1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Triết họcCHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ

19 827 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 302,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Triết họcCHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ

Trang 1

- -Tiểu luận triết học

Đề tài nhóm 6:

“CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP

CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ”

Tp HCM, Tháng 02 Năm 2012.

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 2

1.1 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại 2

1.2 Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại .2

1.2.1 Triết gia Xôcrát [Socrate (469 – 399 TCN)] 3

1.2.2 Triết gia Platông [Platon (427 – 347 TCN)] 4

CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 8

2.1 Những giá trị của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại 8

2.2 Những hạn chế của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại 12

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều chặng đường huy hoàng với nhiều nền

văn minh của nhiều dân tộc phương Đông (Ai Cập, Babilon…) đã báo hiệu khả năng sáng tạo vô tận của loài người Nền văn minh Hy Lạp ra đời là một minh chứng cho khả năng ấy, tuy ra đời muộn hơn nhưng rực rỡ hơn vào khoảng những thế kỷ giữa của thiên niên kỷ I tr.CN Nền văn minh Hy Lạp tiêu biểu cho sức sống mạnh mẽ của nhân loại, nó là cái mốc lớn của lịch sử loài người từ thời tiền sử bước vào thời đại văn minh Không những vậy, chúng còn là cơ sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại, đúng như Ăngghen đã nhận xét:

“Không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện

đại”[3, tr.397] Trong nền văn minh ấy, đặc biệt, phải kể đến triết học - một

trong những di sản đồ sộ và sâu sắc mà người Hy Lạp cổ đại đã để lại

Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại ra đời như một đơn đặt hàng của lịch sử nhân loại Trong lịch sử triết học Tây Phương, nếu Thales là triết gia đầu tiên vì ông bắt đầu nhìn ra thế giới thì Xôcrát là triết gia và là hiền giả vĩ đại nhất vì ông nhìn vào con người Ông đã bước ra khỏi cõi huyền thoại với những

vị thần linh để đưa con người vào thế giới của vũ trụ, mà ở đấy các vấn đề nhân sinh, như giá trị của con người, tri thức và đức hạnh được đề cao Học trò xuất sắc của Xôcrát là Platông-một nhà triết gia vĩ đại, cũng đã kế thừa và phát triển hơn nữa những tư tưởng đó Để tìm hiểu sâu hơn về những tư tưởng cơ bản, những giá trị và hạn chế của trường phái triết học duy tâm khách quan này, người viết chọn đề tài: “Chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại và những giá trị, hạn chế của nó” Với tài liệu tham khảo chính là 1) Bùi Văn Mưa chủ

biên, Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học (tài liệu dùng cho học

viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học của trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), 2011 , 2) Hà Tiên Sơn, Lịch sử triết

học, NXB Trẻ, 2004, 3) Will Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu

Đích biên dịch, NXB Văn hóa thông tin, 2008 và một số trang web khác

Trang 4

CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 1.1 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại:

Hy lạp cổ đại là một quốc gia có khí hậu ôn hòa và rộng lớn bao gồm phần đất liền và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Êgiê, vùng duyên hải Bancăng và Tiêu Á Chính sự thuận lợi về thiên nhiên và địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng phát triển các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa Văn minh Hy Lạp cổ đại phát triển rất rực rỡ, nó phong phú trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật, và đặc biệt là về triết học Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử-chế

độ chiếm hữu nô lệ Như Ăng-ghen đã nói: “Nếu không có chế độ nô lệ, thì cũng

không có nhà nước Hy Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hy Lạp”[8].

Do triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với lịch sử ra đời của nền chính trị Hy Lạp cổ đại và phản ánh lịch sử của đất nước này Do vậy, lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ: thời kỳ hình thành, thời kỳ cực thịnh và thời kỳ suy tàn Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platông

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triết học là lịch

sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau Cuộc đấu tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã hội có giai cấp đối kháng

1.2 N hững tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại:

Trường phái duy tâm khách quan thể hiện lập trường chính trị của tầng lớp

chủ nô bảo thủ chống lại nền dân chủ Aten và hệ thống triết học duy vật của

Trang 5

trường phái nguyên tử luận Trường phái này do Xôcrát đặt nền móng và Platông

- học trò của ông hoàn thiện

1.2.1 Triết gia Xôcrát [Socrate (469 – 399 TCN)]:

Xôcrát khác với các nhà triết học khác, ông không hướng về nghiên cứu tự nhiên mà chuyên tâm nghiên cứu về con người Như triết gia La Mã Cicéron đã

nhận xét: “Xôcrát đã đưa triết học từ trên trời xuống đất và ông đã để nó sống

trong thành phố, bước vào các ngôi nhà bằng cách buộc con người phải suy nghĩ

về cuộc sống, về phong tục tập quán, về điều thiện, điều ác”[9] Xuất phát từ

quan niệm này, ông dành phần lớn công sức nghiên cứu triết học về nhân bản, về con người và về đạo đức, ông đã nói với các học trò rằng không nên đặt vấn đề nghiên cứu tự nhiên, vì giới tự nhiên đã được thần thánh an bài cả rồi, nếu cố công khám phá giới tự nhiên là xúc phạm đến thần thánh, thần thánh ở khắp mọi nơi, có sức mạnh kỳ diệu, sáng tạo ra thế giới, có thể nhìn thấy tất cả, nhưng không thích con người phát hiện ra mình

Do vậy Xôcrát cho rằng triết học không có gì khác hơn là sự nhận thức của

con người về chính bản thân mình “con người hãy nhận thức chính mình”, từ đây

con người trở thành một trong những chủ đề trọng tâm nghiên cứu về triết học Theo ông ý thức của con người trong cuộc đàm thoại, ngoài yếu tố chủ quan, còn

có một nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang tính tổng quát Đó là những tri thức chung mà mỗi con người chúng ta có được bằng nỗ lực của mình Xôcrát cho rằng tri thức chung đó là chân lý khách quan thu được trong các cuộc đàm thoại mà ai cũng phải thừa nhận Nên ý kiến chủ quan của mỗi người không phải là tiêu chuẩn của chân lý Theo ông khám phá ra chân lý đích thực về bản chất sự vật tức là phải hiểu nó có khái niệm Nếu không có khái niệm xem như không có tri thức Một vấn đề được lý luận rõ ràng, có lô gíc sẽ dễ thuyết phục số đông hơn

Nhận thức luận của ông chủ yếu là thể hiện qua đạo đức của con người Đạo đức học của ông mang tính chất duy lý, ông thừa nhận Đạo Đức và Tri Thức

Trang 6

thống nhất là một “Mỗi điều thiện đó là tri thức và mỗi điều ác đó là sự dốt nát”,

mỗi hành vi vô đạo đức đều là kết quả của sự dốt nát của chúng ta Ông cho rằng cái thiện phổ biến là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh, muốn tuân thủ theo cái thiện thì phải nắm bắt được nó, hiểu nó, để phát hiện được cái phổ biến, phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận Theo

Xôcrát có 4 phương pháp là: mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, và xác định…

Xôcrát là người khởi xướng ra phép biện chứng, theo nghệ thuật tranh luận, ông có tài thuyết phục và gây hào hứng cho những người đàm thoại, từ đó rút ra chân lý Ông đã dùng hình thức vấn đáp để khảo sát những lời phát biểu, bằng cách tra xét định nghĩa, đào sâu khái niệm, truy nã nội hàm của chúng, với giả định rằng một lời phát biểu đúng không thể nào dẫn đến hệ quả sai

Triết học Xôcrát là một bước ngoặt trong lịch sử triết học phương Tây cổ đại với việc coi con người là trung tâm của các vấn đề thế giới quan Đánh giá

cao điều đó, Mác đã gọi các quan niệm của Xôcrát là “biểu tượng của triết học”.

1.2.2 Triết gia Platông [Platon (427 – 347 TCN)]:

Platông là nhà triết học duy tâm cổ Hy Lạp, được coi là người mở đầu siêu hình học phương Tây, là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại, người sáng lập chủ nghĩa duy tâm khách quan Ông là học trò nổi tiếng nhất của Xôcrát Các nhà triết học sau này, khi nghiên cứu về nền triết

học phương Tây cổ đại, đều thống nhất nhận định: “Người kế thừa duy nhất

Xôcrát chính là Platông”

Platông là người đầu tiên trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, xây dựng hệ thống hoàn chỉnh của chủ nghĩa duy tâm khách quan Điểm nổi bật trong hệ

thống triết học duy tâm của ông là học thuyết về ý niệm với giá trị bên trong là

phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức- chính trị- xã hội

- Thuyết ý niệm: Platông chia thế giới làm hai loại: Thế giới ý niệm (là thế

giới tồn tại chân thực, bất biến, vĩnh viễn, tuyệt đối, là cơ sở tồn tại của thế giới

Trang 7

các sự vật cảm tính) và thế giới của các sự vật cảm tính (là thế giới tồn tại không chân thực, thường xuyên biến đổi, phụ thuộc vào thế giới ý niệm, do các ý niệm sản sinh ra) Theo ông, thế giới ý niệm là nguyên mẫu, nó có trước và thế giới vật chất là cái được sinh ra, nó là thế giới cảm tính Thế giới vật chất chẳng qua là cái bóng, là sự mô phỏng, bắt chước thế giới ý niệm, thế giới ý niệm quyết định thế giới vật chất, không có thế giới ý niệm thì không có thế giới vật chất

Theo Platông, sự hình thành thế giới sự vật xãy ra gắn liền với bốn yếu tố

cơ bản là tồn tại (ý niệm), không tồn tại (vật chất), con số (quan hệ tỷ lệ), sự vật

cảm tính Sự tồn tại của ý niệm thông qua quan hệ các con số tác động vào sự

không tồn tại của vật chất sinh ra sự vật cảm tính Các con số là một dạng bản chất độc lập đặc biệt chiếm vị trí trung gian ở giữa ý niệm và sự vật cảm tính, sự khác nhau giữa các sự vật là do khác nhau về quan hệ toán học, do những con số quyết định

Ngoài ra, theo Platông, thần linh là thước đo của vạn vật Con người là sự kết hợp của thể xác khả tử với linh hồn bất tử Linh hồn của con người là sản

phẩm của linh hồn vũ trụ được Thượng đế tạo ra Hoạt động cơ bản của linh hồn

là nhận thức Nhận thức chân lý (ý niệm) là cơ sở để con người có được hành vi đạo đức và hành vi đạo đức của con người là chỗ dựa cho các hoạt động chính trị-xã hội

- Quan niệm về nhận thức: Lý luận nhận thức và học thuyết về linh hồn của

Platông được xây dựng trên cơ sở bản thể luận duy tâm khách quan mà cốt lõi của chúng là học thuyết về ý niệm và học thuyết về sự tồn tại độc lập của linh hồn bất tử Ông cho rằng, nhận thức cảm tính không phải là nguồn gốc của tri thức chân thực, mà tri thức chân thực - nhận thức ý niệm - chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính và thể hiện trong khái niệm Theo ông, mọi tri thức phải

có tính khái quát cao Sự nhận thức của con người không phải là sự phản ánh thế giới vật chất mà là sự hồi tưởng của linh hồn bất tử, hồi tưởng lại những gì mà linh hồn bất tử đã quên đi khi nằm trong thế giới ý niệm Linh hồn bất tử vốn thuộc về thế giới ý niệm, khi đó nó biết hết tất cả những gì thuộc về thế giới ý

Trang 8

niệm nhưng vì thế giới ý niệm luôn vận động nên linh hồn bất tử vận động xuống mặt đất, nhập vào con người, biến con người từ một thực thể bất động vô tri, vô giác thành một cơ thể năng động và có tri giác Nhưng cũng từ đó linh hồn bất tử quên hết những gì biết được ở thế giới ý niệm, khi nó hồi tưởng những gì đã biết tạo ra sự nhận thức Phương pháp kích thích sự hồi tưởng lại thề giới ý niệm đó

là thuật logic đàm thoại – Platông gọi là phép biện chứng Ông quan niệm đó là nghệ thuật so sánh và phân tích những khái niệm trong khi tranh luận Vì vậy Platông cho rằng, những ý kiến xác thực được khơi dậy nhờ các câu hỏi thì sẽ thành tri thức

- Quan niệm về đạo đức: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, Platông cho

rằng, sống hạnh phúc là sống có đạo đức Sống có đạo đức là làm điều thiện Hành vi hướng thiện là hành vi không dựa trên khoái lạc, lợi thú chủ quan mà là hướng đến những ý tưởng tuyệt đối khách quan thuộc về thế giới ý niệm ở trên trời Con người chỉ nhận thức được những ý tưởng này bằng lý trí Theo Platông, con người muốn sống hạnh phúc phải dùng lý trí để chiêm nghiệm những ý tưởng và khắc phục những dục vọng vật chất thấp hèn, giúp linh hồn thoát khỏi cùm gông của nhà tù thể xác Dục vọng phải phục tùng trái tim, trái tim phải làm theo khối óc là điều kiện tiên quyết để sống hạnh phúc… Như vậy theo Platông, con người không thể tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình ở xung quanh mình, dưới trần gian, con người chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong thế giới ý niệm, ở trên trời, sau khi chết Quan niệm về đạo đức đầy tính chất duy tâm thần bí của Platông là cơ sở cho nền đạo đức Thiên chúa giáo sau này

- Quan điểm về chính trị - xã hội: Toàn bộ những tư tưởng về chính trị xã

hội của Platông được gói gọn trong mô hình “Quốc gia lý tưởng” mà ông đã dày công gày dựng suốt cả cuộc đời Trong quốc gia lý tưởng đó, mọi người được

sống hạnh phúc, đầy đủ và thỏa mãn với những gì mà họ đã tạo ra: “Người ta sẽ

sản xuất lúa, rượu, áo quần, giày dép, nhà cửa Họ sẽ làm việc lưng trần trong mùa hạ và mang áo ấm trong mùa đông Họ tự nuôi sống bằng lúa mì, xay bột,

Trang 9

bánh nướng, họ ngồi ăn trên chiếu hoặc trên lá, ngã lưng vào giường hoặc vào thân cây Họ ăn uống với gia đình, uống rượu do họ tự làm lấy…” [16].

Theo Platông, đã có ba hình thái nhà nước là: hình thái nhà nước quân chủ, hình thái nhà nước quân phiệt, và hình thái nhà nước dân chủ đã tồn tại trước đó

và đều xấu xa, tồi tệ Theo ông, thể chế nhà nước lý tưởng nhất là nhà nước cộng hoà vì nó được xây dựng với ba đẳng cấp là: đẳng cấp cai trị, đẳng cấp vệ quân, đẳng cấp nông dân và thợ thủ công Ông cho rằng giai cấp nô lệ không thuộc một đẳng cấp nào hết vì họ không phải là con người, họ chỉ là một động vật biết nói tiếng người, là một công cụ biết nói, họ không có một quyền nào khác ngoài quyền được tự do làm nô lệ cho người khác Quan điểm về chính trị - xã hội của Platông chứa đầy tính bảo thủ và mâu thuẫn

Cuộc đời của Platông là cuộc đời của một nhà bác học quên mình Suốt đời ông nghiên cứu miệt mài, viết sách và dạy học Hêghen, nhà triết học nổi tiếng

Đức đã gọi ông là “Nếu ai đạt được danh hiệu là người thầy của nhân loại thì

người đó là Platông”.

Trang 10

CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY

TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 2.1 Những giá trị của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại

a/ Thực hiện đơn đặt hàng của lịch sử:

Trường phái duy tâm Hy Lạp cổ đại lúc đầu xuất hiện dưới hình thức ngụy biện và lập thành một trường phái gọi là phái ngụy biện Theo trường phái ngụy biện, cho rằng mọi nhận thức đều có tính chủ quan, "con người là thước đo của mọi sự vật" Như thế có nghĩa là chủ trương mỗi cá nhân đều có thể căn cứ vào trực giác của mình để giải thích thế giới Mặt khác, phái ngụy biện còn cho rằng

"tồn tại không tồn tại" Nếu có cái gì thực sự tồn tại chăng nữa thì cũng không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả được, vì ngôn ngữ không đủ để diễn tả tư tưởng Từ

đó, kết luận chân lý là không có

Và dĩ nhiên là thuyết tương đối, thái độ hoài nghi và chủ nghĩa cá nhân của trường phái ngụy biện đã làm dấy lên một làn sóng phản đối đương thời Một số người Hy Lạp bảo thủ còn cho rằng điều đó dường như dẫn đến tình trạng vô chính phủ và vô thần Nếu chân lý và những điều tốt hay công lý chỉ mang tính tương đối với ý nghĩ chợt nảy ra trong tâm trí của một con người thì tôn giáo, những nền tảng đạo đức, nhà nước hay xã hội đều không thể duy trì được lâu dài Kết quả của sự thú nhận đó là sự ra đời và phát triển của phong trào triết học mới

mà những người đứng đầu là Xôcrát, Platông [6, tr.61] Chủ nghĩa duy tâm khách quan của hai ông cho rằng chân lý và ý niệm tuyệt đối là thực sự tồn tại, đồng thời nâng sự lý giải vấn đề đạo đức – chính trị lên trình độ khái niệm, chứng minh tính chất khách quan của đức hạnh, chính trị, pháp quyền để đối lập với chủ nghĩa tương đối của trường phái ngụy biện

b/ Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập và đặt nền tảng vững chắc:

Xuất phát từ việc thừa nhận tri thức khách quan, Xôcrát đi đến khẳng định tính khách quan của các chuẩn mực đạo đức Ông cho rằng đức hạnh là cái thiện,

Ngày đăng: 20/11/2014, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w