Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/Khi nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam, PGS.TS Hoàng Chung 1999 cho biết: Đồng cỏ vùng núi phí
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận án này đã được ghi rõ nguồn gốc
4 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Tuyết Mai
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ii
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của các thầy hướng dẫn PGS.TS Hoàng Chung trong suốt qúa trình thực hiện luận án Nhân dịp hoàn thành luận
án này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy hướng dẫn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy PGS.TS Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên khoa Sinh - KTNN, khoa sau đại học - Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đối với Ban lãnh đạo và các cán bộ viên chức của các đơn vị: Trung tâm Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, 15 tháng 4 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Tuyết Mai
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc tính cỏ hòa thảo 3
1.1.1 Đặc tính sinh thái 3
1.1.2 Đặc tính sinh vật học 4
1.1.3 Đặc tính sinh lý 5
1.1.4 Đặc tính sinh trưởng 6
1.1.5 Sức sống cỏ hòa thảo 11
1.1.6 Sản lượng chất xanh 12
1.1.7 Giá trị kinh tế của cỏ hòa thảo 13
1.2 Lý do phải trồng cây thức ăn cho chăn nuôi trong hệ thống nông nghiệp bền vững ở nông hộ 14
1.3 Đặc điểm giống cỏ làm thí nghiệm - cỏ voi (Pennisetum purpureum) 15
1.3.1 Nguồn gốc 15
1.3.2 Đặc điểm sinh vật học 15
1.3.3 Đặc tính sinh thái học 15
1.3.4 Tính năng sản xuất 16
1.3.5 Sử dụng 17
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
1.4.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới 18
1.4.1.1 Tình hình phát triển cây thức ăn ở các nước trên thế giới 18
1.4.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 20
1.4.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn ở Việt Nam 21
1.4.2.1 Tình hình phát triển cây thức ăn cho gia súc ở nước ta 21
1.4.2.2 Những kết quả nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi 23
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 29
2.1 Một vài nét về điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 29
2.1.1 Vị trí địa lý, danh giới 29
2.1.2 Điều kiện về khí hậu 29
2.1.3 Điều kiện về địa hình, đất đai, giao thông, thuỷ lợi 30
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
Chương 3: , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 32
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 32
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 38
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu 39
3.3.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 39
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Đặc điểm khí hậu và đất khu vực thí nghiệm 39
4.1.1 Đặc điểm khí hậu 39
4.1.2 Đặc điểm đất đai 41
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nước đến khả năng sinh trưởng, tái sinh
của cỏ voi 44
4.2.1 Tốc độ sinh trưởng của giống cỏ nghiên cứu 45
4.2.2 Khả năng đẻ nhánh của giống cỏ nghiên cứu 46
4.2.3 Tốc độ tái sinh của giống cỏ nghiên cứu 47
4.2.4 Chiều cao thảm cỏ ở các lứa cắt 48
4.2.5 Theo dõi số cây chết trên 2 ô 49
4.3 Năng suất giống cỏ nghiên cứu 50
4.3.1 Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất 50
4.3.1.1 Năng suất chất xanh 50
4.3.1.2 Năng suất vật chất khô 52
4.3.1.3 Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của giống cỏ nghiên cứu 54
4.3.2 Năng suất phần dưới mặt đất 57
60
64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ảnh hưởng tuổi thu cắt đến năng suất (tấn/ha) và tỷ lệ chất
khô (%) của cỏ voi 16
Bảng 1.2 Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi thu hoạch 16
Bảng 1.3 Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa 17
Bảng 1.4 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng 17
Bảng 1.5 Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ha/năm) 23
Bảng 4.1 Điều kiện khí hậu vùng nghiên cứu trong thời gian thí nghiệm 40
Bảng 4.2 Thành phần hóa học của đất thí nghiệm 42
Bảng 4.3 Lượng nước trong 100g đất tát ngập nước và đất ô TN 43
Bảng 4.4 Tốc độ sinh trưởng của cỏ theo giai đoạn (cm/ngày đêm) 46
Bảng 4.5 ) 47
Bảng 4.6 Khả năng tái sinh của cỏ sau 1 lứa cắt (cm/ngày đêm) 48
Bảng 4.7 Chiều cao thảm cỏ của các lứa cắt (cm) 48
Bảng 4.8 Năng suất chất xanh của cỏ voi (kg/m2/lứa) 50
Bảng 4.9 Năng suất VCK của cỏ nghiên cứu (kg/m2 ) 52
Bảng 4.10 Tỷ lệ % năng suất vật chất khô/ năng suất chất xanh của cỏ voi 54
Bảng 4.11 Tỷ lệ thân lá của cỏ voi qua các lứa cắt 55
Bảng 4.12 Diện tích bề mặt lá của cỏ voi (m2 /m2 đất/lứa) 56
Bảng 4.13 Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi 57
(kg/m2) 60
4.15 D 63
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Hình vẽ mô tả phương pháp lấy khối đất rửa lấy rễ 36
ươ 37
51
Hình 4.2 Biểu đồ năng suất tươi phần dưới mặt đất của cỏ voi 58
63
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khi nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam, PGS.TS Hoàng Chung (1999) cho biết: Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam là loại hình thứ sinh, phân bố rải rác hay tập trung thành vùng 2 đai nhiệt đới và á nhiệt đới Các quần xã cỏ và cây bụi được hình thành trên những quần xã bị chặt phá Như vậy, thảm cỏ đã hình thành với những cây hòa thảo, cỏ tạp và cây bụi
Hiện nay đồng cỏ tự nhiên đang suy giảm nghiêm trọng về diện tích và chất lượng do đốt đồng cỏ, chăn thả gia súc tự do…làm cho cỏ tốt mất dần đi, các loài cỏ dại, cỏ cứng, cây bụi…lan rộng dần Đồng cỏ tự nhiên bị thoái hóa nghiêm trọng Từ thực tế đó để đảm bảo nuôi dưỡng đàn gia súc hiện có và phát huy khả năng của các giống gia súc nhập nội được lai tạo với tính năng sản xuất cao, ta cần có giải pháp tích cực để giải quyết vấn đề thức ăn trong chăn nuôi
Trong những năm gần đây, với các chương trình phát triển khoa học kĩ thuật và hợp tác chăn nuôi với các tổ chức quốc tế, nước ta đã nhập hàng trăm cây thức ăn hòa thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới từ các chương trình CSIO, CIAT từ các nước như Philipin, Inđônêxia, Thái Lan Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu là đạt kết quả tốt Một trong số đó phải kể đến là giống cỏ voi
Thái Nguyên là vùng trung du miền núi trong mấy năm gần đây nông dân ở khắp các huyện thị đã tiến hành trồng cỏ voi để chăn nuôi gia súc Trong
đó có một số cơ sở lớn như trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi - Viện chăn nuôi, nơi đã và đang cung cấp không những cỏ voi mà còn
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
nhiều giống cỏ trồng cho nông dân trong và ngoài tỉnh
Để tạo ra các đồng cỏ có năng suất cao, chất lượng cao cần có biện pháp chăm sóc hợp lý như là bón phân, tưới nước Để cỏ sinh trưởng và phát triển tốt nhất thì cần đảm bảo đất phải có độ ẩm hợp lý Theo Andreef, với đồng cỏ độ
ẩm hợp lý của môi trường đất là 70 - 80% của độ ẩm bão hòa Cỏ voi là loài cỏ nhiều năm, nhưng do khai thác và môi trường sống khắc nghiệt nên trong quá trình khai thác cỏ chết nhiểu ngay từ những năm đầu vì thế năng suất giảm mạnh nên hiện nay cỏ trồng tại trại ngựa Bá Vân chỉ khai thác khoảng 4 năm rồi cũng phải trồng lại Với ý đồ kéo dài khả năng sản suất của chúng, chúng tôi ngoài tiến hành bón phân định kỳ như đã làm thì còn cung cấp đủ độ ẩm cho cỏ
và theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của cỏ năm cuối ngoài chu kỳ khai thác
Xuất phát từ cơ sở trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của độ ẩm đến khả năng kéo dài tuổi khai thác của cỏ voi tại Bá Vân
- Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò của độ ẩm đất trong một giới hạn xác định ảnh hưởng và tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của cỏ voi năm cuối ngoài chu kỳ khai thác Từ đó có những biện pháp chăm sóc, tưới tiêu hợp lý để kéo dài tuổi khai thác của cỏ voi tại Bá Vân - Thái Nguyên
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc tính cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hòa thảo và có 28 họ phụ, 563 chi, 6902 loài (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến)[2] Cỏ hòa thảo thường chiếm phần lớn trong đồng cỏ 95 - 98% và trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại chiếm 70-80% Ở nước ta, cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong nguồn thức
ăn xanh của gia súc ăn cỏ, vì nó chiếm 95 - 98 % trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và CS, 2002) [12] Hanson, (1972) [45] cho biết, có gần 75 % cỏ được trồng ở vùng đất trồng cỏ là loài hòa thảo Cỏ hòa thảo chiếm phần lớn trong đồng cỏ tự nhiên Riêng ở Mỹ có gần 1500 loài hòa thảo
Cỏ hòa thảo trồng nói chung là những loại cỏ đã được nghiên cứu lai tạo hay tuyển chọn từ tự nhiên, với mục đích tạo ra các giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi với điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác ở một vùng hay khu vực nào đó
1.1.1 Đặc tính sinh thái
Thuộc vào đặc điểm sinh thái học là các mối quan hệ riêng biệt của thực
vật với từng yếu tố sinh thái cũng như ảnh hưởng của thực vật trên nơi sống
Cỏ hòa thảo có khả năng phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được ở nhiều vùng và trong những điều kiện đất đai khác nhau
Cỏ hòa thảo có thể sinh trưởng được ở vùng đất khô, mùa khô kéo dài,
độ ảm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn có thể
sinh trưởng và phát triển được như cỏ xương cá, cỏ lông đồi, cỏ Andropogon,
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
nơi đất mặn
Như vậy có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong những điều kiện khác nhau của các yếu tố sinh thái cơ bản trong vùng và khác nhau ở cả hai phần trên và dưới mặt đất (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, muối khoáng, CO2 …) nó biểu thị rõ rệt theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang
1.1.2 Đặc tính sinh vật học
Cỏ hòa thảo là cây một lá mầm (đơn tử diệp) thân tròn hoặc bầu dục (tùy theo giống) lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, gân song song, thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng(trừ mấu đốt) Cũng có loài thân đặc như cỏ voi, rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió.(Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [2]
Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia cỏ thảo thành các loại sau:
+ Loại thân rễ: Loại thân này nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới mặt đất
đại diện là cỏ tranh (Imperata cylindrica) loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ
cỏ thưa, độ che phủ có thể trồng làm đồng cỏ chăn thả
+ Loại thân búi: Loại thân này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành búi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đất hoặc trên mặt đất, cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tơi xốp và thoáng khí,
đại diện là cỏ Ghinê (Panicum maximum)
+ Loại thân bò: cỏ này thân nhỏ và mềm chính vì vậy thường nằm ngả trên mặt đất do thân bò lan nhanh nên có khả năng tạo thành một thảm cỏ dày che phủ kín mặt đất, đại diện là cỏ pangola, lông para, cỏ thân bò cho năng suất thấp thường dùng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ phơi khô, dự trữ cho gia súc vào mùa đông
+ Loại thân đứng: Loại này mọc mầm từ phần dưới gốc ở dưới mặt đất hoặc hom trồng, mầm vươn thẳng nên giống cây mía Thân cây to có năng suất
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
cao, đại diện là cây cỏ voi (Pennisetum Purpureum)
1.1.3 Đặc tính sinh lý
* Nhu cầu về nước:
Nước đóng góp vào sự phong hóa, giữ vai trò quan trọng cho sự phát triển của thực vật cũng như các vi sinh vật đất Cỏ hòa thảo yêu cầu nước cao
do bộ lá lớn, hệ số tỏa hơi nước lớn hơn họ đậu Hệ số tỏa hơi nước vào khoảng
400 - 500 gram, trong khi cỏ họ đậu là 214 - 216 gram
Theo N.G Andreep(1974) với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng 70%, một tháng 10m2 cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ khô Trên
cơ sở đó chúng tôi xác định công thức tưới nước vào mùa đông
Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng khí hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của đất như đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi…
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%
Giai đoạn phát triển cành: 75%
Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần
(Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1974)[23]
* Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hòa thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm, lân, kaly Nhu cầu về dinh
dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn
Giai đoạn 1 (nẩy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kaly
Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân
Giai đoạn 3 (ra hoa hình thành hạt) cần nhiều lân và kaly
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn (Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981)[14]
Trong đồng cỏ người ta thấy có sự quan hệ rõ rết giữa việc bón phân đạm
và số chồi có hoa Trong điều kiện có bón đạm vào mùa xuân số chồi sinh sản
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
tăng lên Bón phân tưới nước cũng làm tăng số chồi của cây cỏ loại nhiều chồi
Quan hệ với phân cũng vậy, cỏ Pleum pratens không có phân bón thì có
605 chồi trên đơn vị diện tích, có 19% số chồi có hoa, nếu bón phân NPK có
790 chồi trong đó có 35% chồi có hoa (Rabốtnốp T.A, 1984)[48]
Trong đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá 3 - 5 năm Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón thì dời sống của cỏ có thể kéo dài hơn
1.1.4 Đặc tính sinh trưởng
Theo David và cs, (1993) [41] thì hiệu quả của cỏ là biến đổi năng lượng mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận năng lượng này Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của cây Các loài cỏ nói chung và cỏ hòa thảo nói riêng, sinh trưởng và tái sinh đều trải qua ba giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng như sau:
Giai đoạn I (sinh trưởng chậm): xảy ra sau khi cây cỏ mới bị chăn thả, thu cắt hay mới gieo trồng Sau khi thu cắt, lá mất đi nên cây không có khả năng thu nhận ánh sáng mặt trời Trong khi đó, cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển Vì vậy, để bù lại sự thiếu hụt đó, năng lượng được huy động từ rễ
Rễ trở nên nhỏ đi và yếu hơn, vì năng lượng được sử dụng để phát triển lá Chính vì vậy, khi cây bị ngập úng vào giai đoạn này, cỏ sẽ rất dễ chết, do lá để thoát hơi nước không có, còn rễ thì yếu nên dễ bị tổn thương dẫn đến thối rễ
Cây cỏ ở trong giai đoạn I sinh trưởng rất chậm, năng suất thấp, nhưng lá mềm, ngon miệng và có giá trị dinh dưỡng cao
Giai đoạn II (sinh trưởng nhanh): là giai đoạn từ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay sau chăn thả từ 10 - 15 ngày trở đi Khi tái sinh đạt tới 1/4 hay 1/3 kích thước của cây trưởng thành, năng lượng được hấp thu đủ qua quá trình quang hợp để cung cấp cho sự phát triển và bắt đầu bổ sung cho rễ Đây là thời gian cỏ phát triển nhanh nhất Trong giai đoạn này, lá chứa đủ protein và năng lượng thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc và cỏ có chất lượng dinh
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống theo từng giai đoạn để chúng ta định ra thời gian chăm sóc và thu cắt hợp lý
Giai đoạn I và đầu giai đoạn II, cần chăm sóc, xới xáo, diệt cỏ dại và bón thúc phân cho cỏ
Cuối giai đoạn II, đầu giai đoạn III, cần nhanh chóng thu cắt hoặc chăn thả, vì lúc này năng lượng thu được từ đồng cỏ là cao nhất Nếu không thu hoạch ngay, cỏ sẽ già, lá mất mầu dần, hiệu suất quang hợp kém nên giá trị dinh dưỡng giảm dần, ảnh hưởng đến khả năng tái sinh lần sau và giảm số lứa cắt hay số lần chăn thả trên năm Còn nếu thu hoạch non, năng suất sẽ thấp, đồng thời nếu thu hoạch quá nhiều lứa trên năm, thì dự trữ các chất dinh dưỡng
và khoáng ở phần gốc và rễ để phát triển cành lá sẽ bị cạn kiệt, đồng cỏ chóng
bị tàn lụi Vì vậy, cần có thời gian nghỉ (khoảng cách cắt hoặc chăn thả) hợp lý
để duy trì nhiệm kỳ sử dụng cỏ lâu dài
Không cho động vật gặm hay cắt cỏ quá thấp để tránh cỏ bị quay lại giai đoạn I và tồn tại ở giai đoạn này lâu, do tái sinh rất chậm nên sẽ làm giảm tổng sản lượng cỏ
* Đặc tính sinh trưởng của thân và lá
Sau khi nẩy mầm, khối lượng vật chất khô (VCK) của hạt sẽ giảm dần,
do chất dự trữ ở hạt được sử dụng cho quá trình nẩy mầm Sinh trưởng lúc này
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
chậm Khi lá xanh xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng bắt đầu tăng dần Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này khối lượng VCK của cây bị giảm đi
Lá non của cỏ non phát triển từ lá chồi mầm tạo ra ở đỉnh mô phân sinh Hầu hết các tế bào của lá được cấu tạo trong khi lá còn rất nhỏ trong chồi Kết quả sinh trưởng của lá là sự mở rộng của kích cỡ tế bào và tăng khối lượng Lá mới sinh lấy cacbohydrate từ rễ, thân hay từ lá già cho tới khi chúng hoàn thiện
và do đòi hỏi phải sinh trưởng, nên chúng đồng hóa các sản phẩm dự trữ được
từ rễ, lá, gốc để hình thành lá mới
Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cỏ như giá trị của phẩm giống hay các yếu tố khí hậu, thời tiết, đất đai Trong các yếu
tố đó, thì ánh sáng, nhiệt độ, nước và chất dinh dưỡng có trong đất là các yếu tố
chủ yếu ảnh hưởng tới đời sống của cỏ
Tất cả quá trình sinh lý thực vật đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Nhiệt độ
có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng (nằm trong nhiệt
độ tới hạn) thì sinh trưởng tăng và khi nhiệt độ giảm thì sinh trưởng chậm lại Nếu tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ Theo Bogdan, (1977) [36] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nẩy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C Nhiệt độ tối ưu cho cỏ ôn đới quang hợp là 15 - 200C và cỏ nhiệt đới là 30 - 400C Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 150
C
Cây thức ăn gia súc sinh trưởng tốt nhất trong biên độ nhiệt độ ban ngày hẹp từ 7,20C đến 350C Nhiệt độ thích hợp cho đẻ nhánh con của cỏ nhiệt đới thường nhỏ hơn nhiệt độ thích hợp cho nhánh sinh trưởng Ở nhiệt độ thấp dưới
100C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, sau đó chết, do diệp lục bị phá hủy Chính vì vậy, ở các vùng núi cao và xa xích đạo, thì giá lạnh và sương muối là yếu tố giới hạn đối với các giống cây thức ăn có nguồn gốc từ vùng
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
nhiệt đới (McWilliam, 1978) [49]
Hầu hết cỏ hòa thảo có nhiệt độ tối thích hợp cho sinh trưởng khoảng
200C, nhưng vẫn có thể sinh trưởng ở nhiệt độ thấp hơn
Nếu nhiệt độ tăng, tỷ lệ tiêu hóa được của cỏ và tỷ lệ cacbohydrate phi cấu trúc giảm, nhưng thường thì tỷ lệ chất khoáng và protein tăng Vì vậy, nhiệt
độ hay thời gian thu hoạch cỏ trong năm sẽ ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của thức ăn
Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống cây trồng Đây là yếu tố cần thiết, căn bản, không thể thay thế trong đời sống cây trồng Lượng nước trong đất ít hay nhiều đều ảnh hưởng tới độ thoáng khí của đất và việc cung cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật không bị nóng quá điều đó ảnh hưởng tới năng suất, sinh trưởng và chất lượng cây trồng Nước còn quy định sự điều hòa nhiệt từ đất và thực vật thông qua hiện tượng bốc hơi và phát tán Nước cũng liên quan chặt chẽ tới các tính chất cơ lý tính của đất, như độ rắn, tính dính, tính dẻo sự di chuyển nước trên mặt đất có ảnh hưởng xấu tới độ phì của đất, vì nó làm rửa trôi các chất dinh dưỡng của đất hay làm xói mòn mặt đất (Vụ Tuyên Giáo, 1975) [32]
Nhiệt lượng từ mặt trời quyết định mọi hoạt động sống của thực vật, còn ánh sáng mặt trời là nhân tố cần thiết để thực vật tạo ra chất hữu cơ do quá trình quang hợp
Người ta đã nhận thấy rằng lá của cây cỏ họ đậu và cây hòa thảo vùng lạnh nhanh bão hòa ánh sáng ở cường độ ánh sáng yếu hơn là cỏ hòa thảo nhiệt đới Bão hòa ánh sáng của cây hòa thảo vùng lạnh xảy ra xung quanh khoảng từ 20.000 - 30.000 lux, trong khi đó cỏ hòa thảo nhiệt đới sẽ bão hòa ánh sáng ở 60.000 lux (Smith, 1970) [51] Sự chuyển hóa của năng lượng ánh sáng khoảng
5 - 6 % ở cỏ hòa thảo nhiệt đới, nhưng cỏ hòa thảo ôn đới là dưới 3 % Vì vậy,
cỏ hòa thảo nhiệt đới có tiềm năng lớn trong sử dụng ánh sáng cho quang hợp Khi cường độ ánh sáng cao trên mức bão hòa, thì lá có chiều hướng nhỏ đi,
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Đặc tính sinh trưởng của rễ
Sinh trưởng của rễ cũng mang tính chất mùa vụ rõ rệt như các bộ phận trên mặt đất Phần lớn bộ rễ sinh trưởng mạnh vào mùa xuân, đạt tới mức cao nhất trước khi bộ phận trên mặt đất đạt được tối đa và ngừng khi cây ra hoa Khi cây cỏ đã qua thời kỳ sinh trưởng và bước sang giai đoạn già, thì sự ra rễ ngừng và một số rễ bắt đầu chết Sinh trưởng của rễ cũng phụ thuộc vào nhiệt
sẽ không đáp ứng đủ cho toàn bộ nhu cầu để rễ và lá sinh trưởng Vì vậy, cây cần đủ diện tích lá để quang hợp và cung cấp dinh dưỡng cho cây sinh trưởng
và các quá trình trao đổi khác
Bình thường, cây không thể cung cấp đủ dinh dưỡng cho sự phát triển nhanh ở chồi và rễ cùng một lúc Nếu đồng cỏ trồng bị chăn thả, thu cắt quá nhiều lần, rễ ngừng phát triển và có thể chết Do bị khai thác quá mức, cỏ sẽ có
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
ít diện tích lá để quang hợp, vì vậy, cây sẽ có ít năng lượng Cacbohydrate trước tiên được huy động cho phát triển lá để phục vụ cho quá trình quang hợp, nên chúng không vận chuyển cacbohydrate xuống cho rễ phát triển, điều đó khiến cho rễ yếu dần và chết nên cây chỉ có đủ năng lượng cho phát triển hệ thống rễ nông dưới đất Kết quả là đồng cỏ trồng sẽ bị tổn thương khi gặp điều kiện stress, như thời tiết khô hạn và sự xâm lấn của cỏ dại Tuy nhiên khả năng sinh trưởng của rễ cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đó là: nhiệt độ, ẩm độ đất, ánh sáng, dinh dưỡng trong đất
Cường độ ánh sáng yếu đồng nghĩa với năng suất VCK thấp và giảm sinh trưởng của rễ Khi lá cỏ phát triển hoàn thiện thì cây che bóng mới phát huy hiệu quả, lúc này nếu không có các yếu tố giới hạn, thì năng suất cũng không tăng lên nữa Chính vì vậy, khi tán lá phát triển đầy đủ, là lúc cây cỏ cho năng suất VCK cao nhất
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, cả cỏ hòa thảo và bộ đậu đều thích nghi với nguồn cung cấp dinh dưỡng thấp bằng cách chia cắt thành nhiều phần
tăng trưởng vật chất khô ở rễ trong thời gian lá và chồi cây phát triển (Rao,
- Loài cỏ có sức sống ngắn (2- 3 năm) như cỏ giầy, cỏ mật…
- Loài cỏ có sức sống vừa (4- 6 năm) như cỏ Pangola, cỏ voi, cỏ ghine…
- Loại cỏ có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không râu(Quang Ngọ, Sinh Tặng, 1976)[19]
Căn cứ vào sức sống của các loài cỏ mà người ta dự tính thời gian trồng lại để đảm bảo năng suất
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
1.1.6 Sản lượng chất xanh
Sản lượng cỏ hòa thảo thay đổi nhiều tùy thuộc vào loài, vùng khí hậu và
kỹ thuật canh tác Có rất nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố này tới năng suất cỏ hòa thảo
Các kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Ngọc Hà và CS, (1985) [9]; Nguyễn Ngọc Hà và cs, (1995) [10]; Khai và CS, (1995) [48] cho biết các giống cỏ hòa thảo trồng tại các vùng ở nước ta có sản lượng biến động rất lớn,
lệ thuộc vào các yếu tố, như đất đai, chăm sóc, chế độ bón phân và độ dài của
mùa khô Sản lượng của các giống Brachiaria spp có thể biến động từ 5 - 30
tấn vật chất khô/ha/năm
Kết quả nghiên cứu của CIAT, (1978) [39] tại Quilichao, Colombia, thì
giống cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt sản lượng chất khô trên 4.000
kg/ha/năm với thí nghiệm không có bón đạm, nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp
Tại Samford, Queensland, sản lượng hàng năm của giống P dilatatum là
15.000 kg VCK (Davies, 1970) [42] Tại Fiji sản lượng trung bình là 5.313 kg VCK/ha/năm với mức protein thô trong VCK là 9,9 % trong thời gian theo dõi
3 năm (Roberts, 1970) [53], tại Mỹ sản lượng cỏ này đạt từ 1.230 - 12.000 kg vật chất khô/ha/năm (Bennett, 1973) [37] [38]
Như vậy, các giống cỏ khác nhau có sản lượng chất xanh và vật chất khô khác nhau; Cùng một giống cỏ nhưng trồng ở các vị trí địa lý khác nhau cũng cho năng suất khác nhau
Khi cỏ sống ở các điều kiện khác nhau thì yếu tố khí hậu là nhân tố thường hạn chế tới sản lượng của cỏ Đối với các vùng lạnh và vùng khan hiếm nước, thì yếu tố hạn chế về năng suất chính là nước Do vậy, đã không ít những nghiên cứu về mùa vụ và nước tưới ảnh hưởng tới sản lượng của cỏ
Sản lượng trung bình của cỏ Nadi blue ở Sigatoka, Fiji là 22.725 kg/ha/năm (Roberts, 1970) [54] Sản lượng vật chất khô trung bình của cỏ Nadi
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cỏ này đã đạt 28.282 kg vất chất khô/ha/năm
Cỏ Echinochloa scabra đạt sản lượng 4.000 kg vật chất khô/ha ở cỏ non
đang sinh trưởng, 13.000 kg vật chất khô/ha ở cỏ đã thành thục, 150 kg vật chất khô/ha trong 30 ngày tái sinh ở trong mùa khô, nhưng năng suất tăng nhanh khi được tưới nước đầy đủ, đạt 2.500 kg VCK/ha sau 30 ngày tái sinh (Botnel, 1990) [52]
Tại Cuba, Pérez Infante, (1970); Bogdan, (1977) [41] thu được sản lượng
trung bình hàng năm của cỏ Amphilophis pertusa (L.) là 15.000 kg VCK/ha,
trong đó 40 % được sản xuất trong mùa khô dưới điều kiện tưới bằng hệ thống phun mưa
Như vậy, kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, cùng một giống
cỏ, sản lượng của chúng cũng thay đổi theo mùa vụ và sản lượng trong mùa khô là thấp hơn rõ rệt, đồng thời đòi hỏi phải tưới nước trong thời gian này thì
cỏ mới cho sản lượng cao
1.1.7 Giá trị kinh tế của cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm tỷ
lệ cao trong thảm cỏ mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao Khi chế biến dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ có độc ít, chịu đựng chăn dắt cao 1ha
cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn chất xanh/ha/năm 1ha cỏ trồng thân bò cho 30 - 40 tấn, thân bụi cho 50-60 tấn, thân đứng cho 80-100 tấn/ha/năm, nếu thâm canh
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm 1kg cỏ tươi cho từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 - 500KcalME
Cỏ hòa thảo có giá trị dinh dưỡng cao Ở những nơi đất tốt, nhiều mùn,
ẩm, loài cỏ tốt nhất có thể chứa 16g prôtit tiêu hóa và 32g Lipit trong 1kg cỏ tươi, 8kg cỏ có thể tương đương 1 đơn vị thức ăn (Nguyễn Thiện, 2005)[21]
1.2 Lý do phải trồng cây thức ăn cho chăn nuôi trong hệ thống nông nghiệp bền vững ở nông hộ
Đàn gia súc ở nước ta ngày càng tăng lên nhanh chóng dẫn đến nhu cầu
về thức ăn cho chăn nuôi nhất là thức ăn thô xanh sẽ ngày càng tăng lên Mặt khác,do đặc điểm địa lý nước ta không có đồng cỏ rộng dành cho chăn thả tự nhiên Trong khi đó, diện tích cỏ tự nhiên cho chăn thả, khai thác bừa bãi đã và đang dần suy kiệt Vấn đề cần đặt ra là nhất thiết phải tìm ra một giải pháp hiệu quả để bù đắp lượng thức ăn thô xanh thiếu hụt, có như vậy mới tiếp tục phát triển được số lượng cũng như chất lượng của gia súc Xuất phát từ thực tiễn và kết hợp với những nghiên cứu khoa học cho thấy giải pháp hiệu quả duy nhất là phải chọn lựa và trồng những giống cỏ có năng suất và chất lượng cao trong các điều kiện thời tiết và môi trường khác nhau, mới mong đáp ứng được nhu cầu trên cũng như cho phép áp dụng được mô hình chăn nuôi nhốt với số lượng lớn gia súc trên một diện tích hạn chế đạt hiệu quả kinh tế cao cho các hộ nông dân trên cả nước
Từ nguyên nhân sâu xa trên ta thấy cần thiết phải trồng cây thức ăn trong mỗi gia đình nông dân cụ thể là:
- Đủ số lượng về thức ăn cho ăn tươi và chế biến dự trữ quanh năm Chủ động cung cấp cho gia súc hiện có, trồng nhiều loại cây thức ăn đảm bảo cân đối về dinh dưỡng (như đạm, khoáng, năng lượng…) cung cấp cho gia súc ăn
no, khỏe mạnh và chóng lớn
- Có đủ thức ăn cung cấp tại chuồng cho gia súc chuyển dần phương thức chăn thả quảng canh sang nhốt hoàn toàn tạo nên năng suất chăn nuôi cao hơn
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
và bảo vệ được các loại cây cối và hoa màu khác
- Trồng cây thức ăn cho chăn nuôi cũng góp phần vào việc: Phủ xanh đát trống đồi trọc, nâng cao độ phì của đất, giữ nước, giảm mức độ xói mòn đất Một số cây còn cung cấp nguồn phân xanh cho trồng trọt, chất đốt cho gia đình Giảm bớt công đầu tư cho chăn thả, cung cấp bóng râm cho gia súc và con người Bảo vệ và cải thiện điều kiện môi trường Bảo vệ rừng và các cây công nghiêp, cây ăn quả khác
1.3 Đặc điểm giống cỏ làm thí nghiệm - cỏ voi (Pennisetum purpureum)
1.3.1 Nguồn gốc
Cỏ voi có tên khoa học là Pennisetum purpureum, có nguồn gốc từ châu
Phi nhiệt đới Cỏ voi trồng nhiều ở Indonesia (Đinh Văn Cải)[3] Quê hương lâu đời của cỏ voi là vùng Uganda (100 vĩ độ bắc - 200 vĩ độ nam) nhập vào Australia năm 1914, Cuba năm 1917, Brazil năm 1920… Người ta cũng thấy cỏ voi mọc hoang dại trong các thảm cao, Savan bụi, rừng già thuộc Trung Phi hay đầm lầy Tây Phi Ở Việt Nam được đưa vào Huế năm 1900 và từ đó được trồng lan rộng khắp các vùng Cỏ voi là một loài cỏ cổ điển thường xuyên có mặt trong tất cả các trang trại thí nghiệm như : Trung tâm nghiên cứu bò và trồng cỏ Ba Vì, nông trường bò sữa Đức Trọng, nông trường bò sữa Phù Đổng…
Khu vực gia đình: Đến nay hầu hết các hộ nông dân nuôi bò ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tiến hành trồng cỏ voi, đây là một giống cỏ cho năng suất chất xanh cao nhất trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam và đang được coi là giống cỏ chủ lực được trồng để nuôi trâu bò
1.3.2 Đặc điểm sinh vật học
Cỏ voi là loài cỏ sống lâu năm, thân đứng, thân lá lớn, phát triển mạnh
mẽ, thân cao có thể cao từ 3 - 4m, đường kính thân có thể đến gần 2-3cm, lá rộng nhẵn, dài 30-120cm, rộng 1-5cm Hoa chùm thuôn dài đầy lông cứng 1,5-3cm màu vàng nâu Hệ thống rễ rất phát triển, rễ mọc từ các đốt thân
1.3.3 Đặc tính sinh thái học
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
Cỏ voi chịu được khô hạn, giai đoạn sinh trưởng chính trong mùa hè khi nhiệt độ và độ ẩm cao, sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫn cảm với sương muối Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25 - 400
C
voi có thể sinh trưởng ở những vùng cao tới 2000m so với mực nước biển thích hợp nhất với đất giàu dinh dưỡng có tầng canh tác sâu, pH = 6 - 7, đất không bùn, úng Như vậy cỏ voi thích ứng với nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt nhất vẫn là loại đất màu mỡ, tơi xốp Chu kỳ kinh tế của nó kéo dài
từ 3 - 4 năm hay hơn và năng suất tương đối ổn định trong suốt thời gian này
1.3.4 Tính năng sản xuất
Cỏ voi có năng xuất rất lớn, từ 100 - 300 tấn/ha/năm(Filipe, 1965) và có thể lên tới 500 tấn/ha/năm (Điền Hưng, 1974)[11] Theo Hacvael - Duclos(1969) năng suất cỏ voi ở Ấn Độ là 105 tấn/ha/năm Nếu không được tưới nước mỗi năm cắt được 3 - 4lứa, nếu được tưới nước thì có thể cắt được 5 - 6 lứa
Thành phần dinh dưỡng trung bình của cỏ voi là : vật chất khô 20 - 25%, protein 7,2 - 9%, xơ thô 25 - 28%
Bảng 1.1 Ảnh hưởng tuổi thu cắt đến năng suất (tấn/ha)
và tỷ lệ chất khô (%) của cỏ voi
Vật chất khô 14,7 18,20 19,57 21,10 21,53 23,78
(Nguồn: Viện chăn nuôi, 1976)
Bảng 1.2 Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi thu hoạch
Tuổi cắt (ngày) Năng suất (tấn VCK/ha)
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
17
(Nguồn: Viện chăn nuôi, 1976)
Bảng 1.3 Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa Năng suất Mùa khô Mùa mƣa Tổng cộng % mùa khô
% chất khô
Protein thô
Xơ thô Tro
Mỡ thô
Dẫn xuất không đạm
Tươi, độ cao 80cm
(Tanzania) 20,0 9,0 28,6 14,8 1,1 46,5 Tươi, độ cao 240 cm
(Tanzania) 25,0 7,2 36,1 12,4 1,0 43,3 Tươi, 8 tuần tuổi
(Malaysia) 19,5 9,7 33,3 16,4 1,5 39,1 Tươi, 8 tuần tuổi
135cm (Thái Lan) 18,3 8,7 32,8 10,9 3,3 44,3 Tươi, 10 tuần tuổi
150cm (Thái Lan) 18,5 6,5 33,0 11,4 2,7 46,4
1.3.5 Sử dụng
Cỏ voi dùng thu cắt làm thức ăn gia súc dưới hình thức tươi hay ủ chua Cắt lần đầu sát mặt đất cho cây sinh trưởng và đẻ nhánh nhiều không trồi lên trên Trên thực tế, cỏ voi chỉ sử dụng 3-4 năm và phải trồng lại Tuy nhiên, nếu
có biện pháp chăm sóc hợp lý thì có thể cho năng suất cao trong 10 năm liền
Cỏ voi có thể ủ chua để dự trữ cho gia súc vào mùa thiếu thức ăn (Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006)[18]
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
18
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới
1.4.1.1 Tình hình phát triển cây thức ăn ở các nước trên thế giới
Ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển như: Mỹ, Brazin, Ấn Độ…, vấn đề thức ăn chăn nuôi rất được quan tâm và dầu tư nghiên cứu Taị vùng đồi núi ở khu vực Đông Nam Á chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất, nên cũng đã có những quan tâm, đầu tư, nghiên cứu
Cách mạng đồng cỏ vùng nhiệt đới và á nhiệt đới triển khai ở Châu Đại dương bắt đầu từ thế kỷ XIX
Ớ Châu Âu và khu vực Địa Trung Hải đồng cỏ kiểu ôn đới và nền cây bộ đậu giàu chất protein là cơ sở của năng suất cao trong chăn nuôi Ở miền nhiệt đới và á nhiệt đới các loại cỏ hòa thảo thường chiếm ưu thế trên đồng cỏ chăn thả Trong điều kiện nhiệt đới, với năng lượng quang hợp rất cao, cỏ hòa thảo
có thể cung cấp một khối lượng lớn chất xanh
Ở Indonesia: Trong thành phần thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ hòa thảo, 21% là rơm, 16% là cây khác và 7% là phụ phẩm Một trong 4 giải pháp về thức ăn cho bò là thâm canh trồng giống cỏ tốt trong điều kiện canh tác tại nông hộ (Sochodji,1994) [31] Ngoài ra ở các chương trình về giống cây thức ăn với CIAT và CSIRO để tìm ra có các chương trình về giống cây thích hợp với đất có độ pH thấp Trong thực trạng đa dạng các điều kiện canh tác ở nông hộ Có 36 giống cây thức ăn từ Úc (CSIRO), Colombia (CIAT) và Philippin được đưa vào trồng ở vùng East Kalimantan (Ibrahim 1994) Nhiều giống thể hiện thích hợp ở khu vực trong đó có 18 giống cây họ đậu và 9 giống cây hòa thảo
Ở Thái Lan: Với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng Năm 1992 sản phẩm sữa nhập vào Thái Lan 114.012 tấn, chi phí mất 2.222,81 triệu USD Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
19
người nông dân bằng giải pháp: Giảm trồng lúa, sắn Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng Thái Lan đã sản xuất được 418 tấn hạt cỏ (1991) (Nguồn: Thông tin khoa học chăn nuôi số 4,1998,tr.12)[25]
Giống Paspalum atratum.cv nhập vào Thái Lan năm 1995 được đánh giá
trong mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp đã thể hiện là giống tốt, chịu đất chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao Bên cạnh
đó, năng suất chất xanh thu được rất thuận tiện cho người sử dụng do thích hợp
để ủ chua hoặc phơi khô Năm 1999 Thái Lan sản xuất 21,8 tấn hạt để phục vụ cho phát triển cây thức ăn chăn nuôi bò thịt và bò sữa ở trong nước (PhaiKaew.C,2002) [55]
Theo Liu Quadao, Hare, (1995) ở Trung Quốc cây thức ăn gia súc được
chú ý phát triển ở khu vực phía Nam đã xác định được các giống cỏ Stylo, Brachiaria, Pennisetum, Panicum sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hàng năm
còn sản xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước (Thông tin khoa học chăn nuôi,1999) [26]
Tại Pakistan, lượng thức ăn thô xanh ước tính sản xuất ra hàng năm khoảng 59 triệu tấn cỏ xanh và 49 triệu tấn thức ăn thô (cỏ khô và phụ phẩm) đạt 18,2 triêu tấn TDN cung cấp cho chăn nuôi gia súc ăn cỏ trong cả nước
Giống cỏ Lucena (Medicago sativa), Berseem clover, Oats, Ngô ngọt, Sorghum
đã được sản xuất theo hướng hàng hoá Đặc biệt 2 giống cỏ Oats (Avena sativa)
và Egyptian clover (Trifoloum aeguptium) được trồng làm thức ăn bổ sung cho
khẩu phần cơ sở là rơm yến mạch, rơm lúa, thân lá ngô, sorghum, ngọn lá mía cho gia súc trong suốt giai đoạn mùa khô/đông (Dost Muhamad, 2000)[43]
Ngoài ra một số nước khác như Malaysia, Lào trong khu vực cũng đã chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985, cho đến nay một số cỏ hòa thảo và họ đậu được chọn lọc đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hàng năm sản xuất được 2-3 tấn hạt cỏ các loại
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
20
Như vậy phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lưc thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển
1.4.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển vấn đề cây thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như : Úc, Mỹ, Brazin, Ấn
Độ Các nước ở khu vực Châu Nam Á cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này, ví dụ như: Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Malaisia
Tại Trung Quốc giống cỏ Alfalfa, Astragalus adsurgens, Sainfoin (Onobrychis sativa) và Stylo CIAT 184 đã được nghiên cứu, chọn lọc và phát
triển rất rộng rãi trong sản xuất không những làm thức ăn xanh và chế biến bột
cỏ cho chăn nuôi mà còn có ỹ nghĩa phủ đất chống xói mòn (CIAT, 2001) [40]
Năm 1999, Hare và cs [46] ở trường Đại học Nông Nghiệp Băng KốK
Thái Lan đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Thử nghiệm trồng Brachiaria mutica
và Paspalum atratum.cv trên đất ẩm ở Thái Lan”
Ngoài công trình trên, Hare và cs cũng thực hiện đề tài “ Nghiên cứu sự ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất chất xanh của cỏ Paspalum atratum.cv trên vùng đất ướt theo mùa ở Đông Bắc Thái Lan” Hare và CS, (1999) [46] đã
chỉ ra rằng năng suất vật chất khô tăng khi tăng bón đạm cho cỏ; đối với cỏ
Paspalum atratum.cv được gieo trồng ở vùng đất ẩm ướt theo chu kỳ của Thái
Lan thì lượng đạm nên cung cấp ở mức độ thấp, khoảng 25 kg N/ha/lứa thu cắt Lượng cung cấp này là mức độ tối ưu nhất giúp tăng năng suất chất xanh thô và
sự tập trung Protêin thô của cỏ
Năm 2003, Kalmbacher.R.S và cs[47] cũng công bố một nghiên cứu vai trò của sự rụng lá đến sự phát triển của nhánh cỏ và mật độ cỏ Thí nghiệm được tiến hành từ năm 1997 tại Mỹ Tuy nhiên, vào năm đầu tiên của thí
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.4.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn ở Việt Nam
1.4.2.1 Tình hình phát triển cây thức ăn cho gia súc ở nước ta
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, từ lâu chúng ta cũng đã có nhiều
cố gắng mở rộng diện tích gieo trồng, vừa để đảm bảo lương thực cho người dân vừa đảm bảo thức ăn cho gia súc Từ năm 1960 nước ta đã có chủ trương phát triển dồng cỏ cho trâu bò ở những vùng thiếu cỏ Nếu như năm 1960 ở miền Bắc chỉ có 96 ha trồng cỏ thì qua năm 1961- 1962 diện tích này đã tăng lên là 323 - 687 ha Đến năm 1963, theo số liệu ở 6 tỉnh đồng bằng diện tích trồng cỏ và ngô đay đã đạt tới 3.585 mẫu Bắc Bộ (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu 1979) [7]
Năm 1976, Bộ Nông nghiệp đã phát hành bản dự thảo “Quy phạm, xây dựng, sử dụng, dự trữ và quản lí đồng cỏ”, từ đó đến nay diện tích đồng cỏ có tới 5.000 - 6.000 ha Nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao Đỏ…, đã xây đựng được hàng nghìn ha chăn thả luân phiên (Báo cáo của Tổng cụ chăn nuôi, 1976) Nhiều khu vực chăn nuôi tập thể đã tiến hành cải tạo bãi cỏ thiên nhiên, đồng
cỏ cho trâu bò và lơn, nhiều hợp tác xã đã sử dụng đất ven sông, ven đê để trồng cỏ cung cấp cho gia súc
Nông trường Mộc Châu với sự giúp đỡ tận tình và toàn diện của chính phủ và chuyên gia CuBa đã xây dựng thành công một hệ thống đồng cỏ kết hợp
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
22
chặt chẽ với kết cấu chuồng trại thể hiện roc một phuong thức chăn nuôi đồng
bộ trên đồng cỏ thâm canh
Nông trường Đồng Giao từ năm 1969 việc xây dựng đồng cỏ chuyển sang hướng mới, thâm canh đồng cỏ bằng trồng các giống mới, chăm sóc và sử dụng thích hợp Nếu năm 1969 ở đây chỉ có 3ha cỏ trồng thì tới năm 1975 đã
có tới 1179ha Bên cạnh việc xây dựng và cải tạo đồng cỏ, vấn đề dự trữ, phơi khô và phủ xanh được thực hiện có kế hoạch, có chất lượng như ở Sao Đỏ, Mộc Châu Song song với những cố gắng trên việc nghiên cứu các giống cỏ nhập nội và cỏ địa phương có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú
ý, nhiều giống cỏ tốt đã được đưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu và trung tâm chăn nuôi trong cả nước như: Mộc Châu, Ba Vì…
Nước ta đã nhập nhiều đợt các giống cỏ đậu và cỏ hòa thảo nhiệt đới và
đã tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa phương Một số giống được đưa vào
sản xuất như cỏ Pangola (Digitaria decumber), cỏ đậu Stylo (Stylosanthes)…
Nhiều nông trường và hợp tác xã cũng đã trồng cỏ voi, cỏ Pangola… Kết quả thu hoạch được là tương đối tốt
Trong thời gian 20 năm trở lại đây, thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau, nước ta đã thu nhập trên 100 giống cây hòa thảo và cây học đậu có nguồn gốc nhiệt đới nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi, cụ thể như sau:
Năm 1990, chương trình bò thịt VIE86/008 nhặp 17 giống cây thức ăn
họ đậu, hòa thảo khác nhau từ Australia
Năm 1995, chương trình cây thức ăn xanh cho nông hộ nhập vào 70 giống (51 giống đậu và 19 giống hòa thảo) từ CSIRO v CIAT Chương trình cây keo dậu nhập 22 cây keo dậu từ Australia
Năm 1997, thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đã nhập 10 giống Stylo
từ Trung Quốc và Phillipin
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
23
Năm 1998, chương trình “Phát triển bò thịt một cách hiệu quả ở Việt Nam - ACIAR Project as 2/97/18”, nhập 55 loài cây thức ăn gồm 15 loài cây
họ đậu và 40 loài cây hòa thảo
Thông qua hoạt động hợp tác quốc tế với một trường Đại học ở Đức đã
có 20 loài Flemingia được nhập vào nước ta Ngoài ra một số cây thức ăn được nhập thông qua con đường các chuyên gia đi công tác
Một số giống cây cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu là tốt và thu được kết quả cao và ứng dụng vào trong sản xuất ở một số vùng
Tuy nhiên do không có sự quản lý chỉ đạo thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng thử nghiệm ra sản xuất
1.4.2.2 Những kết quả nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng chưa thật nhiều Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng
và cho kết quả ở bảng sau:
Bảng 1.5 Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ha/năm)
TT Tên giống Long Mỹ Sơn Thành Ba Vì Thụy Phong
Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
25
Thông qua bảng 1.5 ta thấy giống cỏ voi có năng suất cao nhất, tiếp theo
là giống cỏ thân cụm, thấp nhất là hai giống Setaria splendia và Brachiaria mutica Tuy nhiên ở mỗi vùng năng suất có sự thay đổi lớn ví dụ như tại Long
Mỹ, giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt 56,9 - 59,9 tấn/ha/
năm tương ứng với 9,7 - 11,9 VCK Còn ở Sơn thành giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm Ở Ba
Vì thì giống Ghile là Likoni và Hamil có năng suất tốt hơn, trong đó nổi bật là Likoni, năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương ứng với 18,93 tấn VCK/ha/năm Ở Thụy Phương: cỏ thân bụi Hamil, Likoni, Makuen cho năng suất cao từ 90-107 tấn/ha tương ứng với 17-19 tấn VCK/ha/năm
Như vậy trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa các vùng rất lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác
Năm 1998 chương trình "Phát triển bò thịt một cách có hiệu quả ở Việt Nam - ACIAR Project as2/97/18" nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loài cây họ
đậu và 40 loài hoà thảo
Năm 2002, trong công trình nghiên cứu về khả năng sản xuất và các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất của một số loại cỏ hoà thảo nhập nội tại Thái Nguyên đã chỉ ra năng suất của một số giống cỏ cụ thể
* Giống cỏ Brachiaria decumben năng suất Prôtêin thô đạt 2,43
tấn/ha/năm, năng suất VCK đạt 25,71 tấn/ha/năm
* Giống cỏ Setaria splendida năng suất Prôtêin thô đạt 1,71 tấn/ha/năm,
năng suất VCK đạt 19,48 tấn/ha/năm
* Panicum maximum.TD58 năng suất Prôtêin thô đạt 1,25 tấn/ha/năm,
năng suất VCK đạt 14,84 tấn/ha/năm
* Panicum maximum tây Nghệ An năng suất Prôtêin thô đạt 1,16
tấn/ha/năm, năng suất VCK đạt 13,57 tấn/ha/năm
Trên cơ sở các kết quả thực nghiệm, tác giả đã đưa ra một quy trình
kỹ thuật sản xuất thức ăn đối với các giống cỏ này (Nguyễn Văn Quang,
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
26
2002) [20]
Việt Nam có 8 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau Không có một cây thức ăn gia súc nào phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng thức ăn cao ở tất cả các vùng sinh thái trên Vì vậy chúng ta đã có những nghiên cứu, khảo sát, tuyển chọn những cây đậu, hòa thảo cho mỗi vùng sinh thái khác nhau.(Bùi Quang Tuấn) [24]
Từ những năm 1960 đến nay, để tạo nguồn thức ăn chăn nuôi, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào tuyển chọn và xác định các giống cỏ trồng nhập nội có năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Một tập đoàn giống phong phú đã được tìm ra và rất nhiều giống đã và đang được phát triển trong sản xuất Nhiều giống cỏ cho năng suất vật chất khô khá cao 18 - 26 tấn; 17,8 tấn; 13,8 tấn và 14,8 tấn tương
ứng cho các giống P pupursenum King grass, P M Likoni, Pangola, Bermula
(Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1995)[10] Trên vùng đất phù sa sông Hồng, vùng đất
đồi Hà Tây giống cỏ P M Hamill, P M Common, P.M Ciat 673 cũng cho
năng suất chất xanh khá cao (60 - 66 tấn/ha/năm) trên vùng đất xám Bình
Dương Đặc biệt với cỏ B ruzizinensis đã được trồng thích nghi với các điều
kiện đất đai khác nhau ở nhiều vùng (Hà Tây, Bắc Giang, Lạng Sơn, Khánh Hòa, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Gia Lai) Năng suất chất xanh biến động từ 50 đến 65 tấn/ha/năm (Dương Quốc Dũng và cs, 2000) (trích dẫn từ Nguyễn Thị Mùi,
2003) [17] Tại đồng bằng Nam Bộ và vùng Đắc Lắc, B ruzizinensis đã cho
năng suất vật chất khô khoảng 14,5 tấn/ha/năm (Khổng Văn Đĩnh, 1995; Trương Tấn Khanh và cs, 1999) (trích dẫn từ Nguyễn Thị Mùi, 2003) [17] Mặc dù đã thích nghi và được phát triển tại các vùng của Việt Nam nhưng các giống cỏ trồng chọn lọc trên chưa phát huy được hết tiềm năng sản xuất sinh
khối, ví dụ giống B ruzizinensis đã đạt năng suất 19,5 tấn VCK/ha/năm tại vùng Queensland Giống B decumben có thể đạt được năng suất VCK 23,1 -
34 tấn/ha/năm trong khi đó tại Đắk Lắk Việt Nam, các giống cỏ này và các
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
27
giống cỏ B brizantha, B humidicola chỉ đạt 10,5 - 17,2 tấn/ha/năm (Trương
Tấn Khanh và cs, 1999) (trích dẫn từ Nguyễn Thị Mùi, 2003) [17]
Để các giống cỏ trồng phát huy được hết tiềm năng sản xuất sinh khối, bước đầu cũng đã có những nghiên cứu về quy trình chăm sóc, sử dụng hợp lý các giống cây thức ăn gia súc (Bùi Quang Tuấn) [24]
Nguyễn Ngọc Hà và ctv, 1985 [8] cũng tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét:
Nhóm cỏ thân cụm Panicum maximum Liloni và K - 280 cho năng suất
trung bình đạt 17 - 18 tấn VCK/ha/năm với 7 - 8 lứa cắt Tỷ lệ trong mùa khô đạt 26 - 27 sản lượng năm Tốc độ sinh trưởng(cm/ngày): 1,7 - 2,0 ; chu kỳ thu cắt trong mùa mưa 35 - 40 ngày, mùa khô 60 - 65 ngày Theo báo lao động [33], tháng 7/2004 Viện khoa học kỹ thuật miền Nam thuộc Bô NN&PTNT đã triển khai thực hiện dự án „ Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò‟ tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri), sau 4 lần thu hoạch Viện KHKTNN miền Nam nhận định: Các giống
cỏ nhập nôi thích nghi tốt và phát triển mạnh trong điều kiện môi trường thổ nhưỡng tại Bến Tre Cỏ voi chiếm ưu thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên đất trống, năng suất đạt 29,04 tấn VCK/ha Trồng xen vườn ăn trái la 25 - 27 tấn VCK/ha Các tác giả Phan Thị Phần và ctv, 1998[35], Vũ Thị Kim Thoa và Khổng Văn Đĩnh, 2001 [22] Khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD 58 ở khu vực miền Bắc và miền Nam cho kết luận
- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, hoặc đất chua nghèo lân và ka ly cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá tốt(1, 96 - 2,01 cm/ngày) Năng suất đạt 90 - 100 tấn/ha/năm, cỏ Ghinê có khả năng cho thu hạt (năng suất hạt đạt 450kg/ha)
- Khu vực miền Nam: Địa điểm tại vùng đất xám Bình Dương với liều lượng phân bón 20 tấn phân chuồng, 80kg P2O5, 80kg K2O và 500kg vôi/ ha/năm, lượng phân đạm bón từ 60 - 90 kg/ha Năng suất chất xanh cỏ TD58
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
28
đạt 64,59 - 83,33 tấn/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/ lứa
Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ TD58 cao, khả năng sử dụng của gia súc như trâu sữa, bò sữa, bò thịt, dê sữa đều tốt từ 86 - 100%
* Những nghiên cứu tại Thái Nguyên: Tại Trung tâm nghiên cứu và phát
triển chăn nuôi miền núi - Viện chăn nuôi đã nhập nhiều giống cỏ hòa thảo mộc
và họ đậu một số giống có triển vọng đã được trồng thử nghiệm cho năng suất
- Giống cỏ hòa thảo: cỏ voi đạt 240 - 350 tấn/ha Cỏ Ghinê TD58 đạt 100
- 200 tấn/ha Cỏ Ghinê Tây Nghệ An đạt 100 - 250 tấn/ha Paspalum atratum đạt 120 - 250 tấn/ha Cỏ lông Para đạt 80 - 200 tấn/ha Cỏ Barachiaria đạt 80 -
120 tấn/ha (tại Bá Vân - Thái Nguyên.)
- Giống cỏ họ đậu: Keo dậu, anh dào giả, đậu công, Stylo santhes Mới
trồng thử nghiệm chưa có kết quả cụ thể
Các giống cỏ trên hiện nay đã được chuyển giao ở một số địa điểm như sau: tại Thái Nguyên gồm các huyện : Sông Công, Đồng Hỷ, Định Hóa, Phổ Yên, Phú Bình
Các tỉnh bạn gồm: Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn
Tùy điều kiện sinh thái từng vùng miền mà các giống cỏ được chuyển
giao khác nhau, chủ yếu một số giống chính như cỏ voi, cỏ ghinê, Paspalum
Qua các nghiên cứu và đánh giá, chúng tôi thấy nhìn chung năng suất, chất lượng các giống cỏ còn thấp mới chỉ đánh giá chung sự sai khác về năng suất, chất lượng giữa các giống Việc nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đặc biệt là nước chưa được chú ý Dẫn đến tình trạng thiếu cỏ cho gia súc đặc biệt cho mùa khô
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
29
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Một vài nét về điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý, danh giới
Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi (TTNC&PTCNMN) - Viện chăn nuôi quốc gia, có trụ sở đóng tại xã Bình Sơn
- Sông Sông - Thái Nguyên Tổng diện tích tự nhiên 69,9 ha Địa giới hành chính tiếp giáp với các xã sau:
- Phía bắc tiếp giáp với xã Thịnh Đức
- Phía đông tiếp giáp với xã Bá Xuyên
- Phía tây tiếp giáp xã Bình Sơn
- Phía nam cách 100km là dãy núi Tam Đảo
2.1.2 Điều kiện về khí hậu
* Khí hậu:
Trung tâm nằm trong khu vực trung du và miền núi phía bắc nên nó có đặc điểm chung về thời tiết của khu vực Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng lượng mưa chủ yếu tập chung vào các tháng 6,7,8 Những tháng còn lại lượng mưa thấp hơn Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1875 mm Cao nhất là 2390 mm, thấp nhất là
1420 mm Nhiệt độ trung bình từ 23˚C - 28˚C Độ ẩm tương đối từ 80 - 85 %
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, đặc điểm của những tháng này là lượng mưa ít, nhiệt độ thấp, thời tiết khô lạnh Nhiệt độ trung bình từ 15 - 19˚C Có những thời điểm nhiệt độ xuống tới 4 - 7˚C, độ ẩm tương đối 70 - 75 %
* Thuỷ văn:
Trung tâm có dòng Sông Công chảy qua bao bọc phía bắc và phía đông,
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
30
thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất
Nhìn chung điều kiện thuỷ văn và thời tiết khá thuận lợi cho sản xuất của trung tâm Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 mùa là điều kiện bất lợi cho sản xuất Lượng mưa tập chung vào tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình hơi dốc của đất canh tác dẫn đến hiện tượng bị rửa trôi Ngược lại mùa khô kéo dài nó sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến sản xuất cây thức ăn cho đàn gia súc
2.1.3 Điều kiện về địa hình, đất đai, giao thông, thuỷ lợi
* Địa hình, đất đai
Trung tâm có địa hình tương đối bằng phẳng, bao gồm dải đất ven sông
và gò đồi thấp, có dòng Sông Công chảy qua, đất đai tương đối màu mỡ, tầng đất canh tác khá dầy Đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc sản xuất của Trung tâm, đặc biệt là sản xuất cây thức ăn xanh phục vụ cho đàn gia súc Trong những năm gần đây Trung tâm đã đầu tư cho thử nghiệm các giống cây thức ăn xanh có năng xuất cao và giá trị dinh dưỡng cao Chính vì vậy, mà đã giải quyết được nhu cầu thức ăn xanh cho gia súc vào mùa mưa và có thức ăn
dự trữ cho mùa khô Tổng diện của trung tâm là 69,9 ha trong đó có 20 ha là diện tích cho trồng cây thức ăn cho gia súc Diện tích đồng cỏ chăn thả là 35
ha Như vậy, đây là điều kiện khá thuận lợi cho phát triển cây thức ăn gia súc
* Giao thông
TTNC&PTCNMN thuộc thị xã Sông Công có điều kiện giao thông thuận lợi Cách thủ đô Hà Nội 70 km về phía nam theo tuyến quốc lộ 3, cùng với tuyến đường sắt Thái Nguyên Hà Nội Trung tâm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15 km, cách thị xã Sông Công 6 km Đường nối từ Trung tâm thành phố Thái Nguyên, và từ thị xã Sông Công vào Trung tâm NC&PT chăn nuôi miền núi đều là đường nhựa có chiều rộng 3m, do vậy rất thuận lợi cho giao thông Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Trung tâm
* Thuỷ lợi
Trung tâm có dòng Sông Công chảy qua nên thường xuyên cung cấp