1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Hoàn thiện pháp luật về thương mại khi việt nam gia nhập wto

132 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 187,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bố cục của khoá luận Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của khoá luận được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Những quy định cơ bản về thương

Trang 1

Trường Đại học ngoại thương

Khoa kinh tế ngoại thương -  -

Khoá luận tốt nghiệp

Đề tài:

Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam trước yêu cầu gia nhập

tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết

Sinh viên : Hoàng Anh Tuấn

Hà Nội - 12/2003

Trang 2

Lời cảm ơn

Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là các thầy cô trong Ban giám hiệu và Khoa Kinh tế ngoại thương, đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em học tập và trưởng thành trong hơn bốn năm học tại trường

Em xin trân trọng cảm ơn thầy Hoàng Ngọc Thiết – Phó giáo sư, Tiến sỹ, Phó

hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại Thương, người đã nhiệt tâm và tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Tiến sỹ Hoa Hữu Long - Chuyên viên chính, Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật Quốc tế và Hợp tác Quốc tế - Bộ Tư pháp, Ông Lê Minh Tâm - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng hàng hoá - Bộ Thương mại, Thạc sỹ Nguyễn Thành Hưng - Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Thương mại, những nhà khoa học đã luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện về tài liệu cập nhật giúp em trong quá trình viết khoá luận

Em cũng xin cảm ơn các cô bác công tác tại thư viện Trường Đại học Ngoại Thương, thư viện Quốc gia, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật và Viện Kinh

tế thế giới đã giúp đỡ và cho em mượn những tài liệu quý báu

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, quan tâm và tạo điều kiện về thời gian cho em trong suốt quá trình viết khoá luận

Mặc dù đã hết sức cố gắng từ việc nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, tổng hợp các

ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước về lĩnh vực này, song khoá luận vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn của các thầy cô và các bạn Điều đó là nguồn cổ vũ lớn lao để em tiếp tục con đường khoa học đầy chông gai và thử thách

Người viết Sinh viên Hoàng Anh Tuấn

Trang 4

Lời nói đầu

Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn mới

là “tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện nước ta

và đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và tiến tới gia nhập WTO…”1

Thực hiện chủ trương trên của Đảng, chúng ta đã và đang tham gia có hiệu quả vào ASEAN/AFTA, APEC và đang “tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế”2 (mục tiêu dự kiến vào năm 2005) Có thể khẳng định, việc gia nhập WTO trong thời gian tới sẽ là bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam vào kinh tế thế giới Với sự gia nhập này, chúng ta sẽ tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế, ổn định được thị trường xuất khẩu, từng bước nâng cao vị thế của quốc gia và tạo thế đứng vững chắc hơn trong quan hệ quốc tế Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO cũng đòi hỏi Việt Nam cần có sự đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế - thương mại sao cho phù hợp với các quy tắc chung của hệ thống thương mại quốc tế, với “luật chơi” chung của thế giới, đồng thời vẫn đảm bảo được quyền lợi của đất nước, độc lập, chủ quyền dân tộc, ổn định đời sống kinh tế - chính trị - xã hội trong nước

Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo “luật chơi” chung của WTO là một vấn đề không hề đơn giản Bởi lẽ, WTO được tổ chức và vận hành dựa trên một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động của mình, nhằm mục đích phối hợp hành động của các quốc gia trong nỗ lực

1 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX - NXB Chính trị quốc gia, 2001

2 Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/1/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 5

chung là tiến tới tự do hoá thương mại trên phạm vi toàn cầu Khuôn khổ đó là một

hệ thống các văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc tất cả các nước thành viên, gồm

60 Hiệp định, Phụ lục, Quyết định và Văn bản diễn giải mà các nước tham dự Vòng đàm phán Uruguay đã ký thông qua Định ước cuối cùng (Final Act) cùng với Hiệp định thành lập WTO Theo phạm vi điều chỉnh, những văn bản này gồm 6 nhóm lớn, trong đó nhóm văn bản điều chỉnh quy mô nhất là về thương mại hàng hoá Chính vì vậy, muốn trở thành thành viên của WTO, Việt Nam nói riêng và tất cả các quốc gia nói chung phải nghiên cứu chế định thương mại hàng hoá đồ sộ của WTO

và phải tham gia đầy đủ vào Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT 1994) cùng 12 Hiệp định và rất nhiều Phụ lục liên quan kèm theo

Nhìn lại hệ thống pháp luật thương mại Việt Nam trong những năm qua, ta có thể thấy rằng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của chúng ta điều chỉnh lĩnh vực thương mại hàng hoá đã liên tục được được ban hành mới, các văn bản chưa phù hợp cũng đã được sửa đổi, bổ sung theo kịp bước phát triển của nền kinh

tế cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, với hệ thống các văn bản quy định chặt chẽ và đồng bộ của WTO, chúng ta vẫn phải tiếp tục đối chiếu, rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về lĩnh vực thương mại hàng hoá với các quy định tương ứng của WTO để từng bước hoàn thiện cho phù hợp hơn nữa, thúc đẩy tiến trình gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này

Chính vì những lý do trên, em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về

thương mại hàng hoá của Việt Nam trước yêu cầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình

Mục đích của khoá luận

Tìm hiểu, phân tích nội dung cơ bản của chế định thương mại hàng hoá của WTO, đồng thời so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định về thương mại hàng hoá của Việt Nam với các quy định tương ứng của WTO Trên cơ sở đó, khoá luận đưa ra một số giải pháp nhằm điều chỉnh và hoàn

Trang 6

thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam trước yêu cầu chuẩn bị gia nhập WTO (mục tiêu dự kiến vào năm 2005).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là chế định thương mại hàng hoá của WTO bao gồm Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và các Hiệp định kèm theo (12 Hiệp định)3 cùng các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam

về thương mại hàng hoá Phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ giới hạn ở những quy định và nội dung cơ bản trong các Hiệp định và các văn bản pháp luật kể trên, không đi sâu phân tích chi tiết và toàn bộ các Hiệp định, các văn bản đó, không phân tích các Phụ lục, các Văn bản diễn giải đi kèm các Hiệp định của WTO, cũng như không phân tích các luật thương mại chuyên ngành như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư v.v…

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, diễn giải, quy nạp để nghiên cứu đề tài khoá luận Ngoài ra, khoá luận còn vận dụng các quan điểm, đường lối, chủ trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước để khái quát hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu

Bố cục của khoá luận

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của khoá luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những quy định cơ bản về thương mại hàng hoá của WTO

Chương 2: So sánh pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam với các

quy định về thương mại hàng hoá của WTO

Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và các giải pháp điều chỉnh hoàn thiện

pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO

3 Xem Danh mục các Phụ lục của Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Hiệp định WTO),

trang 19 (List of Annexes, page 19, Final Act embodying the Results of the Uruguay Round of Multilateral

Trade Negotiatons The Uruguay Round, Trade Negotiations Committee)

Trang 7

Pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam trước yêu cầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một vấn đề phức tạp và rộng lớn Việc nghiên cứu thấu đáo cũng như đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm từng bước hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thương mại hàng hoá là yêu cầu bức xúc của khoa học pháp

lý Việt Nam, đây cũng là công việc phức tạp, đòi hỏi phải được nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc Khoá luận này xin được góp một phần nhỏ vào sự xem xét đó

Danh mục các chữ viết tắt trong khoá luận

AA Agreement on Agriculture Hiệp định Nông nghiệp

ADP

Agreement on Implementation of Article VI of the GATT 1994 (“Anti-Dumping Code”)

Hiệp định về thực hiện Điều VI của GATT 1994 (Chống bán phá giá ADP)

AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEANAPEC Asia Pacific Economic

CVA

Agreement on Implementation of Article VI of the GATT 1994 (“Customs Value Code”)

Hiệp định về thực thi Điều VII của GATT 1994 (Xác định trị giá tính thuế hải quan)

DSU Understanding on Rules and

Procedures Governing the

Bản thoả thuận về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp

Trang 8

Settlement of Disputes

EU European Union Liên minh Châu Âu

GATS General Agreement on Trade in

IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế

ITO International Trade Organization Tổ chức Thương mại Quốc tếMFN Most-Favoured Nation Đãi ngộ Tối huệ quốc

NT National Treatment Nguyên tắc đối xử quốc gia

PSI Ageement on Preshipment

Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịnh động thực vật

TBT Agreement on Technical Barriers

Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại

UNCTAD United Nations Conference on

Trade and Development

Hội nghị Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc

Trang 9

WB World Bank Ngân hàng Thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Nguồn: Final Act embodying the Results of the Uruguay Round of Multilateral Trade Negotiatons The Uruguay Round, Trade Negotiations Committee

Trang 10

Chương 1

Những quy định cơ bản về thương mại

hàng hoá của wto

1.1 tổng quan về tổ chức thương mại thế giới (WTO)

1.1.1 Lịch sử hình thành WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được thành lập ngày 1 tháng 1 năm

1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)

GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2 trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, mà điển hình là Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên

Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ

Trang 11

11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được.Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948.

Trong quá trình hoạt động của mình từ tháng 1/1948 đến tháng 1/1995, GATT

đã tiến hành 8 vòng đàm phán4 chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX và đặc biệt từ Vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Marốc), kết thúc Vòng đàm phán Uruguay5, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên hợp quốc và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995 Tính đến tháng 12 năm 2003, WTO đã có 146 nước và lãnh thổ là thành viên chính thức, 26 nước và vùng lãnh thổ cùng 7 tổ chức quốc tế được hưởng quy chế quan sát viên tại WTO6

4 Xem thêm Phụ lục 1: Tóm tắt các vòng đàm phán của GATT

5 Xem thêm Phụ lục 2: Tóm tắt thành quả của Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994)

6 Xem thêm Phụ lục 3: Danh sách thành viên chính thức và các chính phủ nước, tổ chức quốc tế được hưởng

quy chế quan sát viên tại WTO

Trang 12

1.1.2 Mục đích hoạt động của WTO

WTO chỉ là một thiết chế quốc tế liên quan đến các quy tắc của thương mại giữa các quốc gia Hạt nhân của thiết chế này là các Hiệp định của WTO được các quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế xây dựng và cam kết thực hiện Các Hiệp định này đã tạo lập một khung pháp lý vững chắc cho thương mại đa biên, là khuôn khổ ràng buộc chính phủ các nước duy trì chính sách thương mại của mình phù hợp với kỷ cương đã được định lập Cho dù các Hiệp định đó do chính phủ các nước đàm phán và ký kết với nhau, nhưng đích cuối cùng của chúng là trợ giúp các nhà sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ, các nhà xuất khẩu và nhập khẩu trong điều chỉnh các hành vi thương mại, kinh doanh của họ

WTO có 3 mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất, giúp cho dòng thương mại càng tự do được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Để làm được như vậy, người ta cố gắng để mọi cái có thể rõ ràng mà không trừu tượng, có thể nhận biết và dự báo trước được Điều đó có nghĩa WTO phải phấn đấu để bảo đảm cho các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ các nước hiểu rằng các quy tắc thương mại là thống nhất trên toàn thế giới và không một nước nào được đột nhiên thay đổi chính sách thương mại mà không một cá nhân, tổ chức của nước khác biết trước Nói một cách khác là các quy tắc thương mại phải “trong sáng, rõ ràng” và có thể lường trước được mọi thay đổi

Thứ hai, thực hiện chức năng của trung tâm dàn xếp, thương lượng và thoả thuận các chính sách, quy tắc thương mại đa biên

Thứ ba, trung tâm để giải quyết các bất đồng, các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động thương mại quốc tế

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của WTO7

Hệ thống các hiệp định của WTO khá lớn và đồng bộ, bao quát cả một phạm

vi rộng lớn các hoạt động thương mại Các hiệp định đó liên quan đến nông nghiệp,

7 Xem thêm Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế, Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, NXB CTQG, 2000, trang 18-24 và Thông tin khoa học pháp lý Chuyên đề về: ASEAN, APEC, WTO - Một số vấn

đề pháp lý về tổ chức và hợp tác, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 10/1998, trang 46-51

Trang 13

hàng dệt may, ngân hàng, vô tuyến viễn thông, mua sắm của chính phủ, các tiêu chuẩn công nghiệp, đến sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác Tuy vậy, các nguyên tắc

cơ bản, các nguyên tắc nền tảng của WTO xuyên suốt toàn bộ các hiệp định Các nguyên tắc đó là cơ sở của hệ thống thương mại đa biên Có thể nêu lên một số

nguyên tắc cơ bản sau đây của WTO:

1.1.3.1 Thương mại không phân biệt đối xử

Thương mại thế giới phải được thực hiện một cách công bằng, không có sự phân biệt đối xử, với nội dung sau:

Các nước thành viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), tức là chế độ đãi ngộ ở các lĩnh vực mình dành cho hàng hoá của một nước bạn hàng này tới mức nào thì cũng phải dành cho hàng hoá của các nước bạn khác chế độ đãi ngộ như vậy, bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử nào

Các nước thành viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ Đối xử quốc gia (NT), tức là chế độ không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước, khi hàng nhập khẩu được đưa vào thị trường trong nước Các quốc gia

có chính sách đối xử như thế nào đối với hàng hoá sản xuất trong nước thì cũng phải đối xử như vậy đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên WTO

Chế độ MFN và chế độ NT chủ yếu dành cho hàng hoá khi áp dụng các chính sách ở lĩnh vực thuế quan, phi thuế quan, thanh toán, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm… cả trong thương mại đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ, và đều có những trường hợp ngoại lệ Tuy nhiên, hiện nay cộng đồng quốc tế đang tích cực vận động để mở rộng chế độ MFN, NT đối với cả thương nhân, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, thương mại dịch vụ và các thể nhân trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.1.3.2 Nguyên tắc tự do hoá thương mại

Xu thế chung của các quốc gia là luôn luôn xác định thương mại là yếu tố mang tính quyết định hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước, trong đó thị trường là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Do vậy, cộng đồng thương mại quốc tế mà đại diện là WTO luôn xác định tự do hoá thương mại là mục tiêu hàng đầu phải nỗ lực thực hiện

Trang 14

Nội dung cốt lõi của nguyên tắc tự do hoá thương mại này là cắt giảm dần từng bước hàng rào thuế quan và phi thuế quan, để đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ xoá bỏ hoàn toàn, mở đường cho thương mại phát triển Tự do hoá thương mại gắn với việc dỡ bỏ hàng rào thương mại thông qua đàm phán song phương và

đa phương phù hợp với pháp luật, thể lệ và khả năng cụ thể của từng nước

Đến nay hầu hết các nước đều hưỏng ứng chủ trương tự do hoá thương mại của WTO để tranh thủ khả năng và cơ hội hợp tác, liên kết kinh tế ở các mức độ khác nhau, tham gia vào phân công lao động quốc tế, thâm nhập vào thị trường quốc tế ngày càng sâu sắc hơn

1.1.3.3 Nguyên tắc bảo hộ bằng hàng rào thuế quan

Tuy chủ trương tự do hoá thương mại, nhưng WTO vẫn thừa nhận sự cần thiết của bảo hộ mậu dịch vì các nước đều nhận thấy thực tiễn thế giới có sự chênh lệch

về trình độ phát triển kinh tế, thương mại giữa các nước

Nguyên tắc bảo hộ mậu dịch mà WTO chủ trương là bảo hộ bằng hàng rào thuế quan, không ủng hộ bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào phi thuế quan hoặc các biện pháp hành chính

Các nước có nghĩa vụ phải công bố mức thuế trần cam kết, để rồi từ đó cùng với các nước WTO khác thương lượng giảm dần Chỉ có giảm, mà không có tăng quá mức trần cam kết, nếu tăng quá thì phải bồi thường nhanh chóng, kịp thời và thoả đáng cho các nước bị thiệt hại Ngoài ra, mỗi nước phải cam kết mốc thời gian thực hiện lộ trình cắt giảm dần để tiến tới mục tiêu xoá bỏ hàng rào quan thuế

1.1.3.4 Nguyên tắc ổn định trong thương mại8

WTO chủ trương thương mại quốc tế phải được tiến hành trên cơ sở ổn định,

rõ ràng, minh bạch, không ẩn ý Để thực hiện nguyên tắc này, WTO quy định:

Các nước thành viên phải thông qua đàm phán, đưa ra các cam kết với những

lộ trình thực hiện cụ thể Tuy thừa nhận quyền của mỗi nước thành viên được đàm phán lại các cam kết của mình, nhưng WTO quy định nghĩa vụ phải đền bù các thiệt hại có thể xảy ra cho các thành viên khác

8 Nguyên tắc này còn gọi là “có thể dự đoán trước được”

Trang 15

Mọi chế độ, chính sách thương mại của quốc gia phải được công bố công khai cho mọi người, ổn định trong thời gian dài và có thể dự báo trước những rủi ro có thể xảy ra Nếu quốc gia có thay đổi thì phải thông báo trước cho các doanh nghiệp,

cá nhân có đủ thời gian nghiên cứu, góp ý, phản ánh nguyện vọng của họ trước khi đưa chính sách đã thay đổi đó ra áp dụng

Nguyên tắc này giúp môi trường kinh doanh có tính ổn định, lành mạnh và có thể dự đoán trước được

1.1.3.5 Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh công bằng

WTO luôn chủ trương tăng cường cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong thương mại quốc tế, để cho chất lượng, giá cả quyết định vận mệnh của hàng hoá trong cạnh tranh trên thương trường; không được dùng quyền lực Nhà nước để áp đặt, bóp méo tính lành mạnh, công bằng của cạnh tranh trên thương trường quốc tế Nguyên tắc này đã được nhấn mạnh trong các lĩnh vực như quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Nhà nước; quyền cấp phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; cấp hạn ngạch; trợ giá; bán phá giá; quản lý ngoại hối; quản lý giá cả và các hoạt động trong lĩnh vực phi thuế quan khác

1.1.3.6 Nguyên tắc không hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu

WTO chủ trương không hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu giữa các nước thành viên

Tuy nhiên, WTO cũng cho phép có những trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng các hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu (QR), khi nước đó gặp khó khăn về cán cân thanh toán, hoặc do trình độ phát triển thấp của nền kinh tế trong nước, hoặc vì những lý do về môi trường, an ninh quốc gia Tuy vậy, đây chỉ là những trường hợp đặc biệt, có tính chất tạm thời, cần có thời hạn cụ thể để xoá bỏ hẳn

1.1.3.7 Quyền được khước từ và được tự vệ trong trường hợp khẩn cấp

Nguyên tắc này được ghi nhận trong GATT 1994 Điều XXV của GATT 1994 cho phép trong một số trường hợp thật đặc biệt, một nước có thể khước từ việc thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ cam kết Tuy vậy, đây chỉ là một quyền hết sức tạm

Trang 16

thời và phải được 3/4 số phiếu biểu quyết tán thành9 Điều XIX của GATT 1994 còn cho phép một nước thành viên áp dụng những biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp, khi nền sản xuất trong nước bị hàng hoá nhập khẩu đe doạ Với quyền tự

vệ này, mỗi nước có thể sử dụng hình thức tăng thuế nhập khẩu vượt mức trần cam kết hoặc áp dụng hình thức hạn chế số lượng hoặc các hình thức khác để hạn chế nhập khẩu, hỗ trợ sản xuất trong nước Tuy vậy, biện pháp này chỉ có tính tạm thời

và phải áp dụng bình đẳng, công khai

1.1.3.8 Nguyên tắc tôn trọng các tổ chức quốc tế khu vực

WTO là đại diện cho thương mại toàn cầu, nhưng vẫn thừa nhận những tổ chức kinh tế khu vực hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế, miễn là những

tổ chức này tuân thủ nguyên tắc tự do hoá thương mại, thực hiện chính sách kinh tế

mở, hướng ngoại, không co cụm, thực hiện việc loại bỏ dần hoặc giảm dần các hàng rào quan thuế, phi quan thuế gây cản trở cho dòng thương mại toàn cầu Do vậy, nguyên tắc MFN được miễn trừ trong quan hệ giữa các nước thành viên của tổ chức kinh tế, thương mại khu vực dưới hình thức liên minh thuế quan hoặc khu vực mậu dịch tự do

1.1.3.9 Nguyên tắc dành điều kiện thuận lợi hơn cho các nước đang phát triển và chậm phát triển

Phần IV GATT 1994 thừa nhận sự cần thiết phải dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển những điều kiện thuận lợi hơn trong thương mại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ Đối với những nước này, các nước công nghiệp phát triển sẽ không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết, giảm hoặc bỏ hàng rào thuế quan hoặc phi thuế quan để các nước đó có thể tham gia đầy đủ vào thương mại thương mại quốc tế

Trong điều khoản “hỗ trợ khả năng” của WTO, các nước phát triển cam kết dành chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho các nước đang phát triển và chế độ

ưu đãi thương mại đặc biệt cho các nước chậm phát triển nhất

9 Xem thêm khoản 3,4 Điều IX Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Hiệp định WTO)

Trang 17

1.1.4 Hệ thống các hiệp định của WTO10

Hệ thống các hiệp định của WTO đến nay gồm có:

(1) Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (Hiệp định WTO)

(2) Các Hiệp định đa biên về thương mại hàng hoá, trong đó gồm:

- Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994)

- Các Hiệp định kèm theo:

+ Hiệp định về thực hiện Điều VII của GATT 1994 (Xác định trị giá tính thuế hải quan)

+ Hiệp định về Giám định hàng hoá trước khi gửi hàng (PSI)

+ Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

+ Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịnh động thực vật (SPS)

+ Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP)

+ Hiệp định về Các biện pháp tự vệ (AS)

+ Hiệp định về Trợ giá và Các biện pháp chống trợ giá (SCM)

+ Hiệp định về thực hiện Điều VI của GATT 1994 (Chống bán phá giá ADP)+ Hiệp định Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)

+ Hiệp định về Hàng dệt may (ATC)

+ Hiệp định Nông nghiệp (AA)

+ Hiệp định về Quy tắc xuất xứ hàng hoá (ROA)

(3) Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)

(4) Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

(5) Bản thoả thuận về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU)

(6) Cơ chế rà soát chính sách thương mại (TPRM)

(7) Hiệp định thương mại nhiều bên

- Hiệp định về thương mại máy bay dân dụng

10 Xem thêm Danh mục các chữ viết tắt trong khoá luận

Trang 18

1.2 Những quy định cơ bản Về thương mại hàng hoá CủA WTO 1.2.1 Những nguyên tắc cơ bản của WTO về thương mại hàng hoá

ở phần trên, chúng ta đã tìm hiểu và phân tích các nguyên tắc cơ bản nhất của

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (gồm 9 nguyên tắc) Đó được coi là những nguyên tắc nền tảng nhằm điều chỉnh và chi phối mọi quy định, mọi hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của WTO từ thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ đến

sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp… Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực cụ thể, WTO lại

có một số nguyên tắc cơ bản điều chỉnh riêng cho lĩnh vực đó Trên cơ sở như vậy, chế định thương mại hàng hoá đồ sộ của WTO bao gồm Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT 1994) cùng 12 Hiệp định và rất nhiều Phụ lục, Quyết định,

Các văn bản diễn giải liên quan kèm theo được xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc

cơ bản sau đây:

 Nguyên tắc thứ nhất: Chỉ sử dụng thuế quan để bản hộ nền sản xuất trong nước Theo nguyên tắc này, trong khi thừa nhận các nước cần theo

Trang 19

đuổi chính sách thương mại mở và tự do nhưng đồng thời cũng cho phép các nước bảo hộ nền sản xuất trong nước tránh sự cạnh tranh của nước ngoài, miễn là sự bảo hộ này chỉ được thực hiện thông qua thuế quan và chỉ ở mức thấp Để đạt được điều đó, nguyên tắc này nghiêm cấm các nước sử dụng các hạn chế định lượng, trừ những trường hợp ngoại lệ Nguyên tắc chống hạn chế định lượng đã dh củng cố thêm tại Vòng đàm phán Uruguay.

 Nguyên tắc thứ hai: Cần giảm thuế quan và cam kết ràng buộc không tăng thêm Nguyên tắc này quy định về việc giảm và xoá bỏ thuế quan

và các rào cản thương mại khác thông qua đàm phán đa phương Mức giảm thuế quan được liệt kê trên cơ sở dòng thuế quan trong Danh mục nhượng bộ của mỗi nước Mức thuế trong Danh mục nhượng bộ này còn được gọi là mức thuế ràng buộc Các nước không được phép nâng thuế suất vượt quá mức thuế ràng buộc ghi trong Danh mục

 Nguyên tắc thứ ba: Thương mại theo quy chế Tối huệ quốc Nguyên tắc này yêu cầu các nước tiến hành buôn bán mà không được phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu hoặc giữa các nước nhập khẩu hàng hoá

đó Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong quy định về Đối xử Tối huệ quốc (MFN) Trường hợp ngoại lệ đặc biệt của nguyên tắc này là thoả thuận

ưu đãi khu vực

 Nguyên tắc thứ tư: Đối xử quốc gia Nguyên tắc này yêu cầu các nước không được đánh thuế nội địa như thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng vào các sản phẩm nhập khẩu, sau khi hàng hoá đó đã vào thị trường nội địa và nộp thuế nhập khẩu tại biên giới, theo mức thuế cao hơn mức thuế đánh vào sản phẩm nội địa tương tự

1.2.1 Quy định cụ thể về Đối xử Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia 1.2.1.1 Đối xử Tối huệ quốc (MFN)

Theo Điều I Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT 1994), chế

độ Đối xử Tối huệ quốc (MFN) yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác

Trang 20

nhau (hoặc hàng hoá xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất cả các nước thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện

Hơn thế nữa, nghĩa vụ đối xử Tối huệ quốc không chỉ hạn chế ở thuế quan mà còn áp dụng đối với: (i) bất kỳ khoản phí nào liên quan tới nhập khẩu và xuất khẩu; (ii) phương pháp đánh thuế và các khoản phí nói trên; (iii) những quy tắc và thủ tục liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu; (iv) thuế và phí nội địa đối với hàng nhập khẩu và các luật lệ, quy định, điều kiện ảnh hưởng đến việc bán hàng

Tuy vậy, vẫn có những ngoại lệ đối với nguyên tắc này Điều XXIV GATT

1994 quy định các trường hợp ngoại lệ đối với thương mại giữa các nước thành viên của các liên minh thuế quan hoặc khu vực thương mại tự do, hay các nước có chung đường biên giới, được hưởng thuế suất ưu đãi hay được miễn giảm thuế Một ngoại

lệ khác tạo ra qua Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Theo hệ thống này, các nước phát triển áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc miễn giảm thuế cho hàng hoá nhập khẩu từ các nước đang phát triển, nhưng lại áp dụng thuế suất MFN cho hàng hoá nhập khẩu từ các quốc gia khác Điều XX của GATT 1994 quy định về các ngoại lệ chung, theo đó nguyên tắc này không áp dụng trong các trường hợp để bảo vệ đạo đức công cộng; sức khoẻ và cuộc sống của con người, động thực vật; di sản quốc gia; nguồn tài nguyên có thể cạn kiệt; nhằm thực hiện một kế hoạch ổn định kinh tế của chính phủ; bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không trái với quy định của Hiệp định; nhằm phân phối một sản phẩm thuộc diện khan hiếm chung trong nước hay tại một địa phương; nhằm bảo vệ an ninh và bí mật của quốc gia; hoặc liên quan đến lao động tù nhân

1.2.1.2 Đối xử quốc gia (NT)

Như trên đã nêu, nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc yêu cầu các thành viên không phân biệt đối xử giữa các nước Nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) bổ sung cho đối xử Tối huệ quốc Theo nguyên tắc NT quy định tại Điều III GATT 1994,

Trang 21

một mặt hàng nhập khẩu sau khi đã đi qua biên giới và đã trả các khoản thuế quan cũng như các khoản phí khác sẽ không bị đối xử kém ưu đãi hơn so với các sản phẩm nội địa tương tự Nói cách khác, nguyên tắc này yêu cầu các nước thành viên đối xử với các hàng nhập khẩu trên cùng cơ sở như hàng sản xuất trong nước

Vì vậy, các nước không được phép đánh các khoản thuế nội địa (ví dụ thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng VAT) với mức thuế suất cao hơn mức áp dụng cho các sản phẩm nội địa tương ứng đối với hàng nhập khẩu sau khi nó đã thanh toán các khoản thuế quan tại biên giới Tương tự như vậy, các quy định tác động đến việc mua bán sản phẩm tại thị trường trong nước cũng không thể áp dụng nghiêm ngặt hơn đối với hàng nhập khẩu

1.2.3 Những quy định về thuế quan của WTO

1.2.3.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế quan

Thuế quan là loại thuế lấy vật phẩm xuất khẩu qua biên giới quốc gia hay quá cảnh làm đối tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của Nhà nước do hải quan thực hiện

Mục đích thu thuế quan trong thời kỳ xã hội phong kiến và trước đó chủ yếu là

để tăng thu nhập tài chính quốc gia Sau khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, thuế quan không chỉ là nguồn thu tài chính, mà còn là công cụ thực hiện chính sách kinh tế thương mại của các nước cận và hiện đại

Theo những tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân loại và gọi tên thuế quan theo nhiều cách Ví dụ: theo hướng lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu có thuế quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu, thuế quá cảnh; theo phương pháp đánh thuế

có thuế quan tính theo giá, thuế quan tính theo lượng, thuế quan hỗn hợp; theo mức

ưu đãi có thuế quan thông thường, thuế quan ưu đãi, thuế quan ưu đãi đặc biệt, thuế quan đãi ngộ Tối huệ quốc Mặc dù có thể phân ra nhiều loại thuế như vậy nhưng thuế quan nói chung có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Tạo nguồn thu cho ngân sách

- Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển

- Cản trở sự phát triển của thương mại

Trang 22

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, WTO, cũng như các tổ chức kinh tế quốc tế khác, luôn coi mục tiêu quan trọng của mình là tự do thương mại, huỷ bỏ hoặc cắt giảm rào cản thương mại, trong đó có thuế quan.

1.2.3.2 Quy định về thuế quan

WTO thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, còn các hàng rào phi thuế phải được bãi bỏ Sở dĩ như vậy là do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả

Thuế hoá: chỉ sử dụng thuế quan

Do tính rõ ràng và dễ đàm phán cắt giảm của thuế quan, các thành viên WTO

thoả thuận một cách thức mới cho việc tiếp cận thị trường là "chỉ sử dụng thuế quan" Các biện pháp hạn chế số lượng tồn tại trước vòng Uruguay nay phải tiến hành "thuế hoá" (Tariffication) tức là chuyển biện pháp phi thuế đó thành một mức

thuế quan bổ sung có tác dụng tương đương Mức thuế đạt được sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm thông qua đàm phán Trong tương lai 95% số hàng hoá trong mậu dịch quốc tế sẽ được điều tiết chủ yếu bằng công cụ thuế quan

Cắt giảm thuế

Từ khi ra đời cho đến nay, GATT, mà nay là WTO, đã bỏ ra rất nhiều nỗ lực để cắt giảm thuế quan đánh vào hàng hoá nhập khẩu Có thể thấy trong tất cả 8 vòng đàm phán từ năm 1947 đến năm 1994, chủ đề chính vẫn là cắt giảm và ràng buộc thuế quan Với các nước phát triển thì việc thực hiện cắt giảm thuế quan không phải

là khó khăn Nhưng với các nước đang phát triển, vốn có nguồn thu ngân sách hạn hẹp và sức cạnh tranh của sản xuất trong nước yếu kém thì đây quả là một vấn đề nan giải Tuy vậy, các thành viên của GATT đã đạt được thoả thuận giảm thuế cho 89.000 hạng mục hàng hoá Riêng ở vòng đàm phán Uruguay, các cam kết cắt giảm

và ràng buộc thuế quan đối với hàng nhập khẩu của các nước thành viên đã lên tới 22.500 trang văn bản

Trang 23

Bảng 1: Mức thuế trung bình trước và sau Vòng Uruguay

Đơn vị: %

Tên nước

Nơi đến Các nước

công nghiệp

Các nước đang phát triển

Các nước có nền kinh tế chuyển đổi

Trư

ớc Sau

Mức giả m

Trư

ớc Sau

Mức giả m

Trư

ớc Sau

Mức giả m

Các nước công nghiệp 5,5 3,0 45 14,9 10,7 28 10,4 7,7 26

Mỹ 4,4 1,9 57 13,6 10,2 25 8,3 6,1 27

EU 5,8 3,5 40 18,4 13,8 25 10,6 7,9 25Nhật 6,2 3,6 42 14,1 9,3 34 14,0 10,9 22Nước khác 4,9 2,4 51 12,4 9,0 35 9,6 7,0 27Nước đang phát triển 6,9 4,8 30 10,0 7,1 29 12,1 8,8 27

Mỹ la-tinh 4,4 3,2 27 13,4 10,1 25 5,1 2,9 43Châu á 7,8 5,2 33 9,6 6,7 30 13,7 9,7 29Châu Mỹ 8,4 6,7 20 2,5 1,1 56 5,0 2,8 44Châu Âu 9,5 7,3 23 18,6 14,9 20 16,0 13,9 13Nước có nền kinh tế

chuyển đổi 5,9 3,6 39 20,8 15,7 25 0,4 0,3 25

Nguồn: World Bank

Việc cắt giảm thuế quan đem đến cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng cơ hội được mua hàng hay thiết bị vật tư đầu vào cùng chất lượng với giá thấp hơn Một khi thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào rẻ hơn thì sản phẩm đầu ra của các nhà sản xuất trong nước cũng có sức cạnh tranh hơn Đồng thời, thuế nhập khẩu giảm sẽ kích thích nhập khẩu Vì thế các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh ngày càng trực diện hơn với hàng ngoại nhập Tuy vậy, có thể rút ra một điều là cắt giảm thuế quan không những đem lại lợi ích cho nước xuất khẩu mà còn khuyến khích các nước nhập khẩu nâng cao được năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của mình một khi họ thực sự cố gắng

Ràng buộc thuế quan

Khi các nước đã công bố biểu thuế của mình cùng với sự cắt giảm thuế thì đồng thời cũng phải cam kết không tăng thuế vượt quá mức đã đưa ra Việc cam kết

Trang 24

không tăng thuế này gọi là Ràng buộc Thuế quan (Tariff Binding) và mức thuế đó gọi là Thuế suất Ràng buộc (Bound Tariff Rates).

Trên thực tế, có thể gặp tới 3 loại ràng buộc thuế quan tương ứng với mức độ ràng buộc:

- Thuế suất ràng buộc cao hơn thuế suất thực tế đang áp dụng Trường hợp này hay gặp ở các nước đang phát triển Mức thuế ràng buộc được gọi là mức thuế trần

Vì giữa mức thuế thực tế và mức thuế trần có một khoảng cách nên nước cam kết ràng buộc thuế hoàn toàn có thể tăng thuế suất thực tế của mình mà vẫn không vi phạm cam kết

- Thuế suất ràng buộc bằng thuế suất thực tế áp dụng

- Thuế suất ràng buộc thấp hơn thuế suất thực tế áp dụng

Hai trường hợp sau thường gặp ở các nước phát triển Các nước này tự tin về khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước mình trước những hàng hoá nhập khẩu chịu thuế suất thấp Vì thế, họ sẵn sàng đưa ra thuế suất ràng buộc bằng, thậm chí thấp hơn thuế suất thực tế áp dụng, thể hiện thiện chí giảm thuế và sự chuẩn bị chu đáo,

kỹ càng trong lịch trình giảm thuế để đạt được thuế suất ràng buộc trong một khoảng thời gian cụ thể

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với 100% các mặt hàng, Hầu như tất cả các hạn chế khác đều được quyền chuyển sang thuế Còn trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển tăng mức cam kết ràng buộc từ 77% lên 99% mặt hàng, các nước đang phát triển cũng tăng từ 21% lên 73%, các nước có nền kinh tế chuyển đổi tăng từ 73% lên 98% Các con số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư

và kinh doanh quốc tế

WTO có thể chấp nhận việc phá bỏ cam kết ràng buộc thuế trong một số trường hợp ngoại lệ nhưng sau đó, nước phá bỏ cam kết ràng buộc thuế phải đền bù cho phần thương mại mà các bạn hàng bị mất đi

Không phân biệt đối xử

Trang 25

Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên của WTO Mà chế độ MFN của WTO, như đã được nghiên cứu ở phần trước, là chế độ MFN đa phương, vô điều kiện Vì thế, nếu một nước, thông qua đàm phán, giảm thuế quan cho một mặt hàng nhất định của một nước khác thì cũng phải giảm thuế quan cho mặt hàng đó của tất cả các thành viên của WTO còn lại một cách vô điều kiện và ngay lập tức Đây là một điều hết sức quý giá vì bất kỳ một quốc gia nào gia nhập WTO vào thời điểm hiện nay sẽ được hưởng ngay lập tức và vô điều kiện kết quả của suốt hơn 50 năm với 8 vòng đàm phán ròng rã cắt giảm thuế quan đa phương mà không phải mất một công sức gì Quốc gia đó đương nhiên được hưởng thuế quan MFN và các ưu đãi liên quan tới thủ tục về thuế khác của tất cả các thành viên của WTO dựa trên cơ sở không phân biệt đối xử

1.2.4 Những quy định về các biện pháp phi thuế quan của WTO

WTO thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp trong nước Ngoài thuế quan ra, các hàng rào cản trở thương mại khác phải bị loại bỏ Tuy nhiên, các thành viên có thể sử dụng các biện pháp phi thuế để hạn chế nhập khẩu trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, văn hoá truyền thống, môi trường, sức khoẻ con người Theo WTO, có những biện pháp phi thuế quan chủ yếu sau:

1.2.4.1 Cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu

Nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO không cho phép các nước sử dụng biện pháp cấm xuất khẩu hay cấm nhập khẩu vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến luồng lưu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia với nhau, hạn chế sự phát triển của thương mại

thế giới Do đó, Điều XI GATT 1994 quy định: "Không một nước thành viên nào được sử dụng một biện pháp cấm hay hạn chế nào trừ thuế quan, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các biện pháp khác nhằm vào việc nhập khẩu từ bất kỳ một nước thành viên khác" (Điều XI.1 - GATT 1994).

1.2.4.2 Hạn ngạch

Hạn ngạch là biện pháp hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu Có hai loại hạn ngạch:

Trang 26

- Hạn ngạch xuất khẩu (Export quotas): Hạn ngạch xuất khẩu là các hạn chế

về giới hạn trần do nước xuất khẩu áp đặt cho tổng giá trị hoặc tổng khối lượng của một số sản phẩm nhất định Hạn ngạch xuất khẩu được đặt ra để bảo vệ các nhà sản xuất và tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời của các sản phẩm và để cải thiện giá của các sản phẩm trên thị trường thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp chúng

- Hạn ngạch nhập khẩu (Import quotas): Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu của những loại hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định, thường là một năm ở các nước phát triển, hạn ngạch nhập khẩu được áp dụng để bảo vệ nông nghiệp, ví dụ hạn ngạch nhập khẩu pho-mát, đường ở Mỹ và EU Còn các quốc gia đang phát triển quy định hạn ngạch nhập khẩu để bảo vệ sản xuất nội địa, hỗ trợ sản xuất hàng thay thế nhập khẩu mà phần lớn là công nghệ chế tạo hay công nghiệp chế biến và để cân bằng cán cân thanh toán

Việc quy định hạn ngạch hoàn toàn không có lợi cho tiêu dùng Xã hội phải bỏ

ra khoản chi phí cho việc bảo hộ sản xuất nội địa kém hiệu quả Hạn ngạch cản trở

tự do lưu thông hàng hoá trên thị trường thế giới Vì vậy, Điều XI GATT 1994 quy

định: "Không một nước thành viên nào được sử dụng một biện pháp cấm hay hạn chế nào trừ thuế quan, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các biện pháp khác nhằm vào việc nhập khẩu từ bất kỳ một nước thành viên khác" (Điều XI.1 - GATT 1994).

Tuy vậy, WTO cũng vẫn cho phép được sử dụng hạn ngạch trong một số trường hợp ngoại lệ: đảm bảo an ninh lương thực (Điều XI.2.a); áp dụng các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại, xếp hạng, tiếp thị các sản phẩm trên thị trường quốc tế (Điều XI.2.b); triển khai các biện pháp của chính phủ được áp dụng đối với nông sản (Điều XI.2.c); bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán (Điều XII); và các ngoại lệ chung: để bảo vệ đạo đức xã hội; để bảo vệ cuộc sống của con người, động vật, thực vật; để bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không bất cập với các quy định của GATT; để bảo vệ di sản quốc gia có giá trị nghệ

Trang 27

thuật, lịch sử hay khảo cổ (Điều XX) hay để bảo vệ các quyền lợi thiết yếu tới an ninh, duy trì hoà bình và an ninh quốc tế (Điều XXI).

Các nước thành viên WTO sau khi đã viện dẫn đến các ngoại lệ nói trên, còn phải cam kết tránh gây tổn hại cho quyền lợi kinh tế của bất kỳ nước thành viên nào Trong trường hợp các hạn ngạch được áp dụng với hàng nhập khẩu có tính chất kéo dài và có thể dẫn tới sự mất thăng bằng chung làm giảm khối lượng thương mại quốc tế thì vấn đề sẽ được đưa ra thảo luận bởi tất cả các thành viên WTO

Khi áp dụng hạn ngạch, các nước còn phải tuân theo nguyên tắc không phân biệt đối xử Tức là việc hạn chế hàng xuất, nhập khẩu phải được áp dụng cho những mặt hàng tương tự xuất khẩu đi hoặc nhập khẩu từ tất cả các nước thành viên WTO (Điều XIII.1)

Điều XIII.2 còn quy định khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu với một sản phẩm, các nước sẽ cố gắng đạt đến sự phân bổ sản phẩm đó gần sát nhất với thực trạng thương mại khi không có hạn ngạch, theo các quy định sau:

- Khi có thể tiến hành được, phải xác định và công bố tổng hạn ngạch cho phép nhập khẩu cũng như công bố mọi thay đổi liên quan

- Khi không thể xác định được tổng hạn ngạch, các hạn chế về số lượng có thể được áp dụng bằng giấy phép nhập khẩu không hạn ngạch để thay thế

- Khi hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất khẩu, nước áp dụng hạn ngạch có thể thoả thuận với các nước có quyền lợi đáng kể trong việc các sản phẩm

đó về mức phân bổ

1.2.4.3 Cấp phép nhập khẩu

Các thủ tục cấp phép nhập khẩu quốc gia có thể tác động không có lợi đến quá trình nhập khẩu, đặc biệt nếu những thủ tục đó không minh bạch hoặc gây chậm trễ không cần thiết trong việc cấp phép Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (Agreement on Import Licensing Procedures - Hiệp định ILP) đề ra những nguyên tắc và quy tắc cụ thể để khẳng định rằng quá trình thương mại quốc tế không bị cản trở do việc áp dụng những thủ tục cấp phép nhập khẩu không thích hợp và những thủ tục đó phải được thực hiện một cách công bằng và hợp lý

Trang 28

Để buôn bán thuận lợi, quan điểm cơ bản của GATT quy định là những đòi hỏi

về thủ tục và lập chứng từ xuất nhập khẩu cần duy trì ở mức tối thiểu Tuy nhiên, GATT thừa nhận rằng thường với những lý do khác nhau, các nước yêu cầu các nhà nhập khẩu phải có giấy phép nhập khẩu Chế độ cấp phép như vậy có thể được áp dụng để quản lý về hạn chế định lượng, trong những trường hợp cần thiết nhất định cho phép các nước thành viên áp dụng những hạn chế ấy Cũng có thể được sử dụng chế độ này để giám sát thống kê thương mại hoặc giá cả của một số hàng hoá nhất định

Điều 1 Hiệp định ILP đề ra những quy tắc cho việc áp dụng và thi hành các thủ tục nhà nước về cấp phép nhập khẩu Hiệp định định nghĩa “việc cấp phép nhập khẩu” là “các thủ tục hành chính … yêu cầu xuất trình đơn xin cấp … cho cơ quan quản lý liên quan, là điều kiện tiên quyết cho việc nhập khẩu… hàng hoá”

Hiệp định ILP bắt buộc các nước thành viên công bố tất cả quy định về thủ tục cấp phép nhập khẩu, để các nhà nhập khẩu, xuất khẩu và chính phủ của họ hiểu biết đầy đủ về: tư cách của những cá nhân, các công ty và các tổ chức làm đơn xin cấp;

cơ quan quản lý hành chính chịu trách nhiệm cấp giấy phép; và những sản phẩm cần có giấy phép

Hiệp định phân định giấy phép nhập khẩu thành hai loại: loại giấy phép tự động và loại giấy phép không tự động Cụ thể:

Cấp phép nhập khẩu tự động (mặc nhiên): Theo chế độ này, các cơ quan hành

chính có thẩm quyền cấp phép một cách tự động mà không được tuỳ ý quyết định

và “giấy phép được cấp trong tất cả các trường hợp” Hiệp định yêu cầu việc chấp thuận hoặc cấp phép lập tức ngay khi chấp nhận đơn và “chỉ trong thời hạn tối đa là

10 ngày làm việc” bất luận trong trường hợp nào (Điều 2 Hiệp định ILP)

Cấp phép nhập khẩu không tự động (có điều kiện): Chế độ cấp phép có điều

kiện được sử dụng cho mục đích chủ yếu của chính phủ là hạn chế nhập khẩu Chính phủ có thể thực hiện điều này bằng cách thông báo hạn ngạch hoặc giới hạn định lượng áp dụng đối với hàng hoá hạn chế Hiệp định đòi hỏi giấy phép nhập khẩu phải được cấp trong vòng 30 ngày kể từ lúc nhận đơn, thủ tục nơi cấp phép

Trang 29

quy định rằng giấy phép được cấp trên cơ sở “đến trước giải quyết trước” Trường hợp trong vòng 60 ngày tính từ ngày ngừng nhận đơn xin cấp phép thì giấy phép được cấp trên cơ sở “được xem xét đồng thời” (Điều 3 Hiệp định ILP).

1.2.4.4 Các biện pháp kiểm dịch động thực vật

Thuật ngữ “Quy định kiểm dịch động vật” chỉ các quy định có mục tiêu cơ bản nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm, ngăn chặn các bệnh tật lây truyền qua động vật không cho phép nhập khẩu vào một quốc gia Còn “Quy định kiểm dịch thực vật” là các quy định nhằm ngăn chặn những căn bệnh lây truyền qua thực vật

Theo Phụ lục A của Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịnh động thực vật (Agreement on the Application of Sanitary and Phytosanitary Measures - Hiệp định SPS), các biện pháp kiểm dịch động thực vật được các nước áp dụng để bảo vệ: (i) cuộc sống của con người hoặc vật nuôi khỏi rủi ro do lương thực gây ra do việc sử dụng chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, độc tố hoặc các tổ chức gây bệnh (và

do đó đảm bảo được an toàn thực phẩm); (ii) sức khoẻ con người khỏi các bệnh lây nhiễm từ vật nuôi hoặc cây trồng; (iii) vật nuôi và cây trồng khỏi các loại sâu và dịch bệnh

Quy định về việc sử dụng các biện pháp kiểm dịch được nêu trong Hiệp định SPS yêu cầu các quốc gia thành viên phải:

(i) Hướng dẫn xây dựng các biện pháp SPS căn cứ vào các tiêu chuẩn chỉ dẫn

và khuyến nghị quốc tế được các tổ chức sau xây dựng: Uỷ ban dinh dưỡng Codex; Văn phòng quốc tế về bệnh dịch động thực vật; Các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan, hoạt động trong khuôn khổ Công ước Bảo vệ Thực vật quốc tế; hoặc Bất

kỳ tổ chức quốc tế nào khác do Uỷ ban về SPS của WTO uỷ quyền (Lời tựa Hiệp định SPS);

(ii) Tham gia đầy đủ vào hoạt động của các tổ chức quốc tế nêu trên nhằm thúc đẩy việc hài hoà các biện pháp SPS trên bình diện quốc tế (Điều 3.4 Hiệp định SPS);

(iii) Tạo cơ hội cho các bên liên quan ở các nước thành viên khác góp ý cho

dự thảo các tiêu chuẩn nếu các tiêu chuẩn đó không có cơ sở là các tiêu chuẩn quốc

Trang 30

tế, hoặc đi chệch khỏi các tiêu chuẩn quốc tế hoặc khi không có tiêu chuẩn quốc tế liên quan (Điều 5 Hiệp định SPS);

(iv) Chấp nhận các biện pháp SPS của nước xuất khẩu nếu các biện pháp đó đạt cùng mức độ bảo vệ SPS và tham gia, khi có thể, vào các thảo thuận thừa nhận lẫn nhau về tính tương đương của các biện pháp kiểm dịch động thực vật cụ thể (Điều 4 Hiệp định SPS)

Hiệp định SPS yêu cầu các nước thành viên:

(1) “Đảm bảo biện pháp kiểm dịch động thực vật của các nước thành viên phù hợp với các đặc điểm kiểm dịch động thực vật của một vùng - hoặc trong cả nước, hoặc một vùng trong một nước, hoặc các vùng của một vài nước - từ đó sản xuất ra sản phẩm hoặc là nơi sản phẩm sẽ được xuất đến” (Điều 6.1) Các đặc điểm này phải được xác định, căn cứ vào mức độ phổ biến của những bệnh dịch và sâu bệnh

cụ thể; và; (2) Không áp dụng các biện pháp SPS gây phân biệt đối xử vô căn cứ hoặc tuỳ tiện giữa các nước thành viên hoặc khu vực nếu như có các điều kiện tương đồng áp đặt hoặc tạo ra những hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế (Điều 2.3)

Tuy nhiên cần lưu ý rằng những linh hoạt trong việc cho phép không áp dụng nguyên tắc MFN chỉ được thực hiện đối với các biện pháp SPS có mục đích ngăn ngừa việc xâm nhập của các loại dịch và sâu bệnh gây ra bởi động thực vật vào nước thành viên Các biện pháp SPS nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm (ví dụ như các quy định về chất phụ gia, sự nhiễm bẩn hoặc mức độ chất không phân huỷ cho phép) phải được áp dụng trên cơ sở MFN

1.2.4.5 Hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Để tìm hiểu vấn đề thuộc về kỹ thuật này, trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ các khái niệm về các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp của các tiêu chuẩn quy định đó, cụ thể:

(1) Các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật

Các quy định quốc tế áp dụng cho các tiêu chuẩn sản phẩm được sử dụng trong thương mại hàng hoá và các thủ tục sử dụng cho việc đánh giá sự phù hợp với

Trang 31

các tiêu chuẩn đó được quy định trong Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade - Hiệp định TBT) Hiệp định đã sử dụng thuật ngữ “quy định kỹ thuật để chỉ các tiêu chuẩn mà việc tuân thủ là bắt buộc Còn thuật ngữ “tiêu chuẩn kỹ thuật” thì được sử dụng để dùng cho các tiêu chuẩn không bắt buộc (tiêu chuẩn tự nguyện) (Phụ lục 1 - Hiệp định TBT).

Cả hai thuật ngữ đó bao hàm: (i) Các đặc tính của sản phẩm bao gồm cả những đặc tính liên quan đến chất lượng; (ii) Quy trình và các phương pháp sản xuất (PPMs) có ảnh hưởng đến đặc tính của sản phẩm; (iii) Thuật ngữ và ký hiệu;

và (iv) Các yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn mác được áp dụng cho các sản phẩm

(2) Đánh giá sự phù hợp

Hiệp định TBT định nghĩa các thủ tục đánh giá tính phù hợp là “bất kỳ một thủ tục nào được áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định rằng các yêu cầu liên quan trong các quy định kỹ thuật hay các tiêu chuẩn được thực hiện hay không” Việc đánh giá sự phù hợp với các tiêu chuẩn bằng cách mời cơ quan trung gian thứ

ba thực hiện theo cách thức sau: kiểm nghiệm sản phẩm, chứng nhận sản phẩm sau khi giám định, đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và các thủ tục công nhận năng lực:

- Kiểm nghiệm sản phẩm: Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO) định nghĩa một phép kiểm nghiệm, trong khuôn khổ đánh giá tính phù hợp, là “Một thao tác kỹ thuật bao gồm việc xác định một hay nhiều đặc điểm của một sản phẩm, một công đoạn hay dịch vụ nhất định theo một quy trình quy định”

- Chứng nhận sản phẩm sau khi giám định: ISO định nghĩa chứng nhận là một

“thủ tục do một bên thứ ba đưa ra đảm bảo bằng văn bản là một sản phẩm, quá trình hay dịch vụ phù hợp với các yêu cầu quy định”

- Đánh giá hệ thống quản lý chất lượng: là việc đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng do một bên thứ ba thực hiện nhằm đảm bảo với người mua là nhà sản xuất có hệ thống hiệu quả và ổn định để có khả năng sản xuất sản phẩm có chất lượng và ổn định Đó là một công cụ quản lý sản xuất để kiểm định và giám sát các

Trang 32

biến đổi trong quá trình sản xuất mà dẫn tới những khiếm khuyết của sản phẩm Hệ thống đảm bảo chất lượng được biết đến tốt nhất là các bộ tiêu chuẩn ISO 9000.

- Các thủ tục chứng nhận năng lực: Ngành sản xuất và người tiêu dùng đều tin tưởng vào các hệ thống đảm bảo phù hợp chất lượng nếu năng lực của phòng kiểm nghiệm, các đơn vị chứng nhận sản phẩm hay cơ quan đăng ký đảm bảo chất lượng được một cơ quan kỹ thuật độc lập chứng nhận Thủ tục do các cơ quan kỹ thuật độc lập như vậy tiến hành đánh giá và công nhận chính thức năng lực chuyên môn của các cơ quan đánh giá sự phù hợp đã đề cập ở trên được coi là “các thủ tục chứng nhận năng lực” Những đơn vị chứng nhận nhìn chung là các cơ quan chuyên môn hay các hiệp hội của các ngành công nghiệp tư nhân Tuy nhiên, tại một số nước, quyền chứng nhận là thuộc một cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia hay một đơn

vị độc lập cùng hợp tác cấp

Điều 2.1 Hiệp định TBT đưa ra một số nguyên tắc và quy tắc, theo đó yêu cầu các cơ quan quản lý đảm bảo là những tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật gồm các yêu cầu bao bì, ký mã hiệu và dán nhãn, và các thủ tục được tiến hành để đánh giá tính phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn đó được áp dụng sao cho không phân biệt đối xử giữa các sản phẩm nhập khẩu theo xuất xứ (nguyên tắc MFN), không dành cho các sản phẩm các sản phẩm nhập khẩu đối xử kém ưu đãi hơn các sản phẩm được sản xuất trong nước (nguyên tắc NT) Đồng thời, Điều 2.2 quy định rằng các tiêu chuẩn bắt buộc đối với các sản phẩm cần phải được các nước áp dụng sao cho không tạo ra các cản trở không cần thiết cho thương mại quốc tế Hơn thế nữa, các tiêu chuẩn bắt buộc này phải được dựa trên các thông tin và chứng cớ khoa học.Hiệp định cho rằng mục đích này có thể đạt được nếu các nước áp dụng, khi

có thể và thích hợp, các tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình xây dựng các quy định

kỹ thuật của họ hay trong quá trình hình thành và phát triển các tiêu chuẩn quốc gia

tự nguyện Hiệp định (Điều 2.5 và 2.6) kêu gọi các nước thành viên sử dụng những chỉ dẫn và khuyến nghị do các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế xây dựng nên như một cơ sở cho các thủ tục đánh giá sự phù hợp của các nước

1.2.5 Những quy định về các lĩnh vực cụ thể khác của WTO

Trang 33

1.2.5.1 Định giá hải quan

Điều 1 Hiệp định trị giá tính thuế hải quan của WTO (Customs Value Agreement - Hiệp định CVA) quy định “trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải

là trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hoá được bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu” (ví dụ: giá hoá đơn)

Trị giá giao dịch này có thể được điều chỉnh, khi cần thiết, bao gồm một số khoản thanh toán mà người mua phải trả như chi phí bao bì đóng gói và container, giá trị hàng hoá hoặc dịch vụ hỗ trợ, phí bản quyền và xin phép sử dụng bằng sáng chế Các quy tắc này cũng quy định sẽ không đưa vào trị giá tính thuế tiền hoa hồng mua hàng hoặc chiết khấu đặc biệt dành cho đại lý độc quyền (Điều 8 Hiệp định CVA)

Tuy nhiên, hải quan có quyền không công nhận trị giá giao dịch nếu họ có lý

do để nghi ngờ tính chân thực và tính chính xác của trị giá mà người nhập khẩu kê khai hoặc của hồ sơ mà người nhập khẩu xuất trình Để bảo vệ lợi ích của người nhập khẩu trong những trường hợp như vậy, hải quan phải cho người nhập khẩu cơ hội biện minh giá của họ Nếu hải quan không chấp nhận sự biện minh của người nhập khẩu thì buộc phải đưa ra những lý lẽ bằng văn bản giải thích việc hải quan không chấp nhận trị giá giao dịch mà người nhập khẩu đã kê khai

Khi trị giá giao dịch không được hải quan chấp nhận, Hiệp định CVA đưa ra bốn tiêu chuẩn định giá hải quan khác Hiệp định còn nhấn mạnh rằng các tiêu chuẩn này cần phải được áp dụng theo thứ tự nêu ra trong văn bản Hiệp định này và chỉ khi hải quan thấy rằng tiêu chuẩn thứ nhất không thể áp dụng được thì mới áp dụng lần lượt các tiêu chuẩn tiếp theo, cụ thể:

(1) Trị giá giao dịch của các hàng hoá giống hệt: Khi trị giá hàng hoá không thể xác định trên cơ sở trị giá giao dịch, nó cần phải được xác định trên cơ sở trị giá giao dịch đã được xác định trước đó của một loại hàng hoá giống hệt như vậy (Điều

2 Hiệp định CVA)

Trang 34

(2) Trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự: Khi không thể xác định trị giá hàng hoá trên cơ sở phương pháp nói trên, cần phải xác định trị giá trên cơ sở trị giá giao dịch của loại hàng tương tự (Điều 3 Hiệp định CVA).

(3) Trị giá khấu trừ: Trị giá khấu trừ được xác định trên cơ sở đơn giá bán trên thị trường nội địa của hàng nhập khẩu đang cần xác định trị giá hoặc của loại hàng hoá giống hệt hoặc tương tự sau khi đã trừ đi các như lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác, phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí phát sinh khác trong lãnh thổ nước nhập khẩu (Điều 5 Hiệp định CVA)

(4) Trị giá tính toán: Trị giá tính toán được xác định bằng cách cộng thêm vào giá thành mặt hàng đang được định giá “một khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với khoản lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại với hàng cần xác định trị giá được sản xuất bởi nhà sản xuất

ở nước xuất khẩu với mục đích xuất khẩu sang nước nhập khẩu” (Điều 6 Hiệp định CVA)

Khi xác định trị giá trên cơ sở những phương pháp này, hải quan phải tham khảo và lưu tâm đến ý kiến của người nhập khẩu

1.2.5.2 Giám định trước khi gửi hàng

Việc giám định trực tiếp hàng hoá là một phần quan trọng trọng hoạt động xuất khẩu Nó bảo đảm giá mà người xuất khẩu đưa ra trong hoá đơn phản ánh đúng giá trị thực của hàng hoá và không có sự khai vượt hoặc khai thấp đi giá hoá đơn Việc giám định như vậy đảm bảo cho người nhập khẩu rằng hàng hoá mà họ đặt hàng đáp ứng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng nêu trong hợp đồng, do đó

sẽ góp phần làm giảm tranh chấp sau khi hàng hoá đã đến đích Việc giám định này cũng góp phần tránh được việc nhập khẩu những hàng hoá được coi là có hại cho sức khoẻ do đó không được phép bán ở lãnh thổ nhập khẩu (ví dụ: hoá chất và dược phẩm bị cấm, các sản phẩm thực phẩm không đạt tiêu chuẩn)

Hiệp định về Giám định trước khi gửi hàng (Ageement on Preshipment Inspection - Hiệp định PSI) thừa nhận rằng một số nước đang phát triển sử dụng dịch vụ PSI, và cho phép họ sử dụng dịch vụ này cho tới khi nào “việc giám định số

Trang 35

lượng, chất lượng và giá cả của hàng hoá nhập khẩu còn cần thiết” (Lời mở đầu Hiệp định) Mục tiêu cơ bản của Hiệp định là đưa ra một tập hợp các nguyên tắc và quy tắc mà các nước sử dụng dịch vụ PSI và các nước xuất khẩu phải tuân theo nhằm đảm bảo hoạt động của họ không tạo ra các rào cản đối với hoạt động thương mại, tức là không đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của WTO về tự do hoá mậu dịch.Các nghĩa vụ mà Hiệp định PSI đặt ra đối với các nước đang sử dụng dịch vụ PSI là nhằm mục đích giảm thiểu hoặc xoá bỏ các vấn đề trong thực tiễn người xuất khẩu thường gặp phải, do việc các công ty PSI trì hoãn trong việc giám định kỹ thuật và xác minh giá, sự thiếu rõ ràng trong quy trình mà họ tuân theo và và việc

xử lý các thông tin mật Với mục đích này, Hiệp định PSI bao gồm các quy định:

- Không phân biệt đối xử: Các quy trình và tiêu chí phải được áp dụng trên cơ

sở bình đẳng đối với tất cả những người xuất khẩu Phải có một sự thực hiện thống nhất về giám định giữa những người giám định (Điều 2.1 Hiệp định PSI)

- Đối xử quốc gia: Các nước sử dụng dịch vụ PSI không được áp dụng những

quy định của quốc gia theo cách thức dẫn đến sự đối xử kém thuận lợi đối với hàng hoá đang được giám định so với các hàng hoá tương tự sản xuất trong nước (Điều 2.2)

- Địa điểm giám định: Việc giám định về mặt kỹ thuật sẽ được tiến hành ở

nước xuất khẩu, và chỉ khi điều đó không có tính khả thi thì sẽ được tiến hành ở nước sản xuất (Điều 2.3)

- Các tiêu chuẩn: Việc giám định chất lượng và số lượng hàng hoá phải được

thực hiện theo đúng các tiêu chuẩn thống nhất giữa người mua và người bán, và nếu không có, thì sẽ được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế (Điều 2.4)

- Tính minh bạch: Tính minh bạch phải được đảm bảo bằng cách cung cấp cho

người xuất khẩu những thông tin về luật và các quy định của nước sử dụng dịch vụ PSI, quy trình và các tiêu chí sử dụng trong khi giám định hàng hoá (Điều 2.5 đến 2.8)

- Việc bảo vệ các thông tin mật: Thông tin mật sẽ không được phép để lộ cho

bên thứ ba (Điều 2.5 đến 2.13)

Trang 36

- Việc trì hoãn: Phải tránh những trì hoãn vô lý (Điều 2.15 đến 2.19).

- Xác minh giá: Để xác định giá xuất khẩu có phán ánh trị giá thực của hàng

hoá hay không, các công ty PSI phải so sánh giá này với giá của hàng hoá giống hệt hoặc tương tự được chào bán xuất khẩu từ cùng một nước xuất khẩu tới (i) nước nhập khẩu hoặc (ii) các thị trường khác

1.2.5.3 Quy tắc xuất xứ

Mục đích áp dụng những quy tắc để xác định nước xuất xứ

Vì sao chính phủ lại cần phải xác định xuất xứ của hàng nhập khẩu? Có 3 tình huống cần thiết:

Thứ nhất, đối với những hàng nhập khẩu theo những hiệp định ưu đãi: Nước nhập khẩu phải đảm bảo áp dụng thuế suất thấp hoặc ưu đãi đối với sản phẩm xuất

xứ từ những nước được hưởng ưu đãi Do đó họ cần bằng chứng chứng minh rằng hàng nhập khẩu nếu không phải toàn bộ thì ít nhất cũng là phần chủ yếu được chế tạo hay chuyển dạng tại nước được hưởng ưu đãi

Thứ hai, đối với hàng nhập khẩu theo biểu thuế Tối huệ quốc, việc xác định xuất xứ thường là không cần thiết, vì thuế nhập khẩu đó được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng nhập từ mọi nguồn

Thứ ba, việc xác định xuất xứ cũng còn cần thiết để thu thập số liệu thống kê thương mại

Phạm vi và mục tiêu áp dụng

Các điều khoản của Hiệp định về Quy tắc xuất xứ hàng hoá (Agreement on Rules of Origin - Hiệp định ROA) áp dụng cho “luật lệ, quy định và quyết định hành chính của việc áp dụng chung do bất cứ thành viên nào áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hoá” nhập khẩu trên cơ sở Tối huệ quốc Hiệp định ROA nêu cụ thể rằng những điều khoản Hiệp định không áp dụng cho việc nhập khẩu theo thoả thuận ưu đãi

Mục tiêu cơ bản của Hiệp định là đòi hỏi các nước vận dụng một hệ thống quy tắc thống nhất hài hoà để xác định xuất xứ hàng hoá nhập khẩu trên cơ sở Tối huệ

Trang 37

quốc Vì công tác kỹ thuật để triển khai các quy tắc này cần phải có thời gian, Hiệp định đưa ra 2 hệ thống điều khoản (Điều 2 và Điều 3 - Hiệp định ROA):

Hệ thống thứ nhất đưa ra những quy định các nước phải tuân thủ trong thời kỳ chuyển đổi, tức là cho tới khi các quy tắc mới hài hoà hoá có hiệu lực Trong thời

kỳ chuyển đổi, các nước có quyền lựa chọn áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau tuỳ theo mục đích hay mục tiêu áp dụng các quy tắc này

Hệ thống thứ hai được áp dụng sau thời kỳ chuyển đổi Hệ thống này đề ra những nguyên tắc và hướng dẫn về công tác kỹ thuật cho quá trình hài hoà hoá các quy tắc xuất xứ Sau thời kỳ chuyển đổi, các tiêu chuẩn hài hoà hoá được nghiên cứu trên cơ sở từng sản phẩm một đều áp dụng thống nhất bất kể mục đích sử dụng của chúng Nói cách khác, một nước không có quyền lựa chọn áp dụng một hệ thống tiêu chuẩn để xác định xuất xứ vì mục đích quản lý hạn chế số lượng và một

bộ tiêu chuẩn khác để thể hiện xuất xứ qua việc dán nhãn

1.2.5.4 Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

Các chính phủ thường hay đặt ra các điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài

để khuyến khích đầu tư theo một số ưu tiên quốc gia nhất định Những điều kiện có thể tác động đến thương mại được gọi là các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)

Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Agreement on Trade-Related Investment Measures - Hiệp định TRIMS) được đàm phán tại Vòng Uruguay đòi hỏi các quốc gia phải huỷ bỏ TRIMs từng bước vì chúng được coi là không nhất quán đối với các quy tắc GATT Thời kỳ huỷ bỏ từng bước đối với các nước phát triển là 2 năm kể từ ngày 1/1/1995 Các nước đang phát triển thời kỳ chuyển đổi là 5 năm, các nước chậm phát triển là 7 năm

Trang 38

quốc gia nhất định, ví dụ như những đòi hỏi về hàm lượng nội địa yêu cầu nhà đầu

tư phải đảm nhận sử dụng đầu vào của địa phương sản xuất hay những đòi hỏi về xuất khẩu, buộc nhà đầu tư phải xuất khẩu một tỷ lệ nhất định sản lượng Những điều kiện như vậy có thể tác động bất lợi đối với thương mại, được coi là những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, còn gọi là TRIMs

Dưới đây là danh mục minh hoạ về TRIMs (nhưng không phải tất cả các TRIMs đều bị cấm sử dụng theo Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO):

(1) Những yêu cầu về hàm lượng nội địa (tiếng Anh viết tắt là LCRs): Đặt ra việc sử dụng một số lượng nhất định đầu vào của địa phương trong sản xuất

(2) Những yêu cầu về cân đối thương mại: Buộc nhập khẩu phải có một tỷ lệ tương đương với xuất khẩu

(3) Những yêu cầu về cân đối ngoại hối: Quy định ngoại hối cần cho nhập khẩu phải giữ tỷ lệ nhất định với giá trị ngoại hối của công ty thu được từ xuất khẩu

Trang 39

(7) Những yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu (tiếng Anh viết tắt là EPRs): quy định rằng một tỷ lệ nhất định trong sản lượng phải dành cho xuất khẩu.

(8) Những yêu cầu bắt buộc về loại sản phẩm: buộc nhà đầu tư cung cấp sản phẩm nhất định cho thị trường nhất định hoặc chỉ định những sản phẩm được chế tạo từ một cơ sở hay một hoạt động sản xuất

(9) Những hạn chế về sản xuất: không cho phép các công ty được chế tạo một

số sản phẩm hay một nhóm sản phẩm nhất định tại nước nhận đầu tư

(10) Những yêu cầu về chuyển giao công nghệ: yêu cầu những công nghệ cụ thể phải được chuyển giao trên cơ sở theo điều kiện phi thương mại và/hoặc những mức độ và loại hình thái nhất định nghiên cứu và phát triển (R&D) phải được tiến hành tại địa phương

(11) Những yêu cầu về cho phép sử dụng phát minh sáng chế: buộc nhà đầu tư cấp phép cho những công nghệ tương tự hoặc không liên quan đến những công nghệ họ sử dụng tại nước chủ đầu tư cho các công ty của nước nhận đầu tư

(12) Những hạn chế về chuyển lợi nhuận: Giới hạn quyền của nhà đầu tư nước ngoài chuyển lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài

(13) Những yêu cầu về tỷ lệ góp vốn của công ty trong nước: quy định rằng một tỷ lệ nhất định trong tài sản của công ty phải do chủ đầu tư trong nước sở hữu

Các biện pháp TRIMs bị cấm sử dụng:

Điều 2 và Phụ lục Hiệp định TRIMS được đàm phán tại Vòng Uruguay cấm các nước sử dụng 5 biện pháp TRIMs đầu tiên nêu trong danh mục trên Những bảo đảm đó được xem như là không nhất quán với các Điều III và Điều IX của GATT về đối xử quốc gia và chống lại việc sử dụng những hạn chế về số lượng:

- Hai biện pháp TRIMs bị cấm do muốn dành ưu đãi hơn nữa cho các sản phẩm nội địa so với nhập khẩu, do đó vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia bao gồm:(i) Doanh nghiệp mua và sử dụng những sản phẩm có xuất xứ trong nước hoặc

từ những nguồn trong nước (những đòi hỏi về hàm lượng nội địa); hoặc

Trang 40

(ii) Việc doanh nghiệp mua hay sử dụng những sản phẩm nhập khẩu phải hạn chế ở mức tương ứng với khối lượng hay giá trị của sản phẩm địa phương mà doanh nghiệp đó xuất khẩu (những đòi hỏi về cân đối thương mại).

- Ba biện pháp TRIMs bị coi là sử dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu không nhất quán với GATT 1994 bao gồm:

(iii) Hạn chế nhập khẩu ở mức tương ứng với số lượng hoặc trị giá của sản phẩm xuất khẩu (tức là những đòi hỏi cân đối thương mại tạo nên những hạn chế nhập khẩu)

(iv) Hạn chế khả năng tiếp cận ngoại hối của doanh nghiệp (tức là hạn chế ngoại hối để tạo nên hạn chế nhập khẩu)

(v) Quy định tỷ lệ xuất khẩu tương đối ngang với khối lượng hay trị giá sản xuất tại địa phương (nghĩa là đòi hỏi tiêu thụ ở địa phương do vậy hạn chế xuất khẩu)

1.2.5.5 Trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Theo Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng (Agreement on Subsidies and Countervailing Measures - Hiệp định SCM), một ngành sản xuất

được coi là hưởng trợ cấp khi lợi ích được dành cho ngành đó dưới hình thức: (i)

Giao vốn trực tiếp của chính phủ (chẳng hạn cấp vốn, các khoản cho vay hoặc góp vốn cổ phần) hoặc chính phủ bảo lãnh các khoản vay; (ii) Chính phủ miễn những khoản thu lẽ ra phải đóng; và (iii) Chính phủ cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ, hay mua hàng

Khái niệm lợi ích là rất quan trọng để xác định xem một biện pháp có phải là

biện pháp trợ cấp hay không Mặc dù Hiệp định chỉ đưa ra hướng dẫn sơ lược về điểm này, song theo quy tắc chung có thể nói rằng một hành động của chính phủ không nhất quán với những tính toán mang tính thương mại được xem như là ban cho một lợi ích Do đó, việc góp vốn theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân không thể chấp nhận hay một khoản vay theo điều kiện có lợi hơn do ngân hàng thương mại đưa ra, hay những điều khoản về hàng hoá hoặc dịch vụ do chính phủ đưa ra

Ngày đăng: 20/11/2014, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
2. Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế
3. Kết quả vòng đàm phán Uruguay về hệ thống thương mại đa biên. Bộ thương mại, Vụ chính sách thương mại đa biên. NXB Thống kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả vòng đàm phán Uruguay về hệ thống thương mại đa biên
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Bộ ngoại giao, Vụ hợp tác kinh tế đa phương, NXB Chính trị Quốc gia, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
5. Các quy định quốc tế về thương mại hàng hoá trong WTO (GATT 1994 và các Hiệp định kèm theo). Bộ phận hội nhập Bộ Ngoại giao 10/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định quốc tế về thương mại hàng hoá trong WTO (GATT 1994 và các Hiệp định kèm theo)
6. Hướng dẫn doanh nghiệp về Hệ thống thương mại thế giới. Trung tâm thương mại quốc tế – Ban thư ký khối thịnh vượng chung. NXB Chính trị quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn doanh nghiệp về Hệ thống thương mại thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
7. Từ “Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT” chuyển sang “Tổ chức thương mại thế giới WTO”. Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO). Hà Nội, ngày 25/02/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ “Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT” chuyển sang "“Tổ chức thương mại thế giới WTO”
8. Chuyên đề về ASEAN, APEC, WTO – Một số vấn đề pháp lý về tổ chức và hợp tác. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về tổ chức và hợp tác
9. Tìm hiểu Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ & Quy chế thương mại đa phương. Phạm Minh NXB Thống kê 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ & Quy chế thương mại đa phương
Nhà XB: NXB Thống kê 2001
10. Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 (Dự thảo 15), Bộ Tư pháp. Hà Nội, tháng 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 (Dự thảo 15)
12. Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế. Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế. NXB Chính trị quốc gia 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia 2000
13. Tài liệu nghiên cứu: Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và Hiệp định về các biện pháp tự vệ, thuế chống phá giá và thuế đối kháng. Bộ ngoại giao, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và Hiệp định về các biện pháp tự vệ, thuế chống phá giá và thuế đối kháng
15. Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển pháp luật về thương mại và hàng hải quốc gia và quốc tế trong điều kiện Việt Nam hội nhập khu vực và thế giớ. Ban chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Thị Mơ, PGS.TS. Hoàng Ngọc Thiết, TS. Mai Hồng Quỳ, LS. Võ Nhật Thăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển pháp luật về thương mại và hàng hải quốc gia và quốc tế trong điều kiện Việt Nam hội nhập khu vực và thế giớ
16. Các tổ chức quốc tế và Việt Nam - Bộ ngoại giao - Vụ các tổ chức quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức quốc tế và Việt Nam
17. Giáo trình Tư pháp quốc tế - TS. GVC. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) - ĐHQG Hà Nội, Khoa Luật - NXB ĐHQG Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
18. Hội thảo khoa học quốc tế: “Tổ chức Thương mại Thế giới và cải cách pháp luật ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật cùng Bộ Thương mại phối hợp với Trung tâm Trao đổi pháp luật Châu á của Trường Đại học Nagoya Nhật Bản tổ chức ngày 27-28/6/2003 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức Thương mại Thế giới và cải cách pháp luật ở Việt Nam”
21. Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước - NXB Chính trị quốc gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước -
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
22. Tổ chức Thương mại Thế giới - Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp - Bộ thương mại, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức Thương mại Thế giới - Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp
23. Giáo trình Luật thương mại Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội - NXB Công an nhân dân, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
25. Đánh giá sơ bộ về Luật Thương mại của Việt Nam - Thomas W.Huang Cộng sự Văn phòng Luật Burns & Levínon, Boston, MA, Hoa Kỳ - Hội thảo UNDP/BTM về sửa đổi Luật Thương mại, Hà Nội, 3/11/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sơ bộ về Luật Thương mại của Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức thuế trung bình trước và sau Vòng Uruguay - Luận văn Hoàn thiện pháp luật về thương mại khi việt nam gia nhập wto
Bảng 1 Mức thuế trung bình trước và sau Vòng Uruguay (Trang 23)
Bảng 3: Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số mặt hàng - Luận văn Hoàn thiện pháp luật về thương mại khi việt nam gia nhập wto
Bảng 3 Tác động của thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số mặt hàng (Trang 64)
Bảng 5: Sự phù hợp của quy định cấm xuất khẩu, nhập khẩu - Luận văn Hoàn thiện pháp luật về thương mại khi việt nam gia nhập wto
Bảng 5 Sự phù hợp của quy định cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w