử
Ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau có thể đưa ra các quan niệm khác nhau
về quản lí:
Trang 22Theo quan điểm triết học: Quản lí được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ thể và khách thể để đạt được mục tiêu đề ra
Theo quan điểm kinh tế học: Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất
Theo quan điểm lí thuyết hệ thống: Quản lí là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy tắc, ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu
Theo quan điểm của điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ
có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kĩ thuật ) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lí là một tác động hợp quy luật khách quan làm cho hệ vận hành và phát triển
Các nhà lí luận quản lí quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor(Mỹ), Henri Fayol(Pháp), Max Weber(Đức) đều khẳng định: Quản lí là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Quan niệm về quản lí của một số nhà khoa học Việt Nam:
Quản lí là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ
Quản lí là sự tác động có mục đích, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Quản lí là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
Quản lí là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế-xã hội
Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí và khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Trang 23Quản lí là quá trình đạt mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Phân tích các định nghĩa trên chúng ta thấy nội hàm khái niệm quản lí gồm các nội dung sau đây:
Quản lí là hoạt động thiết yếu của một tổ chức, một nhóm xã hội
Quản lí là hoạt động đưa tổ chức tiến đến mục tiêu dự kiến thông qua
sự nỗ lực cố gắng của các cá nhân trong tổ chức
Quản lí là những tác động có hướng đích, có mục tiêu cụ thể và phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí
Quản lí là các hoạt động lựa chọn, tổ chức, khai thác tối ưu các nguồn lực và các tác động nhằm phát huy, phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân trong việc đưa tổ chức tiến đến mục tiêu chung
Các định nghĩa khác nhau về mặt diễn đạt nhưng đều giống nhau ở những nội dung cơ bản: Quản lí phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:
Phải có ít nhất một chủ thể quản lí là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một đối tượng bị quản lí tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản
lí và các khách thể khác chịu tác động gián tiếp của chủ thể quản lí
Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
Chủ thể phải thực hành việc tác động
Chủ thể quản lí có thể là một hoặc nhiều người còn đối tượng bị quản lí
có thể là một hoặc một nhóm người
Với cách hiểu như vậy thì quản lí là một hệ thống gồm 3 thành tố cơ bản:
Chủ thể quản lý: là nơi đưa ra những tác động có mục đích, phù hợp với
quy luật chung đến đối tượng quản lí nhằm phối hợp những nỗ lực của các cá nhân nhằm đưa tổ chức tiến đến mục tiêu Chủ thể quản lí có thể là cá nhân hoặc tập thể
Đối tượng quản lý: là nơi chịu tác động và thay đổi dưới những tác
động có mục đích của chủ thể quản lí Đối tượng quản lí bao gồm con người trong tổ chức và các nguồn lực khác trong và ngoài tổ chức
Trang 24Mục tiêu quản lý: là hình ảnh mong muốn của tổ chức trong tương lai,
trong một giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể, là trạng thái cần có của tổ chức để ổn
định và phát triển
Trong quan hệ quản lí, giữa chủ thể và khách thể thường xuyên tồn tại các mối quan hệ qua lại, với những tác động có tính tương hỗ lẫn nhau Chủ thể quản lí tạo ra các tác động quản lí, còn khách thể quản lí thì tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục tiêu của quản lí Ngày nay, quản lí được coi là một trong năm nhân tố cho phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lí; trong đó quản lí đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định cho sự thành công
Vậy, ta có thể định nghĩa một cách chung nhất về quản lí như sau:
Quản lý là các tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xác định
Từ đó có thể đi đến khái quát: Quản lí là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lí phải bằng cách nào đó
để người bị quản lí luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội
Quá trình quản lí là quá trình hoạt động của chủ thể quản lí nhằm thực hiện hệ thống các chức năng quản lí (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) để đưa hệ thống quản lí tới mục tiên đã dự kiến Trong đó:
Chức năng kế hoạch hoá: Việc lập kế hoạch cần quyết định xem phải
làm gì, làm như thế nào, làm khi nào và ai làm Lập kế hoạch là hoạt động suy tính trước mọi công việc, đòi hỏi sự bàn bạc cân nhắc của nhiều người, có nhiều người tham gia suy nghĩ thì ý thức tập thể và tinh thần trách nhiệm chung càng được nâng cao Nó là cơ sở đảm bảo cho quá trình QL đạt hiệu quả cao
Trang 25Tóm lại, lập kế hoạch là xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định các bước đi để tiến đến mục tiêu, xác định nguồn lực và các biện pháp để thực hiện mục tiêu
Chức năng tổ chức: Gồm 2 nội dung là tổ chức bộ máy và tổ chức công việc:
Tổ chức bộ máy là sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu
và các nhiệm vụ đảm nhận Tổ chức bộ máy phải phù hợp về cấu trúc, cơ chế hoạt động, phải đủ khả năng để đạt mục tiêu Công việc tổ chức bộ máy là phân chia tổ chức thành các bộ phận thực hiện các chức năng cụ thể và xây dựng cơ chế phối hợp, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận nhằm đạt được
sự đồng bộ trong hoạt động
Tổ chức công việc là sắp xếp công việc hợp lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng để mọi người hướng vào mục tiêu chung
Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là sự tác động đến con người bằng các mệnh
lệnh, giao nhiệm vụ, khuyến khích động viên làm cho người được quản lí tự giác, tích cực làm việc đúng kế hoạch và nhiệm vụ được phân công Tạo động lực để con người tích cực hoạt động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng và trách phạt
Chức năng kiểm tra: Là công việc thu thập thông tin ngược để kiểm soát
hoạt động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời những sai sót, lệch lạc đưa tổ chức tiến đến mục tiêu
Trong quản lí người ta chia ra thành 3 cấp: cấp cao, cấp trung và cấp cơ
sở Nhà quản lí dù ở cấp nào cũng đều phải thực hiện cả 4 chức năng quản lí nêu trên, song căn cứ vào tính chất và nhiệm vụ của mỗi cấp quản lí mà tỷ lệ thời gian nhà quản lí phải dành cho các chức năng quản lí không giống nhau: càng ở cấp cao thì tỷ lệ thời gian và công sức dành cho hoạt động kế hoạch hóa càng nhiều hơn, ngược lại ở cấp thấp phải dành tỷ lệ thời gian cho hoạt động chỉ đạo nhiều hơn
1.2.2 Quản lí giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là một hệ thống thành viên trong hệ thống kinh tế xã hội Để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục cần phải có hoạt
Trang 26động quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một dạng của quản lí xã hội với mục tiêu là đưa hệ thống giáo dục hay một bộ phận của nó tiến đến mục tiêu
đã xác định
Về nội dung quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người (trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ) cho nên quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ giáo dục mới tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng
Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất
Quản lí giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lí giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất nhà trường XHCN Việt Nam bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới
Những định nghĩa trên về quản lí giáo dục tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thể hiện quan điểm chung là:
Trang 27Quản lí giáo dục là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lí lên đối tượng bị quản lí
Quản lí giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục tiêu đã đề ra
Trên cơ sở những định nghĩa quản lý giáo dục nói chung và phân tích các định nghĩa trên, có thể hiểu rằng: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp những nỗ lực của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh để phát triển sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu, quan điểm giáo dục của Đảng
Quá trình quản lí giáo dục là quá trình thực hiện hoá các chức năng của quản lí (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) nhằm đưa hệ thống giáo dục tới các mục tiêu đã đặt ra Trong đó:
Chức năng kế hoạch của quản lí giáo dục là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lí giáo dục vào công tác kế hoạch trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu giáo dục của tổ chức
Chức năng tổ chức của quản lí giáo dục là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục đề ra
Chức năng chỉ đạo của quản lí giáo dục là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu giáo dục với chất lượng cao
Chức năng kiểm tra của quản lí giáo dục là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động giáo dục đạt tới mục tiêu của tổ chức
Quá trình quản lí giáo dục được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Nhưng trong thực tế các chức năng này đan xen,
Trang 28hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện tạo thành quá trình quản lí giáo dục nhờ
các chất xúc tác và liên kết là thông tin quản lí và quyết định quản lí
Trong quá trình quản lí giáo dục mối liên hệ giữa thông tin quản lí giáo
dục với các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra; mối liên hệ giữa
chức năng kế hoạch với chức năng tổ chức; mối liên hệ giữa chức năng tổ chức
với chức năng chỉ đạo, mối liên hệ giữa chức năng chỉ đạo với chức năng kiểm
tra là mối liên hệ thuận và tác động trực tiếp; còn mối liên hệ giữa chức năng
kiểm tra và chức năng kế hoạch là mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi
trong quá trình quản lí giáo dục
1.2.3 Quản lí nhà trường
Quản lý giáo dục có thể chia làm hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô Quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lí cả hệ thống giáo dục bao gốm tất
cả các thành tố của hệ thống trong đó quản lí nhà trường là trọng tâm Quản lí
nhà trường là thuật ngữ đồng nghĩa với quản lí giáo dục ở cấp vĩ mô Nó là
những tác động quản lí diễn ra trong phạm vĩ nhà trường
Quản lý tác nghiệp giáo dục là quá trình hành nghề quản lí giáo dục mà
đơn vị tác nghiệp trực tiếp trong giáo dục là nhà trường
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì Quản lý nhà trường (Việt Nam) là thực
hiện quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng (trong phạm vi trách nhiệm)
trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức thực hiện các
nguồn lực và những tác động của chủ thể quản lý đến các thành tố của quá trình
giáo dục diễn ra trong nhà trường, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục - mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ.[16]
Tác giả Phạm Viết Vượng quan niệm: Quản lý nhà trường là hoạt động
của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên,
học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn
lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường [39]
Nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân
lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội, hoạt động trong tính quy định
Trang 29của xã hội theo những dấu hiệu phân biệt: tính mục đích tập trung; tính tổ chức
và kế hoạch cao; tính hiệu quả giáo dục và đào tạo nhờ quá trình truyền thụ có ý thức; tính biệt lập tương đối; tính chuyên biệt cho từng đối tượng
Trường học là một tổ chức tập hợp những con người (giáo viên, nhân viên, học sinh) mà hoạt động của họ đều nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, điều đó tạo cho họ một sự liên kết chặt chẽ cơ chế hoạt động theo tính quy luật
cả khách quan, cả chủ quan và cả hoạt động quản lí của chính bản thân giáo viên và học sinh.Trong nhà trường giáo viên và học sinh không những là khách thể mà còn là chủ thể quản lí Với tư cách là khách thể quản lí, giáo viên và học sinh là đối tượng tác động của chủ thể quản lí là Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Với tư cách là chủ thể quản lí, giáo viên và học sinh là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lí và biến toàn bộ hệ thống thành hệ tự quản
Quản lí nhà trường là quá trình hoạt động nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tiến đến trạng thái có chất lượng mới cao hơn và ổn định Quản lí nhà trường chủ yếu là tác động đến tập thể giáo viên và học sinh
để tổ chức và phối hợp các hoạt động của họ trong quá trình giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo
Quản lí nhà trường là quá trình nắm vững các văn bản pháp quy, thực trạng nhà trường về cán bộ giáo viên và các điều kiện vật chất, các thông tin về môi trường từ đó lựa chọn, sắp xếp, hướng dẫn thực hiện các quyết định quản lí theo một phương án tối ưu nhằm giúp cho các đối tượng quản lí vận động hướng tới việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường
Quản lí nhà trường bao gồm:
Quản lí của các cấp quản lí vĩ mô đối với trường học đó là cơ quan quản lí nhà nước ở địa phương nơi trường đóng và cơ quan quản lí trực tiếp về chuyên môn của ngành Hoạt động của các cơ quan quản lí cấp trên phải hướng
về trường học, lãnh đạo trường học, tạo điều kiện cho trường học hoạt động được thuận lợi và có hiệu quả, chỉ đạo sát sao và kiểm tra đánh giá hoạt động của trường học
Trang 30Quản lí trực tiếp trường học về các mặt: Quản lí quá trình giáo dục và đào tạo; quản lí trường sở, TBDH; quản lí hành chính; quản lí tài chính; quản lí nhân sự (cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh); quản lí môi trường giáo dục
Có thể khái quát: Quản lí trường học/ nhà trường là hoạt động của các
cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Quản lý nhà trường là vận hành quá trình giáo dục trong nhà trường theo quan điểm đường lối giáo dục của Đảng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của nhân dân, phát triển nhân cách toàn diện cho người học đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Quản lí nhà trường là quản lí hệ thống sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lí trên tất cả các mặt của đời sống của nhà trường Như vậy, quản lí nhà trường thực chất là quản lí lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học; là quản lí tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản lí (đối với giáo viên) và tự quản lí (đối với học sinh) trong quá trình dạy - học Đồng thời, quản lí nhà trường còn bao gồm quản các công việc khác có tính chất điều kiện như: đội ngũ, tổ chức hoạt động của các đoàn thể trong trường, CSVC, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
1.2.4 Thiết bị dạy học
1.2.4.1 Khái niệm thiết bị dạy học
Trong trường học, hệ thống cơ sở vật chất và thiết bị dạy học có chức năng sử dụng cho mục đích giáo dục và đào tạo được gọi là hệ thống cơ sở vật chất sư phạm CSVC và TBDH là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục
Trang 31TBDH là thuật ngữ đại diện cho các cách gọi khác nhau: học cụ, đồ dùng học, thiết bị giáo dục, là một bộ phận của CSVC trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy trò cùng sử dụng
Hệ thống CSVC sư phạm được chia ra là ba bộ phận: Trường sở(nhà cửa, lớp học, sân chơi bãi tập, khuôn viên ); Sách và thư viện trường học; TBDH (máy móc, dụng cụ thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh, tư liệu điện tử ) Cái lõi của CSVC sư phạm trường học chính là TBDH
TBDH là các phương tiện vật chất cần thiết được giáo viên và học sinh
sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục, giảng dạy giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, trong hoạt động khám phá và lĩnh hội tri thức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục để đạt được mục tiêu đề ra
TBDH là các phương tiện phục vụ hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường, được trang bị hoặc do giáo viên tự làm, được chi kinh phí từ nguồn ngân sách; được trang bị từ công tác XHH giáo dục hoặc nhà trường tự mua sắm bằng nguồn kinh phí được phép thu từ phí học sinh hay gia đình học sinh
1.2.4.2 Phân loại thiết bị dạy học
Phân loại theo loại hình là căn cứ vào hình thức tồn tại của đối tượng gồm có mô hình, mẫu vật, vật thật, ấn phẩm, tài liệu nghe nhìn, dụng cụ thí nghiệm, phương tiện hiện đại, hoá chất
Phân loại theo chức năng: TBDH truyền tải thông tin (chứng minh), TBDH luyện tập (thực hành), TBDH kiểm tra (đối chứng), TBDH hỗ trợ (dùng chung), TBDH phục vụ công tác nghiên cứu khoa học
Phân loại theo nguồn gốc xuất sứ hay giá trị: TBDH chính quy, không chính quy, TBDH tự làm, TBDH giá thành hạ
Từ thực tế, có thể khái quát TBDH trong nhà trường được quy định theo danh mục thiết bị tối thiểu được Bộ giáo dục và đào tạo ban hành năm 2010 gồm: Tranh ảnh, bản đồ, lược đồ; Dụng cụ; Mẫu vật; Mô hình; Phần mềm;
Trang 32Băng đĩa; Hoá chất; Thiết bị dùng chung (đầu đĩa, tivi, đài, máy tính, máy chiếu, máy ảnh ) Ngoài ra nhà trường còn có TBDH tự làm
Tuy nhiên, TBDH được sử dụng trong quá trình dạy học và giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu và tính chất của TBDH Như vậy TBDH có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng nó phải cho kết quả khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan, sư phạm, an toàn và giá cả hợp lí, tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại và không nhất thiết là những thiết bị đắt tiền
1.2.5 Quản lí TBDH
Quản lí TBDH là một đối tượng trong quản lí nhà trường Quản lí TBDH làm cho TBDH có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, với phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đã vạch ra là khâu quan trọng nhất trong quản lí nhà trường
Quản lí TBDH là tác động có mục đích của người quản lí nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống TBDH phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo
Nội dung của TBDH mở rộng đến đâu thì tầm quản lí cũng phải mở rộng
và sâu tương ứng TBDH chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục, đào tạo khi được quản lí tốt
Quản lí TBDH là một lĩnh vực vừa mang đặc tính kinh tế- giáo dục vừa mang đặc tính khoa học- giáo dục nên quản lí TBDH một mặt vừa phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lí kinh tế, khoa học vừa phải tuân theo các yêu cầu quản lí chuyên ngành giáo dục
Quản lí TBDH cần tuân thủ theo các nguyên tắc chung:
* TBDH được đầu tư cấp phát, nhà trường tự mua sắm bổ sung hoặc được các tổ chức, cá nhân ngoài nhà trường tặng, biếu phục vụ các hoạt động của nhà trường dù đơn giản hay hiện đại có giá trị kinh tế đề thuộc tài sản của Nhà nước do nhà trường quản lí và hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm theo đúng quy định của Nhà nước TBDH phải được quản lí sử dụng hiệu quả,
Trang 33phục vụ các hoạt động của nhà trường và các hoạt động giáo dục khác theo yêu cầu cấp trên, không sử dụng vào các mục đích khác
* Hàng năm phải có kế hoạch kiểm kê TBDH theo định kì hay kiểm tra bất thường và có trách nhiệm báo cáo, chịu sự quản lí, thanh kiểm tra của cấp trên
* TBDH phải được quản lí bằng hồ sơ sổ sách, có đầy đủ biên bản giao nhận, cập nhật hàng năm, trình bày khoa học, rõ ràng; được phân loại, thống kê theo dõi có tính đến tỷ lệ hao mòn Mua sắm TBDH phải có hợp đồng, hoá đơn chứng từ liên quan
* TBDH bị mất mát, hỏng hóc không sử dụng được, thừa thiếu phải có biên bản, thể hiện trong sổ sách, muốn thanh lí phải có quyết định của cấp có thẩm quyền theo đúng chế độ về quản lí tài chính hiện hành
1.3 Vị trí và vai trò của TBDH và quản lí TBDH trong trường THPT
Hệ thống GDQD nước ta gồm các bậc giáo dục Mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục Đại học Mỗi cấp bậc giáo dục đều có mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp và chương trình giáo dục khác nhau phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí của con người Mỗi cấp bậc giáo dục đều có các loại hình nhà trường khác nhau: công lập, bán công, dân lập, tư thục, cộng đồng, trong xu hướng phát triển ngày nay còn có nhà trường quốc tế
Trường công lập là loại hình nhà trường tương ứng với thiết chế Nhà nước - Xã hội với phần trội thuộc về Nhà nước đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư
Trường công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, bổ nhiệm cán bộ quản lí và gia chỉ tiêu biên chế Nhà nước trực tiếp quản
lí, đầu tư về CSVC, cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
Giáo dục THPT là cấp học nối tiếp cấp THCS thuộc bậc giáo dục phổ thông của hệ thống GDQD Mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp và chương trình giáo dục của cấp học này được quy định rõ trong Luật giáo dục (2005) như sau:
Trang 34* Về mục tiêu giáo dục: Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và
có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
* Về nội dung giáo dục: Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những
nội dung đã học ở THCS, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông Ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
* Về phương pháp giáo dục: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
* Về chương trình giáo dục: Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện
mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học
Trường THPT là cấp học cuối cùng của bậc giáo dục phổ thông có tính chất phổ thông, lao động, kĩ thuật, hướng nghiệp và chuẩn bị nghề Tính hướng nghiệp được thể hiện rõ nét hơn trường THCS Tính chất của trường THPT được thể hiện trong cơ cấu tổ chức, trong toàn bộ hoạt động giảng dạy, giáo dục, học tập và các hoạt động khác của nhà trường
Trường THPT được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Trường THPT bán công, dân lập, tư thục được gọi chung là trường THPT ngoài công lập Trường THPT do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lí
Trường THPT do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND tỉnh hoặc UBND thành phố) quyết định thành lập và Nhà nước trực tiếp quản lí Nguồn
Trang 35đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho chi thường xuyên của nhà trường chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo
Trường THPT thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định Điều lệ trường THPT đã quy định nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường THPT như sau:
* Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của chương trình giáo dục phổ thông
* Quản lí giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên
* Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản
lí học sinh theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo
* Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng
* Huy động, quản lí, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
* Quản lí, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
* Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
* Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục
* Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Quá trình dạy học là quá trình nền móng của quá trình giáo dục ở trường THPT Đề cập đến vai trò của TBDH trong trường THPT là đề cập đến vai trò của TBDH đối với quá trình dạy học
Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau đó là: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh, TBDH Mối quan hệ đó được biểu diễn qua sơ đồ sau:
Trang 36Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học
Mối quan hệ trong sơ đồ cho thấy TBDH là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quá trình dạy học TBDH là cầu nối để giáo viên, học sinh cùng hành động tương hợp với nhau chiếm lĩnh nội dung đào tạo thực hiện mục tiêu đào tạo sử dụng phương pháp đào tạo TBDH là một bộ phận của nội dung
và phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng để nhận thức TBDH cho phép thực hiện nguyên tắc trực quan trong dạy học; Góp phần đảm bảo chất lượng kiến thức theo những đặc trưng cơ bản (Tính chính xác, khoa học; Tính tổng quát; Tính hệ thống; Tính chuyển hoá; Tính thực tiễn, vận dụng được; Tính bền vững); Dạy phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, làm việc; Rèn luyện kĩ năng nhiều mặt cho người học
TBDH có vai trò là công cụ lao động của người giáo viên; là công cụ nhận thức của học sinh; là sự cụ thể hoá nội dung dạy học; vật chất hoá phương pháp đào tạo; tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hoá mục tiêu đào tạo góp phần làm cho quá trình đào tạo có chất lượng, hiệu quả
Quản lí TBDH là hoạt động quan trọng và cần thiết trong quản lí hoạt động dạy và học Quản lí TBDH là một trong những công việc của người cán
bộ quản lí, là đối tượng quản lí trong nhà trường
Mục tiêu
Học sinh Giáo viên
TBDH
Trang 37Hoạt động quản lí TBDH được thực hiện thông qua các chức năng của quản lí: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra với các nội dung của quản lí TBDH đó là: quản lí trang bị và tái trang bị TBDH, quản lí việc sử dụng TBDH, quản lí việc bảo quản TBDH
Theo tác giả Bùi Minh Hiền quản lí TBDH cần tuân thủ nghiêm ngặt bốn nguyên tắc:
* Nguyên tắc về tính mục đích: Khi sử dụng một TBDH nào đó phải xác định được nhiệm vụ của nó theo chương trình học Nếu TBDH không có nhiệm
vụ rõ ràng đối với bài học, đối với chương trình học đang đặt ra trong nhà trường thì không nên sử dụng nó vì điều đó sẽ đem lại các hậu quả tiêu cực về mặt sư phạm
* Nguyên tắc về tính phù hợp: Sử dụng TBDH phải đúng lúc, đúng chỗ
và đủ cường độ Mỗi TBDH có vị trí xác định theo nội dung bài học, người giáo viên phải xác định được phương pháp sử dụng TBDH đó cho phù hợp với tiến trình bài học
* Nguyên tắc về tính kế thừa và phát triển: Các nhà trường cần có kế hoạch sửa chữa, tái trang bị TBDH nhằm tận dụng TBDH cho phù hợp với kế hoạch đào tạo của nhà trường đồng thời cần khai thác tích cực các nguồn có thể
có như vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước, vốn theo phương thức XHH giáo dục, vốn tự có do thành quả lao động của mình để từng bước hiện đại hoá các TBDH và khuyến khích giáo viên, học sinh tự tạo TBDH để bổ sung thêm TBDH TBDH phải phục vụ cho mục tiêu phát huy tính tích cực của người học làm cho khâu thực hành và học gắn liền với nhau TBDH trong nhà trường không chỉ phục vụ cho việc đào tạo nội bộ của nhà trường mà còn phải được phát triển để phát huy ảnh hưởng tới các nhà trường trong đời sống cộng đồng
* Nguyên tắc tuân thủ theo chu trình quản lí: Việc sử dụng TBDH trong nhà trường không chỉ là công việc của giáo viên mà nó liên quan đến người quản lí nhà trường vì vậy việc quản lí TBDH cần tuân thủ theo các bước của
Trang 38chu trình quản lí: Kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, điều hành (chỉ đạo), kiểm tra giám sát (điều chỉnh, phân tích, tổng kết, rút kinh nghiệm) Quản lí TBDH phải phù hợp với bậc học, với điều kiện của từng nhà trường Quản lí TBDH phải đảm bảo tính hai mặt của công tác quản lí Mặt hành chính nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của TBDH trong nhà trường đòi hỏi phải tuân thủ theo các quy định của Nhà nước về quản lí tài sản Mặt chuyên môn nhằm phát huy tiềm năng sẵn có của TBDH để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường đòi hỏi cần động viên, khuyến khích giáo viên trong việc trang
bị, sử dụng, bảo quản TBDH
1.4 Nội dung quản lí TBDH ở trường THPT
1.4.1 Quản lý trang bị và tái trang bị TBDH
Để thực hiện tốt kế hoạch đã xây dựng ngay từ đầu năm học Hiệu trưởng cần thành lập ban TBDH, ban này gồm một Hiệu phó hoặc trực tiếp Hiệu trưởng phụ trách, cùng với cán bộ thư viện, thiết bị và các tổ trưởng chuyên môn, nhiệm vụ của ban TBDH là phải xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch
về công tác TBDH, xem xét các TBDH cần mua sắm và tổ chức cho giáo viên
tự làm hoặc sưu tầm TBDH
* Mua sắm TBDH
Cán bộ phụ trách thiết bị, thư viện giúp Hiệu trưởng hệ thống lại TBDH cần mua sắm, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên Rất cần thiết, cần thiết, chưa cần thiết, sau đó tham khảo giá cả thị trường, tìm hiểu nguồn cung cấp, dự toán kinh phí cần thiết cho từng đợt Hiệu trưởng xem xét lượng kinh phí nhà trường có thể đầu tư là bao nhiêu, cần xin hỗ trợ là bao nhiêu, cần huy động sức dân là bao nhiêu
Hiệu trưởng lập tờ trình, trình Sở Giáo dục - Đào tạo về kế hoạch mua sắm TBDH, xin trợ cấp kinh phí và đề nghị được phép huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh Khi có sự đồng ý của Sở Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng họp ban đại diện cha mẹ học sinh thông qua kế hoạch để có được sự đồng thuận của cha mẹ học sinh, phát huy truyền thống sẵn có lập quỹ tự
Trang 39nguyện để trang bị TBDH kêu gọi cha mẹ học sinh, các đoàn thể, các cơ quan, các tổ chức và cá nhân trong địa bàn đóng góp xây dựng Nói chung, Hiệu trưởng cần chủ động về nguồn kinh phí không nên chỉ trông chờ vào sự trợ cấp, đầu tư từ cấp trên mà cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để tăng kinh phí đầu tư trang bị TBDH
Song song với việc huy động nguồn kinh phí, nhà trường cần có kế hoạch sử dụng tốt các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và vốn tự có đúng mục đích, không cắt xén chi dùng cho việc khác, làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để tăng kinh phí đầu tư trang bị TBDH Có như vậy mới tạo được lòng tin cho nhân dân và các tổ chức, cơ quan chính quyền địa phương
Khi quy định mua sắm TBDH nào cần xem xét theo các định hướng tiêu chuẩn sau
+ Công việc giảng dạy có nhất thiết cần đến nó không?
+ Độ bền và độ an toàn của TBDH như thế nào?
+ Hình thức có hấp dẫn không? có đảm bảo tính khoa học, sư phạm không? + Giá thành có hợp lý không?
Tóm lại Khi mua sắm cần để ý đến giá trị sử dụng của TBDH, TBDH có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng nó phải cho kết quả khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan sư phạm, an toàn và có giá cả hợp lý, tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại và không nhất thiết phải là những thiết bị đắt tiền
+ Tự làm và sưu tầm TBDH
Với điều kiện hiện tại của nhà trường và địa phương thì trang bị TBDH bằng con đường mua sắm không thể ngay một lúc có thể đáp ứng đủ nhu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên, học sinh nhà trường Do đó, nhà trường cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong công tác TBDH, phát động phong trào tự làm TBDH trong giáo viên, học sinh và huy động cả cha mẹ học sinh tự làm những thiết bị cần thiết phục vụ cho việc học tập của con em mình, thu hút được sự quan tâm
Trang 40của cha mẹ học sinh đối với các hoạt động giáo dục của nhà trường, họ thấy được tầm quan trọng và vai trò của TBDH trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và từ đó sẽ ủng hộ nhà trường đầu tư mua sắm những TBDH hiện đại
Hoạt động tự làm TBDH có tác dụng huy động mọi tiềm năng, trí tuệ và
sự sáng tạo của họ kích thích hứng thú nghề nghiệp của giáo viên, niềm hăng say học tập của học sinh, thông qua hoạt động này, tầm hiểu biết và nhận thức của giáo viên được mở rộng, thấy được sự cần thiết phải sử dụng TBDH trong quá trình dạy học và làm xuất hiện nhu cầu tự nhiên trong việc sử dụng TBDH, hoạt động tự làm TBDH còn có tác dụng phục vụ kịp thời cho việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học Bởi vì, mỗi giờ học, mỗi nội dung kiến thức đều cần những TBDH tương ứng mà trong các danh mục TBDH tối thiểu được cấp phát không phải lúc nào cũng có đầy đủ Do đó tự làm TBDH là giáo viên linh hoạt, sáng tạo ra những TBDH phù hợp với nội dung kiến thức mình cần dạy, phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình Nhưng TBDH tự làm cần đạt được các yêu cầu sau: Đảm bảo tính thực tiễn, tính giáo dục, tính thẩm mỹ, tính sáng tạo và tính kinh tế Muốn như vậy, hàng năm nhà trường cần tổ chức mở lớp tập huấn, hướng dẫn giáo viên tự làm TBDH Có thể mời các chuyên gia ở trung tâm nghiên cứu CSVC thiết bị trường học về hướng dẫn cho giáo viên, có thể mua sắm thêm những tài liệu hướng dẫn giáo viên tự làm TBDH để giáo viên tự đọc, tự tìm hiểu sau đó tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề trao đổi về phương hướng làm TBDH Từ đó giáo viên sẽ học tập và biết cách tận dụng những nguyên liệu rẻ tiền sẵn có để tự làm TBDH
1.4.2 Quản lý bảo quản TBDH
Bảo quản TBDH là việc chống hư hỏng TBDH do thời tiết, con người, tự nhiên… bảo quản TBDH là một việc làm cần thiết, quan trọng vì nếu không bảo quản cẩn thận thì thiết bị dễ bị hỏng, mất mát, làm lãng phí tiền của, công sức trang bị, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả sử dụng TBDH dạy học phải được sắp đặt khoa học để tiện sử dụng và có các phương tiện bảo quản (tủ,