1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số biện pháp sư phạm giúp học sinh thpt điện biên tích cực học tập môn toán

105 506 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nhận định về TTCNT của HS trong quá trình học tập theo những góc độ, những dấu hiệu khác nhau của chủ thể đối với khách thể, đó là: - Lòng mong muố

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

–––––––––––––––––––

NGÔ QUỐC HÙNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM GIÚP HỌC SINH THPT ĐIỆN BIÊN TÍCH CỰC

HỌC TẬP MÔN TOÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

–––––––––––––––––––

NGÔ QUỐC HÙNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM GIÚP HỌC SINH THPT ĐIỆN BIÊN TÍCH CỰC

HỌC TẬP MÔN TOÁN

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Bộ môn Toán

Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ANH TUẤN

THÁI NGUYÊN, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn "Một số biện pháp sư phạm giúp học sinh THPT Điện Biên tích cực học tập môn toán" được thực hiện từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 08

năm 2013

Tôi xin cam đoan:

- Tôi luôn luôn nỗ lực, cố gắng và trung thực trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

- Luận văn sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau, các thông tin đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đưa vào luận văn đúng qui định

- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Quyết tâm đưa đề tài vào thực tiễn giáo dục của nhà trường

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013

Tác giả

Ngô Quốc Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS-TS Nguyễn Anh Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suất quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Phương pháp giảng dạy toán - Trường Đại học sư phạm Hà Nội, các thầy, cô giáo trong khoa Toán

- Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo và nghiên cứu khoa học trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn Ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp trường THPT Phan Đình Giót đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013

Tác giả

Ngô Quốc Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 3

4.2 Phương pháp điều tra quan sát 3

4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 3

4.4 Phương pháp thống kê Toán học 3

5 Cấu trúc luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Tính tích cực và vấn đề phát huy tính tích cực học toán của học sinh 4

1.1.1 Quan niệm về tính tích cực nhận thức (TTCNT) của HS 4

1.1.2 Vì sao phải phát huy TTCNT của HS? 6

1.1.3 Các cấp độ của TTCNT 7

1.1.4 Các mặt biểu hiện TTCNT của HS 8

1.1.5 Đặc trưng cơ bản của tư tưởng TTCNT của HS 9

1.1.6 Một số biểu hiện TTCNT của HS trong học tập môn Toán 11

1.1.7 Điều kiện phát huy TTCNT của HS trong dạy học 12

Trang 6

1.1.8 Định hướng sư phạm phát huy TTCNT của HS trong dạy học Toán 13

1.1.8.1 Những phương hướng phát huy TTCNT của HS trong dạy học 13

1.1.8.2 Một số định hướng và phương pháp để phát huy TTCNT của HS trong dạy học môn Toán 15

1.2 Tình hình dạy học môn toán THPT ở Điện Biên 16

1.2.1 Về nội dung môn Toán ở THPT 16

1.2.2 Đặc điểm HS THPT khu vực Điện Biên 18

1.2.3 Tình hình dạy và học Toán THPT ở Điện Biên 19

1.2.3.1 Thực trạng dạy Toán THPT ở Điện Biên 20

1.2.3.2 Thực trạng học Toán THPT ở Điện Biên 23

1.3 Kết luận chương 1 26

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TOÁN CHO HỌC SINH THPT ĐIỆN BIÊN 28

2.1 Định hướng xây dựng biện pháp sư phạm 28

2.1.1 Phù hợp với yêu cầu và tiêu chí đổi mới phương pháp dạy Toán ở trường phổ thông; đặc biệt là lý luận về dạy học tích cực 28

2.1.2 Phù hợp với đối tượng HS THPT Điện Biên 29

2.2 Một số biện pháp tăng cường tính tích cực học tập toán cho HS THPT Điện Biên 30

2.2.1 Biện pháp 1: Căn cứ vào chương trình SGK Toán THPT để tập trung vào thực hiện những nội dung cơ bản phù hợp với đối tượng HS THPT Điện Biên 30

2.2.2 Biện pháp 2: Lựa chọn và phối hợp các PPDH để tăng cường hoạt động học Toán của HS 35

2.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường sử dụng các ví dụ và tình huống thực tế trong dạy Toán 40

2.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng nội dung và biện pháp để tăng cường hoạt động ngoại khóa Toán cho HS 45

Trang 7

2.2.5 Biện pháp 5: Chú trọng hướng dẫn tự học cho HS 53

2.2.6 Mối quan hệ giữa các BPSP 63

2.3 Kết luận chương 2 67

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Mục đích thí nghiệm 68

3.2 Nội dung, kế hoạch và phương pháp thực nghiệm 68

3.3 Giáo án thực hiện 70

3.4 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 78

3.5 Kết luận chương 3 81

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Thống kê điểm thi tuyển sinh môn Toán lớp 10 năm 2013 25

Bảng 1.2: Kết quả điểm thi môn Toán 3 năm liền kề (tỷ lệ %) 25

Bảng 3.1: Kết quả bài kiểm tra 45 phút theo đề số 1 69

Bảng 3.2: Kết quả tổng hợp của bài kiểm tra 45 phút theo đề số 2 80

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ hình cột tần suất ghép lớp về kết quả bài kiểm tra một

tiết số 1 của hai lớp 11B5 và 11B6 69 Hình 3.2: Biểu đồ hình cột tần suất ghép lớp về kết quả bài kiểm tramột

tiết số 2 của hai lớp 11B5 và 11B6 80

Trang 11

“người được dạy” Người dạy hướng dẫn người học, chỉ cho người học cái

đích phải đạt, người dạy giúp đỡ, làm cho người học hứng thú học và đưa họ

tới đích của dạy học Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học

và hiểu (tài liệu [4])

Luật Giáo dục Việt Nam, năm 2005, trong điều 28, đã ghi rõ: “Phương

pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng

tạo của học sinh (HS), phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Để HS tích cực, tự giác, chủ động, trước hết người giáo viên (GV) phải tạo ra một môi trường vui vẻ, thoải mái, phải làm cho HS có hứng thú, phấn khởi trong học tập Những kết quả, những cách suy nghĩ, giải quyết vấn đề trong các môn học nói chung, trong môn Toán nói riêng đều có sức hấp dẫn nhất định, đều kích thích được sự ham muốn hiểu biết ở HS (tài liệu [4])

Môn Toán tuy có sự hấp dẫn riêng do sự thông thái ẩn chứa trong môn học này, nhưng cũng gây ra khó khăn cho HS bởi tính trừu tượng cao độ của nó

Do vậy, trong dạy Toán, GV toán cần làm cho HS thấy được cái hay, cái đẹp, cái

ý nghĩa của mỗi nội dung Toán học mà các em được học Qua đó các em sẽ cảm thấy vui vẻ, tự tin, tích cực và chủ động trong việc học Toán (tài liệu [4])

Mặt khác, qua thực tiễn công tác giảng dạy tại trường trung học phổ thông (THPT) Phan Đình Giót TP Điện Biên Phủ trong hơn mười năm qua, chúng tôi nhận thấy:

Trang 12

Trong môn Toán, tình trạng đầu vào của phần lớn HS là ở học lực yếu Vốn kiến thức Toán trung học cơ sở (THCS) còn không ít “lỗ hổng”, cộng thêm với khả năng nhận thức còn yếu dẫn đến nhiều em sợ học môn Toán

Bên cạnh đó, với đặc điểm khu vực, đa số HS ở các trường là con em đồng bào dân tộc ít người hoặc Kinh miền núi, nên các em thường rụt rè, tự ti, ngại giao tiếp, phần nào có những hạn chế nhất định về khả năng nhận thức

Vì không còn kì thi tốt nghiệp THCS nên trong thực tế đã có rất nhiều

HS được “đẩy lên” THPT để đáp ứng chỉ tiêu, nhưng chất lượng không đảm bảo mặt bằng kiến thức và kỹ năng môn Toán ở THPT Điều này có thể thấy rõ qua kì thi vào lớp 10 được tổ chức hằng năm

Trước thực trạng khó khăn như vậy, chúng tôi thấy: Cần có những biện pháp sư phạm (BPSP) cụ thể để GV có thể vận dụng trong môn Toán, nhằm từng bước bổ khuyết những thiếu sót trong kiến thức cho HS, giúp cho các em học tập Toán một cách hứng thú, chủ động và tự tin hơn Từ đó dần dần nâng cao chất lượng học Toán, nói riêng là đối với HS ở miền núi Điện Biên

Vì những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp sư phạm giúp học sinh THPT Điện Biên tích cực học tập môn Toán”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng một số BPSP dạy học Toán (chính khóa và ngoại khóa) nhằm giúp HS THPT hứng thú, tích cực học Toán, góp phần nâng cao chất lượng học Toán ở Điện Biên

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát huy tính tích cực học tập của HS

trong dạy học Toán

- Tìm hiểu thực tiễn dạy học Toán THPT ở khu vực Điện Biên

- Xây dựng một số BPSP trong dạy học Toán nhằm gây hứng thú, chủ động, tích cực học Toán cho HS THPT

Trang 13

- Thiết kế một số giáo án minh họa cho những BPSP đã đề xuất

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thi của giải pháp đề ra

3 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được và khai thác hợp lý những BPSP theo định hướng trong luận văn thì sẽ gây hứng thú, chủ động, tích cực học Toán cho HS ở Điện Biên, góp phần nâng cao chất lượng môn Toán THPT

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc những tài liệu có liên quan: các giáo trình và tài liệu về phương

qua môn Toán

4.2 Phương pháp điều tra quan sát

Điều tra, quan sát và phỏng vấn để tìm hiểu thực trạng dạy và học Toán

THPT ở Điện Biên, đặc biệt là xem xét từ góc độ “Tính tích cực học tập của HS”

4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm đối với các BPSP đã đề xuất, nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả trong dạy học Toán THPT ở Điện Biên

4.4 Phương pháp thống kê Toán học

Xử lí, đánh giá các số liệu thu được trong điều tra và thử nghiệm sư phạm

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

ở Điện Biên

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Tính tích cực và vấn đề phát huy tính tích cực học toán của học sinh

1.1.1 Quan niệm về tính tích cực nhận thức (TTCNT) của HS

Mục này chúng tôi viết dựa trên việc tham khảo tài liệu [6]

Nói về TTCNT của HS, Kharlamop cho rằng: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, TTCNT là trạng thái hoạt động của HS, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”

Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nhận định về TTCNT của HS trong quá trình học tập theo những góc độ, những dấu hiệu khác nhau của chủ thể đối với khách thể, đó là:

- Lòng mong muốn không chủ định và gây nên biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động

- Cường độ, độ sâu, nhịp điệu của những hoạt động, quan sát, chú ý, tư duy ghi nhớ trong một thời gian nhất định

- Hành động ý chí, trạng thái hoạt động về vẻ bề ngoài có vẻ giống nhau nhưng khác nhau về bản chất khi xét đến hoạt động cải tạo trong ý thức của chủ thể

- TTCNT phải thể hiện trước hết ở động cơ học Toán đúng đắn, từ đó tự giác học tập một cách hứng thú, từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ biết đến biết sâu sắc, không những tiếp thu được chuẩn xác kiến thức Toán học, mà còn đúc kết được phương pháp suy nghĩ giải quyết vấn đề

Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập, không nhằm phát huy những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được Tuy nhiên trong học tập HS cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân HS sẽ ghi nhớ thông tin qua việc hiểu những gì đã nắm được, qua hoạt động chủ

Trang 15

động, nỗ lực của chính mình Đó là chưa nói đến, khi tới một trình độ nhất định, sự học tập tích cực về nhận thức sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra được những tri thức mới cho khoa học

TTCNT trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác (hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên TTCNT) TTCNT sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Tích cực gắn liền với động cơ, với

sự kích thích hứng thú, với ý thức hứng thú, có ý thức về sự tự giác học tập, ý thức về sự giáo dục của chính mình, vì vậy có thể hiểu tiêu chí nhằm phát huy

TTCNT là tính tích cực tư duy (tư duy bên trong), tất nhiên phải được thể hiện qua ngôn ngữ và hành động tích cực (biểu hiện cả bên ngoài)

Ngược lại, phong cách học tập phát huy TTCNT, độc lập, sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập Ta có thể minh họa mối liên hệ tác động qua lại đó như sau:

Sơ đồ 1.1 Mối liên hệ tác động qua lại của các yếu tố tác động đến TTCNT

TTCNT và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không phải đồng nhất Có một số trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở

sự tích cực bên ngoài, mà không phải tích cực trong tư duy Đó là điều cần lưu

ý khi nhận xét đánh giá TTCNT của HS

TTCNT

Trang 16

Rèn luyện kỹ năng học tập một cách tích cực độc lập cho HS, để HS chủ động tự lực chiếm lĩnh kiến thức là cách hiệu quả nhất, làm cho HS hiểu kiến thức một cách sâu sắc và có ý thức Vốn kiến thức, mà HS nắm được từ nỗ lực của bản thân chỉ sống và sinh sôi nảy nở nếu HS biết sử dụng nó một cách chủ động độc lập sáng tạo Tính độc lập thực sự của HS biểu hiện ở sự độc lập suy nghĩ, ở chỗ biết học tập một cách hợp lý khoa học trên cơ sở quá trình GV hướng dẫn, có phải đây là một trong những lý do phát huy TTCNT của HS?

1.1.2 Vì sao phải phát huy TTCNT của HS?

Mục này chúng tôi viết dựa trên việc tham khảo tài liệu [6]

Trong quá trình dạy học, TTCNT của HS không chỉ tồn tại như một trạng thái, một điều kiện, mà nó còn là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức, là mục đích của quá trình dạy học, chỉ có quá trình nhận thức tích cực mới tạo cho HS có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành ở HS tính độc lập sáng tạo và nhạy bén khi giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như thực tiễn

Hiện nay và trong tương lai xã hội loài người đang và sẽ phát triển tới một hình mẫu ''Xã hội có sự thống trị của kiến thức'' dưới tác động của sự bùng

nổ về khoa học và công nghệ cùng nhiều yếu tố khác Để có thể tồn tại và phát triển trong một xã hội như vậy, con người phải có khả năng chiếm lĩnh sử dụng tri thức một cách độc lập sáng tạo Hiệu quả lĩnh hội tri thức không phải chỉ là

ở chỗ tri giác và giữ lại thông tin mà còn ở chỗ cải biến các kết quả thông tin

ấy Điều này đòi hỏi HS phải hoạt động tích cực, tìm tòi khám phá những khâu còn thiếu trong thông tin đã tiếp thu được, cải biến nó thành cái có nghĩa đối với mình

Phát huy TTCNT của HS và tăng cường hoạt động trí tuệ độc lập của HS trong quá trình thu nhận tri thức rèn luyện kỹ năng kỹ xảo Tích cực hóa việc dạy học không phải chỉ có giá trị về mặt kết quả trí dục mà còn đặc biệt quan trọng về mặt giáo dục, nó ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách của HS Phát huy TTCNT trong học tập của HS có tác dụng phát triển những đức tính

Trang 17

quý giá như tính mục đích, lòng ham hiểu biết, tính kiên trì, óc phê phán Những phẩm chất cá nhân này trở thành những yếu tố kích thích bên trong điều chỉnh hoạt động nhận thức của HS đó là những điều kiện hết sức quan trọng giúp cho việc học tập đạt kết quả tốt

Quán triệt tinh thần đó việc vận dụng PPDH hiện đại vào dạy học môn Toán đòi hỏi phải tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS nhằm hình thành cho HS tư duy tích cực độc lập và sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở những kiến thức Toán học được tích lũy có hệ thống

Để khai thác hết năng lực học tập của HS, việc tổ chức quá trình dạy học phải

theo đúng con đường nhận thức khách quan ''Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn'' mà điều quan trọng nhất

là HS hứng thú tự giác tham gia vào quá trình học tập và chỉ có thế mới đảm bảo cho quá trình học tập đạt kết quả cao Vậy trong học tập TTCNT có các cấp

độ nào?

1.1.3 Các cấp độ của TTCNT

Trong tác phẩm ''Giáo dục học trường phổ thông'' G.L.Sukina, đã chia trong học tập TTCNT có ba cấp độ từ thấp đến cao (tài liệu [6]):

a) Tính tích cực bắt chước, chấp nhận và tái hiện:

HS bắt chước và tái hiện được các kiến thức đã học, thực hiện được tác thao tác kỹ năng mà GV đã nêu ra TTCNT ở đây xuất hiện do tác động bên ngoài như yêu cầu bắt buộc của GV, thường thấy ở HS có năng lực nhận thức ở mức độ dưới trung bình và trung bình

b) Tính tích cực tìm tòi áp dụng:

HS độc lập giải quyết các tình huống học tập như quá trình lĩnh hội khái niệm, định lý, bài toán với sự tham gia của động cơ nhu cầu hứng thú và ý chí của HS Tính tích cực ở đây không bị hạn chế trong khuôn khổ những yêu cầu của GV trong giờ học mà hoàn toàn tự phát trong quá trình nhận thức, thấy

ở HS có năng lực nhận thức trên trung bình và khá

Trang 18

c) Tính tích cực sáng tạo:

Thể hiện ở chỗ trong học tập HS tự mình cũng có thể tìm ra được những cách giải quyết mới, độc đáo hữu hiệu hay thực hiện tốt các yêu cầu hành động

do HS đưa ra mà không cần sự giúp đỡ của GV Loại này thường thấy ở HS có năng lực nhận thức ở mức độ giỏi, HS năng khiếu

Các phân loại trên, giúp GV đánh giá được mức độ TTCNT của HS theo mặt bằng chung của cả lớp Tuy nhiên nó còn rất khái quát, muốn đánh giá đúng mức độ TTCNT của HS, GV còn phải căn cứ vào các mặt biểu hiện TTCNT của HS

1.1.4 Các mặt biểu hiện TTCNT của HS

a) Biểu hiện về mặt hoạt động nhận thức:

TTCNT của HS thể hiện ở mặt thao tác tư duy, ngôn ngữ, sự quan sát, ghi nhớ, tư duy hình thành khái niệm, phương thức hành động, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, các câu hỏi nhận thức của HS, giải đáp các câu hỏi do GV đưa ra nhanh chóng chính xác, sự khát khao học hỏi, biết nhận rõ đúng sai khi bạn đưa ra ý kiến, hoài nghi, phê phán và xác lập các quan hệ giúp ích cho hoạt động nhận thức

b) Biểu hiện về mặt cảm xúc, tình cảm:

Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ, những vấn đề chưa đủ rõ, thể hiện sự đam mê, sự sốt sắng, hăng hái thực hiện yêu cầu mà GV đặt ra, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra

c) Biểu hiện về mặt động cơ ý chí:

Tập trung chú ý vào vấn đề đang học, có nhu cầu hứng thú học tập có ý chí là quyết tâm kiên trì, hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn

d) Biểu hiện về kết quả nhận thức:

Lĩnh hội kiến thức một cách nhanh chóng chính xác, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kết quả học tập sau một tiết học, một chương…

Trang 19

Để có được phong cách học tập tích cực trong nhận thức, HS phải thật sự

tự giác, chủ động học tập Tích cực hóa gắn liền động cơ hóa, với sự kích thích hứng thú, với ý thức trách nhiệm học tập, ý thức về sự giáo dục của chính mình

1.1.5 Đặc trưng cơ bản của tư tưởng TTCNT của HS

Tư tưởng này là một trong những biểu hiện của sự phát triển lý luận và thực tiễn giáo dục hiện nay Nhấn mạnh vai trò trung tâm của HS và đồng thời chỉ rõ vai trò của người GV trong toàn bộ quá trình dạy học Lấy HS làm trung tâm là một thể hiện cơ bản của tính nhân văn, cũng như một khẳng định dứt khoát về vị trí trung tâm hoạt động của HS Vì vậy, có thể nói đặc trưng cơ bản của tư tưởng TTCNT của HS là:

a) Tính nhân văn

Được thể hiện ở sự thừa nhận và tôn trọng nhu cầu, lợi ích, mục đích và những kinh nghiệm của cá nhân HS, cố gắng tạo điều kiện để HS tự ''hình thành và phát triển'' theo tiềm lực và khả năng của bản thân

b) Tính hoạt động

Thể hiện sự tối đa hóa các hoạt động của HS với phương thức chỉ đạo là:

tự phát triển, tự thực hiện, tự kiểm tra và đánh giá quá trình hoạt động nhận thức của bản thân Qua đó, hình thành và phát triển tư duy độc lập sáng tạo của mỗi cá nhân HS

c) Vai trò của GV

Phong phú mềm mại, sáng tạo và có trách nhiệm, có nghĩa là GV không những truyền thụ tri thức, những sản phẩm sẵn có mà cần phải thiết kế, tổ chức điều khiển, ủy thác, thể chế hóa, đánh giá hoạt động tự lực nhận thức của người

HS, nhằm hình thành cho HS thái độ năng lực phương pháp học tập và ý chí học tập từ đó tự khám phá ra những tri thức mới, được cụ thể hóa ở các vai trò:

*) Vai trò thiết kế

Một giờ dạy muốn thành công phải có sự thiết kế chặt chẽ về các biện pháp phương thức cấu trúc lôgic giờ học, lập kế hoạch chuẩn bị quá trình dạy

Trang 20

học cả về các mặt: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá Việc thiết kế tốt, phù hợp sẽ làm cho bài giảng luôn diễn ra trong sự kích thích tưởng tượng, tò mò và say mê tìm tòi cái mới đảm bảo cho giờ dạy

có kết quả

*) Vai trò tổ chức

Tổ chức một môi trường học tập cho mỗi HS có cơ hội bộc lộ tối đa khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy tính tích cực học tập nhằm hình thành năng lực ý chí phương pháp học tập, từ đó tự khám phá những tri thức mới, ý thức được nhiệm vụ của mình trong giờ học, thông qua các tranh luận tìm tòi tổng hợp tự mình phát huy được năng lực trí tuệ đi đến chân lý, bằng con đường này sẽ làm các em nhớ lâu hơn, hiểu kỹ hơn về các kiến thức đó

*) Vai trò ủy thác

Đây không phải là bắt trò học tập theo ý của GV mà phải làm sao cho

HS tự giác biến ý đồ dạy của GV thành nhiệm vụ của bản thân, đảm nhận quá trình hoạt động để kiến tạo tri thức, tức là hoạt động của thầy nhằm chuyển giao ý đồ sư phạm, ý đồ dạy học sang ý đồ nhận thức của HS HS nhận thấy được mong muốn giải quyết vấn đề thầy đặt ra nhờ các hoạt động

tư duy, tích cực, độc lập, sáng tạo Ở khâu này GV làm công việc ngược lại với nhà nghiên cứu: hoàn cảnh lại, thời gian hóa lại và cá nhân hóa lại tri thức, HS tự mình đảm nhận lại quá trình giải quyết vấn đề sao cho hoạt động của HS gần giống với hoạt động của nhà nghiên cứu, nhờ những lý do này

mà HS phát huy cao độ TTCNT của bản thân

Trang 21

*) Vai trò đánh giá

Thái độ trân trọng của GV đối với mỗi sự tìm tòi mới mẻ của HS có một tác động mạnh mẽ đến hứng thú của các em việc đánh giá cao sự sáng tạo sẽ thúc đẩy năng lực học tập tính tích cực học tập của HS Muốn vậy GV cần tạo cho mình vốn kiến thức đủ để nhận ra nét độc đáo trong suy nghĩ của HS để có thể đánh giá đúng giá trị của sự tìm tòi HS, HS sẽ có phản ứng tiêu cực nếu bản thân sự đánh giá của GV chưa thực làm HS thỏa đáng, sự nhìn nhận khách quan chính xác của GV tạo được lòng tin của HS, từ đó phát huy tính sáng tạo của HS qua sự tích cực hóa hoạt động học tập

Vậy các vai trò của GV là làm sao giúp HS học tập một cách hiệu quả, thúc đẩy HS tự giác học tập phát huy cao độ TTCNT của bản thân, qua đó HS hiểu được kiến thức tìm ra là một tri thức chung của nhân loại và GV chính thức chấp nhận kết quả đạt được của HS

Nhưng thực tế dạy học ở trường phổ thông cho thấy, đâu đó trong cách dạy học vẫn chưa phát huy đầy đủ được TTCNT của HS Do vậy, cần thiết dựa trên một số biểu hiện về TTCNT trong học tập môn Toán từ đó hình thành và phát triển TTCNT của HS là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người GV

1.1.6 Một số biểu hiện TTCNT của HS trong học tập môn Toán

* Về ý thức, thái độ học tập

- TTCNT của HS được thể hiện ở nhu cầu hiểu biết kiến thức, khát vọng

và mong muốn được giải quyết các tình huống học tập mà GV đưa ra để chiếm

lĩnh được kiến thức mới, giải quyết được bài toán mới

- TTCNT của HS còn được thể hiện ở sự hứng thú, niềm say mê lao động trí tuệ, sự sốt sắng thực hiện, có tinh thần trách nhiệm đối với các yêu cầu mà

GV đưa ra khi lĩnh hội kiến thức mới

* Về hoạt động trí tuệ cao

- TTCNT của HS thể hiện trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập: Đó là việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu của GV đưa ra, tích cực hoạt động trí tuệ,

Trang 22

thực hiện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa,…), nhanh chóng phát hiện dấu hiệu bản chất của các kiến thức và tìm

ra được nhiều con đường giải quyết các tình huống do GV đưa ra trong quá trình dạy học

- TTCNT của HS thể hiện ở sự ghi nhớ vận dụng kiến thức: Đó là sự tái hiện nhanh chóng các kiến thức mới trong các trường hợp cụ thể, biết khái quát hóa, hệ thống hóa các kiến thức đã học, biết vận dụng các kiến thức đã học trong các trường hợp cụ thể

- TTCNT của HS thể hiện ở sự kiểm tra đánh giá: Đó là sự đánh giá đúng mức công việc mà bản thân đã làm, nhanh chóng phát hiện và sửa chữa sai lầm mắc phải trong quá trình hình thành khái niệm cũng như vận dụng khái niệm

Trên đây là những biểu hiện TTCNT của HS trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức, GV khi dựa vào những biểu hiện này có thể định hướng cho việc phát huy TTCNT của HS nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán

1.1.7 Điều kiện phát huy TTCNT của HS trong dạy học

Muốn phát huy TTCNT của HS, GV cần phải tổ chức môi trường học tập đảm bảo: Tính sẵn sàng học tập và tính hoạt động cao

Trang 23

Vì vậy, GV cần phải tổ chức môi trường học tập, xây dựng những BPSP thích hợp làm cho việc dạy học phù hợp với khả năng học tập của HS, đồng thời tạo được động cơ, gây hứng thú, ý chí học tập của HS,…thì mới phát huy được TTCNT của HS

b) Tính hoạt động cao: Thể hiện ở nội dung dạy học và phải dựa trên

những tiêu chuẩn sau:

+ Mỗi hoạt động của GV và HS được xác định cụ thể, rõ ràng, có thể nhận thức được, cảm nhận được, hình dung được

+ Nội dung dạy học chứa đựng những liên hệ phù hợp để đảm bảo các quan hệ và hoạt động của thầy và trò đều hướng vào tổ chức và kích thích hành động HS, tức là nội dung dạy học phải xây dựng được dưới dạng những tình huống có vấn đề

Vậy để đảm bảo được tính hoạt động cao trong dạy học, người GV cần phải lựa chọn nội dung dạy học đáp ứng được hai tiêu chuẩn trên và tổ chức môi trường học tập, xây dựng những biện pháp thích hợp từ đó xác định thiết kế xây dựng phương thức dạy học sao cho kích thích tính chủ động, tự quyết, khả năng

tự thể hiện, đánh giá,…trong học tập, phát triển những cơ hội học tập, động cơ học tập, xây dựng mối quan hệ tương tác giữa GV và HS, HS với nhau

1.1.8 Định hướng sư phạm phát huy TTCNT của HS trong dạy học Toán

Mục này chúng tôi viết dựa trên việc tham khảo tài liệu [6]

1.1.8.1 Những phương hướng phát huy TTCNT của HS trong dạy học

Để phát huy TTCNT của HS là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người GV trong quá trình dạy học Vì vậy, nó luôn là trung tâm chú ý của lý luận và thực tiễn dạy học Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng

tử, Aristot…đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy TTCNT của HS và đã có những định hướng và biện pháp để phát huy TTCNT của HS

J A Komenxki nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ XVII đã đưa ra những

định hướng, biện pháp dạy học là bắt HS phải tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm được

bản chất của sự vật hiện tượng

Trang 24

J J Ruxô cũng cho rằng, phải hướng HS tích cực tự giành lấy kiến thức

bằng cách tìm kiếm, khám phá và sáng tạo

A Distecvec thì cho rằng, người GV tồi là người cung cấp cho HS chân

lý, người GV giỏi là người dạy cho HS tự tìm ra chân lý

K D Usinxki nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều khiển, dẫn dắt

HS của các GV

Trong thế kỷ IX, các nhà giáo dục Cổ, Kim, Đông, Tây, đã trao đổi bàn luận để tìm kiếm con đường nhằm phát huy TTCNT của HS trong dạy học Chúng ta thường kể đến tư tưởng các nhà giáo dục nổi tiếng như: B.P.Êxipôp, M.A.Danilôp, M.N.Xcatkin, I.F.Kharlamôp, I.I.Xamôva (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner (Mĩ)…

Ở Việt Nam các nhà lý luận dạy học cũng đã viết nhiều về phát huy TTCNT của HS như: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Quang Ngọc, Đặng Vũ Hoạt …, mà

cụ thể Đặng Vũ Hoạt đã nêu lên 6 định hướng là:

i) Giáo dục động cơ, thái độ học tập, trên cơ sở thấm nhuần mục đích học tập, động viên khuyến khích kịp thời dựa vào tính tự nguyện của HS;

ii) Thực hiện dạy học nêu vấn đề là định hướng, phương pháp cơ bản nhất; iii) Tiến hành so sánh các sự vật, hiện tượng, tiến hành hệ thống hóa, khái quát hóa tri thức;

iv) Vận dụng tri thức vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, giải quyết các vấn

đề bằng nhiều cách khác nhau;

v) Gắn liền lý luận với thực tiễn, khai thác vốn sống của HS;

vi) Phát triển ý thức tự kiểm tra, tự đánh giá của HS

Từ những phương hướng chung đó, cần phải có những định hướng phương thức sư phạm thích hợp để phát huy TTCNT của HS trong dạy học đặc thù môn Toán

Trang 25

1.1.8.2 Một số định hướng và phương pháp để phát huy TTCNT của HS trong dạy học môn Toán

Trong quá trình dạy học phải tạo được động cơ hứng thú để HS có cơ hội phát huy tính chủ động độc lập tự giác chiếm lĩnh kiến thức, ta có thể tổng quan

về một số định hướng BPSP thích hợp nhằm phát huy TTCNT của HS trong quá trình dạy học theo đặc thù môn Toán:

i) Kiến thức bài dạy làm sao có được tính kế thừa phát triển trên kiến thức đã học, sự liên hệ với thực tiễn, gần gũi với cuộc sống, với suy nghĩ hằng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS;

ii) Sử dụng các phương tiện dạy học, dụng cụ trực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú phát huy TTCNT của HS;

iii) Xây dựng, sắp xếp, bổ sung và khai thác các ví dụ và phản ví dụ trong quá trình dạy học;

iv) Phát triển khả năng chuyển đổi ngôn ngữ thường sang ngôn ngữ Toán học, khả năng thực hiện các thao tác tư duy cơ bản;

v) Lập và sử dụng các bảng tổng kết, biểu đồ, sơ đồ thích hợp để làm rõ nguồn gốc và mối liên kết lôgic của các kiến thức trong quá trình dạy học;

vi) Lựa chọn và sử dụng một cách hợp lý hệ thống các bài tập và sử dụng khai thác các tình huống dễ mắc sai lầm Để HS tự kiểm tra, khắc phục các khó khăn và sửa chữa những sai lầm thường gặp trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Như vậy TTCNT là yếu tố quan trọng nhất mà người GV cần phải tác động, khơi dậy ở HS trong quá trình dạy học Đặc biệt với bộ môn Toán thì việc phát huy TTCNT của HS lại càng cần thiết Khi HS chủ động trong quá trình nhận thức, dưới sự định hướng, tổ chức của GV các đơn vị kiến thức vốn rất trừu tượng sẽ trở nên thú vị, hấp dẫn và dễ dàng chiếm lĩnh với các em Chúng tôi nhận thấy có khá nhiều cách để phát huy TTCNT của HS nhưng không phải tất cả các phương pháp đều cho những kết quả như mong muốn Vì thế người GV cần phải tinh tế trong việc lựa chọn những biện pháp phù hợp với đối tượng HS của mình để đạt hệu quả tốt nhất

Trang 26

1.2 Tình hình dạy học môn toán THPT ở Điện Biên

1.2.1 Về nội dung môn Toán ở THPT

Nội dung, chương trình dạy học môn Toán của mỗi cấp học trong cấp

học phổ thông được thể hiện rất rõ ở tài liệu “Phân phối chương trình môn Toán” và sách giáo khoa (SGK) môn Toán của từng cấp học đã được Bộ Giáo

dục và Đào tạo quy định đối với từng miền hoặc cả nước Song nội dung chương trình dạy học môn Toán không hẳn là cố định trong suốt một thời gian dài Nội dung dạy học môn Toán có thể thay đổi để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của con người trong mỗi thời đại khác nhau Hiện nay, đối với môn Toán THPT, HS đang được học tài liệu SGK môn Toán của một trong hai chương

trình Toán cơ bản và Toán nâng cao

Sau đây là một số điểm trong hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho GV THPT khi giảng dạy nội dung chương trình Toán cơ bản

Mục tiêu Môn Toán ở trường THPT của chương trình Toán cơ bản nhằm giúp HS:

- Hàm số, giới hạn, đạo hàm, nguyên hàm, tích phân và ứng dụng của chúng;

- Các quan hệ hình học và một số hình thông dụng (điểm, đường thẳng, mặt phẳng, hình tam giác, hình tròn, elip, hình đa diện, hình tròn xoay); phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng; vectơ và tọa độ;

- Thống kê, tổ hợp, xác suất

Trang 27

- Giải được một số bài toán về biến đổi lượng giác, lũy thừa, mũ, lôgarit,

về dãy số, về giới hạn của dãy số và hàm số;

- Tính được đạo hàm, nguyên hàm, tích phân của một số hàm số;

- Vẽ hình; vẽ biểu đồ, đo đạc; tính độ dài, góc, diện tích, thể tích; viết PT đường thẳng, đường tròn, elip, mặt phẳng, mặt cầu;

- Thu thập và xử lý số liệu; tính toán về tổ hợp và xác suất;

- Ước lượng kết quả đo lường và tính toán;

- Sử dụng các công cụ đo, vẽ, tính toán;

- Suy luận và chứng minh;

- Giải toán và vận dụng kiến thức Toán học trong học tập và đời sống

3 Về tư duy

- Khả năng quan sát, dự đoán, suy luận hợp lý và suy luận lôgic;

- Các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp);

- Các phẩm chất tư duy, đặc biệt là tư duy linh hoạt, độc lập sáng tạo;

- Khả năng diễn đạt chính xác, rõ ràng ý tưởng của mình và hiểu được ý tưởng của người khác;

- Phát triển trí tưởng tượng không gian

4 Về tình cảm và thái độ

- Có ý thức tự học, hứng thú và tự tin trong học tập;

- Có tính trung thực, cần cù, vượt khó, cẩn thận, chính xác, kỷ luật, sáng tạo;

Trang 28

- Có ý thức hợp tác, trân trọng thành quả lao động của mình và của người khác;

- Nhận biết được vẻ đẹp của Toán học và yêu thích môn Toán

1.2.2 Đặc điểm HS THPT khu vực Điện Biên

Điện Biên là tỉnh được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ, nằm ở phía nam sông

Đà Địa hình Điện Biên có nhiều dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Lòng chảo Mường Thanh ở Điện Biên lớn nhất vùng Tây Bắc Phía bắc Điện Biên giáp tỉnh Lai Châu, phía đông nam giáp Sơn La, phía tây bắc và tây nam giáp Lào Địa hình chủ yếu là rừng, núi cao và dốc, xen với nhiều thung lũng hẹp, những cao nguyên nhỏ, sông suối Tỉnh Điện Biên có hơn hai mươi dân tộc anh em, trong đó chủ yếu là dân tộc Thái, H‟mông

HS miền núi là đối tượng đặc biệt Các em thường mang tâm lí tự ti, ngại tiếp xúc, ngại bộ lộ mình trong mọi hoạt động HS miền núi bao gồm con em các dân tộc thiểu số và một bộ phận con em của đồng bào miền xuôi đi xây dựng kinh tế mới

Hầu hết địa bàn cư trú của các em là ở vùng khó khăn, nông thôn hoặc vùng cao, vùng sâu vùng xa Điều kiện kinh tế khó khăn, giao lưu văn hóa có nhiều hạn chế Các em thiệt thòi hơn các bạn miền xuôi trong việc tiếp nhận thông tin và trao đổi văn hóa giữa các vùng miền trong cả nước

Đại đa số các trường THPT thường đặt ở trung tâm các huyện lị, trung tâm thành phố hoặc tỉnh HS ở miền núi thường phải đi lại rất khó khăn, thường các em phải trọ học theo mô hình bán trú dân nuôi, mọi sinh hoạt đều phải tự lập Trong điều kiện như vậy các em buộc phải tự lo cho bản thân mình trong cuộc sống sinh hoạt và học tập

Thêm nữa các em lại thuộc nhiều dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc lại có phong tục tập quán riêng nên cũng phải mất nhiều thời gian để có thể hòa nhập

Vì thế nên thế giới tâm hồn của các em thường khép kín, có xu hướng thu mình lại, giấu mình đi

Trang 29

Từ sự phân tích các đặc điểm nhận thức của HS dân tộc miền núi nói chung qua các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã kết luận: khả năng tư duy kinh nghiệm của các em đạt mức cao so với trình độ chung của lứa tuổi; khả năng tư duy lí luận còn thấp so với yêu cầu; trình độ các thao tác tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát nhiều khi thiếu toàn diện, hệ thống Tri thức thói quen được hình thành bằng con đường kinh nghiệm ảnh hưởng đến quá trình tiến hành các thao tác trí tuệ của HS Đó là những trở ngại khó khăn cho quá trình dạy học Toán cho thầy và trò ở trường THPT Điện Biên

1.2.3 Tình hình dạy và học Toán THPT ở Điện Biên

Toán học là một môn khoa học cơ bản Toán học có nguồn gốc thực tiễn

và là "chìa khoá" trong hầu hết các hoạt động của con người Nó có mặt ở khắp nơi Toán học là kết quả của sự trừu tượng hoá các sự vật hiện tượng trong thực tiễn trên những bình diện khác nhau và có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông Mặc dù là ngành khoa học có tính trừu tượng cao nhưng Toán học có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau: là công cụ để học tập các môn học trong nhà trường, nghiên cứu nhiều ngành khoa học và là công cụ để hoạt động trong sản xuất và đời sống thực tế Trong thư gửi các bạn trẻ yêu Toán, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh: “Dù các bạn phục vụ ở ngành nào, trong công tác nào, thì các kiến thức và phương pháp Toán cũng cần cho các bạn” “Toán học có vai trò quan trọng trong khoa học công nghệ cũng như trong đời sống”

Ở trường phổ thông nước ta trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu chủ yếu của việc giảng dạy Toán là hình thành và rèn luyện năng lực ứng dụng vì ứng dụng Toán học vào thực tế là một trong những năng lực Toán học cơ bản, cần phải rèn luyện cho HS Đành rằng, đây không phải là yêu cầu chỉ của riêng môn Toán, nhưng vì vai trò và vị trí quan trọng của nó là “chìa khóa” của sự phát triển đối với nhiều ngành khoa học, công nghệ, của các ngành kinh tế quốc

Trang 30

dân… Do đó, mục tiêu này được nhấn mạnh trong giảng dạy Toán Việc tăng cường liên hệ với thực tiễn sẽ phát hiện, phát triển và bồi dưỡng năng lực ứng dụng Toán học cho HS Vấn đề này cần được đặc biệt quan tâm ở cấp THPT, bởi vì họ đang ở giai đoạn chuẩn bị tham gia trực tiếp vào quá trình lao động, sản xuất của xã hội, hoặc tham gia vào các quá trình đào tạo có tính chuyên môn hóa cao hơn Rõ ràng đây là một trong những yếu tố góp phần thể hiện những quan điểm trên của UNESCO, góp phần thực hiện “học để làm” trong dạy học Toán ở trường phổ thông nước ta hiện nay Muốn vậy, không thể bằng cách nào tốt hơn là sự quan tâm thích đáng của GV đến việc liên hệ với thực tiễn trong quá trình dạy học Trong đó, đặc biệt chú ý luyện tập các ứng dụng

để giải quyết các bài Toán trong thực tế với mức độ và phương pháp thích hợp

Vấn đề dạy học toán THPT ở Điện Biên hiện nay cũng đang đặt ra cho thầy và trò các nhà trường những khó khăn và thử thách đòi hỏi cần phải có những BPSP hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng giáo dục

1.2.3.1 Thực trạng dạy Toán THPT ở Điện Biên

Dựa trên việc quan sát thực tế giáo dục môn toán ở trường THPT Điện Biên, phỏng vấn một số GV, HS Căn cứ vào các tài liệu hội nghị, hội thảo chuyên đề chúng tôi tìm hiểu rút ra một số nhận xét về thực trạng như sau:

* Thuận lợi, khó khăn

- Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông quy định rõ chuẩn kiến thức, kỹ năng cũng như mức độ cần đạt của môn Toán cấp THCS; ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu môn Toán cấp THPT

- Hầu hết các cán bộ quản lý và GV được đào tạo đạt chuẩn Nhiều GV say xưa và nhiệt tình với chuyên môn Tổ bộ môn ở các trường luôn quan tâm đến những vấn đề chỉ đạo của cấp trên như dạy học bám sát chương trình, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới PPDH, tăng cường sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong qua trình dạy học

- Chương trình môn Toán THPT phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi HS,

Trang 31

- Cơ sở vật chất được đầu tư, nâng cấp Đồ dùng, thiết bị dạy học được đầu tư nhiều hơn, nhiều tài liệu tham khảo Bước đầu có điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Bên cạnh đó vấn đề dạy Toán THPT ở Điện Biên vẫn đang phải đối diện với những khó khăn:

- Mặc dù đã được tập huấn và Bộ đã có các văn bản chỉ đạo hướng dẫn

về thực hiện chương trình, về đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng vẫn còn

có những cán bộ quản lý, GV lúng túng trong quá trình thực hiện; chưa chủ động và năng lực còn hạn chế trong quá trình thực hiện chương trình giảng dạy

Bộ đã ban hành khung phân phối chương trình tạo điều kiện cho các địa phương chủ động, tích cực xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp với đối tượng

HS, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện đội ngũ GV của địa phương Tuy nhiên, một số địa phương khi xây dựng phân phối chương trình còn bố trí thời gian thực hiện, lựa chọn PPDH vẫn còn chưa phù hợp, chưa khoa học dẫn đến quá tải về mặt thời gian thực hiện trong các tiết giảng

- Một số GV vẫn coi mục tiêu giờ dạy trên lớp là “dạy hết những gì trong SGK viết”, dập khuôn cứng nhắc những bước mà SGK, sách GVgợi ý hướng dẫn thực hiện; ỷ lại vào các trang thiết bị dạy học, những thí nghiệm đã mua sắm của nhà trường dẫn đến quá tải trong việc thực hiện giờ dạy trên lớp

- Việc tiếp cận với chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông còn nhiều hạn chế: chưa được đào tạo, bồi dưỡng và tài liệu viết về vấn đề này rất ít thậm chí không có

- Kế hoạch giáo dục chưa hợp lí với điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ

GV hiện có; giáo dục toàn diện còn mang tính dàn trải, ôm đồm

- Một số nội dung trong SGK còn trình bày phức tạp, khó hiểu, đôi chỗ còn thiếu lôgic ; các câu hỏi gợi ý các bước về phương pháp ở một số bài còn gượng ép gây khó khăn cho GV trong quá trình dạy học Hệ thống các câu hỏi đánh giá trong SGK còn hạn chế, chưa chọn lọc, chưa liên hệ gắn liền với

Trang 32

những vấn đề của thực tiễn; chưa có sự vận dụng hiệu quả vào đời sống xã hội

và gắn liền với cuộc sống hiện tại SGK chưa thể hiện được sự phân công hướng dẫn giúp HS tự học, tự nghiên cứu ở nhà; phương tiện hỗ trợ bài học còn chưa thật phù hợp với điều kiện dạy học ở các vùng miền và từng địa phương cũng như đối tượng HS

- Năng lực của GV trong việc tiếp cận với chương trình, đổi mới PPDH, không đồng đều ở các trường, các lớp và các địa phương nhất là năng lực hướng dẫn sử dụng các thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin

- PPDH của GV còn gượng ép, thiếu sự sáng tạo coi nặng hình thức, chủ yếu lên lớp là thầy dạy và chưa thực sự lấy người học làm trung tâm, còn lặp lại nhiều tài liệu trong việc truyền đạt giúp HS tự xây dựng kiến thức, rèn luyện kỹ năng

- Các gợi ý hướng dẫn giảng dạy vẫn theo hướng “cầm tay chỉ việc”, chưa đòi hỏi sự sáng tạo của GV và HS GV chưa mạnh dạn phân bổ thời gian,

áp dụng các phương pháp hướng dẫn HS học tập tích cực, chưa mạnh dạn giao việc cho HS hoạt động theo các chủ đề, theo đơn vị kiến thức thông qua các hình thức học tập theo nhóm, học tập theo dự án, mà chủ yếu áp dụng các phương pháp truyền thống, tuân theo các bước lên lớp một cách tẻ nhạt, ít động não HS, ở đó “thầy nói và giảng giải nhiều, trò chú ý lắng nghe, ghi nhớ”

- GV chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiểm tra đánh giá do đó việc đổi mới kiểm tra đánh giá diễn ra chậm và bộc lộ nhiều hạn chế

* Thực trạng dạy Toán

- Đội ngũ GV ở một số trường còn thiếu, nhất là những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa

- Điều kiện phòng học ở một số nơi còn thiếu, hầu hết các trường chưa

đủ phòng học để học 2 buổi/ngày, đặc biệt là vùng khó khăn cơ sở vật chất quá thiếu

- Thiết bị dạy học chưa được mua sắm đầy đủ, chưa được sử dụng hiệu quả Môi trường thực hành chưa tốt, chưa thân thiện đối với GV và HS

Trang 33

- Một bộ phận HS chưa có động cơ học tập đúng đắn, hiện tượng HS ngồi nhầm lớp còn chiếm một tỉ lệ đáng quan tâm

- Điều kiện tham quan dã ngoại tìm hiểu thực tiễn còn hạn chế về thời gian và kinh phí

Về phía GV, trong những năm gần đây hầu hết GV đã chú trọng đổi mới PPDH Toán nhưng chưa đi vào thực chất và chưa có chiều sâu, chưa triệt để, chỉ mới dừng lại ở việc cải tiến phương PPDH truyền thống bằng cách sử dụng các câu hỏi tái hiện, các câu hỏi nêu vấn đề nhưng chưa thực sát tình huống thực tế

Trong quá trình giảng dạy chúng ta chú ý nhiều đến việc truyền thụ khối lượng kiến thức nhưng còn ít chú trọng đến cách dẫn dắt HS tìm hiểu khám phá

và lĩnh hội kiến thức Nhiều GV chuẩn bị bài rất công phu

Bên cạnh đó vẫn còn một số GV chuẩn bị nội dung và bài giảng chưa đúng với trọng tâm, chưa thật chu đáo, vì thế chưa khơi dậy được niềm say mê

và hứng thú học tập Chưa góp phần tích cực vào việc xác lập động cơ học tập đúng đắn cho HS

1.2.3.2 Thực trạng học Toán THPT ở Điện Biên

* Những thuận lợi, khó khăn

- Môn Toán được coi là môn chính, tạo điều kiện để hỗ trợ cho các môn học khác đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên HS hứng thú với việc học tập môn Toán

- Phần lớn các em hổng kiến thức rất nhiều, yếu các kiến thức cơ bản cần thiết (cộng, trừ, nhân, chia)

- Tâm lí e ngại môn Toán là môn khó dẫn đến tư tưởng lười học, lười suy nghĩ, thiếu tự tin

- Khả năng phân tích tổng hợp, tư duy còn hạn chế, một số ít không có khả năng vận dụng kiến thức vào bài tập

- HS chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập còn ỷ lại trông chờ vào GV

Trang 34

- Đa số HS còn yếu kỹ năng giải Toán, nên các em thường lạm dụng máy tính bỏ túi kể cả những phép toán đơn giản

- Đa số HS không có khả năng tự học do quen học kèm từ lúc nhỏ, không

tự trình bày được bài giải, có thói quen học theo khuôn mẫu

- HS vào lớp có theo dõi, tập trung học tập, nắm được bài, nhưng về nhà khâu tự học bài chưa tốt, không rèn luyện bài tập

- HS chưa có phương pháp học tập tốt, ít tham khảo sách và tài liệu

- Một số gia đình phụ huynh HS chưa thực sự quan tâm sâu sát đến việc học tập của con em mình, dẫn đến một bộ phận HS còn ham chơi, chưa có động

cơ tốt trong học tập, có biểu hiện đạo đức, lối sống thiếu lành mạnh

- Đa số HS rất yếu phần “Hình học không gian”, kỹ năng vẽ hình còn yếu, tư duy hạn chế nên không hứng thú trong học tập môn này

* Thực trạng học Toán

Về phía HS, mặc dù đa số HS đã có ý thức về tầm quan trọng của môn Toán, tuy nhiên chất lượng học tập môn Toán chưa thật sự cao, nhất là chưa đồng đều Chất lượng chỉ tương đối ổn định ở lớp chọn và các lớp thuộc ban nâng cao Còn đa số các lớp thuộc chương trình chuẩn, chất lượng thường thấp Theo chúng tôi có những nguyên nhân sau:

- Chất lượng đầu vào thấp Chẳng hạn các em đã đậu vào lớp 10 nhưng điểm thi tuyển của rất nhiều em là dưới trung bình HS thường mắc phải những sai sót rất cơ bản trong quá trình học tập, chẳng hạn làm sai từ các phép biến đổi đơn giản, cách giải các PT, bất PT cơ bản…

- Có quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học Toán Khả năng tiếp thu của HS còn hạn chế và chưa linh hoạt trong việc xử lý các tình huống Toán học đơn giản nên kết quả học tập còn rất hạn chế

Chúng ta có thể thấy rõ thực trạng học Toán của HS tỉnh Điện Biên qua một số kết quả và đánh giá qua kì thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2013 của tỉnh Điện Biên sau đây (trích trong đánh giá kì thi tuyển sinh vào 10 năm 2013 của sở giáo dục và đào tạo tỉnh Điện Biên):

Trang 35

Bảng 1.2: Kết quả điểm thi môn Toán 3 năm liền kề (tỷ lệ %)

Điểm 0 Yếu, kém Trung bình trở lên Điểm giỏi

2011 2012 2013 2011 2012 2013 2011 2012 2013 2011 2012 2013 2,29 6,02 6,88 69,0 84,61 75,46 31 15,39 13,70 4,72 2,5 3,96 Qua bảng số liệu trên chúng tôi nhận thấy:

- Điểm trung bình môn Toán là 2,65 giảm hơn so với năm 2012 (3,42) Toàn tỉnh có ba trường đạt điểm trung bình từ 5 trở lên: THCS Him lam (5,84), THCS Tân Bình (5,33), THCS Mường Thanh (5,25); có 68 trường có điểm trung bình môn Toán thấp hơn 2,0, các trường này thuộc vùng khó khăn của các huyện Tuần Giáo, Mường Ảng, Tủa Chùa, Mường Nhé, Điện Biên Đông, Mường Chà, Huyện Điện Biên

- Tỉ lệ % thí sinh đạt điểm trung bình trở lên là 13,70% giảm so với năm học 2012 (15,39%), phổ điểm dưới trung bình vẫn thuộc về các trường vùng đặc biệt khó khăn

- Điểm 0 chiếm 6,88% phổ biến ở khá nhiều trường; điểm từ 0 đến 1,75 chiếm 46,35% (năm 2012 là 46,17%) Kết quả này khẳng định việc dạy

và học bộ môn Toán ở các trường THCS còn rất nhiều hạn chế, cần được phân tích kỹ nguyên nhân và phải tìm các giải pháp khắc phục trong những năm học tiếp theo

- Điểm giỏi đạt 3,96%, tăng so với năm 2012 (2,5%), 24 trường có HS đạt điểm giỏi môn Toán, tỷ lệ HS đạt điểm giỏi môn Toán cao, tiêu biểu là các

Trang 36

trường: THCS Him Lam (29,21%), THCS Thanh Bình (16,22%), Tân Bình (13,45%), ; Một số vùng kinh tế xã hội khó khăn cũng có HS đạt điểm giỏi môn Toán như: THCS Mường Báng

Như thế có thể khẳng định rằng với chất lượng học Toán ở THCS và kết quả thi tuyển sinh lớp 10 còn quá thấp thì việc dạy học Toán THPT ở Điện Biên đã, đang và sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách Nâng cao chất lượng dạy học Toán THPT là vấn đề quan trọng lúc này của những nhà giáo tâm huyết với nghề, đòi hỏi họ phải có những biện pháp giáo dục phù hợp

để tác động tích cực đến HS, khơi dậy ở các em niềm say mê với bộ môn này

1.3 Kết luận chương 1

Ở chương 1 chúng tôi đã tiến hành phân tích thực trạng của việc dạy học toán THPT ở Điện Biên Để làm được điều đó chúng tôi tiến hành xem xét hai quá trình dạy và học của GV và HS trên địa bàn tỉnh Điện Biên Quá trình nghiên cứu, phân tích chúng tôi nhận thấy rõ ràng quá trình dạy và học toán THPT có khá nhiều những khó khăn, thử thách đòi hỏi cả người GV và HS cần phải khắc phục, các cấp quản lí cần phải quan tâm hơn nữa đến chất lượng dạy

và học bộ môn cơ bản này ở trường phổ thông

Về phía GV, chúng tôi tạm chỉ ra những nguyên nhân sau:

- Tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không đánh giá đúng thực chất lớp dạy của mình

- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp, chưa quan tâm hết các đối tượng trong lớp chỉ chú trọng vào các HS khá giỏi

- Nội dung bài giảng chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm

- Chưa mạnh dạn tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng học tập của HS còn trông chờ vào chỉ đạo của cấp trên

Về phía HS chúng tôi nhận thấy có những nguyên nhân:

Đây là hệ quả tất yếu của quá trình cho HS lên lớp theo chỉ tiêu đề ra ở cấp tiểu học và THCS, trong suốt 9 năm học không một lần tuyển sinh hoặc thi tốt nghiệp trước khi bước vào bậc THPT

Trang 37

- Đa phần HS chưa xác định đúng được động cơ và mục đích học tập, không thể hiện được ý thức phấn đấu, vươn lên

- Chưa có sự quan tâm đúng đắn từ phía phụ huynh Nhiều gia đình HS hầu như “khoán trắng” việc học của con em mình cho nhà trường, chưa có biện pháp đề nghị nhà trường giúp đỡ thiết thực và có hiệu quả

Trang 38

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TOÁN CHO HỌC SINH THPT ĐIỆN BIÊN

2.1 Định hướng xây dựng biện pháp sư phạm

2.1.1 Phù hợp với yêu cầu và tiêu chí đổi mới phương pháp dạy Toán ở trường phổ thông; đặc biệt là lý luận về dạy học tích cực

Bàn về phương thức giáo dục con người, nhà văn người Nhật Kakura cho

rằng: “Con người không phải là cái bình nước cần được đổ đầy, mà là một ngọn đèn cần được thắp sáng” Đây là một quan niệm tiến bộ về con người, về

phương thức giáo dục: Con người không thụ động tĩnh tại mà luôn vận động phát triển và có khả năng tiếp nhận sáng tạo vô tận Phương thức giáo dục con

người phải là truyền dạy, khơi lên khả năng ấy (tài liệu [6])

Quan niệm trên coi người thầy không chỉ là người đổ dầu, truyền tri thức, mà còn là người thắp lửa, khai sáng, khơi dậy ở mỗi HS ngọn lửa của tri thức, của niềm đam mê và khát vọng sáng tạo không bao giờ tắt

Trong khi đó quan niệm giáo dục truyền thống tuyệt đối hóa vai trò của người thầy trong quá trình dạy học Người thầy giữ vai trò độc tôn trong quá trình dạy học, người thầy rót tri thức, HS là bình chứa những tri thức ấy Vì thế, học trò thụ động trước kiến thức của nhân loại, không tư duy sáng tạo, không bộc lộ mình Chiếc bình chứa ấy một ngày nào đó sẽ đầy lên và tràn ra hết…

Trong xu hướng hiện đại hóa của xã hội, giáo dục cũng đã tiến hành đổi mới Quá trình dạy - học môn Toán ở trường THPT cũng không nằm ngoài quy luật ấy Chúng ta phải tiến hành đổi mới các BPSP dạy học bộ môn Toán ở trường phổ thông trước hết để phục vụ nhiệm vụ đổi mới của nền giáo dục Việt Nam, đưa nền giáo dục nước ta dần hội nhập với các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới Đây là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của việc định hướng xây dựng các BPSP để nâng cao hiệu quả dạy học Toán THPT (tài liệu [6])

Trang 39

Không chỉ có thế, việc định hướng xây dựng các BPSP trong dạy học Toán còn nhằm mục đích tích cực hóa hoạt động của HS Nghĩa là HS dưới sự

tổ chức, định hướng của GV, tự mình phát hiện và chiếm lĩnh tri thức Từ vị thế

bị động, HS đã dành quyền chủ động trong hoạt động học Các em sẽ năng động, tích cực tham gia vào quá trình dạy học, tích cực đặt ra các vấn đề và tìm cách giải quyết các vấn đề nảy sinh trong chính quá trình chinh phục tri thức của mình Khi đó những tri thức chiếm lĩnh được sẽ là của HS, lưu lại trong trí nhớ của các em, khi cần các em chủ động huy động kiến thức đó phục vụ chính bản thân các em Như thế chắc chắn HS sẽ tự tin, hứng thú với việc học Toán,

không còn tâm lí e ngại, lảng tránh bộ môn này nữa

Toán học là một môn khoa học đòi hỏi tư duy lôgic sâu sắc, chính xác Tri thức Toán học trong chương trình THPT rất phong phú và phức tạp Nó

mở ra một thế giới những phép Toán thú vị, hấp dẫn HS, gợi niềm say mê hứng thú ở HS Nhưng không phải GV Toán nào cũng có khả năng sử dụng thành công tất cả các BPSP trong quá trình dạy học và thu được những kết quả như mong muốn

2.1.2 Phù hợp với đối tượng HS THPT Điện Biên

HS THPT ở Điện Biên mang đầy đủ những đặc điểm của HS THPT nói chung nhưng các em cũng có những khác biệt nhất định Vì thế chúng ta không thể sử dụng tất cả các biện pháp giáo dục sư phạm như với HS THPT ở những vùng miền khác, mà phải có sự chọn lựa và sử dụng các BPSP phù hợp

HS THPT ở Điện Biên phần lớn là con em các dân tộc thiểu số, lối tư duy thụ động khá phổ biến Là HS diện chính sách nhà nước, các em được hỗ trợ từ sách vở đến kinh phí học tập và sinh hoạt Nhiều HS có tâm lí trông chờ,

ỷ lại vào chính sách của nhà nước, không chịu khó học tập và phấn đấu trong cuộc sống Khi gặp những khó khăn, trở ngại trong học tập, nhiều em sẵn sàng

từ bỏ hoặc chờ đợi sự giúp đỡ của GV Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình dạy học của thầy và trò ở trường THPT

Trang 40

Thêm nữa với trình độ nhận thức còn hạn chế, nhiều HS học đến THPT nhưng còn nói tiếng phổ thông chưa sõi, kiến thức bộ môn hổng, khuyết thiếu cùng với tâm lí mặc cảm, tự ti và buông xuôi nên chúng ta không thể vận dụng tất cả các BPSP như với HS các vùng miền khác Làm như thế chắc chắn hiệu quả của quá trình dạy học sẽ không cao, đôi khi phản tác dụng

Trước những điểm riêng biệt ấy người GV Toán THPT phải tìm tòi, lựa chọn những BPSP phù hợp với HS của mình thì mới mong có được kết quả như

ý muốn

Chúng tôi quan niệm việc định hướng xây dựng các BPSP để nâng cao hiệu quả việc dạy học Toán THPT ở Điện Biên là phải lựa chọn được những biện pháp phù hợp với điều kiện dạy và học của HS ở đây Điều kiện dạy và học có thể hiểu là các phương tiện dạy học, là cơ sở vật chất của địa phương

Trong những năm qua, ngành giáo dục của tỉnh Điện Biên đã có sự đầu

tư khá lớn và đồng bộ đối với các trường THPT trong toàn tỉnh Nhưng do điều kiện kinh tế và điều kiện địa lí, tự nhiên, xã hội của các trường trong tỉnh không đồng đều, có những trường ở vùng kinh tế khó khăn, điều kiện phòng ốc không đảm bảo, cơ sở vật chất lớp học thiếu đồng bộ, chắp ghép, không đủ các phương tiện dạy học cho cả thầy và trò Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình dạy và học, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của địa phương

2.2 Một số biện pháp tăng cường tính tích cực học tập toán cho HS THPT Điện Biên

2.2.1 Biện pháp 1: Căn cứ vào chương trình SGK Toán THPT để tập trung vào thực hiện những nội dung cơ bản phù hợp với đối tượng HS THPT Điện Biên

a) Cơ sở của biện pháp

Qua giảng dạy và tìm hiểu phân phối chương trình bộ môn Toán THPT,

có thể thấy nội dung chương trình môn Toán THPT bao gồm những kiến thức

cơ bản sau đây:

- Số và phép tính trên tập hợp số thực, số phức;

Ngày đăng: 21/11/2014, 02:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Hạo (tổng chủ biên) - Vũ Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam - Lê Văn Tiến - Vũ Viết Yên (2007), Đại số và giải tích 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số và giải tích 11
Tác giả: Trần Văn Hạo (tổng chủ biên) - Vũ Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam - Lê Văn Tiến - Vũ Viết Yên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
2. Trần Văn Hạo (tổng chủ biên) - Vũ Tuấn (chủ biên), Doãn Minh Cường - Đỗ Mạnh Hùng - Nguyễn Tiến Tài (2010), Đại Số 10, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Số 10
Tác giả: Trần Văn Hạo (tổng chủ biên) - Vũ Tuấn (chủ biên), Doãn Minh Cường - Đỗ Mạnh Hùng - Nguyễn Tiến Tài
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Trần Lê Huy (2011), Dạy học nội dung “Tổ hợp - Xác suất” ở lớp 11 theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh, Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nội dung “Tổ hợp - Xác suất” ở lớp 11 theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh
Tác giả: Trần Lê Huy
Nhà XB: Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
Năm: 2011
4. Bùi Văn Nghị (2009), Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn toán ở trường phổ thông, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn toán ở trường phổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2009
5. Đoàn Quỳnh (tổng chủ biên) - Văn Như Cương (chủ biên), Phạm Khắc Ban - Tạ Mân (2012), Hình học nâng cao 11, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học nâng cao 11
Tác giả: Đoàn Quỳnh (tổng chủ biên) - Văn Như Cương (chủ biên), Phạm Khắc Ban - Tạ Mân
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
6. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Mối liên hệ tác động qua lại của các yếu tố tác động đến TTCNT - một số biện pháp sư phạm giúp học sinh thpt điện biên tích cực học tập môn toán
Sơ đồ 1.1. Mối liên hệ tác động qua lại của các yếu tố tác động đến TTCNT (Trang 15)
Bảng 1.1: Thống kê điểm thi tuyển sinh môn Toán lớp 10 năm 2013 - một số biện pháp sư phạm giúp học sinh thpt điện biên tích cực học tập môn toán
Bảng 1.1 Thống kê điểm thi tuyển sinh môn Toán lớp 10 năm 2013 (Trang 35)
Bảng 3.1: Kết quả bài kiểm tra 45 phút theo đề số 1 - một số biện pháp sư phạm giúp học sinh thpt điện biên tích cực học tập môn toán
Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra 45 phút theo đề số 1 (Trang 79)
Bảng 3.2: Kết quả tổng hợp của bài kiểm tra 45 phút theo đề số 2 - một số biện pháp sư phạm giúp học sinh thpt điện biên tích cực học tập môn toán
Bảng 3.2 Kết quả tổng hợp của bài kiểm tra 45 phút theo đề số 2 (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w