LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.. Tuy nhiên Đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÓ THỊ HỒNG OANH
TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG
TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÓ THỊ HỒNG OANH
TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA TRONG
TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
Chuyên nghành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Phó Thị Hồng Oanh
Xác nhận của người hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn
thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài: Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong Truyện
Tây Bắc của Tô Hoài
Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm, dạy bảo, động viên, giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Nhung, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên cùng các thầy giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, người thân, các đồng chí đồng nghiệp đã động viên khích lệ tôi để tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Phó Thị Hồng Oanh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ……… i
Lời cảm ơn……… ii
Mục lục……… iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp mới của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1 Trường nghĩa 11
1.1.1 Khái niệm nghĩa và các loại nghĩa 11
1.1.2 Trường nghĩa 17
1.2 Hiện tượng chuyển nghĩa 23
1.2.1 Khái niệm hiện tượng chuyển nghĩa 23
1.2.2 Các phương thức chuyển nghĩa 24
1.2.2.1 Ẩn dụ 24
1.2.2.2 Hoán dụ 26
1.3 Các đơn vị từ ngữ 27
1.3.1 Khái niệm từ, phân loại từ 27
1.3.2 Khái niệm đoản ngữ, phân loại đoản ngữ 30
1.4 Phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn chương 31
1.5 Sơ lược về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Truyện Tây Bắc 32
1.6 Tiểu kết 34
Trang 6TRONG TRUYỆN TÂY BẮC
2.1 Kết quả thống kê, phân loại các trường nghĩa 36
2.2 Khảo sát, miêu tả các trường nghĩa 37
2.2.1 Trường nghĩa sự vật 37
2.2.1.1.Trường nghĩa chỉ thiên nhiên 38
2.2.1.2 Trường nghĩa chỉ người 42
2.2.1.3 Trường nghĩa sự vật nhân tạo 53
2.2.2 Trường nghĩa hoạt động 56
2.2.2.1 Trường nghĩa biểu thị sự vận động, biến đổi của thiên nhiên 56
2.2.2.2 Trường nghĩa hoạt động của con người 62
2.2.2.3 Trường nghĩa hoạt động của của sự vật nhân tạo 69
2.2.3 Trường nghĩa đặc điểm, tính chất 70
2.2.3.1 TN đặc điểm, tính chất của sự vật tự nhiên 71
2.2.3.2 TN đặc điểm, tính chất của con người 74
2.2.3.3 TN đặc điểm, tính chất của sự vật nhân tạo 79
2.2.4 Tiểu kết 79
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC TỪ NGỮ THUỘC CÁC TRƯỜNG NGHĨA KHÁC NHAU TRONG TRUYỆN TÂY BẮC CỦA TÔ HOÀI
3.1 Các TN với vẻ đẹp và sự giàu có của thiên nhiên Tây Bắc
82 82 3.1.1 Sự đặc biệt của khí hậu Tây Bắc 83
3.1.2 Sự đa dạng của địa hình Tây Bắc 85
3.1.3 Sự phong phú của thế giới động vật ở núi rừng Tây Bắc 87
3.1.4 Vẻ sinh động của thế giới thực vật nơi núi rừng Tây Bắc 89
3.2 Các TN với đặc trưng văn hóa Tây Bắc 91
3.2.1 Tục cưới hỏi 93
3.2.2 Tục lễ Tết 96
3.2.3 Trang phục 99
Trang 73.2.4 Ẩm thực 100
3.3 Các TN với việc phản ánh thời kì lịch sử đau thương mà anh dũng của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
102 3.3.1 Những năm tháng gian khổ, đau thương dưới chế độ thực dân phong kiến
102 3.3.2 Cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường của nhân dân Tây Bắc 108
3.4 Các TN với “cái tôi” nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài 114
3.4.1 Ngôn ngữ có tính hình tượng cao nhờ so sánh, liên tưởng độc đáo 115 3.4.2 Lời kể chân thật, tự nhiên, đậm chất miền núi 117
3.5 Tiểu kết 122
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trường nghĩa (TN) là một trong những lí thuyết quan trọng của ngôn ngữ học Nó đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ sớm Nghiên cứu TN
sẽ giúp phát hiện những mối quan hệ ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng bởi các
từ ngữ không nằm rời rạc ngẫu nhiên mà nằm trong những mối liên hệ nhất định như các bộ phận trong một chỉnh thể Nghiên cứu TN vừa cho thấy vẻ đẹp phong phú đa dạng của từ ngữ vừa giúp sử dụng từ ngữ một cách linh hoạt và hiệu quả hơn
1.2 Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ
là yếu tố thứ nhất của văn học”.Muốn khám phá giá trị của một tác phẩm văn học, yếu tố đầu tiên và quyết định chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ văn học là một bức tranh đa màu sắc, chứa nhiều điều bí ẩn mà hấp dẫn luôn thu hút sự khám phá của người đọc, người nghiên cứu Ngôn ngữ vừa là chất liệu tạo nên tác phẩm vừa là phương tiện để qua nó người đọc cảm nhận được cái hay,
vẻ đẹp của tác phẩm đó Có lẽ đó là một trong những lí do khiến xu hướng dạy học theo quan điểm tích hợp ngữ - văn đang được đề cao như hiện nay Các lí thuyết ngôn ngữ trong đó có lí thuyết về TN càng được quan tâm ứng dụng vào nghiên cứu tác phẩm, góp phần giải mã tín hiệu ngôn ngữ ở một dạng đặc biệt – ngôn ngữ nghệ thuật Nghiên cứu lí thuyết về TN trong quan
hệ với phân tích tác phẩm văn học cũng nằm trong xu hướng chung đó
1.3 Trong số các tên tuổi hàng đầu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, Tô Hoài
là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng bậc nhất Hơn 65 năm miệt mài sáng tạo, ông đã đóng góp cho kho tàng văn học dân tộc hơn 160 đầu sách Trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, đề tài đã đem lại nhiều vinh quang cho nhà văn là đề tài miền núi Với sự am hiểu sâu sắc và tường tận
Trang 9cuộc sống sinh hoạt của người dân miền núi, đặc biệt là tình cảm gắn bó chân thành, Tô Hoài đã có nhiều sáng tác dành tặng mảnh đất yêu thương này:
Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu…Trong số đó, Truyện Tây Bắc là tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong tư tưởng và cảm xúc thẩm mĩ của nhà văn
1.4 Được ra đời từ kết quả chuyến đi thực tế 8 tháng, Truyện Tây Bắc gồm 3 truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ Qua tập truyện,
người đọc được đến với cuộc sống của người lao động miền núi Tây Bắc trong những năm tháng bị áp bức nặng nề bởi chế độ thực dân phong kiến
miền núi Có thể nói Truyện Tây Bắc là một thành công của Tô Hoài trong
việc nhận thức, khám phá hiện thực cuộc sống và kháng chiến ở một địa bàn vùng cao phía Tây Bắc của Tổ quốc Tác phẩm in rõ dấu ấn phong cách nghệ thuật đặc sắc của Tô Hoài
Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tập Truyện Tây Bắc của Tô
Hoài Tuy nhiên, hầu hết bài viết, bài nghiên cứu chỉ đề cập tới những vấn đề
thuộc chuyên ngành văn học Vì thế, chúng tôi lựa chọn: Trường từ vựng -
ngữ nghĩa trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài làm đề tài cho luận văn của
Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu Song song với việc giới thiệu, nghiên cứu về TN dưới góc độ lí thuyết, ông đã đề cập đến hướng ứng dụng lí thuyết về TN và phân tích văn học Trên tạp chí
Trang 10Ngôn ngữ số 3 năm 1974, Đỗ Hữu Châu có bài viết “Trường từ vựng ngữ
nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật” Trong các công trình
Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB GD, 1999), Từ vựng học tiếng Việt
(NXB ĐHSP, H, 2004), sau khi trình bày lí thuyết về TN, tác giả đều gợi mở hướng nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học theo TN bằng việc lựa chọn một số trích đoạn văn chương để phân tích Đó là những đóng góp quý báu có
ý nghĩa mở đường của Đỗ Hữu Châu cho một hướng nghiên cứu văn học Tuy nhiên, các bài viết của ông đều theo hướng mở, lấy một vài dẫn chứng làm ví
dụ chứ chưa thực sự đi vào phân tích một tác phẩm cụ thể nào
Đỗ Việt Hùng trong bài viết “Một số khía cạnh ứng dụng trường nghĩa
trong hoạt động giao tiếp”(Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 2010) cũng đề cập đến
việc ứng dụng trường nghĩa trong quá trình tạo lập, sản sinh lời nói và quá trình lĩnh hội, tiếp nhận lời nói, trong đó quá trình tiếp nhận và phân tích lời nói nhất là cách diễn đạt chứa hiện tượng ngôn ngữ bất thường đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên Đỗ Việt Hùng mới chỉ đề cập đến sự ứng dụng của lí thuyết trường nghĩa trong hoạt động giao tiếp nói chung, đồng thời cũng chỉ
ra rằng: “Quan hệ trường nghĩa giữa các từ ngữ trong từ vựng không chỉ là
một bằng chứng về tính hệ thống của từ vựng mà việc sử dụng tốt các quan
hệ trường nghĩa còn có tính hành dụng cao trong cả hai quá trình giao tiếp
là tạo lập lời nói và lĩnh hội, phân tích các giá trị diễn đạt nhất là các giá trị diễn đạt văn chưong” [tr.13]
Trong luận văn thạc sĩ Tìm hiểu một số phương pháp phân tích ngôn ngữ
qua tác phẩm văn học (một thử nghiệm so sánh các phương pháp qua việc phân tích một bài thơ) (1985), tác giả Phạm Minh Diện đã phân tích bài thơ
Từ ấy của Tố Hữu theo những hướng phân tích của các tác giả Hoàng Tuệ,
Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thái Hòa và theo trường từ vựng – ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu Tác giả luận văn này cũng đã nhận xét rằng: “phương pháp ngôn ngữ học thực thụ (như phương pháp ngữ nghĩa học của Đỗ Hữu Châu) bao
Trang 11giờ cũng cho phép ta bắt đầu từ các từ ngữ với những ý nghĩa rõ ràng của nó, trên cơ sở đó mới tuần tự chỉ ra các lớp nghĩa do phối hợp hay do đối lập với ngữ cảnh Bởi vậy, những hình ảnh, cảm xúc bao giờ cũng được hiện ra với tư cách là những “ý nghĩa” thuộc các tầng lớp khác nhau Và cũng do vậy, chúng
có một cấu trúc cực kì tinh vi phức tạp nhưng lại khá rõ ràng Đó chính là chỗ mạnh của phương pháp ngôn ngữ học ” [tr.46] Cũng theo tác giả luận văn trên, tuy phương pháp này không phải không có những hạn chế (tác phẩm bị chẻ ra thành những yếu tố nhỏ, dễ làm mất đi tính chỉnh thể) nhưng sự phân tích đạt tới trình độ chính xác, khoa học như vậy là khá tối ưu Chúng tôi cho rằng những nhận xét trên là xác đáng
Phân tích văn học dựa vào TN là một hướng đi đã được khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm, thể hiện trên một số lượng khá phong phú các công trình liên quan Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả
như: Phạm Thị Lệ Mỹ (Trường nghĩa và việc phân tích tác phẩm văn học
(Qua tác phẩm “Thân phận tình yêu” – Bảo Ninh), LVThs, ĐHSPHN, 2008),
Nguyễn Thị Bạch Dương (Trường từ vựng – ngữ nghĩa động vật trong truyện
Tô Hoài viết cho thiếu nhi), LVThs, ĐHSPHN, 2010), Phạm Thị Liên (Tìm hiểu trường từ vựng – ngữ nghĩa đồng bằng sông Cửu Long, LVThs,
ĐHSPHN, 2011), Lưu Thị Thu Oanh (Trường nghĩa đất trong một số tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu, LVThs, ĐH Hải Phòng, 2011), Lê Thị Hương
(Trường từ vựng – ngữ nghĩa “Đấu tranh cách mạng” trong thơ Tố Hữu), LVThs, ĐH Hồng Đức, 2012), Trần Hạnh Nguyên (Trường từ vựng – ngữ
nghĩa thực vật trong ca dao Việt Nam), LVThs, ĐHSPHN, 2012), Nguyễn
Thị Dinh (Trường nghĩa lúa và sản phẩm của cây lúa trong kho tàng ca dao
người Việt), LVThs, ĐH Hải Phòng, 2013), Nguyễn Thị Dung (Trường nghĩa sông nước trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, LVThs, ĐH Hải Phòng,
2013), Hoàng Thị Thanh Vân (Trường nghĩa chỉ vật nhân tạo trong thơ Tố
Hữu, LVThs, ĐH Hải Phòng, 2013), vv
Trang 12Như vậy có thể thấy, rõ ràng phân tích tác phẩm văn học dựa vào TN là một hướng đi đúng đắn
Với luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm một minh chứng về phương pháp phân tích văn học dựa vào TN Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những người đi trước, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các TN trong một tác
phẩm văn xuôi - tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài đồng thời chỉ
ra vai trò của các TN đó đối với việc thể hiện giá trị nội dung của tác phẩm và cái tôi nghệ thuật của tác giả
2.2 Vấn đề nghiên cứu tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài
Với hơn 90 tuổi đời, hơn 65 tuổi nghề và hơn 160 đầu sách đã xuất bản, cho đến nay, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại nước ta đạt được nhiều con số kỉ lục trong sự nghiệp sáng tác của mình Sự nghiệp sáng tác đồ
sộ và đặc sắc của Tô Hoài đã thu hút sự chú ý và hứng thú tìm hiểu, khám phá của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình
Ngay sau khi tập Truyện Tây Bắc ra đời (1953) Tô Hoài đã nhận được rất
nhiều sự cổ vũ và đồng tình từ phía bạn đọc Thời gian dần lùi xa và những
công trình nghiên cứu về giá trị của tác phẩm Truyện Tây Bắc cũng gia tăng
về số lượng và chất lượng Phong Lê và Vân Thanh (Viện Văn học) là những
người đã rất công phu khi tập hợp và giới thiệu cuốn Tô Hoài về tác gia và
tác phẩm Trong cuốn sách này hầu hết các tác giả khi nghiên cứu Truyện Tây Bắc đều dành sự quan tâm nhiều hơn đến truyện vừa Mường Giơn và truyện
Trang 13Năm 1987, trên báo Văn nghệ số 5 – 31/8/1987 nhận xét về những sáng tác của Tô Hoài, Hoàng Trung Thông một lần nữa khẳng định: “Tô Hoài đi nhiều
và viết nhiều sao anh quan sát hóm hỉnh thế, thông minh thế, tinh vi thế ” Tác giả Huỳnh Lý lại nhìn nhận Tô Hoài như là một họa sĩ: “Tô Hoài đạt kết quả mà ông mong muốn: Cảnh và người Tây Bắc hiện ra hài hòa, đường nét, ấm màu sắc và êm ái âm thanh Cảnh Tây Bắc đẹp như một bức tranh, đẹp như ta thấy trong những bức tranh của Hoàng Kiệt ”[33, tr.239]
Đi sâu vào một tác phẩm cụ thể - truyện ngắn Vợ chồng A Phủ – tác giả
Nguyễn Văn Long có những khám phá sâu sắc hơn Tác giả tập trung phân tích cốt truyện, chủ đề và nhân vật Mỵ trong tác phẩm Trên cơ sở đó tác giả đánh giá những thành công về nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc biệt nghệ thuật miêu tả tâm lí và khắc họa tính cách nhân vật “Cũng như trong tập
Truyện Tây Bắc, truyện Vợ chồng A Phủ còn lôi cuốn người đọc bởi chất thơ
đậm đà, trong sáng Phong cảnh và con người đẹp đẽ của Tây Bắc được ngòi bút của Tô Hoài vẽ nên với một sức rung động thơ.” [33, tr.256]
Tương tự như vậy, tác giả Đỗ Kim Hồi trong bài viết Về Vợ chồng A Phủ (1997), tác giả Nguyễn Quang Trung trong bài Vợ chồng A Phủ (1999) đều
tập trung đánh giá những thành công về nghệ thuật xây dựng nhân vật: những tính cách độc đáo, những số phận giàu ấn tượng để rồi các tác giả đi đến kết
luận: “Truyện Tây Bắc là thành quả đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên của Tô Hoài trên quê hương văn học mới của ông Vợ chồng A Phủ có một gương
mặt riêng độc đáo.”
Như một dòng sông vô tận với bao điều kỳ diệu, những sáng tác của Tô
Hoài và đặc biệt tập Truyện Tây Bắc của ông như những con sóng cảm xúc
nối dài khơi gợi sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu Nhiều luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ đã viết về tác phẩm của Tô Hoài Năm 2005, tác giả Mai
Thị Nhung đã có công trình nghiên cứu rất công phu về phong cách nghệ
thuật Tô Hoài Vấn đề mà tác giả luận văn đi sâu phân tích là phong cách
Trang 14nghệ thuật Tô Hoài với yếu tố hạt nhân chi phối là cảm quan hiện thực đời thường Tô Hoài cảm nhận con người trong dạng thức nhân bản đời thường Thế giới nhân vật bình dị, đời thường và nhân vật hành động, hướng ngoại Ngôn ngữ văn chương Tô Hoài mang vẻ đẹp giản dị, mộc mạc Từ ngữ được nhà văn sử dụng ổn định và mang giá trị thẩm mĩ đặc sắc
Từ những khảo sát trên, có thể nhận thấy phần lớn các bài nghiên cứu đều tập trung đánh giá một cách tổng quát ý nghĩa nội dung, đặc sắc nghệ thuật
của tập Truyện Tây Bắc nói riêng và những sáng tác của Tô Hoài nói chung
để từ đó thấy được tình yêu, sự gắn bó với mảnh đất đã “để thương để nhớ”
trong tâm hồn nhà văn Về nội dung, tác phẩm Truyện Tây Bắc đã ghi lại một
cách chân thực và sinh động cuộc sống khổ cực, tối tăm của người dân Tây Bắc trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động đồng thời ca ngợi sức sống tiềm tàng, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiên cường của người dân Tây Bắc
trên con đường đến với ánh sáng cách mạng Về nghệ thuật, qua Truyện Tây
Bắc, người đọc thấy được khả năng quan sát tinh tế, sắc sảo phù hợp quy luật
phát triển; bút pháp linh hoạt, tài dựng khung cảnh, không gian, màu sắc, âm thanh mang hương vị miền núi của nhà văn Tô Hoài Đặc biệt là nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật một cách tinh tế của một cây bút khá già dặn, đã có sự chín muồi trong tư tưởng và tình cảm
Các ý kiến nói trên sẽ là cơ sở cho chúng tôi tìm hiểu tác phẩm này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát và nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các DT (TN sự vật), ĐT (TN hoạt động - trạng thái, TT (TN đặc điểm - tính chất) có mặt
trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu khảo sát của luận văn là cuốn Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
(NXB Văn học, Hà Nội 1969)
Trang 154 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích:
- Xác lập được các TN sự vật, TN hoạt động - trạng thái, TN đặc điểm -tính chất được sử dụng trong tác phẩm
- Tìm ra đặc điểm riêng của từng trường và giá trị của chúng trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm và cái tôi nghệ thuật của nhà văn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước để xây dựng cho luận văn một cơ sở lí luận thích hợp;
- Thống kê, phân loại, miêu tả các TN sự vật, TN hoạt động - trạng thái,
TN đặc điểm - tính chất trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài;
- Nghiên cứu giá trị của TN sự vật, TN hoạt động - trạng thái, TN đặc điểm
- tính chất trong Truyện Tây Bắc đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm và
phong cách tác giả
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng ba phương pháp sau:
5.1 Phương pháp miêu tả
Chúng tôi đã sử dụng các thủ pháp giải thích bên ngoài và các thủ pháp
giải thích bên trong của phương pháp này để miêu tả các TN trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
Chúng tôi sử dụng các thủ pháp giải thích bên ngoài như: thủ pháp trường
nghĩa – áp dụng lí thuyết trường vào việc nghiên cứu nghĩa nhằm xác định hệ
thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ; thủ pháp phân tích ngôn cảnh để nghiên cứu
các tình huống và các nhân tố văn hóa có ảnh hưởng đến việc sử dụng từ ngữ;
các thủ pháp phân bố bao gồm thủ pháp phân tích văn cảnh để miêu tả ý
Trang 16nghĩa của các từ ngữ trong từng TN và thủ pháp thay thế để phát hiện giá trị
nội dung và nghệ thuật của từng từ ngữ cụ thể mà tác giả đã sử dụng
Các thủ pháp giải thích bên trong được chúng tôi sử dụng bao gồm các thủ
pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp phân tích nghĩa tố và thủ pháp thống kê toán học Thủ pháp phân loại được sử dụng để phân chia các TN và
các tiểu trường Thủ pháp phân tích nghĩa tố là cơ sở để biết các từ chứa đựng những nghĩa tố giống nhau trong một trường Thủ pháp thống kê toán học
được sử dụng để tiến hành thống kê ngữ liệu là các TN trong tác phẩm của Tô Hoài
5.2 Phương pháp so sánh
Chúng tôi sử dụng thủ pháp giải thích về mặt văn hóa và lịch sử để xác
định mối liên hệ giữa các yếu tố lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ trong tác phẩm
5.3 Phương pháp đối chiếu
Các thủ pháp được chúng tôi sử dụng là xác định cơ sở đối chiếu và giải
thích tài liệu được đối chiếu để so sánh các đơn vị từ vựng trong TN này với
các TN khác, từ đó thấy được sự khác biệt và dụng ý của tác giả
6 Đóng góp mới của luận văn
6.1 Về lí luận
Luận văn góp phần khẳng định những vấn đề lí luận cơ bản về TN và vai trò của nó với việc biểu đạt trong tác phẩm văn chương
6.2 Về thực tiễn
Những kết quả chúng tôi thu được khi tìm hiểu tác phẩm Truyện Tây Bắc
dựa vào lí thuyết TN có thể là cơ sở cho việc tìm hiểu các giá trị về nội dung
và nghệ thuật nói chung của Truyện Tây Bắc, mở ra hướng nghiên cứu tích
hợp giữa ngôn ngữ và văn học
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong nhà trường, đặc biệt dưới góc nhìn ngôn ngữ học, khi cần đọc – hiểu tác phẩm văn chương
Trang 177 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa trong Truyện Tây Bắc
Chương 3: Vai trò của việc sử dụng các từ ngữ thuộc các trường nghĩa khác
nhau trong Truyện Tây Bắc
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1.1 Trường nghĩa
1.1.1 Khái niệm nghĩa và các loại nghĩa
1.1.1.1 Khái niệm nghĩa
Một trong những khái niệm phức tạp nhất, giành được sự chú ý thảo luận
nhiều nhất trong ngôn ngữ học là khái niệm nghĩa Nghĩa là gì? Câu hỏi ấy vẫn chưa tìm được câu trả lời thống nhất Có quan niệm cho rằng nghĩa là
khái niệm tồn tại gắn với từ ở trạng thái tĩnh, trạng thái hệ thống, nhưng cũng
có quan điểm cho rằng nghĩa bao gồm cả hai trạng thái – tĩnh và động
- Theo Từ điển Tiếng Việt thì nghĩa có hai cách hiểu: "1 Nội dung diễn đạt của một kí hiệu, đặc biệt của kí hiệu ngôn ngữ: giải nghĩa từ; tìm hiểu nghĩa
của câu ca dao 2 Cái nội dung làm thành giá trị: điều đó cũng chẳng có nghĩa gì; trở thành vô nghĩa" [41, tr.673]
Theo chúng tôi, cách hiểu này đã chỉ ra 2 yếu tố làm nên nghĩa là nội dung
diễn đạt và kí hiệu ngôn ngữ Tuy nhiên, đó là nội dung gì, xuất phát từ đâu
âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo nó cho người khác, mà cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại
và phát triển của nó
Trang 192 Toàn bộ các chức năng của toàn bộ các đơn vị ngôn ngữ; tất cả những điều được các đơn vị ngôn ngữ này biểu hiện phản ánh là mặt nội dung của
chúng Ví dụ: Nghĩa chuyển; nghĩa số lượng; nghĩa nguyên nhân.”[54,
tr.143]
Nghĩa của từ không thể là một thực thể độc lập với ngôn ngữ trong đó tồn
tại, mà chỉ là một khái niệm về sự vật khách quan được phản ánh vào trong
ngôn ngữ Mặt được biểu đạt, tức nghĩa của từ được xác định bởi những mối
quan hệ của chúng với những từ khác trong hệ thống Nói cách khác, nghĩa
của từ là một tập hợp các nét khu biệt (còn gọi là nét nghĩa, hay nghĩa vị) Đó
là những tiêu chí mà tiếng nói giữ lại để nhận biết một loại đối tượng nào đó trong những vật thể của hiện thực Như vậy, nghĩa của từ là một cấu trúc có thể phân xuất ra những yếu tố cấu tạo nhỏ nhất, giống như các nét khu biệt
trong âm vị học Ví dụ: Nghĩa của từ anh trong tiếng Việt gồm các nghĩa vị:
“đàn ông”, “sinh trước”, “trong quan hệ gia đình với người cùng thế hệ”….vv
- Trong cuốn 777 khái niện ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan
niệm về nghĩa như sau:
" Nghĩa của từ (cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ
với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó hiển thị cái gì” [21,tr.78]
Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, trước hết, khi nói đến nghĩa là nói đến
nghĩa của một cái gì đó đã biết, đã tiếp nhận Dùng thuật ngữ của F.de
Saussure thì, nói đến nghĩa là nói đến nghĩa của cái biểu đạt Nhưng rộng hơn
cách hiểu của F.de.Saussure và rộng hơn cách hiểu thông thường, cái biểu đạt không chỉ là những vật cảm tính như vỏ ngữ âm của một từ, một câu, một hình vẽ, màu sắc mà còn có thể là những hiện tượng trong cuộc sống, những hiện tượng vật chất, những hiện tượng tinh thần, một hành động, một việc làm, kể cả một cách thức nói năng, thậm chí còn có thể là một ý nghĩa của một câu đã biết (nội dung câu hỏi, nội dung lời thanh minh…) Theo tác giả
Trang 20Đỗ Hữu Châu, có thể dùng thuật ngữ “ngoại biểu” thay cho thuật ngữ “cái biểu đạt” của F.de Saussure
Theo chúng tôi, ở ngôn ngữ, nói đến nghĩa là nói đến cái được biểu đạt mà
người ta có thể học thuộc, ghi nhớ vì nó có tính ổn định, gắn chặt với hình
thức của tín hiệu, của biểu thức ngôn ngữ Có thể hiểu về nghĩa theo quan
niệm rộng là toàn bộ nội dung, thông tin mà người nói/ viết muốn truyền đạt thông qua một đơn vị ngôn ngữ nào đó và bằng một cách thức nhất định Quá trình hình thành nghĩa của từ như sau: Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan phản ánh vào trong tư duy của con người thành khái niệm (về sự vật, hiện tượng) Các khái niệm đó đi vào hệ thống ngôn ngữ, được ngôn ngữ hóa, trở thành nghĩa của từ
1.1.1.2 Các loại nghĩa
Nghĩa tồn tại, hiện diện trong các mặt, các cấp độ lớn nhỏ của ngôn ngữ
Nó là cái được biểu hiện của hình vị, từ, câu và đơn vị trên câu Các đơn vị
mang nghĩa trên có nhiều dạng, thể tồn tại nên nghĩa của nó sẽ có nhiều sắc thái phong phú
Nói đến nghĩa của từ là đề cập đến các bộ phận: nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ
pháp và ngoài ra là nghĩa liên hội của từ
Nghĩa từ vựng là sản phẩm hoạt động tư duy của con người, hình thành
trong quá trình hoạt động tích cực của người nói, viết Đó là nghĩa riêng, vốn
có của từ, ngữ Nghĩa từ vựng mang tính khái quát hóa, là sự khái quát từ
những sự vật hiện tượng trong đời sống hàng ngày và rộng hơn khái niệm (của triết học) bởi nó thường bao gồm cả thành tố nghĩa đánh giá và các thành
tố khác Cấu trúc của nghĩa từ vựng bao gồm các thành phần: nghĩa biểu vật
(nghĩa sở chỉ), nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu), nghĩa biểu thái
- Nghĩa biểu vật:
Trang 21Theo Đỗ Hữu Châu thì: “Ý nghĩa BV là sự phản ánh sự vật hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt
của ngôn ngữ nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế”
Nguyễn Thiện Giáp gọi thứ nghĩa này là nghĩa sở chỉ Ông phát biểu
“Những sự vật, quá trình, tính chất hiện tượng được từ biểu thị gọi là các sở chỉ Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ là nghĩa sở chỉ”
Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đã cùng quan điểm với Nguyễn Thiện
Giáp khi khẳng định nghĩa biểu vật là mối liên hệ giữa từ với sự vật, sự phản ánh của các sự vật, hiện tượng cụ thể trong thực tế bằng ngôn ngữ, còn gọi là
sở chỉ Chúng tôi thống nhất với khái niệm này
- Nghĩa biểu niệm:
Trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Nghĩa biểu
niệm của từ là hợp thể những hiểu biết được đưa vào hệ thống ngôn ngữ của
một ngôn ngữ về nghĩa biểu niệm của từ đó" [tr.197] Trong Từ vựng – ngữ
nghĩa tiếng Việt , ông lại viết: “ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số
nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ Chính vì ý nghĩa biểu niệm là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi
nó là cấu trúc biểu niệm”
Nguyễn Thiện Giáp gọi thứ nghĩa này là nghĩa sở biểu, là quan hệ của từ
với biểu tượng, khái niệm mà từ biểu thị Khái niệm hoặc biểu tượng có quan
hệ với từ được gọi là cái sở biểu
Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học tập hợp một số điểm ở khái niệm của cả
hai ông mà đưa ra quan niệm: “Nghĩa biểu niệm là mối quan hệ giữa từ với khái niệm và biểu tượng của sự vật, tức với những đặc trưng bản chất nhất của sự vật; tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một trật tự nhất định và có tổ chức Nghĩa biểu niệm được coi như bất biến
Trang 22thể trong sự đối lập với nghĩa biểu vật; còn gọi là nghĩa biểu ý, nghĩa sở
biểu” Chúng tôi theo quan điểm này
- Nghĩa biểu thái:
Trong Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho nghĩa biểu thái
là “những nhân tố đánh giá như to, nhỏ, mạnh, yếu…, nhân tố cảm xúc như
dễ chịu, khó chịu, sợ hãi…, nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét,… mà
từ gợi ra cho người nói, người nghe”
Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học gọi thứ nghĩa này là nghĩa biểu cảm, và
cho là: “Nghĩa phụ của từ hoặc ngữ, sắc thái nghĩa hoặc sắc thái phong cách lồng vào nghĩa cơ bản để biểu thị nét cảm xúc, biểu cảm, có thể tạo cho phát
ngôn có tính trang trọng, thân mật, kiểu cách,…”
Nguyễn Thiện Giáp gọi đây là nghĩa sở dụng: là quan hệ của từ với người
sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc) Người sử dụng (tập thể chứ không phải cá nhân) có thể bộc lộ thái độ chủ quan của mình đối với
từ ngữ và qua đó tới cái sở biểu và sở chỉ của từ ngữ Chẳng hạn, các từ chết,
từ trần, ngoẻo cùng một cái sở biểu nhưng khác nhau về quan hệ chủ quan tồn
tại giữa người sử dụng với những từ này Với tư cách là yếu tố gợi cảm - cảm xúc khách quan của từ với tập thể người sử dụng, không phải là từ nào cũng
có Đại bộ phận các từ trong ngôn ngữ không có yếu tố gợi cảm Nó chủ yếu xuất hiện trong các từ thuộc vào một lớp tu từ học nhất định, những nhóm đồng nghĩa, những biến thể ngữ âm và hình thái học của cùng một từ
Thái độ của người nói tương quan với ba nhân tố: với chính mình, với
người đối thoại và với sự vật đối tượng Nghĩa biểu thái cũng bao gồm: nghĩa
bộc lộ trạng thái tâm lí, sự ưa thích, thói quen riêng của người nói; nghĩa thể hiện thái độ đối với người nghe, nghĩa thể hiện thái độ, tình cảm của người nói với sự vật đang được nói tới
Nghĩa từ vựng thường được đặt trong thế đối lập với nghĩa ngữ pháp Trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ý nghĩa
Trang 23ngữ pháp (gramatical meaning) loại ý nghĩa chung bao trùm lên một loạt đơn
vị ngôn ngữ Đó có thể là nghĩa chung của cả loạt dạng thức của từ, của cả hàng loạt từ, hàng loạt câu”
Nghĩa ngữ pháp của từ bao gồm các kiểu nghĩa từ vựng - ngữ pháp (nghĩa
của thực từ, hư từ, tình thái từ) và các kiểu nghĩa phạm trù ngữ pháp (như giống, số, cách,…)
Nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp của từ cùng có tính chất tương đối cố
định, vững bền, là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ Chúng là những nghĩa ngôn ngữ, cùng đối lập với một thứ nghĩa chưa cố định, dễ biến động, mang tính chất xã hội - lịch sử - cá nhân cụ thể, đó là
nghĩa liên hội của từ
1.1.2 Trường nghĩa
1.1.2.1 Khái niệm
Lí thuyết TN ra đời dựa trên cơ sở những luận điểm về ngôn ngữ học đã
được hình thành từ rất sớm Trước hết phải kể đến giả thuyết về “tính tương
đối ngôn ngữ” do Sapir (1921) và Whorf (1956) khởi xướng Dựa trên nhận
định của W Humboldt: “Ngôn ngữ của một dân tộc chính là linh hồn của dân tộc đó, linh hồn của dân tộc chính là ngôn ngữ của dân tộc đó”, Sapri và Whorf đã làm sáng tỏ quan niệm coi ngôn ngữ là cái phản ánh tinh thần của một dân tộc nào đó Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ vựng riêng Hệ thống
từ vựng này phản ánh cách chia thực tế khách quan và phạm trù hóa hiện thực riêng của từng dân tộc ngay trong bản thân ý nghĩa các từ Tiếp theo đó là hàng loạt các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về ngữ nghĩa của ngôn ngữ, tiêu biểu là Talmy (1981), Langacker (1987) và Lakoff (1987)
Năm 1896, M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay sự trái ngược trực tiếp với chúng về nghĩa
Trang 24Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau Chúng ta đã biết rằng những từ này được dùng
trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” [11, tr.243] Như vậy có thể thấy
M.Pokrovxkij lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu từ vựng một cách hệ thống Ông chia các trường trên cơ sở sử dụng đồng thời ba tiêu chí:
1) Nội dung (các từ có quan hệ với cùng “một phạm vi biểu tượng” theo lời của Pokrovxkij)
2) Sự đồng nhất
3) Quan hệ hình thái học
M.Pokrovxkij từ những năm 90 của thế kỉ XIX đã có những sự phân chia trường dựa trên ba tiêu chí như trên Nhưng khái niệm trường và lí thuyết trường ngữ nghĩa chỉ thực sự được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỉ
XX, bắt nguồn từ những lí thuyết ngôn ngữ học của W Humboldt và F de Saussure Các nhà nghiên cứu như G Ipsen (1924), A Jolles (1934), W Porzig (1934)… Và đặc biệt là J Trier (1934) được coi như đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học
J Trier là nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra thuật ngữ “trường” trong ngôn
ngữ học Ông không dùng khái niệm trường ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng Trường khái niệm là một hệ thống rộng gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm Theo đánh giá của GS Đỗ Hữu Châu thì những giá trị lí thuyết
“trường” của Trier cũng chỉ dừng ở mức là những gợi ý Có nhiều lí do, trong
đó sự không phân biệt ý nghĩa với khái niệm, các lớp ý nghĩa, từ với khái niệm và quan niệm quá dứt khoát về ranh giới giữa các trường khái niệm và các “vùng” khái niệm của từ với nhau đặc biệt là cách sử dụng thiếu thận trọng tư liệu cổ để đối chiếu hai trạng thái khác nhau của cùng một trường
Trang 25khiến cho những kết luận của Trier dễ bị phản bác và phương pháp của ông không được vận dụng một cách có hiệu quả Tuy nhiên cần phải thấy rằng qua điểm của Trier về trường là những gợi ý ban đầu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và trường từ vựng nói riêng Với những nghiên cứu của mình,
J Trier đã “mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học”
Sau J Trier, một số nhà nghiên cứu khác như Weisgerber, J Lyons,…
cũng đã có những quan niệm bổ sung cho lí thuyết trường J Lyons trong cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học lí thuyết” đã đưa ra được một định nghĩa về ý nghĩa của từ (sense) có phần khoa học hơn: “Cái mà ta cho là ý nghĩa của một đơn vị từ vựng là toàn bộ tập hợp các quan hệ ý nghĩa giữa nó với các đơn vị
khác trong từ vựng.”[11, tr.244] Trên cơ sở quan niệm này, Lyons đã miêu
tả cấu trúc ngữ nghĩa của các từ trong các hệ thống từ vựng bằng các quan hệ
đồng nghĩa, đồng âm, trái nghĩa, đa nghĩa,…
Một số nhà ngôn ngữ học sau này đã chia hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành TN ở nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau dựa vào nét nghĩa phạm trù chung nhất đến các nét nghĩa phạm trù nhỏ hơn rồi các nét nghĩa loại, hạng và nét nghĩa riêng biệt
Nhìn chung những quan niệm về TN của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ mà chúng ta vừa xem xét đều dựa vào quan hệ dọc của ngôn ngữ W Porig – nhà ngôn ngữ học người Đức lại dựa trên quan hệ ngang giữa các tín hiệu ngôn ngữ để đề xuất lí thuyết về TN Theo ông, khái niệm TN dựa trên cơ sở các mối quan hệ về nghĩa giữa các cặp từ có quan hệ ngữ đoạn với nhau (quan hệ ngang) Với Porzig, ý nghĩa của từ có thể được chỉ ra một cách độc lập trong những trường hợp sử dụng cú pháp khác biệt Khả năng kết hợp về mặt cú pháp của một từ, tức khả năng cùng một số từ khác kết hợp thành một cấu trúc cú pháp có nghĩa là bằng chứng cho ý nghĩa độc lập của từ Porzig đã lấy
sự liên tưởng làm nguyên tắc phân chia TN Theo cơ chế liên tưởng, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi lên những từ khác trong hệ thống ngôn
Trang 26ngữ Với cách nhìn nhận như vậy, Porzig xác định sự sắp xếp của những từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau (có khả năng kết hợp giống nhau với các từ khác) tạo thành trường từ vựng – cú pháp
Trường theo quan niệm của J Trier là trường theo quan hệ dọc - trường trực tuyến - trường hệ thống hay trường đẳng lập, còn trường theo quan niệm của W Porig là trường theo quan hệ ngang - trường tuyến tính - trường tập hợp hay trường từ vựng – cú pháp
Lí thuyết TN được giới thiệu vào Việt Nam từ 1970 Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, nhiều nhà nghiên cứu cũng
đã đề cập đến vấn đề TN: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ,
…Đỗ Hữu Châu là người đã giới thiệu trường trong một loạt công trình trên các phương diện lịch sử vấn đề, hệ thống hóa các quan điểm, phương pháp của các nhà ngôn ngữ học thế giới, đồng thời đưa ra các tiêu chí cũng như phương pháp xác lập trường Ông đã vận dụng các quan điểm của các tác giả nước ngoài về trường để hình thành nên quan niệm của mình về lí thuyết trường từ vựng:“Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa
Đó là tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [ 11, tr.159] Các tác giả
của cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cho rằng trường từ vựng
hay chính xác là xêri từ vựng, dãy từ vựng trong đó các từ có quan hệ với nhau: “Một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa còn gọi là xêri từ vựng, dãy từ vựng.”[54, tr.327] Nhìn chung các nhà nghiên cứu nói trên đều dựa trên cơ sở quan điểm của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đi trước và căn cứ vào thực tế tiếng Việt để đưa ra cách nhìn của mình
về TN
1.1.2.2 Phân loại trường nghĩa
Mỗi nhà nghiên cứu khi đưa ra quan niệm riêng về TN cũng đồng thời có cách phân loại riêng Do đó trên thực tế, sự phân loại TN rất phong phú Ngoài quan niệm của Trier và Porzig như đã nêu ở trên, chúng tôi chỉ điểm
Trang 27qua một vài loại TN tiêu biểu khác Mỗi loại trường này được xác lập dựa trên những tiêu chí nhất định:
Căn cứ vào hình thái và chức năng của các từ, Ispen xây dựng các trường
từ vựng - ngữ pháp Mỗi TN thuộc loại này bao gồm những từ họ hàng với nhau về ý nghĩa và hình thức
Hicking lại xây dựng TN căn cứ vào các từ ghép, trong đó các từ rời là thành viên của trường Theo nhà nghiên cứu này, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng Những trường hợp như thế gọi là trường cấu tạo từ Kiểu TN phổ biến nhất là nhóm từ vựng - ngữ nghĩa Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa có thể rất khác nhau Chẳng hạn, có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất và trung hòa Ngoài ra, người ta cũng có thể tập hợp các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa trên cơ sở một khái niệm chung có mặt trong mỗi một từ của nhóm này Một số người còn xếp cả từ loại và tiểu loại vào những nhóm từ vựng - ngữ nghĩa do các từ thuộc vào một
từ loại hoặc một tiểu loại cũng có cùng một ý nghĩa khái quát chung Mỗi từ loại này lại có thể chia ra thành các tiểu loại, mỗi tiểu loại cũng đều có các ý nghĩa khái quát chung
Dựa vào các từ mà người ta liên tưởng tới khi nghe một từ nào đó, người
ta tập hợp thành các trường liên tưởng (quan điểm của Ch.Bally) Theo Bally, mỗi từ phát ra là một kích thích có thể làm trung tâm của một trường liên tưởng ngữ nghĩa Từ “mặt trời” trong tiếng Việt có thể là trung tâm của một
trường liên tưởng: sáng, chói chang, rực rỡ, ấm áp, sự sống
Như vậy, hệ quả của nhiều quan niệm và cách phân loại khác nhau về trường nghĩa là sự tồn tại song hành của nhiều kiểu trường nghĩa Tuy nhiên, giữa các kiểu trường nghĩa này vẫn có sự thống nhất ở bản chất của trường nghĩa Tức là, các từ trong mỗi hệ thống phải có quan hệ với nhau về mặt ý
Trang 28nghĩa và cả những sự khác biệt nhất định do nguyên tắc hợp nhất riêng của từng trường Sự khác biệt này chứng minh cho tính đa dạng, phong phú của
ngôn ngữ trong thự tiễn sử dụng
Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là của tác giả Đỗ Hữu Châu - người có công đầu trong việc nghiên cứu, giới thiệu lí thuyết về
TN, chúng tôi xác định có các loại TN sau: TN dọc, TN ngang và trường liên tưởng
của các phạm trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu…
+ TN biểu niệm:
TN biểu niệm chính là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm Các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi
b TN ngang (TN tuyến tính)
Để lập nên các TN tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả
những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Các từ trong một trường tuyến tính là những
từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản
c Trường liên tưởng
Ch Bally là người đầu tiên đưa ra khái niệm trường liên tưởng Theo ông mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa có thể có của từ trung tâm Trước hết đó phải là các từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường
Trang 29biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất
và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm
Trên cơ sở nghiên cứu các loại TN như trên, chúng tôi xác định hướng vận
dụng lí thuyết để tìm hiểu các TN trong tác phẩm Truyện Tây Bắc như sau:
Ở chương 2, chúng tôi vận dụng TN dọc để khảo sát các TN Trước hết, chúng tôi dựa vào các từ loại khác nhau để xác định các TN sự vật, TN hoạt
động, TN tính chất Sau đó, dựa vào khái niệm, chúng tôi chia nhỏ các TN
trên thành các tiểu trường: tiểu trường sự vật tự nhiên, tiểu trường
người Trong từng tiểu trường, chúng tôi có thể chia nhỏ hơn dựa vào một từ
khái quát biểu thị khái niệm ở dạng chung nhất để tập hợp các thành viên của
trường Ví dụ: động vật để tập hợp các loài động vật khác nhau: trâu, bò, lợn,
gà, hổ, báo, hươu, nai
Ở chương 3, chúng tôi vận dụng kết quả của chương 2 và vận dụng TN
ngang để thấy được giá trị của các TN và có cái nhìn đầy đủ hơn về các vấn
đề đặt ra trong tác phẩm
1.2 Hiện tƣợng chuyển nghĩa
1.2.1 Khái niệm hiện tƣợng chuyển nghĩa
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, có hiệu quả nhất của con người Ngôn ngữ tồn tại và phát triển được cũng chính là nhờ có giao tiếp
và thông qua giao tiếp Mọi đặc điểm của ngôn ngữ có thể được cụ thể hóa, tường minh hóa khi ngôn ngữ tham gia vào hoạt động giao tiếp của con người với tư cách là một phương tiện giao tiếp Muốn giao tiếp được bằng ngôn ngữ, con người phải lĩnh hội được cả mặt âm và nghĩa trong mỗi từ Thực tế,
“Ngôn ngữ có quy luật tiết kiệm vô cùng kì diệu là dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn Trong ngữ pháp, với một số từ hữu hạn, con người tạo ra các câu biểu hiện toàn bộ thế giới tư tưởng phong phú và đa dạng của mình Về mặt từ vựng, quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt được nhiều nội dung khác nhau Vì vậy hiện
Trang 30tượng đa nghĩa được xem như là một quy luật phổ quát của ngôn ngữ” [tr.65] Hiện tượng nhiều nghĩa là “kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ” [11,tr.136]
Từ (đơn hoặc phức) lúc đầu mới xuất hiện chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi Trong sự biến đổi ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa, chúng ta đã quên đi.“Nhưng thường thì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động, khiến cho đối với người không chuyên về từ nguyên học khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào
là nghĩa đầu tiên của từ” [11, tr.137] Phần lớn các trường hợp nghĩa của từ chuyển biến theo lối “tỏa ra” nghĩa là các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện Như thế, sự chuyển biến ý nghĩa cũng là một phương thức
để tạo thêm từ mới bên cạnh các phương thức ghép và láy
Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giống nhau Sự chuyển nghĩa có thể dẫn đến kết quả là nghĩa sau khác hẳn nghĩa trước Thậm chí ngay một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành đồng nghĩa với cái từ trái nghĩa trước kia của nó
Tóm lại, nhu cầu giao tiếp của xã hội chính là động lực dẫn đến sự chuyển biến nghĩa của từ Có những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt
tu từ Ngôn ngữ luôn đứng trước đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị những sự vật, hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội để thay thế những cách diễn đạt, những tên gọi đã
cũ mòn Bổ sung những nội dung mới cho từ đã có, thổi vào chúng những luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc,
dễ dàng được chấp nhận, đáp ứng những nhu cầu của giao tiếp Đó cũng là cách khai thác và phát huy tiềm năng của ngôn ngữ
Trang 311.2.2 Các phương thức chuyển nghĩa
Hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới là ẩn dụ và hoán dụ
1.2.2.1 Ẩn dụ
a Khái niệm
Trong Việt ngữ học, ẩn dụ được xem xét ở hai góc độ Thứ nhất, ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của đơn vị từ vựng dựa vào mối tương đồng giữa sự vật - đối tượng Người ta gọi ẩn dụ này là ẩn dụ
từ vựng Ẩn dụ từ vựng là ẩn dụ nghĩa chuyển đã được cố định hóa trong hệ thống ngôn ngữ, được đưa vào trong từ điển và được toàn dân sử dụng Theo góc độ này, ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học Thứ hai, ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người Ở góc độ này, ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, được coi là biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ) nhằm tăng sức gợi cảm, gợi hình và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt Với tư cách là biện pháp tu từ, ẩn dụ tu từ được khảo sát trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản Nếu tách khỏi văn cảnh thì giá trị ngữ nghĩa của nó sẽ không còn tồn tại Trong công trình này, chúng tôi chỉ dừng lại xem xét ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của đơn vị từ vựng (ẩn dụ từ vựng)
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật hiện tượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [54]
Sau này, trong công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu
giải thích một cách cụ thể hơn: “Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x ( tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y có nét nào đó giống nhau” [11, tr.145]
b Các kiểu ẩn dụ
Trang 32Theo Đỗ Hữu Châu, ẩn dụ có các kiểu sau đây:
- Ẩn dụ hình thức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa
các sự vật Ví dụ, những ẩn dụ trong các từ chân trong chân bàn, chân núi,
chân tường, từ mũi trong mũi thuyền, mũi đất, mũi dao
- Ẩn dụ chỉ cách thức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức
thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng Ví dụ, nắm tư tưởng, cắt hộ khẩu
- Ẩn dụ chức năng là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng
giữa các sự vật Ví dụ, các ẩn dụ chức năng như chốt trong giữ chốt, cửa trong cửa sông, cửa rừng
- Ẩn dụ kết quả là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các
sự vật đối với con người.Ví dụ, ấn tượng nặng nề, nói chua loét, lời nói ngọt
ngào, nói cay quá
1.2.2.2 Hoán dụ
a Khái niệm
“Phương thức hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x
và y đi đôi với nhau trong thực tế khách quan”.[11, tr.150] Cũng như ẩn dụ, hoán dụ cũng có hai góc độ khác nhau Thứ nhất, hoán dụ là một phương thức chuyển nghĩa của từ, gọi là hoán dụ từ vựng Thứ hai, hoán dụ là một biện pháp tu từ, gọi là hoán dụ tu từ Ở đây, chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu hoán dụ từ vựng
b Các kiểu hoán dụ
- Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận – toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu vật x
và y, trong đó x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận Ví sụ: chân, tay… là tên gọi của các bộ phận trên cơ thể nhưng trong các câu sau nó lại
được dùng để chỉ người: An là tay cờ tướng xuất sắc, Nam có chân trong đội
bóng đá
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa, tên gọi của vật chứa
được dùng để chỉ những cái nằm trong nó Ví dụ: Nhà là công trình kiến trúc,
Trang 33trong câu “Một nhà sum họp trúc mai.” thì nhà là những người trong gia đình,
tức là những người được chứa đựng trong cái nhà đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo ra từ
nguyên liệu Ví dụ: Đồng (đơn vị tiền tệ: một đồng, hai đồng),
- Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng Ví dụ:
cây bút (nhà văn)
- Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề: tên gọi của các dụng cụ
được gọi thay tên các ngành nghề Ví dụ: tay búa, tay súng
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng vât chất được chứa Ví dụ:
lý, tâm lý đi kèm Ví dụ: cúi đầu - sự cam chịu, tắt thở - cái chết…
- Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác: tiếng động do hoạt động
gây ra để gọi tên động tác Ví dụ: đứa trẻ bi bô, nước róc rách
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật Ví
dụ: chất xám (trí tuệ), chất cay (rượu)…
1.3 Các đơn vị từ ngữ
1.3.1 Khái niệm từ, phân loại từ
Từ là đơn vị tồn tại, hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ Có thể chấp nhận một định
nghĩa chung về từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý
nghĩa và hình thức
Trang 34Phân định từ loại là một nhu cầu của nhận thức, một yêu cầu khách quan của bản thân hệ thống từ ngữ, là một đòi hỏi của việc chuẩn hoá về ngữ pháp tiếng Việt Phân định từ loại là xếp tất cả các từ của một ngôn ngữ thành những lớp, những nhóm căn cứ vào một tiêu chí nào đó Hiện nay, nhiều tác giả chủ trương rằng xác định từ loại tiếng Việt cần dựa vào mộ tập hợp các tiêu chí Đó là: ý nghĩa ngữ pháp khái quát, khả năng kết hợp của từ cũng như khả năng tổ chức đoản ngữ, chức vụ ngữ pháp chính mà từ có thể đảm đương trong câu Dựa vào ba tiêu chí trên, vốn từ tiếng Việt có thể được phân chia thành hai nhóm lớn là thực từ và hư từ Trong mỗi nhóm lại có thể phân chia thành những nhóm nhỏ hơn Thực từ gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại
từ Hư từ gồm phó từ, kết từ, tình thái từ, trợ từ, thán từ Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng tiêu chí từ loại là một trong số tiêu chí để xác lập trường
Đó là TN sự vật, TN hoạt động – trạng thái và TN đặc điểm – tính chất Vì thế, chúng tôi sẽ trình bày về ba nhóm từ loại làm cơ sở lí luận cho luận văn là: danh từ, động từ và tính từ
- Danh từ (DT):
+ Khái niệm: DT là những từ chỉ sự vật hiểu theo nghĩa rộng hay DT có ý nghĩa thực thể trong đó nòng cốt là ý nghĩa sự vật DT có thể kết hợp với từ
chỉ lượng ở phía trước, các từ để trỏ này, ấy, đó,… ở phía sau và có khả năng
làm thành tố chính trong một đoản ngữ (danh ngữ) Chức vụ điển hình trong câu của DT là chủ ngữ Chỉ có không quá 1% DT làm vị ngữ Khi làm vị ngữ,
DT thường có từ là đứng trước Ngoài ra, DT cũng có thể làm định tố, bổ tố
hay trạng ngữ…
+ Phân loại DT: DT trước hết được chia tách thành hai loại: DT riêng và DT chung
* DT riêng là lớp DT dùng làm tên gọi cho các sự vật, hiện tượng riêng biệt,
là tên riêng của một người, một đất nước, một cơ quan, một vùng đất nhất
Trang 35định Khi viết DT riêng, phải viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó
* DT chung là tên gọi chung của các sự vật, thực thể cùng loại có chung những đặc tính nghĩa – ngữ pháp DT chung được chia thành: DT chung lại được chia thành: DT tổng hợp và DT không tổng hợp DT không tổng hợp bao gồm: DT chỉ đơn vị, DT chỉ sự vật, DT chỉ chất liệu, DT chỉ khái niệm trừu tượng
DT chỉ đơn vị: nêu tên đơn vị dùng để tính đếm, đo lường sự vật DT đơn
vị gồm các tiểu loại: DT chỉ đơn vị tự nhiên (còn gọi là loại từ), DT chỉ đơn vị quy ước, DT chỉ đơn vị tập thể, …
DT chỉ sự vật có hai nhóm: DT chỉ người và DT chỉ thực vật, động vật, đồ vật
DT chung còn bao gồm DT chỉ chất liệu và DT chỉ khái niệm trừu tượng
ĐT thường kết hợp với các từ đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, chớ, đừng,… để
tạo thành cụm ĐT Chức vụ điển hình trong câu của ĐT là làm vị ngữ Khi
làm chủ ngữ, ĐT mất đi khả năng kết hợp với các từ đã, sẽ, đang, cũng, vẫn,
hãy, chớ, đừng,…ĐT còn có thể giữ chức vụ định tố, bổ tố, trạng ngữ…
+ Phân loại ĐT: Có thể phân loại ĐT thành hai nhóm lớn: ĐT không độc lập
và ĐT độc lập
ĐT không độc lập gồm hai nhóm: ĐT tình thái và ĐT quan hệ
ĐT tình thái là những ĐT biểu thị tình thái vận động, quá trình nhưng tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn
Trang 36ĐT quan hệ là những ĐT biểu thị quan hệ giữa chủ thể với nội dung nêu ở từ ngữ sau ĐT chỉ quan hệ Đó có thể là quan hệ giữa các thực thể, các quá trình hoặc các đặc trưng
ĐT độc lập là những ĐT tự thân có nghĩa Chúng có thể dùng độc lập không
cần các ĐT khác đi kèm khi làm thành phần câu ĐT độc lập lại có thể chia thành ĐT nội động và ĐT ngoại động
ĐT nội động là những ĐT chỉ trạng thái hay hoạt động không hướng tới, tác động tới một đối tượng nào ở bên ngoài chủ thể
ĐT ngoại động là các ĐT chỉ các hoạt động hướng tới hoặc tác động tới đối tượng bên ngoài chủ thể
- Tính từ
+ Khái niệm: TT là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hành động, trạng thái
TT có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ ở phía trước như: rất, cực kì, hơi, khí,
quá hoặc về phía sau với: lắm, quá, cực kì Khả năng kết hợp với các từ hãy, đừng, chớ của TT rất hạn chế
TT có thể làm vị ngữ, chủ ngữ trong câu Tuy vậy, khả năng làm vị ngữ của
TT hạn chế hơn động từ
+ Các loại TT: có hai loại chính;
TT chỉ đặc điểm tương đối (có thể kết hợp với từ chỉ mức độ)
TT chỉ đặc điểm tuyệt đối ( ít kết hợp với từ chỉ mức độ)
1.3.2 Khái niệm đoản ngữ, phân loại đoản ngữ
Đoản ngữ (cụm từ chính phụ) là cụm từ trong đó có một thành tố trung tâm
và một hay một số thành tố phụ đứng quây quần xung quanh trung tâm đó để
bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa
Dựa vào thành tố trung tâm, người ta phân loại đoản ngữ thành: danh ngữ (cụm DT), động ngữ (cụm ĐT) và tính ngữ (cụm tính từ)
* Danh ngữ (DN)
Trang 37+ Khái niệm: DN là cụm từ chính phụ có DT làm trung tâm DN có ý nghĩa đầy đủ hơn và có cấu tạo phức tạp hơn một mình DT, nhưng hoạt động trong
câu giống như một DT: hai ngôi nhà đó, cả ba cậu học trò thông minh ấy, tất
cả những cái quan niệm lạc hậu của ông,…
+ Cấu tạo DN: DN đầy đủ gồm ba phần: phần trước, phần trung tâm, phần sau Các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho DT các ý nghĩa về số và lượng Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà DT biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong không gian hay thời gian
* Động ngữ (ĐN)
+ Khái niệm: ĐN là cụm từ có ĐT làm trung tâm
Cụm ĐT có ý nghĩa đầy đủ hơn và có cấu tạo phức tạp hơn một mình ĐT, nhưng hoạt động trong câu giống như một ĐT
+ Cấu tạo: ĐN đầy đủ gồm ba phần: phần trước, phần trung tâm và phần sau Các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho ĐT các ý nghĩa: quan hệ thời gian; sự tiếp diễn tương tự; sự khuyến khích hoặc ngăn cản hành động; sự khẳng định hoặc phủ định hành động,…Các phụ ngữ ở phần sau bổ sung cho ĐT các chi tiết về đối tượng, hướng, địa điểm, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện và cách thức hành động,…
Các phụ ngữ ở phần sau có thể biểu thị vị trí; sự so sánh; mức độ, phạm vi hay nguyên nhân của đặc điểm, tính chất;…
Trang 381.4 Phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn chương
Trên cơ sở các thành tựu về trường nghĩa, sự chuyển nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa, Đỗ Hữu Châu cũng đề xuất nguyên tắc phân tích từ ngữ trong giảng văn mà thực chất là phân tích tác phẩm xuất phát từ việc xem xét các từ vựng theo các trường nghĩa mà nó phụ thuộc vào Ông chú ý đến việc
từ được dùng theo nghĩa chính hay nghĩa chuyển Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc lại một số nội dung cơ bản trong công trình nghiên cứu của ông:
- Đối tượng của phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn chương bao gồm cả
từ, ngữ cố định, cụm từ tự do…Thông thường đây là những ẩn dụ hay hoán
dụ có hình thức diễn đạt trên từ
- Việc phân tích từ ngữ phải đạt 2 yêu cầu: yêu cầu phát hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong từ và yêu cầu phát hiện ra các giá trị nghệ thuật của nó Hai yêu cầu này tuy khác nhau nhưng lại hòa quyện vào nhau
- Ngôn ngữ thường có tính nhiều nghĩa Phân tích từ ngữ là phải phát hiện cho được những nghĩa khác nhau chứa đựng trong từ ngữ, từ nghĩa cụ thể, trực tiếp đến nghĩa trừu tượng, gián tiếp Từ ngữ trong tác phẩm thường nằm trong các trường hợp ngữ nghĩa sau:
+ Từ ngữ được dùng trong nghĩa chính hay nghĩa phụ và chỉ dùng trong nghĩa đó
+ Từ ngữ được dùng trong nghĩa tu từ và chỉ dùng trong nghĩa tu từ
+ Từ ngữ vừa được dùng trong nghĩa chính, vừa được dùng trong nghĩa bóng hay nghĩa tu từ
- Hiện tượng nhiều nghĩa trong nghệ thuật là một hiện tượng thường gặp Nguyên tắc để phân tích hiện tượng nhiều nghĩa trong tác phẩm là: Bất cứ từ ngữ được dùng trong trường hợp nào khi phân tích cũng phải bám sát nghĩa chính, hiểu chính xác nghĩa của từ Từ đó, dựa vào những quy tắc chuyển nghĩa, dựa vào quan hệ ngữ nghĩa trong từ nhiều nghĩa mà tìm ra giá trị nội dung và nghệ thuật của nó Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập
Trang 39trung nghiên cứu các TN chủ yếu trên cơ sở nghĩa chính của từ Nếu điều kiện cho phép, chúng tôi sẽ nghiên cứu hiện tượng nhiều nghĩa ở những công trình tiếp theo
1.5 Sơ lƣợc về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Truyện Tây Bắc
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 - 1920 tại làng Nghĩa Đô,
phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy - Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như: dạy học tư, bán hàng, làm kế toán
cho hiệu buôn, … Năm 1938, tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu
thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn
hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo Cứu quốc Ông là
một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch
ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…) Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như: Uỷ viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi
Tô Hoài đến với nghề văn ở tuổi mười bảy, mười tám Những sáng tác đầu
tay của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy Tuy xuất
hiện ở giai đoạn cuối của thời kì 1930 - 1945 nhưng Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này bằng một loạt tác
phẩm độc đáo, đặc sắc như: Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O
chuột (1942), Trăng thề (1943) Nhà nghèo (1944 ) Từ các tác phẩm này,
người đọc dễ nhận thấy sức sung mãn dồi dào trong lao động nghệ thuật của ông
Tô Hoài sáng tác ở nhiều thể loại với nhiều đề tài khác nhau, trong đó đề tài miền núi chiếm một phần lớn trong kho tàng sáng tác đồ sộ của ông Trong
Trang 40các sáng tác của Tô Hoài, Tây Bắc không còn là miền đất xa lạ, nó đã trở thành quê hương thứ hai của ông Ông viết về Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng cả tình yêu đằm thắm thiết tha như chính quê hương mình Bởi lẽ, với Tô Hoài: “Đất nước và người miền Tây đã để thương, để nhớ cho tôi nhiều quá”, hình ảnh Tây Bắc “lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi”, nó có sức ám ảnh mạnh mẽ khơi dậy nguồn cảm hứng sáng tạo và thúc đẩy nhà văn viết thành công nhiều tác phẩm về miền đất này Có thể xem ông là nhà văn của miền núi Tây Bắc, là một trong những người đặt nền móng cho nền văn học viết về
đề tài Tây Bắc
Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu
quốc(1948) Nhưng phải đến Truyện Tây Bắc, Tô Hoài mới có được sự thành
công đặc sắc ở mảng đề tài về miền núi Tây Bắc Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú về Tây Bắc, ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của họ dưới ách áp bức nặng nề
của kẻ thù thực dân phong kiến Tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường
Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ Hình ảnh người lao động miền
núi Tây Bắc nghèo khổ, mà nhất là người phụ nữ trong tập truyện này được
Tô Hoài miêu tả với tất cả niềm cảm thông sâu sắc Cảnh đời của Mỵ, một cô dâu gạt nợ chết dần, chết mòn trong địa ngục trần gian của nhà thống lí Pá Tra, hay thân phận của cô Ảng, từ cô gái có vẻ đẹp nổi tiếng ở Mường Cơi bị xem như món đồ chơi qua tay nhiều quan châu, quan lang, chúa đất cho đến khi tàn tạ trở thành bà lão Ảng ăn mày , đã để lại cho người đọc biết bao điều suy nghĩ về cuộc sống đắng cay, tủi nhục của người phụ nữ Tây Bắc dưới sự đè nén áp bức nặng nề của thực dân và phong kiến ở miền núi Mặt khác, qua tập truyện trên, Tô Hoài đã khẳng định, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người miền núi Tây Bắc, cũng như lí giải thành công về con