1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu tìm hiểu nghệ thuật sáng tạo trong ngôn từ của nhà báo phan khôi

198 548 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, đầu năm 1959 Phan Khôi qua đời ở miền Bắc thì chỉ vài tháng sau đó tại Sài Gòn tờ Giáo dục phổ thông số 38 đã có một số bài đặc biệt về Phan Khôi, trong đó có bài viết quan tr

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM ANH NGUYÊN

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT SÁNG TẠO TRONG NGÔN TỪ CỦA NHÀ BÁO PHAN KHÔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn i

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013

Tác giả luận văn Phạm Anh Nguyên

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHẠM ANH NGUYÊN

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn iii

1.2 Các thành tựu chính của Phan Khôi trong lĩnh vực báo chí tân văn 13

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn iv

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn v

3.4.1 Độ dài câu và kiểu câu tùy thuộc lượng tin và ý đồ người viết 75

Trang 9

Ở giai đoạn giao thời ấy đòi hỏi phải có những người “mở đường” khai phá Trong đó có Phan Khôi (1887 – 1959) với tư cách là tên tuổi lớn của báo chí, văn học và tư tưởng Việt Nam thế kỷ XX Ngòi bút Phan Khôi tung hoành ngang dọc, được coi là bướng bỉnh ngang tàng nổi tiếng một thời Ông viết mỗi năm hàng trăm bài báo, bút chiến, khảo luận thể hiện một cá tính, một phong cách khác thường Nói tới báo chí Việt Nam ở giai đoạn đầu không thể không nói tới Phan Khôi

Trong chừng mực tư liệu mà hôm nay chúng ta có được, chủ yếu do Lại Nguyên Ân sưu tầm và công bố, chỉ tính riêng từ năm 1928 đến 1932 Phan Khôi viết trên dưới 2000 bài báo lớn nhỏ Với lượng bài báo đồ sộ như thế cùng phong cách đa dạng mà Phan Khôi đã thể hiện, người ta có thể khẳng định được vai trò

“mở đường” của ông trong báo chí hiện đại đặc biệt trong phong cách nghị luận báo chí thông tấn Nói cách khác, phong cách nghị luận trên báo chí đã được Phan Khôi thể hiện một cách rõ ràng, dứt khoát mà những người làm báo trước ông cũng như cùng thời với ông chưa làm được

Điều làm nên sự khác biệt không thể lẫn giữa phong cách viết của Phan Khôi với các nhà báo khác là Phan Khôi đã bộc lộ ra một tư duy sắc sảo trong lập luận, phản biện bằng một cấu trúc ngôn từ hiện đại, mới mẻ Các bài báo của ông không chỉ phản ánh được những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc mà còn tạo ra một phong cách viết báo cách tân, đặc sắc gây được sự ảnh hưởng chú ý cho dư luận đương thời Ông viết báo ở nhiều loại, thể và chuyên mục khác nhau từ tạp văn, phê bình văn học, bút chiến, tranh luận, khảo luận khoa học, dịch thuật, “Câu chuyện hàng ngày”, “Những điều nghe thấy”, “Văn Uyển”, “Hán Văn độc tu” đến những mẩu

tạp trở “Giấy thừa, mực vụn” viết vốn chỉ để lấp đầy các trang báo thì đều luôn thú

vị Thú vị vì sự cẩn trọng của một người uyên thâm Nho học, vì tinh thần duy lý với

Trang 10

2

cách phân tích sắc sảo, vì tư tưởng duy tân mạnh mẽ, vì tinh thần phê phán thấm đầy qua từng trang viết Các tác phẩm của Phan Khôi đến nay vẫn còn đọng lại nhiều giá trị, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử báo chí, nghiên cứu các vấn

đề liên quan đến thể loại báo chí, kỹ năng viết báo và đặc biệt là khả năng khai thác ngôn từ sáng tạo theo lối của riêng ông

Chúng tôi qua luận văn này muốn tìm hiểu một vài đặc điểm chính về nghệ thuật sáng tạo ngôn từ của Phan Khôi trên các bài báo của ông

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về tư liệu

Ngoài các sáng tác văn học, dịch thuật tiêu biểu như: các bài thơ Dân quạ

đình công (1909), Đưa chồng, Nhớ chồng (1919), Tình già (1932); tập truyện Trở lửa vỏ ra (1939); dịch Kinh Ky-tô ra chữ Quốc ngữ (1926); dịch bộ tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo của Alecxandre Dumas (1929), bản dịch Thù làng (1951), Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn (1955), Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn (1956) Cho đến nay

ngoài 2 cuốn sách “Chương Dân thi thoại” (Tên lúc đầu là Nam Âm thi thoại) và

“Việt ngữ nghiên cứu” được Nxb Đà Nẵng tái bản năm 2006 thì di sản báo chí của Phan Khôi mới chỉ được sưu tầm và công bố một phần chưa đầy đủ Cụ thể là:

- Nhà nghiên cứu Thanh Lãng sưu tầm và giới thiệu một phần di sản báo chí

của Phan Khôi trên tờ Phụ nữ tân văn giai đoạn 1929 – 1934, đã được in trong cuốn

“13 năm tranh luận văn học 1932 – 1945” (tập 3, Nxb.Tp Hồ Chí Minh, 1995)

- Các tác phẩm báo chí của Phan Khôi do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn:

+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1928, Nxb Đà Nẵng, 2003

+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1929, Nxb Đà Nẵng, 2005

+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1930, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006 + Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1931, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006 + Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1932, Nxb Trí thức, Hà Nội, 2009

+ Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006

Trang 11

3

Có thể khẳng định tất cả những di sản đã được công bố ở trên chỉ là một phần rất nhỏ, thậm chí chưa phải là nội dung chủ yếu trong sự nghiệp sáng tác của Phan Khôi Nói như nhà nghiên cứu Thanh Lãng:

“Sự nghiệp của ông (tức Phan Khôi) hầu hết hãy còn nằm rải rác trên mặt báo Mà có lẽ những gì tinh túy nhất của ông, linh lợi nhất nơi ông, “Phan Khôi nhất” trong ông hình như đều chưa được in thành sách mà hãy còn cất giấu kín dưới những chồng báo”

(Thanh Lãng, Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn, 1973)

2.2 Các công trình nghiên cứu

Qua công trình Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi, GS.Hoàng Tuệ từng

đánh giá rất cao những đóng góp của Phan Khôi đối với Việt ngữ học và hơn thế nữa, còn nhận định:

“Phan Khôi là nhà văn hóa rất quý trọng tiếng Việt, quyết tâm bảo vệ ngôn ngữ dân tộc Ông theo đuổi sự nghiệp này khi hoạt động ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội, rồi đi theo cách mạng giải phóng dân tộc, hoạt động cho tới cuối đời Và Phan Khôi có trí tuệ của một nhà Việt ngữ học Trí tuệ của ông hình thành từ một văn hóa rộng mở, những hiểu biết không chỉ về tiếng Việt, tiếng Hán mà còn về tiếng Pháp, tiếng Anh” [57,tr.11]

Một nhân vật nổi bật như vậy nhưng sau này lại rất ít được biết tới Nguyên

cớ của tình trạng này là các sự việc mà Phan Khôi mắc phải về sau, nhất là vụ Nhân văn – Giai phẩm Trong rất nhiều năm, giới nghiên cứu miền Bắc gần như không quan tâm tới Phan Khôi, trong khi một số tờ tạp chí lớn của Sài Gòn trước 1975 từng dành các số chuyên đề để viết về ông Đặc biệt, đầu năm 1959 Phan Khôi qua

đời ở miền Bắc thì chỉ vài tháng sau đó tại Sài Gòn tờ Giáo dục phổ thông (số 38)

đã có một số bài đặc biệt về Phan Khôi, trong đó có bài viết quan trọng “Ông Phan Khôi với nhân văn chủ nghĩa” của nhà văn Thiếu Sơn, và để khẳng định địa vị

“ngôi sao” của Phan Khôi còn được Thiếu Sơn nói cụ thể hơn:

“Ông Diệp Văn Kỳ là con người sành điệu đã để ý tới ông, mời ông hợp tác nhưng lúc đó nhiều ngôi sao sáng đã gặp nhau ở một chỗ nên Phan Khôi chưa nổi

Trang 12

4

bật Ông chỉ nổi bật khi ông được mời tới viết cho PNTV của ông bà Nguyễn Đức Nhuận Hồi đó, vào khoảng năm 1930 một bài văn được trả 5 đồng là hậu lắm rồi Vậy mà PNTV dám trả 25 đồng cho một bài cho ông Phan Một tháng 4 bài 100 đồng tức là hơn lương công chức ngạch cao cấp ở huyện, phủ Như vậy thì đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo Phải nói là mắc như vàng mới đúng Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ có văn chương của Phan Khôi mới được giá thế và chỉ có ông

bà Nguyễn Đức Nhuận mới dám trả tới giá đó mà thôi Trả như vậy mà tôi còn cho rằng chưa tới mức vì hầu hết độc giả bỏ 15 xu ra mua PNTV đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân, những bài viết gãy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thần tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái Cái đặc biệt ở Phan Khôi là chống công thức (non conformiste)”

[52,tr354]

- Tại Sài Gòn năm 1973, Linh mục Thang Lãng trong công trình Phê bình

văn học thế hệ 1932 đánh giá Phan Khôi là nhân vật nổi bất nhất trước giai đoạn

1945 góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển văn học, văn hóa và tư tưởng của Việt Nam Thanh Lãng đặc biệt quan tâm tới các cuộc tranh luận về học thuật và tư tưởng nên đã liệt kê 10 cuộc tranh luận nổi bật giai đoạn 1932 – 1945, thì trong đó

có tới 5 cuộc tranh luận có liên quan tới Phan Khôi: tranh luận Phan Khôi – Trần

Trọng Kim xung quanh bộ Nho giáo; cuộc tranh luận giữa Tản Đà – Phan Khôi về

cách hiểu Tống Nho và truyền thống; các cuộc tranh luận lớn xung quanh vấn đề

“quốc học” với sự tham biện của Lê Dư, Trình Đình Rư, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nguyễn Trọng Thuật; cuộc tranh luận về Thơ Mới với rất đông thành phần, nổi bật nhất là Phan Khôi, Lưu Trọng Lư; tranh luận về duy tâm – duy vật giữa Phan Khôi với Hải Triều Qua đó thấy được Phan Khôi luôn ở vị trí trung tâm trong các cuộc tranh luận này, nếu không phải là người châm ngòi thì cũng là người tham gia hết

sức tích cực và có tiếng nói hết sức có trọng lượng Vậy nên trong cuốn sách Phụ

Nữ Tân Văn – Phấn son tô điểm sơn hà, tác giả Thiện Mộc Lan đánh giá ông là

nhân vật đứng đầu trong “tứ đại” của báo giới Sài Gòn trước 1945: “Hồi thập niên

30 của thế kỷ vừa qua, tại Sài Gòn có bốn nhân vật lừng danh: Phan Khôi, Đào

Trang 13

Nguyên Ân bỏ công phu sưu tầm tập 4 quyển Phan Khôi: tác phẩm đăng báo từ

năm 1928 – 1932 thì bộ sách quý giá này gần như không gây được sự chú ý gì trên báo chí ngày nay Dường như nhiều người không còn để ý tới lịch sử và sự lộ diện trở lại của các nhân vật bấy lâu nay bị chìm lấp đầy bất công Càng bất công hơn nữa khi mà Phan Khôi là một trong những bộ óc độc đáo nhất, uyên bác nhất, tỉ mỉ nhất từng hiện diện trong lịch sử trí thức Việt Nam1

Ở bất cứ hướng tiếp cận nào cũng cho thấy sự hiện diện của Phan Khôi là rất độc đáo Sự độc đáo là cái mới, cái lạ trong chiều sâu tư duy và cách thể hiện của Phan Khôi Nhiều người vẫn nói Phan Khôi hay cãi, “gàn” nhưng nếu xem xét và đọc về Phan Khôi một cách có hệ thống thì thấy rõ cá tính và khả năng sản sinh sáng tạo của Phan Khôi được trải dài, sâu trên nhiều lĩnh vực từ văn hóa – tư tưởng, lịch sử - triết học, văn học – nghệ thuật, nhân chủng học – y dược, kiến thức Đông Tây – Kim cổ, chính trị - thời cuộc, nội ngữ - ngoại ngữ Tất cả đều được ông thể hiện theo một đường hướng độc lập “rất Phan Khôi”, ít chịu sự ảnh hưởng bên ngoài vì ông luôn nhất quán trong việc chống chủ nghĩa hình thức, kinh viện – giáo điều, cổ súy duy tân – đổi mới

Riêng thời kỳ làm báo tại Sài Gòn những năm 20, 30 là thời kỳ Phan Khôi hoạt động sôi nổi nhất: cùng một lúc ông viết bài cho nhiều tờ báo khắp trong Nam

ngoài Bắc như Phụ nữ Tân Văn, Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Trung lập,

1

Sau khi Hồ sơ Phan Khôi được tác giả Lại Nguyên Ân công bố thì cũng chỉ xuất hiện những bài viết nhỏ

của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Cao Việt Dũng, Nguyễn Đăng Điệp, Vương Trí Nhàn, Hà Linh, Phan Thanh

Minh, Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Ngọc Thạch, Phạm Xuân Thạch … đăng rải rác trên Tạp chí nghiên cứu văn

học, Thể thao và Văn hóa, Điện tử kiến thức, Thesaigontimes.vn … Đây mới chỉ là các bài viết với nội dung

khái quát, nêu nhận định hoặc phản ánh một mặt nào đó than thế - sự nghiệp của Phan Khôi Trong loạt các bài viết này nổi bật hơn cả là các bài viết của các tác giả Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Mạnh và Cao Việt

Dũng Tác giả Lại Nguyên Ân trong tập tiểu luận “Mênh mông chật chội” có hai bài viết: “Phan Khôi và

cuộc thảo luận sử học năm 1928 trên Đông Pháp thời báo” và “Liệu có thể xem Phan Khôi (1887 – 1959) như một tác gia văn học Quốc ngữ Nam Bộ?” theo đánh giá của chúng tôi là rất có giá trị, gợi mở cho nhiều

hướng tiếp cận khi nghiên cứu về học giả Phan Khôi bao gồm từ sử liệu, lịch sử báo chí, nghiên cứu văn hóa – văn học, triết học – tư tưởng, ngôn ngữ …

Trang 14

6

Đông Tây, Phổ thông trong đó có những tờ báo Phan Khôi là trụ cột có tầm ảnh

hưởng quyết định như ở tờ Phụ nữ Tân Văn, Trung lập

Xét về mặt thể loại báo chí và ngôn ngữ thể hiện thì Phan Khôi có những đóng góp cụ thể:

a) Ngoài phong cách nghị luận trên báo chí thì Phan Khôi là nhà báo định

hình rõ nét nhất thể loại Hài đàm trên báo chí Đó là những bài viết theo lối tạp văn

và được coi là “đặc sản” và chiếm số lượng rất lớn trong các sáng tác báo chí của

ông: “Lượng bài Phan Khôi viết và đăng trên Trung lập có lẽ là lớn nhất so với

lượng vài của ông đăng trên bất cứ tờ báo nào Trước hết là mục hài đàm

“Những điều nghe thấy” mà tòa soạn dành riêng cho ông viết với bút danh Thông reo (10 ngày đầu lấy là Tha Sơn)” Từ 2/5/1930 đến 30/5/1933, ngày Trung lập bị

đóng cửa, Phan Khôi đã viết trên 600 bài cho mục “Những điều nghe thấy” [9,tr.9]

b) Về ngôn ngữ thể hiện Phan Khôi đã có sự chuyển biến về chất “Ông bắt

đầu viết được lối văn sát sóng như lối văn hiện giờ từ hồi ông làm cho Đông Pháp thời báo ở Nam” [9,tr.2] Cũng chính Hoàng Tích Chu – người mở đầu cho lối viết văn dây thép ngắn gọn mà người cùng thời cọi là lối viết cụt lủn “tỏ ra thích thú nét tinh quái của ngòi bút Thông Reo ở mục Những điều nghe thấy” [5,tr.11] GS

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài nghiên cứu về Phong cách nghị luận, bút chiến của

Phan Khôi (Tạp chí Văn học, số 9/2010) đã có nhiều nhận định tinh tế, chính xác về

lối viết của Phan Khôi:

Ngoài “cảm hứng gây sự” – một thủ pháp nhằm gây sự chú ý trong hoạt động thông tấn – báo chí, “Hễ dư luận nói xuôi thì ông nói ngược vì xem chừng ông rất khoái chí gây ra được những cú sốc như thế với dư luận Mà có như vậy, văn Phan Khôi mới nổi góc cạnh lên được” Đã bước đầu đề cập tới cách lập luận, hàm ngôn của Phan Khôi, đó là thiên về tư duy lôgic “chỉ nói lý, không nói tình” Trong nghị luận, bút chiến Phan Khôi kiên quyết dứt bỏ tình cảm và đề cao lí trí

Đề cao lý trí tất phải coi trọng luận lý học “Muốn cho thông thì chúng ta viết văn cốt phải đúng theo văn pháp và luận lý học” Với nguyên tắc của luận lý học đòi hỏi phải xác định chính xác nội hàm của các khái niệm, ý nghĩa của các thuật ngữ,

Trang 15

7

các ngôn từ Cũng chính từ việc vận dụng cẩn trọng luận lý học trong viết văn, làm báo mà Phan Khôi sẵn sàng đứng ra làm Ngự sử văn đàn , viết hàng loạt các bài đính chính những sai phạm trong nhận thức và sử dụng các thuật ngữ, ngôn từ, cách dùng hình ảnh của nhiều nhà văn, nhà báo cùng thời Nguyên tắc phát ngôn của Phan Khôi là nói điều gì cũng phải tra xét cho phân minh, có chứng cứ rõ ràng rồi mới nói Văn phong của ông trước hết các khái niệm, các thuật ngữ đều được định nghĩa rõ ràng “theo tam đoạn luận thì phải xét rõ mạng đề (proposition) Muốn xét rõ mạng đề phải biện từng danh từ (terme) cho rành rẽ Vậy bước đầu lôgic là tế nhận danh từ, bước này sai là hỏng bét” Tuy vậy Phan Khôi thường hay dùng thành ngữ, tục ngữ và có lối nói khẩu ngữ rất phóng túng thoải mái

[65,tr.90-94]

Ngoài ra trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học, Phan Khôi cũng để lại

nhiều dấu ấn riêng Nguyễn Hiến Lê (Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê, tập III, Ngữ học) khi bàn về Loại từ đi với thể trở động vật [61, tr.328]; Quan hệ từ của câu [61, tr.558]; Ảnh hưởng về ngữ pháp, Dùng thể từ thay cho trạng từ [61, tr.623] đều

có viện dẫn các ví dụ của Phan Khôi và đồng quan điểm với cách lý giải của tác giả

Việt ngữ học nghiên cứu

Khi luận giải về Sự phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ đã phát triển trường

hợp tiếng Việt, Hoàng Cao Cương đã nhắc tới Phan Khôi với một thái độ đặc biệt

kính trọng:

“Hơn một ngàn năm học chữ Hán, vẫn có nhờ nó lập cho ta một nền văn hóa khả quan, nhưng nếu nói ta đã lập trên thứ chữ ấy một nền văn hóa xứng đáng thì tôi tưởng rằng chưa chắc Bởi một thứ chữ mà ta viết hãy còn chưa nhã thuần, chưa đúng văn pháp, thì làm sao cho thành văn học được” [24,tr.2]

Tóm lại Phan Khôi là nhân vật nổi trội đặc biệt nhất trong giới trí thức, trong làng văn, làng báo Việt Nam đầu thế kỷ XX, nhưng các công trình nghiên cứu về ông chưa nhiều, chưa thật tương xứng với tài năng và học thuật của ông, nhất là ở lĩnh vực báo chí thì hầu như thiếu vắng hoàn toàn Nguyên nhân của tình trạng này được nhấn mạnh là bởi giới nghiên cứu ở Việt Nam chưa thực sự quan tâm tới xử lý

Trang 16

[65,tr.108]

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp mô tả và thống kê

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tác phẩm báo chí

- Phương pháp liên ngành: ngôn ngữ học, xã hội học, nghiên cứu văn học

và các sản phẩm thông tấn – báo chí

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các tác phẩm báo chí của Phan Khôi đăng từ năm 1928 đến năm 1932 do Lại Nguyên Ân sưu tầm, công bố Đồng thời luận văn sẽ đối chiếu với một số tác phẩm báo chí của các tác giả khác cùng thời và sau thời Phan Khôi

5 Các đóng góp chính kỳ vọng

- Luận văn theo hướng khảo sát chi tiết sự nghiệp một tác giả nhằm đưa ra những nhận định mới mẻ về sự đóng góp của Phan Khôi đối với sự hình thành và phát triển tiếng Việt trong thời điểm giao thời

- Mong muốn khẳng định được cách đi sáng tạo của Phan Khôi trong tận dụng và cách tân tiếng Việt, cái đã làm nên giá trị bền vững của Phan Khôi trong đời sống tinh thần đương đại Việt Nam

- Hệ thống hóa được các thủ pháp nghệ thuật ngôn từ mà Phan Khôi đã dùng trong lĩnh vực báo chí

Trang 17

9

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm

3 chương nội dung:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết

Chương 2 Đặc điểm ngôn từ của Phan Khôi trong báo chí

Chương 3 Các đóng góp chính của Phan Khôi trong báo chí từ nghệ thuật ngôn từ

Cuối luận văn chúng tôi đính kèm một số Phụ lục có liên quan đến các phân

tích ở chương 2 và 3

Trang 18

Khôi đã tham gia các phong trào cách mạng Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục nên

ông từng bị bắt giam một thời gian Với truyền thống của gia đình, với vốn Hán học vững vàng, lại sắc sảo thông minh Phan Khôi hoàn toàn thuận lợi đi theo con đường khoa cử Nhưng ông lại quay lưng với chữ nghĩa trường quy, cắt tóc, theo học tiếng Pháp và tiếng Việt Chính môi trường cách mạng sôi động những năm đầu thế kỷ đã câu thúc Phan Khôi vào hoạt động báo chí

Đầu thế kỷ XIX, với những biến cố lớn lao của lịch sử đã làm thay đổi mạnh

mẽ tới đời sống xã hội Việt Nam, trong đó phải kể tới những yếu tố mới xuất hiện làm thay đổi diện mạo văn hóa – tư tưởng người Việt:

a Chữ Quốc ngữ với sự ra đời của báo chí, in ấn

Tính từ khi nổ tiếng súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng (1858) cho đến khi dập tắt được phong trào Cần Vương, năm 1896, thực dân Pháp mất 38 năm mới xâm chiếm được toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam Trong suốt thời gian đó cùng với sự chiếm đóng quân sự, Pháp đã tiến hành nhiều chính sách nhằm xây dựng một thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa phù hợp với việc khai thác và đồng hóa thuộc địa Trong chính sách đồng hóa thực dân Pháp chủ trương khuyến khích dùng

chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh, vì người Pháp đã nhận thấy: “chữ Hán còn là

một ngăn trở giữa chúng ta với người bản xứ, sự giáo dục bằng thứ chữ tượng hình ( ) chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết liên quan đến khung cảnh của nền cai trị mới cũng như cho việc thương mại” [100,

tr.129] Người Pháp đã quyết tâm thay thế hẳn chữ Hán, chữ Nôm bằng chữ Quốc ngữ là một mưu tính nhằm tách hoàn toàn và vĩnh viễn người dân An Nam thuộc

Trang 19

11

địa ra khỏi ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa Mặt khác, xuất phát từ tâm địa

của kẻ đi khai phá, họ nhận định: “chữ Quốc ngữ chỉ có thể tiện lợi cho nhu cầu

hàng ngày và nó không thể trở thành một chữ viết của văn chương, văn hóa thông thái” [100, tr.129]

Để hỗ trợ cho sự phát triển nhanh chóng của chữ Quốc ngữ là sự xuất hiện

của báo chí và in ấn: tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ra đời ở Nam Kỳ là Gia Định báo (1865) Tiếp theo là Nam Kỳ nhật trình (1883), Thông loại khóa trình (1888), Bảo

hộ Nam dân (1888), Đại Nam đồng văn nhật báo (1892), Phan Yên báo (1898) Đi

liền với hoạt động báo chí là sự hiện diện của các nhà in của nhà nước bảo hộ (Imprimeries du Gouvernement) và các nhà in tư nhân (ví dụ như nhà in của hiệu

thuốc Tây Holbé in cho Nam Kỳ nhật trình; nhà in của một họ đạo ở Tân Định in cho Nam Kỳ địa phận ) Có thể thấy rõ báo chí ra đời đã thúc đẩy chữ Quốc ngữ

phổ cập nhanh chóng đồng thời khiến cho đời sống văn hóa, văn chương có một bầu không khí mới mẻ, sôi động và năng động khác thường

b Hệ thống giáo dục với sự ra đời của đội ngũ cầm bút mới viết văn, làm báo

Phát triển song song với việc cổ động dùng chữ Quốc ngữ, phát triển báo chí, chính quyền Pháp tại Việt Nam chú trọng xây dựng nền giáo dục Pháp – Việt, với mục tiêu đào tạo một lớp nhân viên hành chính phục vụ trong bộ máy công quyền, giáo dục – văn hóa của chính quyền thực dân Trong thực tế, ngoài những công chức mẫn cán, hệ thống giáo dục này đã tạo ra một nhóm trí thức gồm đủ hiểu biết Đông Tây kim cổ Có thể tóm tắt lịch sử phát triển và một số đặc điểm quan trọng của nền giáo dục Pháp Việt để thấy được những ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa – tư tưởng, văn chương như sau:

- Giai đoạn 1 từ 1858 – 1904, có 2 loại hình trường học là trường Dòng

(trường học Thiên Chúa giáo) và trường Thông ngôn (đào tạo công chức phục vụ cho bộ máy cai trị) Khá nhiều tên tuổi lớn người Việt như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, đã qua học các khóa đào tạo này

Trang 20

12

- Giai đoạn 2 từ 1904-1917 tồn tại song song hai loại hình cũ, mới trong hệ

thống giáo dục Quốc dân Mô hình “tháp đôi” nghĩa là giữ nguyên loại hình nhà trường giáo dục theo lối truyền thống và du nhập thêm một loại hình nhà trường mô phỏng y nguyên hình thức trường học từ chính quốc Đây chính là điều kiện để xuất hiện trong lịch sử Việt Nam lớp trí thức mang trong mình hai nền văn hóa Đông – Tây ra sức xây dựng nền giáo dục bản xứ và gây dựng văn hóa Việt Nam theo xu hướng mới, tiêu biểu như Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm,

- Giai đoạn 3 từ 1917 – 1924, mô hình “tháp đôi” được thay thế bởi mô hình

giáo dục “kiểu kim tự tháp” với 4 cấp học là sơ học, tiểu học, cao đẳng tiểu học và trung học bản xứ Đây được coi là “giai đoạn vàng” của nền giáo dục Pháp – Việt

và về cơ bản được giữ ổn định đến hết năm 1945 [100]

Mặc dù mục tiêu chính của nền giáo dục Pháp Việt là đào tạo ra đội ngũ nhân viên thừa hành cho bộ máy cai trị thực dân, nhưng hệ quả lại nằm ngoài mưu tính thực dân là tri thức, các trào lưu tư tưởng duy tân và văn hóa, trong đó có cả văn chương, báo chí phương Tây có cơ hội phổ biến, du nhập vào Việt Nam Đây là môi trường quyết định tạo ra sự phân hóa đội ngũ cầm bút cựu trào hình thành nên một đội ngũ nhà văn, làm báo mới Và đây cũng chính là giai đoạn giao thời:

“Giai đoạn Đông – Tây đụng độ, tân cựu giao tranh, giai đoạn tư tưởng văn hóa dân tộc đang cần xác định phương hướng đúng đắn để tiến lên cho kịp thời đại Trong cuộc đụng độ về tư tưởng và văn hóa giữa Đông và Tây, nói chung ai cũng đều phải thừa nhận ưu thế của văn minh phương Tây hiện đại Tuy nhiên, dư luận của phần lớn giới trí thức đương thời cho rằng dù phải chấp nhận nền văn minh ấy vẫn không thể vứt bỏ hoàn toàn truyền thống văn hóa phương Đông, vẫn phải giữ lấy quốc hồn quốc túy An Nam Trong khi chủ trương tân cựu điều hòa, thổ nạp Á

Âu của Phạm Quỳnh được nhiều người tán thưởng thì Phan Khôi khác biệt, ông dứt khoát phản đối” [9, tr.96]

Trang 21

13

Tuy còn những điểm hạn chế là ông chỉ thấy các mặt đối lập mà không thấy yêu tố có thể hòa hợp giữa văn hóa Đông và Tây, giữa cựu học và tân học, giữa nhận thức trực giác và tư duy khoa học nhưng có thể thấy rất rõ, xét theo xu hướng, toàn bộ các sáng tác của Phan Khôi đều mang tính hướng thượng, cổ vũ cho cái mới với tinh thần duy lý đến cực đoan Các bài viết của Phan Khôi đều mang văn phong khoa học, chính xác, lập luận chặt chẽ, bằng chứng rõ ràng, có sức thuyết

phục Ông xác định 3 tiêu chí chuẩn mực của Văn chương nhà báo: tín, đạt, mỹ [3, tr.138] Tín là chân thực, chính xác; đạt là diễn giải đúng và rõ ý người viết; mỹ là

văn phải cho đẹp, lời cho nhã, ý cho mới Phong cách chuẩn mực này của Phan Khôi đã có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới hoạt động văn chương, báo chí đương thời

1.2 Các thành tựu chính của Phan Khôi trong lĩnh vực báo chí tân văn

Năm 1918, Phan Khôi bắt đầu viết báo cho tạp chí Nam Phong ở Hà Nội với

bút danh Chương Dân Ở đây ngòi bút Chương Dân bộc lộ tiềm năng của một cây bút viết cả chữ Hán lẫn chữ Việt, có nghị luận, khảo cứu lẫn sáng tác văn chương

Tuy vậy, hoạt động báo chí của Phan Khôi thực sự sôi nổi nhất phải là từ khi ông tham gia, góp mặt với báo chương Sài Gòn từ đầu năm 1928, gắn tên tuổi của

mình với các tờ Đông Pháp thời báo, Thân Chung, Phụ nữ Tân Văn, Trung lập (tiếng Việt) và ít nhiều gắn với các tờ Quần báo, Hoa Kiều nhật báo (chữ Hán) ở

Chợ Lớn Sài Gòn Chính môi trường báo chí văn chương Sài Gòn chính là nơi nuôi dưỡng cây bút Phan Khôi từ lúc định hình đến độ trưởng thành, là nơi cây bút viết báo viết văn của ông làm việc năng suất nhất, hiệu quả nhất Chỉ tính riêng từ năm

1928 đến năm 1932 trên các tờ báo này đã đăng tải khoảng 2000 bài báo lớn nhỏ của ông Các bài viết này đề cập tới hầu hết mọi vấn đề cấp thiết về chính trị, kinh

tế, văn hóa của xã hội Việt Nam đương thời, được phản ánh qua các nội dung, đề tài

cụ thể như chính sách cải cách, học thuyết tư tưởng, lịch sử, tôn giáo, giáo dục, phụ

nữ, thanh niên, gia đình, văn học, ngôn ngữ,

Trang 22

Chương Dân thi thoại Đây là tập hợp các bài viết trên mục Nam Âm thi thoại, viết

từ thời làm cho Nam Phong tạp chí và một số bài khác trên Đông Pháp thời báo,

Phụ nữ Tân Văn, tháng 2/1936 Thi thoại là một lối trứ thuật chuyện nói về chuyện

làm thi Trong thi thoại thường cóp nhặt những bài những câu thi hay và thường có kèm theo lời bình phẩm, cốt để lưu truyền những câu đắc ý của văn nhân tài tử Việt Nam tuy có truyền thống thi ca lâu đời, nhưng sách thi thoại dường như chưa xuất hiện; trong bối cảnh đó Phan Khôi là người khởi tạo loại sách này (xét về mặt thời

gian Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng xuất hiện sau Nam Âm thi thoại)

Luôn theo đuổi đi tìm cái mới, nên Phan Khôi nhận ra sự mòn sáo, cạn kiệt của thơ Đường luật đã không đủ sức để cho nhà thờ phô diễn được một cách tự nhiên tình

cảm, tâm tư Bài viết Một lối “thơ Mới” trình cháng giữa làng thơ với bài thơ Tình

già của Phan Khôi (PNTV, Sài Gòn, số 122, ngày 10/3/1932) thực sự đã tạo ra một

cú “sốc” cho phái thơ cũ Về mặt nghệ thuật, bài thơ Tình già chưa đạt tới mức làm

cho phái thơ cũ nản lòng nhưng cách xây dựng dòng thơ và cách phô diễn tình cảm của ông thì quả thực là một lối thơ mới được trình cháng giữa làng thơ Như vậy, vị trí lịch sử của Phan Khôi được khẳng định qua việc khởi xướng phong trào thơ mới Chính với tinh thần nhập thế và niềm say mê cái mới đã đưa Phan Khôi vào vị trí

1Cũng cần phải nói thêm: trong cuốn hồi ký của mình, Nguyễn Công Hoàn thuật lại bầu không khí

văn chương ở nửa đầu thế kỷ trước: “Trước kia, người viết văn ra làm báo, và trong khi làm báo vẫn viết văn Báo nào cũng có đăng văn chương, nên văn chương ra đời bằng con đường báo chí Chưa có báo chí thuần túy về văn chương, cũng chưa có nhà xuất bản in những sách văn học ( ) thời đó, người ta lẫn lộn giữa nhà báo với nhà văn, cũng như nhà văn với nhà báo” [59, tr.54] Từ nhận xét này của Nguyễn Công Hoàn về việc “lẫn lộn” nhà văn với nhà báo, ta có thể hình dung được phần nào mức độ khó của việc phân chia rạch ròi giữa báo chí và văn chương Trong tâm trí những người thời ấy, việc phân chia này có lẽ là hoàn toàn không cần thiết, báo chí và văn chương

có một cuộc sống chung lý tưởng, không hẳn là sự tiến triển đi lên từ báo sang sách, mà hai lĩnh vực này đều có chỗ đứng riêng trong sự liên kết rất chặt chẽ, tầm quan trọng của báo chí trong cái nhìn của nhà văn không hề thua kém tầm quan trọng của sách in [38].

Trang 23

15

hai lần tiên phong: góp phần mở đường cho phong trào Thơ Mới và mở đầu cho một thể loại dường như chưa xuất hiện ở ta: thi thoại

Bên cạnh đó, có một điều khá nổi bật khi Phan Khôi làm cho các tờ báo từ

Đông Pháp thời báo (1929) đến khi làm công tác với tờ Phụ nữ Tân Văn (1930) hay

chuyển sang làm cho tờ Trung lập (1931) thì ông đều khởi xướng hoặc phụ trách

“Phụ trương văn chương” Ở mỗi kỳ báo, ngoài những mục “Văn uyển” đăng sáng tác thơ, mục “Giấy thừa mực vụn” đăng tạp văn hoặc chuyện làng văn thì Phan Khôi có một lượng bài vở rất lớn bao gồm cả sáng tác văn học, lý luận – phê bình văn học và dịch thuật

Thứ hai, tranh luận và phản biện là nét cá tính in dấu rất rõ trong cuộc đời

làm báo của Phan Khôi, có khi ông là người khởi xướng châm ngòi cho hàng loạt các cuộc tranh luận lớn, có khi ông chỉ là một thành viên tham dự, nhưng dù hiện diện ở góc độ nào thì các bài tranh luận của ông đều có tầm ảnh hưởng rất lớn tới

nhận thức dư luận đương thời Có thể kể tới các bài viện tranh về sử học: Bác cái

thuyết nước Pháp giúp nước Nam hồi thế kỷ XVIII (1928); tranh luận về tư tưởng –

học thuật: Đọc cuốn Nho giáo của ông Trần Trọng Kim (1930), Cảnh cáo các nhà

học phiệt (1930); Các bài “đại luận” về quốc học Việt Nam: Luận về Quốc học

(1931), Nhân vấn đề Quốc học kéo qua vấn đề khác (1931), Bất điều đình (1931),

Những cuộc tranh luận này lan rộng ra nhiều tờ báo khắp trong Nam ngoài Bắc, khiến nhiều cây bút hàng đầu của học thuật đương thời như Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Trần Huy Liệu phải lên tiếng, làm cho không khí tranh luận vô cùng sôi nổi, đây cũng là giai đoạn “thăng hoa” không dễ gì lặp lại trong hoạt động tư tưởng – học thuật ở Việt Nam Có thể nói các cuộc tranh luận

này “đã là những cú hích quan trọng góp phần thúc đẩy tư tưởng học thuật, thúc

đẩy văn hóa, văn học Việt Nam tiến mạnh lên phía trước trên con đường hiện đại hóa” [79, tr.96]

Thứ ba, các bài khảo luận của Phan Khôi trên báo chí vô cùng phong phú

Phan Khôi vừa là một nhà Hán học uyên thâm, vừa chịu khó học tiếng Pháp, miệt mài học hỏi qua sách, báo trong và ngoài nước nên đã tích lũy được một vốn tri

Trang 24

16

thức rất rộng, bao gồm đủ cả Đông Tây kim cổ: lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học các nước, từ Việt Nam, Trung Quốc đến Nhật Bản, Pháp, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ ; các loại tôn giáo: Phật, Gia-tô, Tin Lanh, Cao Đài, Hồi Giáo; các loại học thuyết: Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử, Trình Tử, Chu Tử, cho đến Găngđi, Tôn văn, Lê nin; cả phép suy lý tam đoạn luận của Hégel, luận lý học của Aristote; rồi biết cả triết lý: duy tâm, duy vật; am hiểu nghệ thuật dân gian: từ thần thoại, truyền thuyết của Tầu, của ta tới phong dao, tục ngữ của người Việt Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ, tường tận ngữ pháp Tiếng Pháp, rành rọt về các nguyên lý, phép quy nạp, diễn dịch của tư duy khoa học, tìm hiểu cả Đông y, Tây y Do đó, Phan Khôi

có khả năng phân tích sâu nhiều vấn đề, nghiên cứu tới nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau 1 Các bài khảo luận của Phan Khôi tuy mang nội dung kiến thức chuyên sâu khoa học, nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ gần gũi đời thường mà đương thời sử dụng Đây cũng là đặc điểm đóng góp riêng của Phan Khôi

Thứ tư, xét về sự đóng góp cho phong cách ngôn ngữ và thể tài báo chí,

ngoài việc định hình rõ nét phong cách nghị luận trên báo chí qua hàng loạt các bài nghị luận chính trị - xã hội 2

, thì Hài đàm – một thể tài văn chương gắn liền với báo

chí được Phan Khôi thể nghiệm viết đều đặn trong chuyên mục “Câu chuyện hàng

Xem Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1928 – 1932, các bài khảo cứu triết học: Người mở đường cho lý luận

Á Đông, Tống Nho với phụ nữ, Triết học với nhơn sinh, Cái ảnh hưởng của Nho giáo ở nước ta; Khảo cứu

lịch sử: Xóa một cái án trong lịch sử: thân oan cho Võ Hậu, Hiện tình của người Do Thái, Một ít sử liệu về

phong tục ở Nam Kỳ độ trăm năm trước, Lược sử Đài Loan ở Nhật Bổn, Cái lí lịch của Vạn lý trường thành;

Sử với tiểu thuyết ; Khảo cứu về phong tục: Người Chàm ở Bình Thuận, Tục nhuộm răng đen; Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ ; Khảo cứu về ngôn ngữ: Chữ Quốc ngữ phải viết cho đúng, Những tiếng xưa dùng mà nay không dùng nữa; So sánh văn phạm chữ Pháp với chữ Hán

2

P.A.N: Trong Phan Khôi: tác phẩm đăng báo từ 1928 – 1932, có hơn 200 bài báo mang nội dung bình luận

các vấn đề thời sự, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế, chúng tôi xếp nhóm bài này là: nghị luận chính trị

- xã hội

3

Chỉ tính riêng trên báo Thần Chung với tổng số 346 kỳ báo thì có 337 kỳ báo chuyên mục “Câu chuyện

hàng ngày” có bài của Phan Khôi [8, tr.413]

4

Từ 2/5/1930 đến 30/5/1933, ngày Trung lập bị đóng cửa, Phan Khôi viết trên 600 bài cho mục “Những điều

nghe thấy” [11, tr.9]

Trang 25

17

hay và có ích”, “Chuyện khôi hài” của Trương Vĩnh Ký, nhưng có thể được coi là

gợi ý cho mục trào phúng hài hước gần như không thể thiếu trên các tờ báo sau này Các cây bút lão luyện như Tản Đà, Diệp Văn Kỳ, Đào Trinh Nhất, Ngô Tất Tố, cũng đều viết trào phúng, hài đàm trên báo chí nhưng không đều đặn và chưa hẳn

làm nổi bật thể tài này Chỉ từ khi Phan Khôi viết Hài đàm, góp những câu chuyện

kể thì người đọc báo mỗi ngày mới quả thực là biết “câu chuyện hàng ngày” với đủ loại nội dung: từ các việc xảy ra hàng ngày tại đô thị Sài Gòn và mọi miền trong nước đến các sự kiện ở nước ngoài Biết từ chuyện bầu cử của hội đồng quản hạt, chuyện ăn Tết, chuyện thiếu nước, chuyện giá gạo tăng đến chuyện phế đế Phổ Nghi, chuyện quân phiệt bên Tầu, chuyện thi sắc đẹp bên Tây và nổi bật lên là giọng điệu khi mỉa mai, lúc hài hước của tác giả

Để thể nghiệm thành công thể tài mới mẻ này trên báo chí ngoài sự học hỏi kinh nghiệm của hai nhà báo Pháp là Clément Vautel và Georges de la Fouchardière trên các tờ Le Journal và L’Oeuvre xuất bản ở Paris đương thời 1

thì ta thấy được trong lối viết hài đàm của Phan Khôi có sự kết hợp tinh tế của tạp văn ngắn (viết sắc, gọn) với trí liên tưởng thông minh giàu sức sáng tạo Đây là việc không phải ai cũng làm được Vì thế những tài năng khôi hài, những cây bút trào phúng trên báo chí như Phan Khôi quả thật xưa nay vẫn hiếm

1.3 Các khái niệm Ngôn ngữ học liên quan

1.3.1 Từ vựng học

1.3.1.1 Các thành phần từ vựng học tiếng Việt

Vốn từ của một ngôn ngữ được gọi là từ vựng Các yếu tố tạo nên từ vựng

một ngôn ngữ hợp thành hệ thống từ vựng Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn

ngữ học, hệ thống từ vựng là: “Toàn bộ các đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ gồm

từ, thành ngữ, quán ngữ, tạo thành các lớp có quan hệ nội tại với nhau” [110,

1

Georges de la Fouchardière (1874 – 1946) năm 1916 đã cùng Gustave Téry sáng lập ra tờ L’Oeuvre (xây

dựng), viết liên tục 15 năm những bài luận bàn thế sự với giọng hài hước, hóm hỉnh, thu hút đủ loại độc giả;

là cây bút có ảnh hưởng đến tận thế chiến thứ II Clément Vautel (1876 – 1954; bút danh: Đảo Let thành

Tel): viết cho các báo ngày ở Paris như Le Matin, Le Liberté , đặc biệt giữ mực “Mon film” (Dưới mắt tôi)

hằng ngày bàn luận thế sự bằng cái nhìn rất “phải lẽ” của một “français moyen” (thường dân) được độc giả đương thời hâm mộ Đây cũng là cây bút có ảnh hưởng đến tận thế chiến thứ II [8, tr.411-412]

Trang 26

18

tr.110] Theo đó, thành ngữ (ví dụ như: “chẳng chóng thì chầy”; “chậm như sên”;

“dương đông kích tây”; “đa nghi như Tào Tháo”, v.v.), quán ngữ 1

(ví dụ như: “của

đáng tội”; “nói khí vô phép”; “như trên đã nói”; “nói cách khác”; v.v.) là những cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu

Việc nhận diện và phân loại từ vựng Tiếng Việt nhìn chung, đa số các nhà nghiên cứu đều coi những tiếng độc lập, có nghĩa là các từ - từ đơn tiết Còn những

tiếng không độc lập thì lại được xử lý khác nhau: Nguyễn Kim Thản phân biệt từ

thuần, từ pha, từ phức, từ chắp Đỗ Hữu Châu chia ra từ láy và từ ghép Nguyễn Văn Tư phân biệt từ đơn với từ ghép, trong đó từ ghép bao gồm cả từ láy mà tác giả gọi là từ đơn ghép do một từ đơn ghép với bản thân nó mà thành ( ) [44, tr.7] Căn

cứ vào sự hình thành, tồn tại và phát triển của tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp phân lớp từ vựng tiếng Việt như sau [44, tr 236 – 290]:

Các thành phần của vốn từ tiếng Việt là các lớp từ quan trọng được phân theo nguồn gốc, phạm vi sử dụng, đặc điểm lịch sử và giá trị thông tin của chúng trong giao tiếp

Các thành phần từ vựng theo nguồn gốc bao gồm:

- Các từ thuần Việt: cô gái, đàn ông, đàn bà, chồng, vợ,

- Các từ ngữ gốc Hán: khoa cử, văn chương, thủ khoa, cử nhân,

- Các từ ngữ gốc Ấn – Âu: bít tết, kem, bốt, gilê, vitamin, canxi,

Các thành phần từ vựng theo phạm vi sử dụng bao gồm:

- Từ vựng toàn dân: là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất biểu thị những sự vật, hiện tượng hay

khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống: mưa, nắng, núi sông, đầu,

mặt, mũi, chân, tay, đi, đứng, nói, cười

Trang 27

19

- Từ địa phương: nhút, chẻo, mụ, cá trày dam, đập chắc (Nghệ Tĩnh); kha,

mậu, dạm, đánh chắc (Thanh Hóa)

- Tiếng lóng: luộc (bán), búa (lừa), sôi me (sôi máu), đi R (nghỉ phép), đi xe

dép (đi bộ),

- Từ ngữ nghề nghiệp: cầy võ, cầy ải, bón lót, đai trồng, tang trống, bào

thẳm, bào cóc, bào lượm,

- Thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân, âm vị, âm tiết, hình vị,

Các thành phần từ vựng theo hàm lượng thông tin mà nó chứa đựng bao gồm:

- Vốn từ tích cực: Những từ hay sử dụng có tần số xuất hiện cao và người sử dụng không cần cố gắng lắm vẫn có thể lấy chúng từ bộ nhớ ra dung trong mọi hoàn cảnh

- Vốn từ tiêu cực: Những từ ít dung Đó là những từ người nghe có thể tiếp

nhận và hiểu được nhưng rất khó tự mình sử dụng đúng hoàn cảnh và đúng nghĩa Chúng là các từ thụ động hay tiêu cực

Theo đặc điểm lịch sử, vốn từ lại được chia ra:

- Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử: Từ ngữ cổ: âu (có lẽ), bui (duy), dã (hỏi), lọ (huống chi), mảng (mải), Từ ngữ lịch sử: so với từ ngữ cổ, từ ngữ lịch sử là những

từ ngữ đã trở nên lỗi thời vì đối tượng biểu thị của chúng đã mất đi: ám sát, bát

phẩm, chánh hội, chánh tổng, thuế đinh, thuế điền, thuế thân,

- Từ ngữ mới: bộ nhớ ngoài, bộ nhớ trong, bộ vi xử lý, công nghệ thông tin, chuyển giao công nghệ, cổ đông, cổ phần,

Cuối cùng vốn từ có thể được chia theo các đặc điểm phong cách chức năng của một cộng đồng Cách chia phổ biến nhất là chia theo hai phong cách: giao tiếp thường nhật (không chính thức) và giao tiếp chính thức Giao tiếp không chính thức

sử dụng vốn từ khẩu ngữ Chẳng hạn: sạch sành sanh, xốp xồm xộp; à, ư, nhỉ, nhé;

mày, tao, cậu, tớ; Còn giao tiếp chính thức có trong các hoàn cảnh giao tiếp nơi

công sở, giao tiếp trong văn chương bác học, trong chính luận báo chí … Vốn từ cho phong cách giao tiếp này vốn là từ đã được thử thách qua hình thức viết Chúng

Trang 28

20

mang tính bác học và chuyên ngành Chẳng hạn: thuật ngữ khoa học kỹ thuật và kỹ thuật, các thuật ngữ triết học, chính trị - xã hội

1.3.1.2 Từ Hán – Việt

a Khái niệm từ Hán – Việt

Có nhiều quan niệm khác nhau về từ Hán – Việt

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học (1997): “Từ Tiếng Việt có

nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập và hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối

của các quy luật ngữ âm, ngữ Pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt; còn gọi là từ Việt

dù đó là của người Hán hay người Việt Xét về chữ, thì chỉ có chữ Hán mà

không có chữ Hán Việt Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của người Việt về

chữ Hán” [81, tr.11]

Tác giả Nguyễn Văn Khang (2007): “tất cả những từ Hán có cách đọc Hán

Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong

văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt” [68, tr.131]

Sự quan niệm khác nhau về từ Hán Việt của các tác giả trên đều xuất phát từ vấn đề xem xét quá trình hình thành cách đọc từ Hán Việt, do đó ta có thể đưa một khái niệm chung nhất về từ Hán Việt:

Từ Hán Việt là những từ có gốc Hán, được đọc theo âm Việt và nhập vào kho từ vựng tiếng Việt

Trang 29

21

b Đặc điểm sử dụng của từ Hán Việt

Từ Hán Việt trong tiếng Việt có những cách sử dụng riêng, có sự thay đổi so với gốc Hán, đó là quá trình Việt hóa tiếng Hán mà trước hết là về âm đọc, sau đó là

về ngữ nghĩa và phạm vi sử dụng:

- Giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc: thiên, minh, đức

- Mở rộng thêm nghĩa mới: Hắc nghĩa tiếng Hán là “đen tối”, thì vào tiếng Việt

có thêm 2 nghĩa là “có mùi xông mạnh lên mũi, gây cảm giác khó chịu” và “nghiêm khắc, cứng rắn trong việc giữ nguyên tắc, làm người khác phải nể sợ, khó chịu”

- Biến đổi nghĩa: phương phi trong tiếng Hán có nghĩa là “hoa cỏ thơm tho”

thì trong tiếng Việt lại là “béo tốt”

- Rút gọn: thừa trần thành trần (trong trần nhà), lạc hoa sinh thành lạc (trong củ lạc)

- Thay đổi vị trí: nhiệt náo thành náo nhiệt, thích phóng thành phóng thích,

động dao thành dao động, ngữ ngôn thành ngôn ngữ,

1.3.1.3 Điển cố

a Khái niệm:

Theo Hán Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn (1999): “Điển tích: sự tích chép trong sách vở xưa Điển cố: điển cũ tích xưa; sự tích, luật lệ cũ” [71, tr.284]

Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, điển cố là khái niệm rộng hơn

điển tích không chỉ bao gồm sự tích chép trong sách vở Tuy vậy, trên thực tế hai từ

này vẫn được dùng lẫn lộn Từ điển tiếng Việt (2000) định nghĩa điển cố là “chuyện

chép trong sách cũ” và điển tích là “sự việc trong kinh sách cũ” [108, tr.318] Tuy

nhiên cũng cần nói thêm rằng, điển tích là một khái niệm do người Việt sáng tạo, sử dụng và không thấy xuất hiện trong thư tịch Trung Hoa với tư cách là một thuật

ngữ Do vậy, cần thống nhất sử dụng một khái niệm cơ bản là điển cố Ở đây chúng

tôi thống nhất với quan điểm của tác giả Lại Nguyên Ân, trong Từ điển văn học Việt

Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX: “Điển cố: thuật ngữ của giới nghiên cứu nhằm

mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng văn học cổ và trung đại Trung Hoa Do những nguyên nhân khác nhau

Trang 30

b Phân loại điển cố

Điển cố được hiểu là những từ thuộc những chuyện xưa, tích cũ, tư tưởng, hình tượng, được ghi chép hay lưu truyền từ trong sách xưa chuyện cũ và được người viết bài sử dụng như một phương tiện ngắn gọn, cô đọng nhất những ý tưởng, miêu tả những hiện tượng, con người Có thể chia điển cố thành hai loại cơ bản sau:

+ Từ hay nhóm từ được rút ra từ những câu chuyện trong Kinh, Sử, Tử, Tập

và các tác phẩm văn học cổ điển khác trong thư tịch Trung Hoa

+ Từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ của người xưa hay được trích từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao có tích chuyện lưu truyền

- Giá trị tu từ của điển cố

+ Tính cô đọng hàm súc

Điển cố hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng thể hiện trong một hình thức tiết kiệm ngôn từ đến mức thấp nhất Sự tiết kiệm này thể hiện bằng cách cô đúc ngắn gọn, giản lược những từ ngữ không cần thiết Chẳng hạn như để nói người

hay lo lắng chuyện không thực tế, trong Hoàn Sơn, Nguyễn Thượng Hiền mượn điển Kỷ nhân ưu thiên (Người nước Kỷ lo trời đổ), nhưng chỉ gói gọn trong hai từ

ưu thiên: Tiện tác ưu thiên khách Hoàn vi xuất thế nhân (Làm khách lo trời đổ Lại

làm người xuất thế)

+ Tình liên tưởng

Điển cố là nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn ngữ kích thích tưởng tượng và liên tưởng Đằng sau lớp vỏ từ ngữ là cả một cuộc sống sinh động mà khi tiếp cận đến nó, toàn bộ những hình ảnh về cuộc sống ấy được khơi dậy Điển cố vận dụng khả năng tư duy hình tượng rất phong phú và chính xác Khi điển cố tồn tạo và hoạt động trong một ngữ cảnh nhất định thì hình tượng cụ thể của nó, người

Trang 31

23

đọc nhanh chóng tái hiện một sự liên tưởng trong đầu óc của mình Nội dung điển

cố lập tức được lĩnh hội với tư cách là những hình ảnh cụ tượng, sinh động, hấp dẫn

và giầu sức gợi cảm Lấy điển Liễu đường trong Chinh phụ ngâm làm ví dụ, đọc

điển này, hình ảnh về câu chuyện được tái hiện: Hàn Bằng đời Chiến quốc làm quan của Tống Khang Vương, bị Tống Khang Vương cướp vợ là Hà thị và phải bị đi tù Hàn Bằng buồn bã tự vẫn Trước khi chết theo chồng, Hà thị đề thủ xin được chôn cùng chồng Tống Khang vương tức giận cho chôn riêng hai nơi Chẳng bao lâu có hai cây liễu mọc ở 2 ngôi mộ, rễ và cành liền nhau Qua câu chuyện này, người đọc

sẽ liên tưởng đến tâm trạng người chinh phụ nhớ thương chồng, so sánh với hình ảnh câu chuyện mà hiểu được tình cảm của người vợ một lòng yêu thương chồng khi cả hai phải chịu cảnh chia ly

1.3.1.4 Thành ngữ

a Khái niệm

Theo cách hiểu thông thường thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái, cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi

trong giao tiếp hàng ngày Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1997) định

nghĩa: Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo

thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành

tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu [111, tr.271]

Thành ngữ dù ngắn hay dài, xét về nội dung có ý nghĩa cũng như về chức năng ngữ pháp, thành ngữ cũng chỉ tương đương với từ, nhưng là từ đã được nhấn

mạnh về nghĩa Chẳng hạn, thành ngữ cò bay thẳng cánh tương đương với từ

“rộng” được nhấn mạnh (có nghĩa là rất rộng), thành ngữ lừ đừ như ông từ vào đền

tương đương với từ “chậm chạp” được nhấn mạnh (có nghĩa là rất chậm chạp) Vì thế khi đã dùng thành ngữ thì không cần và không thể dùng các phó từ như “rất”,

“lắm” để nhấn mạnh nghĩa [50, tr.200]

Bên cạnh diễn đạt nội dung, khái niệm thì thành ngữ bao giờ cũng kèm thêm

sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, chẳng hạn thành ngữ nói thánh nói tướng vừa

Trang 32

24

diễn đạt khái niệm “ba hoa, khoác lác” vừa kèm theo thái độ chê bai, không tán

thành; thành ngữ thắt lưng buộc bụng vừa diễn đạt khái niệm “tiết kiệm, dè xẻn”

vừa thể hiện thái độ cảm thông [44, tr.77]

b Đặc điểm của thành ngữ

- Tính hình tượng

Thành ngữ biểu thị nội dung bằng hình tượng, luôn mang tính hình tượng Tính hình tượng của thành ngữ được thể hiện một cách phong phú và đa dạng qua

các hình thức chuyển nghĩa như: ẩn dụ (Một nắng hai sương; Tre già măng mọc);

so sánh (hiền như đất, vắng tanh như chùa bà đanh); hoán dụ (chân lấm tay bùn;

ngậm miệng ăn tiền); ngoa dụ (ngàn cân treo sợi tóc, vắt chân lên cổ)

Ví dụ: thành ngữ chân lấm tay bùn đã được lược bỏ liên từ “và” kết nối

2 về “chân lấm” và “tay bùn” Hoặc thành ngữ già néo đứt dây yếu tố bị lược

bỏ là từ “thì” vốn có tác dụng kết nối 2 vế có ý nghĩa trái ngược nhau “già néo” thì “đứt dây”

- Tính cân đối

Tính cân đối của thành ngữ thể hiện ở mặt ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Đặc điểm này thể hiện ở số lượng âm tiết trong thành ngữ thường là chẵn và nội dung của 2 vế cũng cân đối nhau

Hai về có thể cùng chiều bổ sung, phối hợp với nhau để cùng nhấn mạnh một

đặc tính nào đó Ví dụ: đè đầu ấn cổ; ma chê quỷ hờn; nam thanh nữ tú;

Trong trường hợp thành ngữ có 2 vế ngược chiều nhau thì cũng là nhằm nhấn mạnh rõ nét hơn tính chất mâu thuẫn của một thuộc tính đặc trưng nào đó Ví

dụ: mềm nắn rắn buông, khẩu phật tâm xà, tre già măng mọc,

Trang 33

25

Tính cân đối của thành ngữ còn là sự hài hòa về âm thanh, luật bằng trắc Ví

dụ: nhà tranh vách đất (BB/TT); khẩu phật tâm xà (TT/BB); miệng hùm gan sứa

(TB/BT);

1.3.2 Cú pháp học

1.3.2.1 Cụm từ

a Khái niệm

Các tổ hợp từ như: đã đọc xong, nghèo nhưng tốt bụng, đọc tiểu thuyết trinh

thám, con tôi ngủ, được gọi chung là cụm từ Theo giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học (2000) định nghĩa: Các tổ hợp bao gồm hai thực từ có quan hệ ngữ pháp với nhau trở lên được gọi là cụm từ

Cụm từ tuy có ý nghĩa cụ thể hơn và có cấu trúc phức tạp hơn một từ nhưng

nó hoạt động trong lời nói như một từ Dựa vào mức độ cố định của cụm từ, có thể phân biệt loại cụm từ cố định với loại cụm từ tự do Cụm từ cố định là đơn vị có sẵn

như từ, với thành phần từ vựng và ngữ nghĩa ổn định, ví dụ: mặt trái xoan, mũi dọc

dừa, lạnh như tiền, dai như đỉa đói, nói tóm lại, nói cách khác, của đáng tội, Còn

cụm từ tự do là loại từ được tạo ra nhất thời trong lời nói tùy theo yêu cầu phản ánh thực tế khách quan và thái độ chủ quan của người nói [48, tr.265]

Cụm đại từ (có đại từ làm thành tố chính), ví dụ: tất cả chúng tôi đây, hai chúng tôi,

Trang 34

26

1.3.2.2 Câu

Các tác giả Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: “Câu là đơn vị dùng từ hay

đúng hơn là dùng ngữ tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có ý nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính độc lập” [107, tr.167]

Định nghĩa này xem xét mặt ngữ nghĩa, cấu tạo ngữ pháp, tính chất của câu Song quan trọng nhất là chưa gắn câu với hiện thực giao tiếp

Tác giả Cao Xuân Hạo mượn lời của Benveniste để nêu quan điểm: “Câu là

đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (Benveniste, 1961) Nó là đơn

vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất” [55, tr.27]

Xem xét khách quan thì định nghĩa này súc tích hơn cả: trước hết, nó không tách rời câu hỏi hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, đặc biệt nhấn mạnh ở phương diện diễn ngôn (lời nói, ngôn từ, discours), sử dụng vào việc giao tiếp; thứ hai, nó nhấn mạnh “câu” là đơn vị cơ bản của ngôn từ (văn bản) nên có đầy

đủ đặc trưng của văn bản: trọn vẹn về nội dung (phương diện ngữ nghĩa), hoàn chỉnh về hình thức (ngữ pháp)

Cùng với thuật ngữ “câu”, trong phân tích diễn ngôn còn hay dùng thuật ngữ

“phát ngôn” với nhận định: câu là đơn vị dùng để nghiên cứu ngôn ngữ, còn phát

ngôn là câu được hiện thực hóa trong giao tiếp Do vậy có lý do để coi câu và phát ngôn là tương đương nhau

1.3.3 Diễn ngôn

1.3.3.1 Câu trong diễn ngôn

Khi ngôn bản gồm nhiều câu, thì các câu có sự liên kết với nhau Theo Cao Xuân Hạo có những phương tiện từ ngữ - ngữ pháp làm nhiệm vụ liên kết [54,tr.94-102]

a Từ ngữ hồi chỉ

Hồi chỉ là chỉ những từ đã nói Từ ngữ hồi chỉ bao gồm phần lớn các đại từ

xác định và các ngữ do các đại từ ấy làm định ngữ chỉ xuất Chú ý: những đại từ chỉ

Trang 35

27

có nghĩa trực chỉ, không thay thế cho những gì đã nói hoặc sắp nói thì không có chức năng liên kết câu

i Tôi không dính vào việc này

ii Anh cũng đừng nghi ngờ anh ấy

iii Nói đến đây, ông dừng lại và giới thiệu với tôi: “Đây là chú bé anh hùng!” Các từ Tôi, Anh, đây là những từ trực chỉ Việc này, anh ấy, ông, đây là

những từ ngữ hồi chỉ

b Khứ chỉ là chỉ các điều sắp nói tới Trong tiếng Việt, không có từ chuyên

khứ chỉ Các ngữ khứ chỉ thường được dùng là: sau đây, dưới đây, tiếp theo đây

c Liên từ và Đề tình thái

Các liên từ như và, còn, nhưng, nên, hoặc, hay, là những công cụ ngữ pháp có chức năng liên kết hai vế câu trong một câu ghép hoặc hai câu: song le,

thành thử, vả lại, thảo nào, tuy nhiên

Các Đề tình thái, do vị trí đầu câu, cũng có tác dụng như những liên từ, như

những yếu tố liên kết câu: thật ra, lẽ ra, không khéo, có điều, khốn nỗi, cái được,

rốt cuộc, chẳng qua, miễn

Xét về mặt hình thức cấu trúc, tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Hệ thống

liên kết văn bản tiếng Việt [102, tr.86-140] chỉ ra có 5 phương thức liên kết cho các

phát ngôn tự nghĩa, hợp nghĩa và nghĩa trực thuộc là: phép lặp (gồm những từ vựng, lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm), phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng và phép tuyến tính, xét qua các ví dụ minh họa sau:

(i) Phép lặp

+ Lặp từ vựng

Tiếng hát của các em lan trên các cánh đồng

bay theo gió Tiếng hát trong như những hạt sương

+ Lặp ngữ pháp

Nếu không có nhân dân thì không có lực lượng Nếu không có chính phủ thì

không ai dẫn đường

+ Lặp ngữ âm

Trang 36

Mặt biển mở rộng dần và nối liền lại Sóng gợn man mác, cái mầu trắng

buồn tẻ bao quanh càng man mác hơn

(v) Phép tuyến tính

Ngày nay, các cháu là nhi đồng Ngày sau, các cháu là người chủ của nước

nhà, của thế giới

1.3.3.2 Dụng học

a Tiền giả định và hàm ngôn

Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học, (2007), tác giả Đỗ

Hữu Châu phân biệt Hàm ngôn và tiền giả định như sau [25, tr359-409]:

“Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình”

Ví dụ: phát ngôn sau đây:

“Vũ hội làm chúng ta quên rằng bây giờ đã là 12 giờ đêm rồi”

Có ý nghĩa tường minh là: Vũ hội đã kéo dài đến 12 giờ đêm Nhưng ý này

đặt trên các tiền giả định sau:

có một cuộc vũ hội

vũ hội tổ chức vào ban đêm

vào ban đêm cần nhớ không nên thức quá khuya

đối với sinh hoạt thông thường của người Việt Nam, 12 giờ đêm là quá khuya rồi

Trang 37

29

Lời nói dung để giao tiếp, không chỉ dựa trên các ý nghĩa tường minh và tiền giả định mà còn hàm chưa các ý được ngụ bên trong nữa Đó chính là các ý hàm ngôn, hay gọi tắt là hàm ngôn Theo Đỗ Hữu Châu:

“Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ nghĩa tường minh và tiền giả định của ý nghĩa tường minh Nếu không có ý nghĩa tường minh và tiền giả định của nó, không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp” [25, tr 367]

Tùy theo hoàn cảnh giao tiếp, tùy theo ý định của người nói và tùy theo

tư cách của người nói (người tổ chức vụ hội hay là người dự vũ hội bình thường) phát ngôn trên có thể có hàm ngôn Trong các ví dụ trên, các ý sau đây chính là hàm ngôn:

chúng ta cần giải tán thôi

vũ hội thành công, chứng cớ là mọi người đã quên cả mệt mỏi vì giờ giấc Tiền giả định và hàm ngôn cùng nằm trong một phạm trù lớn hơn: phạm trù nghĩa hàm ẩn của phát ngôn, bởi chúng đều không được nói ra một cách tường

minh, chúng chỉ có thể nắm bắt được nhờ thao tác suy ý Chính vì suy ý nên việc

phân biệt tiền giả định và hàm ngôn còn là vấn đề lớn của dụng học

u2, v.v.)

Trong quan hệ phát ngôn, lĩ lẽ được coi là luận cứ Vậy có thể nói quan hệ lập luận là quan hệ giữa một hay một số luận cứ với kết luận Ví dụ:

Vì trời mưa nên chúng tôi không đi bơi

Đây là một lập luận, trong đó “Vì trời mưa” là một luận cứ (p); “nên chúng tôi không đi bơi” là kết luận (r)

Trang 38

30

Luận cứ có thể là một thông tin miêu tả hay một định luật, một nguyên lý xử thế nào đấy Ví dụ:

Nam không phải là người nhiều tiền nhưng anh ấy có tài nên tôi vẫn yêu

Trong ví dụ này có 2 luận cứ và một kết luận

“Tuy Nam không phải là người nhiều tiền” là luận cứ thứ nhất (p)

“Nhưng anh ấy có tài” là luận cứ thứ hai (q)

“Nên tôi vẫn yêu” là kết luận (r)

Tuy nhiên, không phải lúc nào kết luận cũng được nói rõ như ở ví dụ 2 mà có những trường hợp kết luận do người nghe tự hiểu Ví dụ:

Anh muốn đi chơi với chú lắm (p) nhưng hiềm một nỗi vợ anh đang ốm (q)

Ta thấy trong ví dụ 3, luận cứ thứ nhất (p): “Anh muốn đi chơi với chú lắm”; luận cứ thứ hai (q): “nhưng hiềm một nỗi vợ anh đang ốm”, tuy không có phần phát ngôn của kết luận nhưng ta vẫn hiểu được kết luận (r) ở phát ngôn này là: “Anh

không đi chơi được với chú” Đây là kiểu kết luận hàm ẩn

Lập luận khác với các suy diễn lôgic bởi lập luận có tính chất tranh biện Suy diễn lôgic về căn bản cũng là một kiểu lập luận, nhưng là lập luận thuộc nghĩa học Còn lập luận trong giao tiếp là một quan hệ thuộc dụng học

Trong một lập luận có nhiều luận cứ, giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận Luận cứ (p) và luận cứ (q) có thể đồng hướng lập luận khi cả hai đều nhằm vào một kết quả chung

p  r p  -r

q  -r q  r

Trang 39

31

Các luận cứ có hiệu lực lập luận khác nhau Luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh hơn sẽ quyết định kết luận của toàn lập luận Cũng có khi các luận cứ có hiệu lực lập luận tương đương nhau, chúng còn nhằm đến một kết luận chung

Sự thay đổi trật tự của các luận cứ dẫn tới sự khác nhau về hiệu lực lập luận của chúng Điều này thể hiện rõ nhất trong lập luận nghịch hướng

So sánh hai lập luận trong hai ví dụ sau:

- Bó hoa này đẹp (p) nhưng đắt quá, em không mua (r)

- Bó hoa này đắt quá (p) nhưng mà đẹp (q) em sẽ mua (r)

Hai lập luận này đều sử dụng hai luận cứ như nhau: đẹp và đắt nhưng vị trí

của chúng trong mỗi lập luận thay đổi nên dẫn đến các kết luận khác nhau

1.3.3.3 Phân tích diễn ngôn

a Diễn ngôn

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn bản và diễn ngôn Chẳng hạn [47,tr168]:

“Văn bản thường là một phát ngôn viết hay nói của một người nào đó dùng

nó như một thông điệp cho một loại khán giả, về một chủ đề liên tục nào đó, trong một tình huống cụ thể nào đó” (Togely)

“Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” (Crystal)

Như vậy, thuật ngữ diễn ngôn (discouse) và văn bản (text) thường được coi

là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ viết hay nói, dài hay ngắn tạo nên một chỉnh thể hợp nhất, trong đó, diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn

b Phân tích diễn ngôn

Theo quan niệm truyền thống, cái quyết định một sản phẩm ngôn ngữ trở

thành một diễn ngôn chính là mạch lạc (cohenrence) “Mạch lạc là tầm rộng mà ở

đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan với nhau” (Nunan) [47,tr169]

Trang 40

32

Một diễn ngôn gồm các câu có liên hệ về nghĩa với nhau, cùng hướng vào một chủ đề và chủ đích nhất định được coi là một diễn ngôn có mạch lạc Tính mạch lạc của diễn ngôn trước hết xét về mặt cấu trúc có thể thực hiện bằng những phương tiện liên kết như: tỉnh lược, thay thế, phép nối, từ ngữ hồi chỉ và khứ chỉ v.v Do vậy, ngữ pháp văn bản thường chú trọng vào tìm kiếm tất cả những dấu hiệu liên kết hình thức có trong văn bản Nhưng trên thực tế có thể tạo những chuỗi câu có sự xuất hiện phương tiện liên kết nhưng lại không có mạch lạc Chẳng hạn chuỗi câu sau đây có liên kết hồi chỉ nhưng vẫn không có mạch lạc, người đọc không thể nắm bắt được chủ đích của khối ngôn từ này:

a) Cắm bơi một mình trong đêm b) Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường c) Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm d) Khung cửa xe phía cô gái ngồi

lồng đầy bóng trăng e) Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy Pú Hồng f) Dãy núi này

có ảnh hưởng quyết định đến gió mùa đông bắc ở miền Bắc nước ta g) Nước ta

bây giờ của ta rồi, cuộc đời bắt đầu hửng sáng [47, tr.170]

Lại có những phát ngôn tưởng như rời rạc và không có yếu tố hồi chỉ nhưng

vẫn có mạch lạc Xin dẫn ví dụ được nêu trong bài Cơ sở kết nối lời tiếng Việt của

TS Hoàng Cao Cương [33, tr.11-13]:

Con: Sáng mai nộp học rồi mẹ ạ

Mẹ: Bố mày phải cuối tuần mới về

Hai phát ngôn này tuy không có yếu tố hồi chỉ và cũng không tìm thấy được bất kỳ một “móc nối” hình thức nào (phép thế, phép lặp, từ vựng, tỉnh lược .) nhưng vẫn hiểu được rõ ràng rằng: “học phí của cậu bé chưa thể nộp ngay được”

Chính vì vậy khi phân tích diễn ngôn việc đi tìm tất cả những dấu hiệu liên kết hình thức có trong ngôn bản, sự kết nối của các câu đứng cạnh nhau là điều kiện cần thiết nhưng vẫn chưa đủ Trở lại ví dụ trên, sự mạch lạc trong đoạn đối thoại này được hiểu là sự thông suốt về nội dung trao đổi giữa hai mẹ con Sự thông suốt này do nghĩa tiềm năng của các phát ngôn và những hàm ý quy ước giữa người đối thoại quy định Những đặc điểm hình thức của phát ngôn về dạng câu, về các phép liên kết, không nhất thiết phải xuất hiện, vì cuộc trao đổi này được tiến hành trong

Ngày đăng: 21/11/2014, 02:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 5. BẢNG THỐNG KÊ SỐ LẦN XUẤT HIỆN TỪ “LẼ ĐÁNG” - bước đầu tìm hiểu nghệ thuật sáng tạo trong ngôn từ của nhà báo phan khôi
h ụ lục 5. BẢNG THỐNG KÊ SỐ LẦN XUẤT HIỆN TỪ “LẼ ĐÁNG” (Trang 194)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w