1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

dạy học thơ hai-cư theo thể loại ở trường trung học phổ thông

106 868 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 633,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài hai công trình nói trên, nội dung nghiên cứu thơ hai-cư còn được đề cập tới trong những giáo trình về văn học Nhật Bản, các cuốn sách giới thiệu văn hóa văn học Nhật Bản như: “Văn

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

DẠY HỌC THƠ HAI-CƯ THEO THỂ LOẠI

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

DẠY HỌC THƠ HAI-CƯ THEO THỂ LOẠI

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân Anh

XÁC NHẬN CỦA TRƯỞNG KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Mục lục……… ……… ……….i

Danh mục chữ viết tắt……… … … iii

PHẦN MỞ ĐẦU……….……….…….…1

PHẦN NỘI DUNG……… ………… ……… …….…7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC THƠ HAI-CƯ THEO THỂ LOẠI………… ……… 7

1.1 Cơ sở lí luận……….……….……… ……… ……7

1.1.1 Nguồn gốc và quá trình phát triển của thơ hai- cư……… ……… ……….7

1.1.1.1 Nguồn gốc thơ hai-cư……… ……… ……… ….7

1.1.1.2 Quá trình phát triển của thơ hai-cư……… ………….…8

1.1.2 Đặc điểm nội dung……… ……… ….……10

1.1.2.1 Thơ hai-cư hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người……… …11

1.1.2.2 Thơ hai-cư mang đậm yếu tố Thiền……… ……… ………14

1.1.3 Đặc điểm nghệ thuật……….………… ……… ….19

1.1.3.1 Về hình thức bài thơ……… …… ……… … …… 21

1.1.3.2 Về ngôn ngữ thơ……… ……… ….21

1.1.3.3 Về hình ảnh thơ……… … …….……… 22

1.2 Cơ sở thực tiễn……… ……….……… …….………… 24

1.2.1 Thơ hai-cư trong chương trình và sách giáo khoa Việt Nam….……… …… 25

1.2.2 Học sinh Việt Nam với việc học thơ hai-cư……… ….…… ….….25

1.2.3 Giáo viên Việt Nam với việc dạy thơ hai-cư……… ……27

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

CHƯƠNG 2: ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ HAI-CƯ TRONG

SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 ……….… … …33

2.1 Giới thiệu khái quát các bài thơ hai-cư được lựa chọn vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 bậc THPT……… ……….…33

2.2 Định hướng dạy học các bài thơ hai-cư trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 bậc THPT……… ………38

2.2.1 Định hướng dạy học của sách giáo viên……… ……… …….…… 38

2.2.2 Định hướng dạy học của sách tham khảo……….… 48

2.2.3 Định hướng dạy học của luận văn……… …57

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ HAI-CƯ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10……….……….……….70

3.1 Thiết kế dạy học các bài thơ hai-cư ở sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ cơ bản)… 70

3.2 Thiết kế dạy học các bài thơ hai-cư ở sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ nâng cao)… 86

PHẦN KẾT LUẬN……… 98

THƯ MỤC THAM KHẢO……….….… 99

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT: Trung học phổ thông THCS: Trung học cơ sở

GV : Giáo viên

HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đã mang những giải Nôbel văn học cho đảo quốc Mặt trời mọc như: Kawabata, oe… Nhưng linh hồn thật sự của văn học và văn hóa Nhật Bản là thơ hai-cư Đây là một thể

thơ độc đáo có đặc trưng rất riêng Với lí do đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Dạy học thơ

hai-cư theo thể loại ở trường THPT” với hi vọng góp thêm tiếng nói nhỏ bé để tìm

hiểu sâu thêm về đặc trưng thể loại thơ hai-cư và lý thuyết về dạy thơ hai-cư

thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Dạy học thơ hai-cư theo thể loại ở trường THPT”

- Thơ hai-cư là thể loại thơ cổ của Nhật Bản nên độc giả là học sinh Việt Nam còn rất xa lạ với thể thơ này Vậy người giáo viên phải làm thế nào để rút ngắn khoảng cách, đưa thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay đến được gần hơn với thế giới nghệ thuật vi

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

diệu của thơ hai-cư? Đây là một lí do nữa để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này với mong muốn góp thêm một tiếng nói, tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn, trăn trở của giáo viên và học sinh khi đến với thơ hai-cư

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ hai-cƣ ở Việt Nam

Lịch sử nghiên cứu về thơ hai-cư ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức độ khiêm tốn với lượng sách ít ỏi và một số gương mặt các nhà nghiên cứu, dịch giả tiêu biểu như: Phan Nhật Chiêu, Vĩnh Sính, Thanh Châu, Đoàn Lê Giang, Hữu Ngọc, Lê Thiện Dũng, Nguyễn Thị Mai Liên…Những công trình của các tác giả đã cung cấp cho ta một cái nhìn tương đối toàn diện về thơ hai-cư trên cả hai mặt nội dung và nghệ thuật Quy mô nghiên cứu thơ hai-cư bao gồm cả ba hình thức: Dịch thuật, viết sách và viết báo Hai công trình đáng chú ý nhất mang tính chuyên sâu về thơ hai-cư là hai cuốn

sách “Ba nghìn thế giới thơm” của Nhật Chiêu (Nxb Văn nghệ, 2007) và “Haikư - Hoa

thời gian” của Lê Từ Hiển và Lưu Đức Trung (Nxb Giáo Dục, 2007) Cuốn “Ba nghìn thế giới thơm” của Nhật Chiêu tập hợp gần như đầy đủ các bài báo, tạp chí mà ông đã

từng công bố liên quan đến thơ hai-cư và thơ Nhật Bản Còn cuốn “Haikư - Hoa thời

gian” của Lê Từ Hiển và Lưu Đức Trung là một tài liệu quý dành cho giáo viên, học

sinh THPT và những ai yêu thể thơ độc đáo này Cuốn sách được chia làm ba phần với

ba nội dung chính: Vài định hướng tiếp cận thơ haikư trong chương trình THPT, Hương sắc Haikư - những nẻo đường góp nhặt và Dạo bước vườn thơ Bên cạnh nội dung khá phong phú, cách thức trình bày của cuốn sách “Haikư - Hoa thời gian” rất sinh động với nhiều hình ảnh minh họa

Ngoài hai công trình nói trên, nội dung nghiên cứu thơ hai-cư còn được đề cập tới trong những giáo trình về văn học Nhật Bản, các cuốn sách giới thiệu văn hóa văn

học Nhật Bản như: “Văn học Nhật Bản, từ khởi thủy đến 1868” - Nhật Chiêu (Nxb Giáo Dục, 2003), “Nhật Bản trong chiếc gương soi” - Nhật Chiêu (Nxb Giáo dục TP

Hồ Chí Minh, 1997), “Câu chuyện văn chương phương Đông” - Nhật Chiêu (Nxb Giáo dục, 2002), “Xuôi dòng văn học Nhật Bản” - Nguyễn Thị Mai Liên, (Nxb Đại học

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sư phạm, 2003), “Phác thảo những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ: Tuyệt cú,

hai-cư và lục bát” - Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn “Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng” (Nxb Sư phạm Hà Nội, 2005), “Dạo chơi vườn văn Nhật Bản” - Hữu Ngọc

(Nxb Giáo dục, 1992)…Thêm vào đó, có khoảng hơn 20 bài viết đăng trên báo, tạp chí, tuy không chuyên sâu nhưng cũng cung cấp cho người đọc một số hiểu biết cơ bản

về thơ hai-cư Tiêu biểu là các bài viết: “Cảm nhận về thơ hai-cư” (Ngô Văn Phú - Tác phẩm mới, số 4/1992), “Một số đặc điểm của thơ hai-cư Nhật Bản” (Hà Văn Lưỡng, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4/2001), “Thế giới trong thơ hai-cư”

(Hà Văn Minh, Báo Xuân Điện Bàn, 2000)…Ngoài ra, trên mạng Internet ta cũng thấy

có đăng tải nhiều bài viết về thơ hai-cư Đáng chú ý là loạt bài hai-cư “Một chút lịch

sử” của Nguyễn Nam Trân

Cùng với việc giới thiệu thơ hai-cư, một số nhà nghiên cứu đã dịch các công trình, cuốn sách về thơ hai-cư ở nước ngoài Đại diện cho hướng đi này là Lê Thiện

Dũng với bản dịch “Tiếng Việt Hài cú nhập môn” của Haroldg Henderson, Thanh Châu với bản dịch tiếng Việt “Thiền trong hội họa - Một cách cảm nghiệm thơ hai-cư

thông qua hội họa” của Chimyo Horioka, Siewart W.Holmes

2.2 Lịch sử nghiên cứu phương pháp giảng dạy thơ hai-cư ở Việt Nam

Hai-cư là một thể thơ độc đáo và mới mẻ Nội dung, nghệ thuật thi pháp thơ

hai-cư vô cùng thâm diệu Để lôi cuốn người đọc vào thế giới vi diệu của thơ hai-hai-cư vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ Vì vậy việc dạy và học thơ hai-cư đang trở thành vấn đề gây được sự chú ý cho giới nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước

Ta có thể kể tới cuốn “Bashô và thơ haikư”, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đưa ra

phương hướng tiếp cận thơ hai-cư như sau: “Muốn cảm thụ được một bài thơ hai-cư, muốn nhận biết được cái hay, cái đẹp khác thường của nó, cần tới một sự nỗ lực cảm thụ bằng trí tưởng tượng phong phú và phóng khoáng, bằng sự suy tưởng gắn liền với việc khai thác các hình ảnh thị giác, thính giác, kết hợp với sự hiểu biết về văn hoá Nhật Bản Đối với người nước ngoài thơ hai-cư không dễ tiếp thu song lại rất quen thuộc đối với người Nhật Bản Vì thế đối với người Nhật, Ba-sô là nhà thơ hai-cư tiêu biểu nhất của đất nước mặt trời mọc”

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong cuốn “Haikư hoa thời gian” của Lưu Đức Trung Tác giả đã nêu ra định

hướng tiếp cận thơ hai-cư: “Hãy đọc thơ hai-cư bằng đôi mắt của chính mình, gạt bỏ mọi suy lí tạp niệm, tinh lọc cảm quan, nhìn vào bản tính của chính mình, biểu hiện

mình, để có được trong đời một nụ cười trong suốt” [12 - 25] Trên báo “Văn học và

tuổi trẻ” (Số tháng 4 (185) /2009), tác giả Lưu Đức Trung tiếp tục đưa ra một số định

hướng tiếp cận thơ hai-cư trong chương Ngữ văn THPT theo bốn bước: Tích hợp văn hoá, tiếp cận văn bản, so sánh - đối chiếu, vận dụng - thực hành

Trong các bài “Nghiên cứu văn học” chúng tôi còn tìm thấy những gợi mở về

phương hướng tiếp cận thơ hai-cư: “Thơ hai-cư ngắn gọn, hàm súc Mỗi bài thơ chỉ có

ba câu, mười bảy âm tiết thường diễn tả một ấn tượng, một trạng thái tâm hồn thông qua một âm thanh hình ảnh Thể thơ này ý ở ngoài lời, trọng tâm thơ là cái mà người đọc cảm thấy chứ không phải đọc được, không nằm trong câu chữ mà nằm trong cái

nó để trống” Có thể khẳng định đây là những công trình nghiên cứu có tính chất định hướng, gợi mở, đưa ra nhiều cách hiểu và khám phá thơ hai-cư rất thiết thực trong công tác giảng dạy

Bên cạnh đó nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra những ý kiến của mình về giảng

dạy thơ hai-cư, như tác giả Hoàng Hữu Bội trong cuốn “Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10”

(Nxb Giáo dục 2006) cũng đã đề cập tới vấn đề phương pháp giảng dạy một số bài thơ hai-cư theo đúng đặc trưng của nó bằng cách trả lời các câu hỏi như sau: “Bài thơ tả cảnh gì trước mắt?(Mỗi bài thơ hai-cư bao giờ cũng nói về một cảnh vật trước mắt), khoảnh khắc mà cảnh vật miêu tả? Nghệ thuật lựa chọn chi tiết, nét đặc sắc của cảnh vật được biểu hiện như thế nào?, phát hiện quý ngữ (từ chỉ mùa) ở đây là từ nào?, ý nghĩa của những từ ngữ này?, Phát hiện tứ thơ của bài thơ (Mỗi bài thơ bao giờ cũng

có một tứ thơ nhất định để thể hiện một cảm xúc hoặc suy tư nhất định) Phát hiện nét thiền tông và nét văn hoá phương Đông thấm đẫm trong bài thơ ở điểm nào? Đồng thời giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy truyền thống như: Diễn giảng, giảng bình với các phương pháp dạy học hiện đại như: đọc sáng tạo, tái

hiện, gợi tìm Bùi Thị Nga - tác giả của luận văn “Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn

bản đọc thêm theo đặc trưng loại thể trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 THPT”

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(Trường ĐHSPTN/ 2008) cũng nhất trí về phương pháp giảng dạy một số bài thơ

hai-cư theo đặc trưng thể loại của tác giả Hoàng Hữu Bội

Qua một số công trình nghiên cứu về thơ hai-cư có thể khẳng định: Các bài nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh rất khác nhau về cách tiếp cận thể thơ hai-cư

Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về vấn đề “Dạy học thơ hai-cư theo

thể loại ở trường THPT” Vì vậy chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài trên với hi vọng

giúp người đọc có những hiểu biết toàn diện về đặc trưng thể loại thơ hai-cư (Về cả nội dung và nghệ thuật) và tìm ra một phương pháp dạy học thơ hai-cư có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc trưng thể loại thơ hai-cư về mặt nội dung và nghệ thuật, cách tiếp cận và khám phá văn bản thơ hai-cư vừa phù hợp với đặc trưng thể loại, vừa phù hợp với bạn đọc thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay

- Tìm ra một phương án tối ưu để dạy học thơ hai-cư cho học sinh Việt Nam ở bậc THPT

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học của thầy và trò trong giờ học các bài thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 Tổ chức dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh các văn bản thơ hai-cư phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của học sinh Việt Nam ngày nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những bài thơ hai-cư của Ba-sô và Bu-son trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (Bộ

cơ bản và bộ nâng cao)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết: Về đặc trưng thể loại thơ ha-cư, về

phương pháp dạy học thơ hai-cư

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5.2 Nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực tiễn giáo viên với việc dạy thơ hai-cư

và học sinh học thơ hai-cư gặp khó khăn gì? Học sinh Việt Nam hiểu biết, tiếp nhận thơ hai-cư như thế nào?

5.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thiết kế bài học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp tổng hợp lý luận: Sử dụng phương pháp tổng hợp lý luận nhằm đưa

ra những cơ sở lý luận về thơ hai-cư, đặc trưng của thơ hai-cư, tìm hiểu đặc điểm cảm thụ của học sinh trung học phổ thông để đưa ra nội dung, phương pháp, biện pháp dạy học cụ thể về văn bản thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu thu thập được trong quá trình điều tra khảo sát

6.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Sử dụng phương pháp này để điều tra hứng thú và khả năng cảm thụ của học sinh đối với việc học các văn bản thơ hai-cư Qua đó nắm được thực trạng việc dạy và học thơ hai-cư đang diễn ra như thế nào ở trường phổ thông hiện nay Từ đó nhằm đề xuất được những hướng khám phá, khai thác thơ hai-cư có hiệu quả

6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Sử dụng phương pháp này trong quá trình thiết kế bài học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề dạy học thơ hai-cư theo thể loại

Chương 2: Định hướng dạy học các bài thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 Chương 3: Thiết kế dạy học các bài thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

DẠY HỌC THƠ HAI-CƯ THEO THỂ LOẠI

Ở chương này, luận văn sẽ trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Dựa vào các công trình nghiên cứu về thơ hai-cư của các nhà khoa học, chúng tôi sẽ trình bày về: Nguồn gốc, quá trình phát triển, đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ hai-cư để làm cơ sở lý luận cho đề tài

Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế dạy học thơ hai-cư để làm cơ sở thực tiễn cho vấn đề dạy học thơ hai-cư theo thể loại ở trường THPT

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Nguồn gốc và quá trình phát triển của thơ hai-cư

1.1.1.1 Nguồn gốc thơ hai-cư

Hai-cư là một thể thơ độc đáo của xứ sở Phù tang Cho nên, nói đến văn học Nhật Bản người ta không quên nói đến thơ hai-cư Ngày nay, thơ hai-cư không còn là của riêng dân tộc Nhật Bản mà đã trở thành thể thơ của quốc tế

Thơ hai-cư chủ yếu bắt nguồn từ thể thơ đoản ca (Tanka) xuất hiện ở thế kỉ XIII Đoản ca (Tanka) gồm 31 âm tiết (Onji): 5-7-5-7-7, chia làm hai vế: Vế đầu có ba câu

17 âm tiết (5-7-5), vế sau hai câu 14 âm tiết (7-7) Đoản ca là loại thơ xướng họa Vế đầu có một người khởi xướng, vế sau do người khác họa theo, những người sau đó lại nối tiếp như kiểu của hai người trước, cứ thế mà kéo dài hàng trăm, hàng ngàn câu, sau này được gọi là liên ca (Renga) Liên ca (Renga) được phổ biến đầu tiên trong cung

đình của các vương gia quý tộc Nội dung thường mang tính giải trí, mua vui, trào

lộng, nhiều khi dung tục tầm thường Trong Shuishu “Thập di tập 997” có bài:

“Qua rồi nửa đêm chờ nhau chi nữa cho thêm ưu phiền”

Một tiểu thư đã gửi cho người tình của mình phần đầu bài tanka với ba câu như trên với ý trách móc người yêu lỗi hẹn Sau đó, người ấy nhận được và làm tiếp phần còn lại thành một bài tanka trọn vẹn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

“Muốn gặp em trong mộng nhưng rồi anh ngủ quên”

Một bài tanka được sáng tác như trên gọi là renga Về sau, thể thơ này được nhiều thế hệ thi sĩ sáng tạo, phát triển nên được phổ biến trong các tầng lớp xã hội Thơ renga trở thành niềm say mê đến mức được tôn thờ như một tín ngưỡng "Thiêng liêng hóa" Người ta mua các bài thơ renga từ các nhà thơ đem đến vườn chùa để cầu phúc trước khi đi chiến đấu hay sinh nở

Đến thế kỉ XVII, Matsuô Ba-sô đã cách tân nội dung và hình thức thể thơ này Ông rứt vế đầu 17 âm tiết xây dựng thành một bài thơ độc lập mang đậm chất suy tư, trữ tình Mới đầu Ba-sô gọi hokku hoặc haikai, về sau ghép lại thành hai-kư Một bài thơ hai-cư chỉ có 3 câu, 17 âm tiết (Theo tiếng Nhật), do đó đòi hỏi lời thơ phải cực ngắn, ý hàm súc cô đọng, câu chữ đa nghĩa có nhiều ẩn ý bên trong Trên thế giới cũng có nhiều thể thơ ngắn như: Tứ tuyệt (Trung Quốc), Si-giô (Triều Tiên), Ru-bai (I-ran)…nhưng hai-cư vẫn là ngắn nhất

1.1.1.2 Quá trình phát triển của thơ hai-cƣ

Nằm trên một quốc đảo xinh đẹp, thiên nhiên mĩ lệ, con người tinh tế, nền thơ ca Nhật bản được hình thành khá sớm với những vần thơ waka (Hay còn gọi là hòa ca hoặc tanka) nhỏ nhắn, cô đọng trong 31 âm tiết Để rồi, từ 31 âm tiết này, người Nhật lại sáng tạo thêm thể thơ hai-cư vẻn vẹn chỉ gói trọn 17 âm tiết, một thể thơ ngắn nhất thế giới song lại làm chúng ta kinh ngạc vì “Nhỏ nhoi là vậy, thơ hai-cư vẫn có thể chứa đựng ba nghìn thế giới”

Thơ hai-cư có một quá trình ra đời lâu dài và phát triển mạnh mẽ Thơ hai-cư bắt đầu được sáng tác với tư cách một thể thơ độc lập tách khỏi bài Waka từ thế kỉ XVI, được hoàn thiện và định hình dưới bàn tay của Matsuô Ba-sô vào thế kỉ XVII Cho đến nay, thơ hai-cư đã trải qua chặng đường dài sáu thế kỉ vận động, phát triển Thơ hai-cư đạt tới đỉnh cao gắn với tên tuổi của nhà thơ Matsuô Ba-sô Sau Ba-sô còn có rất nhiều nhà thơ đã chọn hai-cư làm “Con đường” để bước vào trong nghệ thuật, vào trong một lối sống, vào một “Đạo” và mang những triết lí sâu sắc gọi là “Hài cú đạo” (Haikudo)

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hay “Haiku no michi” Đó là các nhà thơ Buson (1716 - 1784): “Thi sĩ của mùa xuân”, Issa (1762 - 1826): “Nhà thơ của nhân tình”, Shiki (1867 - 1902): “Kẻ đại ngu” Đối với họ sáng tác thơ hai-cư không chỉ là niềm vui mà còn là lối sống Thơ hai-cư đến với họ bằng “Con đường”, tức cái đạo mà thơ hai-cư chứa ở trong nó Đấy là con đường sâu thẳm trong cái bình thường giản dị nhất giữa cuộc đời như Tagore đã từng nói “Trong vội vã, ta bỏ quên những bông hoa bên giậu ven đường”

Từ Nhật Bản, thơ hai-cư làm một cuộc du hành sang trời Tây và đã được các nhà nghiên cứu, các độc giả nồng nhiệt đón nhận Từ những năm đầu thế kỉ XIX, tại phương Tây thơ hai-cư bắt đầu được truyền bá ra nước ngoài Thơ ca phương Tây trong những tìm kiếm và thể nghiệm của mình đã nhiều lần đi theo phong thái hai-cư Người ta dịch thơ hai-cư từ tiếng Nhật, rồi nghiên cứu, khám phá những gì mà linh hồn thơ hai-cư chất chứa Giới yêu thơ còn sáng tác thơ hai-cư bằng tiếng dân tộc mình như nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã viết: “Nói một cách chừng mực hơn, thơ hai-

cư mà Ba-sô đã hoàn thiện bằng thiên tài của mình, trở nên thể thơ quốc tế trong thế kỉ

XX Bên ngoài Nhật Bản, hai-cư chẳng những được nghiên cứu rộng rãi mà còn được các nhà thơ ở nhiều xứ khác nhau sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình, trong đó có cả Paul Eluard của Pháp, Octavio Paz của Tây Ban Nha và George Seferis của Hi Lạp”

Từ đó, thơ hai-cư quay về lại phương Đông, đến Việt Nam Ở Việt Nam, từ trước năm 1945 đến năm 1975, một số nhà thơ lớn như: Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Phạm Văn Ký, Chế Lan Viên đã tiếp cận thơ hai-cư Sau năm 1975, Nhật Chiêu là người có nhiều công trình nghiên cứu thơ hai-cư nhất Tiếp sau Nhật Chiêu phải kể đến Lưu Đức Trung - là một trong những người khởi xướng dòng thơ hai-cư Việt Ông

là một trong số rất ít chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về văn học phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Campuchia) Hiện nay ông là người khởi xướng

và thành lập Câu lạc bộ thơ cư Việt Đã từ rất lâu ở nước ta đã tiếp nhận thơ

hai-cư, tìm hiểu thơ hai-hai-cư, nhưng dùng tiếng việt để sáng tác thể thơ này thì phải đến khi thành lập Câu lạc bộ thơ hai-cư Việt của Lưu Đức Trung mới có Ban đầu thơ hai-cư việt còn lạ lẫm bởi tâm lý chưa quen thưởng thức cái mới, cái lạ Song, hiện nay tiếng thơ hai-cư đã gặp được nhiều người đồng cảm, nhanh chóng được cộng hưởng như tìm

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được tri kỷ tri âm.Tuy nhiên, so với nền thơ ca đời Đường (Trung Quốc), thơ hai-cư nói chung, thơ Ba-sô nói riêng được biết tới ở nước ta khá muộn màng Bởi vì, văn học Nhật Bản mới đến được với chúng ta trong khoảng một thế kỉ nay (Từ những năm đầu thế kỉ XX đến bây giờ), còn việc nghiên cứu và giảng dạy nền văn học này mới hơn 50 năm, mà đặc biệt là vào những thập niên cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI Thơ hai-cư ngày nay càng trở nên gần gũi với nhiều dân tộc, tiếp tục vượt qua rào cản của ngôn ngữ, xóa bỏ mọi khoảng cách Cho đến nay, thơ hai-cư đã lan truyền đến khoảng hơn 50 nước với 30 ngôn ngữ khác nhau gồm tiếng Anh và ngôn ngữ bản địa Sự phổ biến của thơ hai-cư được ví von “Thời đại của hai-cư”, khi phong trào thơ hai-cư ngày càng phát triển mạnh mẽ, trở thành loại hình văn học nghệ thuật đại chúng hiếm có trên thế giới

1.1.2 Đặc điểm nội dung

Về phương diện nội dung của thơ hai-cư , các nhà nghiên cứu văn học đã xem xét ở các yếu tố sau:

* Trong cuốn “Haikư - hoa thời gian” hai nhà nghiên cứu Lê Từ Hiển và

Lưu Đức Trung đã xem xét nội dung của thơ hai-cư ở yếu tố: Đề tài, cảm thức thẩm mỹ [12 - 8]

Về đề tài: Đề tài thơ hai-cư ưa chuộng những sự vật nhỏ bé, đa dạng với những

rung cảm chân thành, giản dị, hồn nhiên mang sắc thái rất Nhật Bản Đề tài thơ hai-cư

là thế giới tự nó trong khoảnh khắc mang tính gợi cảm Hai-cư rất giống loại tranh thủy mặc mà người Nhật ưa chuộng Nó là một nét vẽ bất chợt hướng về thiên nhiên bốn mùa, phản ánh vẻ đẹp và cảm xúc nội tâm của con người, thường được gọi chung

là quý đề

Về cảm thức thẩm mỹ: Những cảm thức thẩm mĩ in bóng trong thơ hai-cư là: Sabi

(Tịch lặng), Yugen (U huyền), Wabi (Đơn sơ), Aware (Bi cảm)

* Trong cuốn “Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868” nhà nghiên cứu

Nhật Chiêu đã xem xét nội dung của thơ hai-cư ở yếu tố: Quý ngữ, đề tài, cảm thức thẩm mỹ [2 - 271]

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Về quý ngữ (Yếu tố mùa): Các nhà thơ hai-cư hầu như lúc nào cũng đưa mùa vào

thơ và các từ ngữ liên hệ đến mùa được gọi là kigo (Quý ngữ) Cách dùng kigo trở thành quy luật và hầu như các tuyển tập hai-cư đều quen sắp xếp các bài thơ theo từng mùa

Về đề tài: Đề tài mà thơ hai-cư ưa chuộng là những sự vật nhỏ nhoi như: Bụi

cám, tôm cá, dế mèn…Đó là những cảnh thiên nhiên trộn lẫn với sinh hoạt thường ngày, có vẻ vô nghĩa nhưng đầy sự sống

Về cảm thức thẩm mĩ: Hai-cư là thơ ca của cảm thức thẩm mĩ và trực giác tâm

linh: Sabi (Tịch), Wabi (Đà), Karumi (Khinh)

* Trong hiểu biết của người làm luận văn, thơ hai-cư có những đặc điểm về nội dung như sau:

- Thơ hai-cư hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người

- Thơ hai-cư mang đậm yếu tố Thiền

1.1.2.1 Thơ hai-cư hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người

Thơ hai-cư là thơ của thiên nhiên bốn mùa Mỗi bài thơ chỉ ghi lại một phong cảnh với một vài sự vật cụ thể thường là những hình ảnh bình dị, quen thuộc với người Nhật Bản Đó có thể hình ảnh âm thanh gợi liên tưởng về mùa trong năm hay những từ ngữ trực tiếp chỉ bốn mùa (Được gọi là quý ngữ) Quý ngữ rất phong phú trong thế giới hai-cư có thể là violet, ếch, hoa mơ, anh đào cho mùa xuân; đom đóm, ve, cầu vồng, những cơn mưa cho mùa hạ; lá đỏ, cỏ lau, Asagao (Triệu nhan), trăng cho mùa thu; tuyết trắng cho mùa đông sự có mặt của quý ngữ khiến cho bài thơ có tính hàm súc, sức ám thị tinh tế - vốn là đặc trưng quan trọng của thơ hai-cư Chính cảm thức về mùa (Quý đề) cho ta cảm nhận được sự hô ứng giữa con người với thiên nhiên, với đất

trời tạo nên một nhất thể lí tưởng: Không gian - thời gian - con người Trong mỗi bài

thơ, thiên nhiên hiện lên với mọi vẻ đẹp vốn có của nó từ cái ban sơ, mộc mạc đến những gì tinh tú, kiêu sa, lộng lẫy đầy quyến rũ cũng như sắp đi vào phai tàn và gợi lên những rung cảm sâu xa trong lòng người Bằng tài năng của mình các nhà thơ hàng đầu Nhật Bản về thơ hai-cư đã cho ra đời hàng loạt các bài thơ rực rỡ hương sắc bốn mùa Mỗi bài thơ là một bức tranh tuyệt mỹ

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ba-sô là bậc thầy về thơ hai-cư Trong thơ ông phần nhiều miêu tả thiên nhiên, đặc biệt thường nói đến bốn mùa: Xuân - hạ - thu - đông để phản ánh tâm trạng và tư tưởng của mình Phần lớn các bài thơ hai-cư của Ba-sô là hình ảnh thiên nhiên với niềm vắng lặng, hiu hắt, không có những niềm vui để lộ, không có những sắc màu rạng rỡ mà sâu lắng một nỗi buồn, những trải nghiệm thẳm sâu của một thiền sư - lữ nhân trên bước phiêu du Mỗi bài thơ của Ba-sô ghi lại một mùa trong năm, được tạo

ra bởi một ấn tượng khá đậm nét và chọn lựa những từ mùa (Quý ngữ) thích hợp Qua

đó khiến độc giả cảm thụ bài thơ theo cách cảm nhận riêng của mình

Trong thơ Ba-sô, mùa xuân hiện diện với sự tàn phai của những cánh hoa anh đào:

“ Từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi-oa”

Mùa thu hiện diện với âm thanh hiu hắt của tiếng gió thu, tiếng mưa rơi tí tách:

“Cây chuối trong gió thu tiếng mưa rơi tí tách vào chậu

ta nghe tiếng đêm”

Mùa hè hiện diện với âm thanh của tiếng ve ngân lên trong một không gian hoàn toàn u tịch:

“Vắng lặng u trầm thấm sâu vào đá tiếng ve ngâm”

Mùa đông hiện diện với những cánh đồng vắng vẻ, hoang lạnh:

“Nằm bệnh giữa cuộc lãng du mộng hồn còn phiêu bạt những cánh đồng hoang vu”

Thơ Ba-sô thiên về tả bốn mùa thiên nhiên, còn Buson thích nói nhiều về mùa xuân Buson viết trên 2000 bài thơ nhưng phần nhiều viết về mùa xuân nên ông được

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mệnh danh là “Thi sĩ mùa xuân” Thiên nhiên mùa xuân trong thơ Buson thường mộc mạc, bình dị, hồn nhiên và tươi mát:

"Gần xa đâu đây nghe tiếng thác chảy

lá non tràn đầy"

Buson miêu tả sức sống của mùa xuân như dòng thác đang chảy, mùa xuân đang hiển hiện trước mắt ta với lá non đang tràn đầy Một mùa xuân đang sinh sôi nảy nở, cây cối đâm chồi nảy lộc

Thiên nhiên mùa xuân trong thơ ông luôn rạo rực, trữ tình, giàu màu sắc:

“Dưới mưa xuân lất phất

áo tơi và ô cùng đi”

Bài thơ hiện ra trước mắt người đọc hình ảnh mưa xuân lất phất Dưới mưa xuân

có hai người cùng đi, một mặc áo tơi, một che ô “Áo tơi” trong bài chỉ người con trai,

“Ô” chỉ người con gái Đôi tình nhân này đang sánh vai cùng nhau đi trong mưa xuân Đọc những vần thơ viết về mùa xuân của thi sĩ Buson chúng ta lại càng thêm yêu hơn thiên nhiên, cuộc sống và không khỏi rạo rực lòng mình

Thơ hai-cư không chỉ phản chiếu thiên nhiên bốn mùa mà còn phản chiếu biết bao điều về cuộc sống của con người

Đó là ước mơ bình dị được đi, được hòa vào thiên nhiên của thi sĩ Ba-sô:

“Đi nữa bạn ơi ngắm nhìn tuyết đổ cho dầu ta rơi”

Đó còn là nỗi nhớ quê hương da diết của thi nhân trên những bước đường phiêu lãng:

“Chim đỗ quyên hót

ở Kinh đô

mà nhớ Kinh đô”

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trên bước đường phiêu lãng, Ba-sô đã đi qua nhiều nơi, từ những đô thị ồn ào náo nhiệt của những người thị dân đến những cánh đồng khô cằn, những làng quê xơ xác của những người nông dân cơ cực đói nghèo, Ba-sô tận mắt nhìn thấy mọi thảm cảnh diễn ra ngay trước mắt mình Ông ghi lại một cách lặng lẽ các sự việc vào những bài thơ hai-cư dung dị quen thuộc Trong thơ ông có đủ hình ảnh của những kiếp người đau khổ, lầm than như: Từ những người nông dân lam lũ, em bé nghèo sớm gặp bất hạnh, những người đánh cá, những cô gái bán thân, những người lính bỏ thây nơi chiến địa, cho đến những người bạn yêu thơ yểu mệnh

Trong thơ Ba-sô thường mượn hình ảnh của thiên nhiên để nói lên số phận của con người:

“Tiếng rao người bán cá hòa trong tiếng chim cu vang vang mùa hạ”

Cuộc sống nghèo khổ, người lao động phải làm việc vất vả trong thời tiết khắc nghiệt của mùa hè nóng bức Tiếng rao của người bán cá hòa vào tiếng chim cu tạo thành điệp khúc mùa hè

Hình ảnh thiên nhiên trong thơ gợi cho ta những liên tưởng gần gũi trong cuộc sống Đó là những cảnh vật nguyên sơ, nhỏ bé, bình dị nhưng lại ẩn chứa hiện thực của cuộc sống con người

1.1.2.2 Thơ hai-cƣ mang đậm yếu tố Thiền

Thơ hai-cư có một mối nhân duyên đẹp đẽ với Thiền Mặc dù phần lớn các thi sĩ sáng tác thơ hai-cư không xuất gia nhưng họ yêu mến và hiểu biết sâu sắc về Thiền tông Và mặc dù trong thơ hai-cư không có những thuật ngữ Thiền, điển cố Thiền…nhưng có thể khẳng định tư tưởng Thiền tông đã thấm đẫm trong những bài thơ hai-cư Các thi sĩ xứ sở Phù tang không chỉ thể hiện triết lí Thiền trong thơ mà còn

sử dụng mĩ học Thiền vào nghệ thuật biểu đạt Tìm hiểu về Thiền sẽ là một trong những chìa khóa để mở cánh cửa bước vào thế giới bí ẩn của thơ hai-cư

* Nguồn gốc của Thiền:

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thiền Tông là một tông phái của Phật giáo phát triển trên lãnh thổ Trung Hoa (Thế kỷ VI) Bước sang thế kỷ XII, từ Trung Quốc thiền được du nhập vào Nhật Bản bởi Eisaimycan - một vị cao tăng được coi là cha đẻ của nghề trồng chè và Thiền tông Nhật Bản Thiền tông thuộc phật giáo Đại thừa vào Nhật Bản ngay từ thời Nara và hưng thịnh nhờ Thái tử Shotoku, rất nhiều triều đại Nhật Bản đã lấy phật giáo làm tư tưởng chủ đạo để phát triển Trong giáo lí của đạo phật có nhiều kiến giải tiến bộ, dạy con người ta cách sống nhân nghĩa, đồng đẳng và bác ái Có thể nói phật giáo có vị trí ảnh hưởng sâu sắc tới nền văn hóa cũng như nền nghệ thuật Nhật Bản Thiền tông không chỉ là tôn giáo mà trở thành triết lí sống, chi phối nhiều phương diện văn hóa, nghệ thuật xứ hoa anh đào: Hội họa (Tranh mặc hội), điêu khắc, kiến trúc, kịch Nô, nội thất, trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, cung thuật…Đặc biệt dưới ảnh hưởng của tinh thần Phật giáo Thiền tông, một khu vực văn học Phật giáo Thiền đã hình thành và phát triển

vô cùng độc đáo bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản

* Biểu hiện của Thiền trong thơ hai-cư

Thơ hai-cư nhuốm màu Thiền Chính điều này góp phần tạo nên tính đặc sắc của thơ hai-cư và khiến nó trở thành một thể thơ độc đáo Sau đây là một số biểu hiện của Thiền trong thơ hai-cư:

Theo quan niệm của Phật giáo Thiền tông: “Vạn vật tồn tại trong một mối tương giao và hòa hợp” Sự giao hòa của vạn vật thể hiện ngay chính trong bản thân con người Muối biển hòa trong máu, vôi đá tích trong xương, huyết nhục muôn ngàn giống loài sinh vật ngấm trong từng tế bào… ánh nắng mặt trời rạng ngời trong nụ cười của ta, hoa nở mở rộng lòng ta

Chiyo - mi tức ni cô Chiyo (1703 - 1775) có viết một bài hai-cư rất nổi tiếng:

“Một nhành bìm bìm hoa tím quấn quanh chiếc gàu

ta sang nhà hàng xóm xin nước thôi”

Điều thú vị đã hiện ra trước mắt nhà thơ chỉ sau một giấc ngủ đó là: Một nhành dây leo hoa tím từ trong vườn đã bò ra quấn quanh gàu nước Bằng tâm hồn nhạy cảm

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhà thơ đã nâng niu mối giao hòa gắn bó giữa hai sự vật giản dị ấy nên đành sang nhà hàng xóm xin nước để uống

Nhật Chiêu đã nêu ra một nhận xét thật sâu sắc, thú vị về tứ thơ trên: “Một buổi sáng Chiyo định thả gàu lấy nước giếng Nhưng quanh dây gàu đang vướng một bông hoa xinh Đó là hoa Asagao - một loại hoa đồng cỏ nội, một thứ dây leo có thể gọi là hoa bìm bìm Asagao (Triện Nhan) có nghĩa là: “Gương mặt của sớm mai” Không nỡ động chạm đến hoa, nhà thơ đành xin nhờ nước giếng hàng xóm”.Như vậy, vạn vật trong vũ trụ tồn tại trong một mối tương giao và hòa hợp Chúng luôn tác động và chuyển hóa lẫn nhau trong một chu trình bí ẩn bất tuyệt

Tín hiệu giúp người đọc nhận biết nó như một bài thơ Thiền là ở cái nhìn vạn vật

vô thường “Vô thường” chính là biểu hiện của cảm thức thẩm mĩ Aware, thường được hiểu là bi cảm, một cảm thức xao xuyến trước mọi cái đẹp của sự vật mà bản chất là

vô thường Do Aware là một trực giác thẩm mĩ chịu ảnh hưởng của phật giáo Aware, nói đầy đủ hơn là MONO NO AWARE (Vật ai) dịch sát là “Nỗi buồn của sự vật” Aware là một cảm thức thâm trầm trước cái đẹp não lòng của thiên nhiên và con người Do đó Lưu Đức Trung cho rằng: “Tín hiệu giúp người đọc nhận biết nó như một bài thơ Thiền là ở cái nhìn vạn vật vô thường, sự cảm nhận con người cùng với vạn vật cùng một bản thể, trong mỗi sự vật dù nhỏ nhoi đến đâu đều có mang tính vũ trụ và hiện ra bình đẳng, vô sai biệt, tất cả vận động nhịp nhàng, hài hòa theo quy luật

tự nhiên và trong một sự đại hòa điệu sâu xa” [12 - 110]

Trong tâm thức người Nhật Bản cái đẹp nảy sinh từ sâu thẳm nguồn cội triết mỹ Đông phương Đó là cái đẹp nhạy cảm và thay đổi mùa rõ rệt của thiên nhiên với những đám mây anh đào hồng nhạt mùa xuân, thảm xanh của cánh đồng mùa hạ, sắc

đỏ thắm của lá momizi mùa thu, những bông tuyết trắng mùa đông Thiên nhiên có sự tương phản giữa rực rỡ và tàn phai:

“Từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn song hồ Bi-oa”

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Không chỉ thiên nhiên mà con người cũng không nằm ngoài triết lí vô thường:

“Lệ trào nóng hổi tan trên tay tóc mẹ làn sương thu”

Sau chuyến đi vượt gió bể mưa ngàn nhà thơ đã quay trở về quê hương Nhưng lúc này người mẹ đã qua đời Cầm trên tay mớ tóc bạc của người mẹ, Ba-sô trào dâng niềm thương cảm Hai hình ảnh giọt lệ và sương thu gợi ra sự mong manh, dễ vỡ, càng

tô đậm tính chất vô thường trong cuộc đời con người Có thể thấy trong thơ hai-cư triết

lí vô thường, con người và vạn vật trong mối tương giao hòa hợp đều nhuốm hương vị Thiền Chính điều này đã làm nên sự khác biệt của thơ hai-cư so với các thể loại thơ khác Thiền học còn quan niệm tất cả những thực thể tồn tại trong thiên nhiên đều có

linh hồn Người Nhật tin rằng vạn vật đều có linh hồn - tức những sức mạnh bên trong

của chúng Linh hồn đó được gọi là Kami Mỗi nhánh cây, ngọn cỏ, hòn đá, dòng sông đều có Kami (Thần) trong đó Vậy nên người Nhật tôn thờ mọi thứ thuộc về tự nhiên Thần đạo cũng như bản tính của người Nhật luôn lấy tự nhiên làm gốc Chính điều đó

đã tạo nên cho người Nhật tình yêu và thái độ nâng niu trân trọng những tạo vật nhỏ bé nhất của đất trời:

“Quanh chiếc cối xay trên mình cúc trắng chút bụi cám bay trong lều ngư dân giữa đám tôm cá

có con dế mèn

áo bông tôi cởi quẩy lên vai trần mùa thay áo đổi”

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bụi cám, tôm cá, dế mèn, chiếc áo bông đang cởi bỏ là những sự vật hết sức đời thường Đó là những cảnh thiên nhiên trộn lẫn sinh hoạt thường ngày, có vẻ như vô nghĩa nhưng chất chứa bao nhựa sống Một vẻ đẹp hòa hợp của thiên nhiên và tâm hồn con người Cái bí ẩn của sự hòa hợp ấy là điều kỳ diệu nhất mà thiên tài Nhật Bản đã vươn tới

Thiền tông nhắc nhở ta rằng “Hiện tại là thứ tài sản quý giá nhất, là sự sống thực

sự nơi mỗi con người” Nói đến Nhật Bản là nói đến xứ sở của động đất và núi lửa, cuộc sống của con người đôi khi có thể kết thúc một cách bất ngờ Vì vậy, người Nhật Bản luôn bị ám ảnh bởi sự phù du ngắn ngủi của kiếp người, của cái đẹp Họ buồn thương cho cái đẹp chóng tàn, họ mong ước lưu giữ được khoảnh khắc ngắn ngủi của cái đẹp thoáng qua Chính vì thế khoảnh khắc là một cảm thức đặc biệt Nhà thơ Siki từng viết:

"Ánh chớp lưng trời vũng nước lóe sáng giữa rừng cây âm u"

Tia chớp đến rồi đi chỉ trong một thoáng chớp mắt Trong cuộc hội ngộ giữa nước và ánh sáng, trong khoảnh khắc ánh chớp ấy lóa lên thi nhân cũng rực sáng cùng đất trời và hòa làm một với thực tại Hiện tại là thứ tài sản quý giá nhất, là sự sống thực sự nơi mỗi con người Sống với hiện tại là sống trọn vẹn với từng khoảnh khắc hiện có, là hòa toàn bộ sinh lực của mình vào dòng sinh lực vũ trụ

Thật đúng khi cho rằng linh hồn của thơ hai-cư rút cục ở chỗ: "Thơ hai-cư là thơ của khoảnh khắc bừng ngộ (Đốn ngộ) để nhận ra chân lí giản dị, sâu xa về con người

và vạn vật trong cái nhìn "Chân như", cái nhìn "Nhất thể hóa"

Trong Phật giáo Thiền tông còn xuất hiện khái niệm "Hư không" Thâm nhập

vào thơ hai-cư, khái niệm hư không của Phập giáo Thiền tông được các nhà thơ sử dụng

để kiến tạo nên một thi pháp đặc trưng chủ yếu của thể thơ này: Kết cấu chân không

Kết cấu chân không trong thơ hai-cư có ảnh hưởng từ cách tạo hình trong hội họa

đó là: Tranh thủy mặc của Trung Quốc và tranh mặc hội của Nhật bản Hai thể loại

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tranh này thường rất đơn sơ với một vài đường nét giàu sức gợi, còn gọi là khoảng trống không gian Gọi là khoảng trống bởi trong khoảng không gian đó ta không nhận thấy bất cứ hình thể hay sắc tướng nào Khoảng không gian ấy không phải là chân không trống rỗng tuyệt đối như của tờ giấy trắng hay phông nền trắng tinh mà đó là vùng không gian của hoạt động giao cảm và chiêm nghiệm

Ngay cả trong những hình ảnh, từ ngữ cũng thường có khoảng trống buộc người đọc phải tưởng tượng để tìm sợi dây kết nối chúng lại với nhau Từ những khoảng hư không người đọc có thể liên tưởng để nhận ra ý nghĩa ẩn chứa trong bài thơ:

"Đá trên núi đá sắc trắng còn thua gió mùa thu"

Thi sĩ Ba-sô chỉ chấm phá một vài hình ảnh như: Đá, núi đá, trắng, gió Từ những hình ảnh đơn sơ, gần gũi để người đọc thả hồn mình liên tưởng đến một không gian rất nhiều đá, đá chất chồng khiến cho sắc trắng được tô đậm Nhưng sắc trắng đó còn thua sắc trắng của gió mùa thu Nhà thơ đã thị giác hóa màu của gió để từ một sự vật không màu Ba-sô đã gọi tên "Màu của gió" Không gian núi đá lạnh lẽo (Cố định) còn không gian của gió (Di chuyển) Khi ngọn gió lan tỏa đến đâu thì sắc trắng lan tỏa đến đó Khoảnh khắc ấy phải tĩnh lặng thì người đọc mới cảm nhận được sắc trắng của gió len lỏi qua những hòn đá Một màu trắng tuyệt đối trong bài thơ đưa người đọc lạc vào một không gian hoàn toàn u tịch Sự tịch lặng (Sabi) chính là kiểu không gian đặc trưng của thể thơ hai-cư, là một cảm thức thẩm mĩ mang bóng dáng của Thiền tông - Sabi (Tịch lặng) thực chất không có nghĩa là bất động một cách tuyệt đối mà là cái đẹp

có tính chất tịch lặng và trống vắng đưa người đọc đến nỗi buồn

Có thể nói sự cuốn hút của thơ hai-cư nằm ở những khoảng trống vi diệu, ở kiểu không gian tịch lặng, u huyền

1.1.3 Đặc điểm nghệ thuật

Về phương diện nghệ thuật của thơ hai-cư, các nhà nghiên cứu văn học đã xem xét ở các yếu tố sau:

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Trong cuốn “Bashô và thơ haikư” nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã xem xét

nghệ thuật của thơ hai-cư ở yếu tố: Hình thức và ngôn ngữ [4 - 53]

Về ngôn ngữ: Đặc điểm nghệ thuật đầu tiên của thơ hai-cư là cô đọng Thơ ca Á

Đông nói chung là cô đọng với các hình thức ngắn gọn của hai-cư, Tứ tuyệt (Trung Quốc), Ca dao (Việt Nam)…Hai-cư tiêu biểu cho phong cách Đông phương hơn cả, cô đọng, ý ở ngoài lời

Hai-cư không phải là loại thơ thích dùng sự ít lời để nói lên nhiều điều, cái mà trong các nền văn chương khác, người ta gọi là “Tư tưởng phong phú” Hai-cư chuộng

sự nghèo nàn, không cần cái phong phú nào cả, kể cả tư tưởng Bởi vì hai-cư không cốt nói nhiều Nó im lặng hơn là nói Nó trống chứ không đầy Nó nhỏ nhắn nhưng không bao giờ chật cứng Trong hội họa thủy mặc có phong cách vẽ tranh “Một góc”

Do đó tranh thường chứa một khoảng trống lớn Đấy có phải là tinh thần “Bất dục doanh” (Không muốn đầy) của minh triết ngày xưa? Có thể nói rằng Hai-cư cũng chứa một khoảng trống như vậy Đấy là cái chân không sinh động, cái chân không dào dạt

sự sống chứ không phải là hư không của phương Tây

Về hình thức:Thơ hai-cư với vỏn vẹn 17 âm tiết, tựa như những vỏ ốc kỳ diệu

Nhỏ nhoi và mỏng manh Các vỏ ốc ấy chứa cả sóng gió đại dương và niềm tịch tĩnh Niết bàn

* Trong cuốn “Haikư hoa thời gian” hai nhà nghiên cứu Lê Từ Hiển và Lưu

Đức Trung đã xem xét nghệ thuật của thơ hai-cư ở yếu tố: Hình thức và ngôn ngữ [12 - 7]

Về hình thức: Thơ hai-cư cực ngắn, chỉ có 3 câu, dài không quá 12 - 13 từ, bài

thơ không cần chấm câu, thường dùng từ ngắt (keri)

Về ngôn ngữ: Thơ hai-cư là loại thơ có vẻ không trọng lời bên ngoài mà hướng

vào cái bản chất bên trong Ngôn ngữ dường như tự nhiên, không dụng công theo tinh thần “Trực chỉ nhân tâm” Ngôn ngữ hai-cư là loại tín hiệu ngôn ngữ phổ biến trong đời sống xung quanh được lọc qua những tâm hồn tinh khiết nên mang tính tín hiệu hằn sâu có sẵn trong tâm thức Thơ hai-cư ít dùng tính từ, trạng từ với sự can thiệp của

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cái tôi chủ quan nhằm cụ thể hóa cảnh vật, mà nó chỉ dùng những từ mang tính chấm phá mà khái quát, giản dị mà hàm súc nhờ mối quan hệ giữa các từ như một dòng trôi chảy lững lờ

* Trong hiểu biết của người làm luận văn, thơ hai-cư có những đặc điểm về nghệ thuật như sau:

Thơ hai-cư không đòi hỏi sự chặt chẽ về vần, niêm luật, bằng trắc hay đối nhau, tuy vậy cũng có những quy định riêng về cách ngắt nhịp Một bài thơ hai-cư chuẩn thường ngắt nhịp ở vị trí 5-12, nghĩa là sau dòng thứ nhất và dòng thứ hai Trên thực tế

sự ngắt nhịp cũng có thể linh hoạt hơn Nhìn chung, trong khi thơ tứ tuyệt chững chạc

4 chân cân xứng, đường bệ thì thơ hai-cư trụ vững trên 3 chân chông chênh không đều nhau như là một khiếm khuyết, nhưng lại vẹn toàn như giọt nước nhỏ bé ôm gọn cả vũ trụ bao la

1.1.3.2 Về ngôn ngữ thơ

Một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ hai-cư là sự cô đọng, hàm súc với một

sự chế ước cao độ về từ ngữ Đó là sự cô đọng đi vào chiều sâu, vào chân không chứ

không phải là ý muốn dùng sự ít lời để diễn tả nhiều ý nghĩa khác nhau đúng như Barthes đã nhận xét: “Sự ngắn gọn của hai-cư không phải là vấn đề hình thức, hai-cư

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn gọn, mà là một sự

tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình” [11 - 208]

Thơ hai-cư ngắn gọn nên nội dung thơ hai-cư hàm súc cao độ Vì thế, thơ hai-cư dành nhiều khoảng trống cho trí tưởng tượng sáng tạo của người đọc Bài thơ sau của Ba-sô là một ví dụ:

“Vầng trăng non dại theo tôi từ độ ấy

có ai ngờ đêm nay”

Bài thơ ngắn gọn vẻn vẹn trong 17 âm tiết tả về một vầng trăng non Nhưng câu cuối lại vẽ nên vầng trăng đầy đặn, vẽ nên khoảng thời gian dài trôi đi bằng im lặng không đường nét, không màu sắc Vầng trăng của Ba-sô là vầng trăng đang sống, đang vận động cùng thời gian và du hành cùng nhà thơ Nó còn là vầng trăng tâm linh trong tâm nhà thiền sư

Ngôn ngữ thơ hai-cư mơ hồ, chỉ bằng vài nét chấm phá, gợi chứ không tả đã đạt đến sự huyền diệu của thơ ca Người đọc có thể thoải mái trong cách nhìn nhận, khám phá ý nghĩa của bài thơ mà không có sự ràng buộc nào và đem lại được những phút giây thăng trầm cho người đọc

1.1.3.3 Về hình ảnh thơ

Hình ảnh trong thơ hai-cư gần gũi quen thuộc với chúng ta Nó ở xung quanh cuộc sống chúng ta như: Chiếc lá, con bướm, con ong, chuồn chuồn hay con cua cố bò

lên chân nhà thơ để khỏi bị nước cuốn trôi:

“Dưới làn nước trôi

có con cua nhỏ

bò lên chân tôi”

Bên cạnh những hình ảnh bình dị, đời thường trong thơ hai-cư hình ảnh còn mang tính chất biểu tượng Thiên nhiên xứ Phù tang biểu trưng bằng ba hình ảnh:

“Tuyết - Nguyệt - Hoa” Biểu tượng “Tam tuyệt” được gói gọn trong bài tanka sau:

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

“Mùa xuân có hoa đào mùa hạ chim cu hót mùa thu thì trăng soi mùa đông tuyết lạnh buốt

và sáng ngời nơi nơi”

Biểu tượng “Tam tuyệt” là cái đẹp tuyệt vời của thiên nhiên mà người Nhật cảm nghiệm được từ sự giao cảm giữa con người và thiên nhiên Tùy từng bài thơ hai-cư,

“Quý ngữ” sẽ xuất hiện khác nhau Chẳng hạn mùa xuân có hoa anh đào Nhưng “Sứ giả” của mùa xuân còn là những cánh hoa mơ trắng ngần, hoa đỗ quyên, hoa tử đằng, hoa trà, hoa cẩm chướng, hoa diên vĩ và những bông hoa dại khác Vì mùa xuân là mùa của muôn hoa khoe sắc Trong hương hoa mùa xuân, thoảng đâu đó ta còn nghe tiếng chim vân tước, chim sẻ, rồi gặp chú ếch hay cơn mưa mùa xuân, cơn gió mùa xuân… đó cũng là “Sứ giả” báo hiệu mùa xuân trong các bài hai-cư:

“Trên bình nguyên chim vân tước hát

xa mọi ưu phiền”

Khi mùa xuân qua đi mùa hạ lại về bằng những cơn mưa tháng sáu Sau những cơn mưa là những ngày đầy nắng ấm Vị sứ giả hotogisu (Chim cu hay chim đỗ quyên) lại cất tiếng hót lảnh lót trên bầu trời đầy nắng Các loại côn trùng như: Chấy, ruồi, muỗi… cũng đua nhau hát khúc ca mùa hạ Những bông hoa quỳ, hoa mẫu đơn, hoa thược dược khoe sắc tô điểm thêm cho hương sắc mùa hè Trăng mùa hè rất đẹp:

“Dòng thác trong giữa làn sóng bạc trăng mùa hạ lên”

Chú ve mải mê ngân vang điệp khúc mùa hè lại lặng im khi thấy cây phong thay đổi màu sắc như: Vàng, cam, đỏ rực là lúc mùa thu về Một loài hoa bình dị asagao (Triêu nhan) thoắt nở ra những cánh hoa mỏng manh hiền hòa Những bông hoa dâm bụt, đinh hương, phù dung, hoa cúc… cũng hé nụ chào đón mùa thu:

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

“Hoa đinh hương ơi những giọt sương sáng

em đừng để rơi”

Không khí chợt thoáng lạnh, tuyết rơi, vạn vật cỏ cây đều chìm trong lòng tuyết trắng và đổi thành màu nâu xám, mưa đá cũng rơi Đó là những hình ảnh, màu sắc của mùa đông trong thơ hai-cư:

“Đi nữa bạn ơi ngắm nhìn tuyết đổ cho dầu ta rơi!”

Bốn mùa thiên nhiên của thơ ca có vô vàn “Sứ giả” dựng lên những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp hữu tình

1.2 Cơ sở thực tiễn

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn dạy và học thơ hai-cư ở trường THPT

để làm cơ sở thực tiễn cho đề tài Chúng tôi tiến hành khảo sát các mặt sau: Thơ hai-cư trong chương trình và sách giáo khoa Việt Nam, học sinh Việt Nam với việc học thơ hai-cư và giáo viên Việt Nam với việc dạy thơ hai-cư

* Mục đích khảo sát

Nhằm phát hiện những khó khăn, trở ngại của việc dạy học thơ hai-cư ở trường trung học phổ thông Trên cơ sở tìm ra những nguyên nhân, chúng tôi đề xuất định hướng dạy học thơ hai-cư có hiệu quả hơn

* Đối tượng khảo sát

Giáo viên và học sinh trường THPT Thái Nguyên

* Phương pháp khảo sát

- Trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh

- Phiếu điều tra

* Kết quả khảo sát

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.2.1 Thơ hai-cư trong chương trình và sách giáo khoa Việt Nam

* Chương trình và sách giáo khoa ( Bộ cơ bản)

Bài “Thơ hai-cư của Ba-sô” dạy trong 2 tiết (Tiết 52, 53) theo PPCT ở học kì I,

lớp 10 Trong đó 1 tiết tìm hiểu chung về thơ hai-cư và 1 tiết dạy các bài 1, 2, 3, 6 trong tổng số 8 bài thơ của thi sĩ Ba-sô

* Chương trình sách giáo khoa ( Bộ nâng cao)

Bài “Thơ hai-cư” dạy trong 1 tiết (Tiết 67) theo PPCT ở học kì I, lớp 10

Với dung lượng 1 tiết tìm hiểu 3 bài thơ của Ba-sô và 3 bài thơ của Buson

1.2.2 Học sinh Việt Nam với việc học thơ hai-cư

1.2.2.1 Tiến hành khảo sát

Bằng cách lập phiếu điều tra có in sẵn những câu hỏi, học sinh trả lời ghi vào phiếu khảo sát, từ kết quả đó chúng tôi tổng hợp và phân tích số liệu Nội dung phiếu khảo sát như sau:

* Khảo sát khả năng hiểu biết, sự hứng thú và năng lực cảm thụ thơ hai-cư của học sinh trong sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT

- Về khả năng hiểu biết thơ hai-cư của học sinh trong sách giáo khoa Ngữ văn

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Về sự hứng thú và năng lực cảm thụ thơ hai-cư của học sinh trong sách giáo

khoa Ngữ văn bậc THPT

1 Em có thích học thơ hai-cư không? Vì sao?

2 Ghi lại một bài thơ hai-cư mà em yêu thích? Nêu những cảm nhận của em về bài thơ ấy?

1.2.2.2 Kết quả khảo sát

Kết quả thống kê được từ phiếu khảo sát đã cho chúng tôi thấy học sinh gặp phải khó khăn, vướng mắc khi đến với thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT như sau:

* Học sinh chƣa có sự hiểu biết nhiều về thơ hai-cƣ

Thơ hai-cư là thể thơ độc đáo của đất nước Nhật Bản Thơ hai-cư có những đặc điểm rất riêng về nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên, sau khi khảo sát chúng tôi nhận thấy: Đa số các em học sinh đều biết về thể thơ hai-cư, nhớ được một số bài thơ hai-cư

có trong chương trình Ngữ văn (Bộ cơ bản và bộ nâng cao) Nhưng việc nắm những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ hai-cư còn rất hời hợt, nông cạn Do vậy, các em cảm thấy thơ hai-cư khó tiếp nhận và xa lạ bởi những trở ngại về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán Từ thực tế đó, chúng tôi cho rằng việc cung cấp những kiến thức về đặc trưng thể loại của thơ hai-cư là một điều rất cần thiết Qua đó giúp các em nắm vững những đặc điểm riêng của thơ hai-cư, đồng thời có thêm những hiểu biết về đất nước và con người Nhật Bản

* Năng lực cảm thụ thơ hai-cƣ còn yếu và ít hứng thú

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi có soạn những câu hỏi nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ thơ hai-cư của 32 học sinh Sau khi tiến hành khảo sát, chúng tôi nhận thấy khả năng cảm thụ thơ của học sinh còn yếu và phần lớn các em ít hứng thú khi học thơ hai-cư Có tới 62,5% các em học sinh không thích học thơ hai-cư vì loại thơ này quá ngắn gọn, hàm súc nên đọc xong không cảm nhận được cái hay, cái đẹp và ý nghĩa của bài thơ 31,25% các em học sinh thích học thơ hai-cư với lí do thể thơ ngắn,

dễ thuộc nhưng lại chưa cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của từng bài thơ 6,25% các em học

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sinh do có niềm đam mê với văn chương lại có năng lực cảm thụ tốt nên đã bộc lộ những cảm nhận rất riêng về thơ hai-cư Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi cho rằng việc tìm ra hướng tiếp cận thơ hai-cư là việc làm cần thiết, có tác động lớn đến năng lực cảm thụ của học sinh Bởi khi đã hiểu được những đặc trưng của thơ hai-cư học sinh sẽ cảm nhận được cái hay, cái đẹp và bức thông điệp của tác giả ẩn chứa trong bài

thơ Từ đó, khơi gợi hứng thú và năng lực cảm nhận riêng của từng học sinh

1.2.3 Giáo viên Việt Nam với việc dạy thơ hai-cư

1.2.3.1 Tiến hành khảo sát

Hình thức:

- Khảo sát giáo án của giáo viên

- Trao đổi với giáo viên về những khó khăn khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các bài thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 bậc THPT

- Hiểu được thơ hai-cư và đặc điểm của nó

- Hiểu được ý nghĩa và vẻ đẹp của thơ hai-cư qua một số tác phẩm cụ thể

- Rèn kĩ năng đọc - hiểu bản dịch thơ nước ngoài (Thơ hai-cư)

- Nâng cao trình độ và tính thẩm mĩ, tình yêu quê hương đất nước, con người

B Phương tiện thực hiện

- GV: Sách giáo khoa, giáo án, tài liệu tham khảo

- HS: Sách giáo khoa, vở bút ghi bài, vở soạn

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

GV: Thủa nhỏ ông là tiểu đồng cho một

lãnh chúa 24 tuổi nghiên cứu cổ văn Nhật

Bản, Trung Quốc và thư pháp

GV: Giống Nguyễn Du

+ Tài năng thiên bẩm

+ Đi nhiều, gặp nhiều, trau dồi vốn ngôn

ngữ phong phú

VD: Xuân Diệu, Huy Cận là những người

đặt chân đầu tiên vào ngôi đền thơ Mới

Việt Nam

I Tiểu dẫn

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Masuô Ba-sô (1644-1694) Là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Nhật Bản - người đã đưa thơ hai-cư lên trình độ tinh luyện về nghệ thuật và sâu sắc về giá trị nhân sinh

- Sinh ra ở xứ Iga Một gia đình võ sĩ cấp thấp

- Ông đi nhiều nơi khắp đất nước Nhật Bản để nghiên cứu sáng tác

- 10 năm cuối đời ông giảng dạy thơ

hai-cư (Thể thơ được ông phát triển, cải thiện

và khai sinh ra một thể thơ mới, độc đáo: Thơ hai-cư)

- Ông mất năm 50 tuổi

- Các tác phẩm chính: Sgk

GV: Đó là sự kết tinh tinh thần Thiền tông

và tinh thần văn hóa phương Đông

2 Giới thiệu thơ Haicƣ

- Thơ hai-cư là niềm tự hào của nền văn hóa Nhật Bản

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

GV hỏi: Thể thơ hai-cư có đặc điểm gì về

hình thức?

(Tiếng Việt và tiếng Hán đơn âm tiết, còn

tiếng Nhật đa âm tiết nên 17 âm tiết thực

ra là mấy từ

+ Hình thức:

Ngắn gọn, mỗi bài một câu ngắt thành 3

dòng, gồm 17 âm tiết

Thường theo thứ tự: 5/7/5 âm tiết

GV hỏi: Chỉ ra đặc điểm nội dung của thơ

Quý ngữ: Thời điểm trong thơ được xác

GV hỏi: Em hãy trình bày hiểu biết của

mình về nội dung bài thơ?

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

GV hỏi: Khoảnh khắc cảnh vật nào gợi

cảm xúc trong lòng tác giả?

- Nhà thơ:

+ Đi qua cánh rừng

+ Nghe vượn hú não nề

→Trào dâng nỗi thương xót những em bé

bị bỏ rơi ở rừng hồi ức

GV hỏi: Đỉnh điểm cảm xúc được gợi ra

từ đâu? (tiếng vượn hú hay liên tưởng

tiếng khóc em bé?)

→Cảnh ngộ thương tâm →Gợi ý thơ lạ,

độc đáo (âm thanh não nề)

- Đỉnh điểm cảm xúc: Nghe tiếng vượn hú→ gợi nhớ tiếng khóc thê lương, não nề của những em bé bất hạnh

GV: Quý ngữ là những từ chỉ mùa Vậy

tìm quý ngữ?

- Không khí và âm thanh u trầm, buồn đau

- Quý ngữ: Gió mùa thu

→Đây là một mùa thu tái tê, thê lương,

ảm đảm

- Bài thơ không nói nhiều mà gợi rất sâu

(Hàm súc, mơ hồ), gợi những tình cảm

nơi đáy sâu con người

* Bài thơ thể hiện niềm cảm thông sâu sắc của nhà thơ đối với kiếp người bất hạnh Bài thơ ngắn nhưng ý nghĩa sâu sắc, chứa đầy giá trị nhân sinh

b Tình yêu đối với quê hương đất nước (bài 2)

GV: Bài thơ sáng tác năm 1692 Ông mất

1694 Đây là bài thơ cuối đời

GV: Nêu nội dung bài thơ?

- Kinh đô 2 thời điểm: Quá khứ, hiện tại

- Bài thơ viết khi nhà thơ trở lại Kiôtô sau nhiều năm phiêu bạt nghe tiếng chim quyên, đứng trước kinh đô nay (hoang tàn) mà tiếc nuối kinh đô xưa (tươi đẹp)

- Quý ngữ: Chim đỗ quyên→chỉ mùa hè

- Đỉnh điểm của cảm xúc: Tình cảm tha thiết trào dâng trong lòng tác giả khi ngược về miền mong nhớ

* Bài thơ là tình cảm với quê hương đất nước với mảnh đất đã từng gắn bó máu thịt với tác giả

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhận xét giáo án:

Khi tiến hành khảo sát thiết kế của GV N.T.H, chúng tôi tiến hành khảo sát trên hai mặt:

- Nội dung bài “Thơ hai-cư của Ba-sô”

- Phương pháp dạy bài “Thơ hai-cư của Ba-sô”

Qua khảo sát, chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến nhận xét như sau:

- Về mặt nội dung:

+ Nội dung bài học đã đáp ứng được “Mục tiêu bài học” đưa ra là: Giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản về nội dung, nghệ thuật, phát triển kỹ năng và hình thành thái độ

+ Nội dung bài học có bố cục hai phần:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm

Giới thiệu thơ hai-cư

Bố cục này hợp lý và đáp ứng được yêu cầu cơ bản trong SGK GV đã khái quát lại kiến thức một cách ngắn gọn và khoa học

+ Trọng tâm của bài học là phần : Đọc - hiểu Giáo viên đã chọn hai trong số tám bài thơ của Ba-sô để hướng dẫn HS tìm hiểu theo hai chủ đề chính là:

Tình yêu thương đối với con người (Bài số 4)

Tình yêu đối với quê hương đất nước (Bài số 2)

Những bài thơ còn lại giao cho HS tự tìm hiểu theo hai nhóm chủ đề

- Về mặt phương pháp:

Trong thiết kế, GV đã đảm bảo các bước của một giờ lên lớp Phương pháp dạy học linh hoạt, phù hợp với trình độ tiếp nhận của HS GV đã xây dựng được những kiến thức cơ bản với một hệ thống câu hỏi phong phú, đa dạng nhằm phát huy sự sáng tạo của chủ thể HS như: Câu hỏi khái quát (Em trình bày hiểu biết của mình về nội dung bài thơ?), câu hỏi tái hiện (Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ?), câu hỏi gợi tìm (Tìm quý ngữ?), câu hỏi sáng tạo (Cảm xúc của em là gì?)… Mặc dù hệ thống câu hỏi

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phong phú, da dạng nhưng chưa xây dựng thành một thể thống nhất Do đó HS rất khó khăn trong việc tiếp cận những bài thơ còn lại

* Trao đổi với giáo viên về những khó khăn khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các bài thơ hai-cư:

1 Thơ hai-cư là một thể thơ nước ngoài, văn bản mà ta tiếp cận được là văn bản dịch Nhưng hầu hết giáo viên Việt Nam (Trừ những người nghiên cứu và giảng dạy văn học Nhật Bản) đều không am hiểu tiếng Nhật Cho nên gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận văn bản hai-cư

2 Thơ hai-cư mới được đưa vào chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT, lại là tác phẩm thuộc văn học nước ngoài Do vậy, giáo viên thường giảng dạy qua loa để học sinh nắm được những nội dung cơ bản

3 Phần lớn giáo viên vẫn dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh Do đó, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của người học Đồng thời, hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh phát hiện, khám phá tác phẩm còn vụn vặt, chủ yếu là các câu hỏi tái hiện, phát hiện chứ ít có câu hỏi khơi gợi học sinh hình dung, tưởng tượng và bộc lộ cảm nhận riêng Do đó chưa khơi gợi được hứng thú của học sinh trong giờ học văn

Qua thực tế, chúng tôi thấy: Giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy Vậy làm thế nào để khơi gợi hứng thú của học sinh khi tìm hiểu các bài thơ hai-cư? Đó là điều khiến chúng tôi trăn trở khi dạy học thơ hai-cư trong sách giáo khoa bậc trung học phổ thông

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ HAI-CƯ TRONG

SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10

Ở chương 1, luận văn đã đề cập đến nguồn gốc, quá trình phát triển của thơ

hai-cư, những đặc trưng về nội dung và hình thức của thơ hai-hai-cư, những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy học thơ hai-cư ở trường THPT Sang chương 2, luận văn sẽ trình bày về định hướng dạy học thơ hai-cư với hai phần:

- Giới thiệu khái quát các bài thơ hai-cư được lựa chọn vào chương trình và sách giáo khoa ngữ văn bậc THPT

- Định hướng dạy học các bài thơ hai-cư trong chương trình sách giáo khoa Ngữ

văn bậc THPT

2.1 Giới thiệu khái quát các bài thơ hai-cư được lựa chọn vào chương trình

và sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT

* Trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT hiện nay thơ hai-cư được đưa vào cả hai bộ sách:

- Chương trình và sách giáo khoa (Bộ cơ bản): Gồm 8 bài thơ của Ba-sô do Đoàn Lê Giang (Dịch)

- Chương trình và sách giáo khoa (Bộ nâng cao): Gồm 6 bài thơ trong đó có ba bài thơ của Ba-sô và ba bài thơ của Buson do Phan Nhật Chiêu và Lưu Đức Trung (Dịch)

Do mỗi bài thơ hai-cư rất ngắn và đều không có tên bài nên chúng tôi in toàn vẹn văn bản từng bài

Văn bản bài 1: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Đất khách mười mùa sương

về thăm quê ngoảnh lại Ê-đô là cố hương

Văn bản bài 2: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Chim đỗ quyên hót

ở Kinh đô

mà nhớ Kinh đô

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Văn bản bài 3: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Lệ trào nóng hổi tan trên tay tóc mẹ làn sương thu

Văn bản bài 4: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Tiếng vượn hú não nề hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc?

gió mùa thu tái tê

Văn bản bài 5: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Mưa đông giăng đầy trời chú khỉ con thầm ước

có một chiếc áo tơi

Văn bản bài 6: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi-oa

Văn bản bài 7: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Vắng lặng u trầm thấm sâu vào đá tiếng ve ngâm

Văn bản bài 8: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ cơ bản, tr 156

Nằm bệnh giữa cuộc lãng du mộng hồn còn phiêu bạt những cánh đồng hoang vu

Văn bản bài 9: Sgk Ngữ văn 10 (Tập 1) - bộ nâng cao, tr 204 do Phan Nhật Chiêu (Dịch)

Trên cành khô chim quạ đậu chiều thu

Ngày đăng: 21/11/2014, 02:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm