TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
Trang 1Hơn hai ngàn năm trước, trong khi châu Âu còn nằm trong bóng tối của sự man rợ, Hy Lạp đang mở rộng ảnh hưởng chính trị và văn hóa của mình thì Trung Hoa đã là một xã hội tổ chức tương đối có kỷ cương với nếp sinh hoạt văn hóa cao nhất từ trước tới nay Đó là nhận định được nhiều học giả phương Tây cùng chia sẻ
Thời Xuân Thu của Trung Hoa kéo dài từ năm 722 tới năm 481 trước công nguyên Trong tình trạng triền miên loạn lạc của Trung Hoa, xuất hiện nhiều triết gia với nhiều lý thuyết khác nhau, được gọi là Bách gia chư tử Vượt lên trên các triết gia ấy, Lão Tử — cùng Khổng Tử — là hai nhân vật nổi bật nhất Với cuốn Đạo Đức Kinh, Lão Tử là người đầu tiên tại Trung Hoa đưa ra một quan niệm về
vũ trụ Những lời trong cuốn sách nhỏ ấy của ông thấm sâu vào dân tộc Trung Hoa, làm cốt lõi của văn hóa Trung Hoa, vừa tạo thú sống cho tao nhân quân tử vừa như một tôn giáo cho giới bình dân ngưỡng vọng
Nền minh triết của Đạo Đức Kinh cũng được khai triển bởi các danh gia tự xem là môn đệ của Lão Tử, về sau trở thành một nền học thuật rồi dần dà biến thành một tôn giáo thần bí Tại phương Tây, từ khoảng một trăm năm nay, Lão
Tử ngày càng có mặt trong phạm vi nghiên cứu của nhiều học giả thuộc bộ môn triết ở các đại học, cho tới các trí thức muốn tìm cho mình một lối suy tư và sống thanh thoát giữa lòng xã hội bị cơ khí hóa và mê thích tiêu thụ
Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Tư tưởng triết học của Đạo gia, những giá trị
và hạn chế của nó” làm đề tài nghiên cứu
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng triết học Đạo gia mà điển hình là Đức Lão Tử và Trang Tử, những giá trị và hạn chế trong trường phái triết học Đạo gia
Trang 2Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của Đạo giáo, phân tích quan niệm biện chứng về thế giới của Đạo giáo cũng như thuyết vô vi
III Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiểu luận là phương pháp tổng hợp các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử , đặc biệt là logic
và phân tích, tổng hợp gắn với lý luận thực tiễn để thực hiện đề tài Trong quá trình nghiên cứu trình bày đề tài, có sự tham khảo những công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài
IV Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tham khảo về tư tưởng nhân sinh quan triết học về Đạo giáo
V Kết cấu đề tài.
Đề tài gồm 3 phần:
Phần A: Mở đầu
Phần B: Nội dung
Chương I: Quá trình hình thành và phát triển của Đạo giáo
Chương II: Tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia Phần C: Kết luận
B.NỘI DUNG Chương 1: Tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia
I Xuất xứ Đạo giáo
Đạo giáo (tiếng Trung: 道教), Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này Nguồn
Trang 3gốc lịch sử được xác nhận nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia (道家)
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản
Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật
và địa lí
II Những tư tưởng triết học của Đạo gia.
Tiểu sử đức Lão Tử
Theo Sử Ký Tư Mã Thiên ( 145-86 trước CN), phần Liệt truyện, thiên 63 Lão
Tử là người nước Sở, xóm Khúc Nhân, làng Lệ,huyện Khổ, tỉnh Hồ Nam bây giờ Ngài họ Lý tên Nhĩ (tai) tự Bá Dương, thụy (tên sau khi chết) là Đam ( tai dài) làm quan giữ chức Thủ tàng thất, tức coi kho sách dưới thời nhà Châu tức vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Tây Lịch
Thân thế Đức Lão Tử tìm thấy trong sử sách chỉ có rất ít thông tin cùng với tác phẩm Đạo Đức Kinh còn lưu truyền đến ngày nay
Trang 41.1 Lý luận về Đạo và Đức.
1.1.1 Đạo.
Ý nghĩa chữ Đạo giữ một vai trò trọng tâm trong toàn bộ hệ thống triết học Lão Giáo Đức Lão Tử cho rằng Đạo là bản nguyên của vũ trụ, phi cảm tính, phi
ngôn ngữ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để chỉ con đường, quy luật chung
của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới
Ngài dạy:“Đạo sanh nhứt, nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật.
Vạn vật phụ âm nhi bão dương , xung khí dĩ vi hòa.” Chương 42, Đạo Đức Kinh (ĐĐK).
Như vậy Đạo là cái có trước Trời Đất, muôn loài vạn vật đều sinh ra từ Đạo nhưng khi có sự can thiệp của con người thì đạo không còn là đạo nữa Lão Tử
đã viết: “Có vật gì hỗn độn mà nên, sinh ra trước trời đất, vừa trống không vừa lặng yên, đứng một mình không thay đổi, lưu hành khắp mọi nơi mà không mỏi,
là mẹ cả thiên hạ” (Chương 25, ĐĐK)
1.1.2 Đức.
Đức là một phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của Đạo, là cái hình thức nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với nhau, là cái
lý sâu sắc để nhận biết vạn vật.
1.1.3 Mối tương quan giữa Đạo và Đức
Chương 51,ĐĐK Ngài Viết: “Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở vạn vật(…)” ;
Đạo sinh ra vạn vật, thì Đức bao bọc dưỡng nuôi vạn vật Đức là biểu hiện của Đạo nơi sự vật, là hình của Đạo Vậy, Đạo là cái mà nhờ đó mà mọi vật được sinh ra và Đức là cái mọi vật được định hình và đặt tên để trở thành nó mà phân biệt với cái khác
Trang 5Đạo là dương, Đức là âm Thầy có giải thích: “Đạo Đức phải đi cặp nhau.
Đạo là dương, Đức là âm Âm dương phải tương cảm tương ứng, điều hòa mới thành đặng.”.
Cũng như Ơn Trên có dạy:“Đạo là thuyền, Đức là nước, nước có thì thuyền
mới trẩy sang ”.
Đức là hành động vô vi, tức hành vi của vô ngã, của chơn thể, của bản tánh
Đó là hành động tự nhiên theo Thiên tánh như hoa nở, mây bay… Nở, bay là đức của hoa, của mây
Tóm lại, đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái
đã, đang và sẽ tồn tại trong thế giới Điều này cho phép hiểu đạo như nguyên lý
thống nhất – vận hành của vạn vật – nguyên lý Đạo pháp tự nhiên (Nhân pháp
địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên) Đạo vừa mang tính khách quan (vô vi) vừa mang tính phổ biến; vì vậy, trong thế giới, không đâu không có đạo, không ai không theo đạo…
Như vậy, quan niệm về đạo của trường phái Đạo gia đã thể hiện một trình độ
khái quát cao của tư duy về những vấn đề bản nguyên thế giới được xem xét trong tính chỉnh thể thống nhất của nó
1.2 Quan niệm biện chứng về thế giới
Thế giới là một chỉnh thể thống nhất – vận hành của đạo; thông qua đức mà đạo nằm trong vạn vật luôn biến hóa Đạo là cái vô Cái vô sinh ra cái hữu Cái hữu sinh ra vạn vật Vạn vật mất đi là quay về với đạo
Toàn thể vũ trụ, theo Lão Tử, bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến là : luật quân bình và luật phản phục Luật quân bình là giữ cho vận động được thăng bằng không để cho cái gì thái quá, thiên lệch hay bất cập Cái gì khuyết sẽ được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì vơi dễ được bồi đắp cho đầy, cái gì cũ thì sẽ đổi mới lại Đó là Đạo tự nhiên
Trang 6Theo Lão Tử, trong quá trình vận động, biến đổi, khuynh hướng tất yếu của vạn vật là trở về trong Đạo, trở về với tĩnh lặng, hư không theo luật "phản phục" Lão Tử gọi luật đó là "trở lại cái động của Đạo"
Mọi sự vật biến động, biến đổi, theo Lão Tử có nguồn gốc từ trong bản thân
sự vật Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập, vừa tương hoà, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên hệ, ràng buộc bao hàm lẫn nhau và không thể thiếu được nhau Lão Tử viết : "Trong vạn vật, không vật nào mà không cõng
âm, bồng dương, nhân chỗ xung nhau mà hoà vào nhau"
Theo ông một sự vật trong một chu kì phát triển đến cực điểm, chúng sẽ chuyển thành mặt đối lập với chính nó Vì thế mà "Gió to không thể thổi suốt buổi mai, mưa lớn không mưa suốt ngày", "Hoạ là tựa của phúc, phúc là chỗ náu của hoạ"
1.3.1 Thuyết vô vi của Lão Tử
Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phát, không giả tạo, không
gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận thấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được.
Đối lập với vô vi là hữu vi Hữu vi là sống và hành động không theo lẽ tự
nhiên, là đem áp đặt ý chí của mình vào sự vật, là can thiệp vào đất trời
Nói về "Đạo vô vi" Lão Tử viết : "Đạo là cái luật tự nhiên, không cần tranh
mà thắng, không cần nói mà ứng nghiệm, không cần mời mà các vật theo về, lờ
mờ mà hay mưu tính" (Chương 42, Đạo đức kinh)
1.3.2 Về đường lối trị nước an dân.
Trị nước bằng vô vi, Lão Tử kêu gọi đưa xã hội và cuộc sống con người trở
về với trạng thái tự nhiên, nguyên thuỷ, chất phác, không ham muốn, dục vọng, không thể chế, pháp luật, không ràng buộc bởi truyền thống đạo đức, không tri
Trang 7thức văn hoá, kĩ thuật, thánh nhân "không làm gì mà không làm" Theo bản tính
tự nhiên, mọi người tự làm những việc mà mỗi con người cần phải làm một cách
tự nhiên
Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng can thiệp vào đời thường;
nhưng nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một cách kín đáo, khéo léo Ông cho rằng đây là giải pháp an bang tế thế Bởi vì “vô vi thì không gì không làm Thường dùng vô vi mà được thiên hạ Hữu dự thì không đủ lấy thiên
hạ” (Chương 48, Đạo đức kinh)
Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thủy chất phát, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hòa tan con người vào đạo (tự nhiên) Xã hội lý tưởng đối với ông là những nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi, có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành… Ông viết : "Chiến tranh là việc chẳng lành, không phải việc của quân tử Nếu bắt buộc phải dùng binh thì phải điềm đạm Nếu thắng cũng đừng cho là hay Đắc thắng mà cho là hay tức là kẻ thích giết người, cuộc chiến tranh phải xử bằng tang lễ" Dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy sáng… nhưng đến già, đến chết ho không bao giờ qua lại thăm nhau
II.1Tiểu sử Trang Tử
Trang Tử tên thật là Chu, cùng thời với Mạnh Tử1, tức sống giữa thời Chiến Quốc, cuối đời sống ẩn dật tại núi Nam Hoa Sự tích truyền lại về đời sống của Trang Tử cũng thật mơ hồ
1 http://daogiakhicong.org/diendan/index.php?topic=488.0
Trang 8Tư tưởng ông chịu ảnh hưởng của Đức Lão Tử, được thể hiện qua tác phẩm của ông là “Trang Tử” hay còn có tên là Nam Hoa Kinh gồm 52 thiên mà Tư Mã Thiên đã luận: “ Sách ông viết có hơn 10 vạn chữ, đại để đều là ngụ ngôn… văn ông khéo viết, lời lẽ thứ lớp, chỉ việc tả tình để bài bác bọn Nho Nặc.Tuy đương thời, những bậc túc học, cũng không sao cãi để tự gỡ lấy mình cho nổi Lời văn của ông thì phóng túng mênh mông, cầu lấy sự thích ý mình mà thôi Cho nên từ các bậc Vương, Công đều không ai biết nổi ông là người thế nào”
II.2Tư tưởng triết học của Trang Tử
II.2.1 Quan điểm biện chứng về thới giới của Trang Tử
Trang Tử đã xem xét vũ trụ, tự nhiên bằng quan điểm biện chứng mà nổi bật
là sự vận động, biến đổi không ngừng của thế giới Ông cho rằng mọi sự vật có liên hệ khăng khít với nhau, luôn chuyển hoá, thay thế lẫn nhau
"Vạn vật không đồng nhau, thế thì cái gì khiến nó liên lạc được với nhau ?"
và "người cùng tạo vật hoà hợp làm một rồi thì đi đâu chẳng phải là mình ?" Vạn vật, con người đều vận động, biến hoá theo quy luật tự nhiên, quy luật này như một vòng tròn lưu chuyển vô cùng tận dưới sự tác động của Đạo
II.2.2 Thuyết vô vi của Trang Tử
Mục đích của triết học Trang Tử là cứu đời, cứu người nên ông cho rằng quan trọng không phải là sự triết lí suông về Đạo, mà là thực hành bản thân cuộc sống theo Đạo Những vấn đề nhân sinh nằm ngay trong các vấn đề bản thể luận và nhận thức luận, chúng hoà lẫn vào nhau Cốt lõi tư tưởng về nhân sinh ở Trang
Tử là học thuyết vô vi
Khái niệm "vô vi" ở Trang Tử cũng có ba nội dung chính:
- Sống, tồn tại theo bản tính tự nhiên vốn có của mình, không cần phải có sự tham gia có tính chất xã hội vào nó
Trang 9- Thuận theo lẽ tự nhiên mà làm, hành động như thế là "Làm mà không phải mình làm", vì làm đó không còn bị ràng buộc bởi ý chí, mục đích của con người nữa, cũng giống như nóng và sáng là tính tự nhiên của lửa nó vốn như thế, ta không thể cưỡng ép nó không được nóng và sáng
- Làm cho mọi vật đều được tự do, bình đẳng, sống và hành động theo bản tính tự nhiên của chúng
Quan điểm "vô vi" được biểu hiện cụ thể trong các vấn đề sống, chết, tự do bình đẳng, hạnh phúc tuyệt đối
Theo Trang Tử, Đạo chỉ là cái sống, đây là năng lực sống không có sanh, tử; sanh và tử là những hình thức biến hoá mà thôi Về mặt hình thức thì sanh, tử luôn biến hoá thay thế nhau, còn sống thì chỉ là một khâu thay đổi trong sự biến hoá của vũ trụ, nó vượt qua giới hạn của sự sống, chết thông thường, nó đạt tới
sự giao hoà của vạn vật, nó thực sự chưa bao giờ chết, bởi chưa bao giờ sống
Chương 2: Những giá trị và hạn chế của trường phái Đạo
gia
I Những giá trị của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia
1 Quan niệm niệm biện chứng về thế giới
Trong triết học của Lão Tử, phép biện chứng chất phát: thống nhất, đấu tranh
và chuyển hóa của các mặt đối lập Sự vận động của vạn vật theo quy luật quân bình và quy luật phản phục
Tuy phép biện chứng của Lão Tử tuy còn ở trình độ ngây thơ, chất phác, mang tính trực quan cảm tính, song ông đã trình bày nhiều tư tưởng hết sức cô đọng, nhưng sâu sắc về vận động, về quy luật, về mâu thuẫn
Như vậy, trong tư tưởng về phép biện chứng, có thể nói về căn bản, Lão Tử
đã vạch ra được quy luật, con đường vận động, biến đổi của vạn vật trong thế giới khách quan Theo ông, nguồn gốc của sự vận động, biến đổi ấy của vũ trụ,
Trang 10vạn vật là sự liên hệ, tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong chính các
sự vật Đây là thành quả đặc sắc nhất trong triết học của Lão Tử, biểu hiện năng lực quan sát tinh vi và trình độ tư duy sắc sảo của ông đối với sự vật khách quan Chính nhờ luật quân bình mà vạn vật tồn tại, biến đổi không ngừng theo một trật tự tự nhiên, nhất định Luật quân bình chống lại những gì thái quá trái với sự điều hoà của tự nhiên Để chống lại những gì thái quá, nó thường lấy nhu thắng cương, nhược thắng cường : "Nhón gót lên thì không đứng vững Xoạc chân ra thì không bước được Tự xem là sáng thì không sáng Tự xem là phải thì không chói"
Trang Tử đã xem xét vũ trụ, tự nhiên bằng quan điểm biện chứng mà nổi bật
là sự vận động, biến đổi không ngừng của thế giới
2 Những giá trị quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội
2.1 Thuyết vô vi
Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là không nên làm
gì cả, nhưng thật ra Lão Tử khuyên rằng LÀM MÀ NHƯ KHÔNG LÀM, NHƯ
THẾ CÓ ĐẶNG KHÔNG Ông cũng viết rằng nước tuy mềm mại uyển chuyển
nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một khối lượng lớn thì có thể làm
lở cả đất đá Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước
Từ quan điểm vô vi, Lão Tử rút ra những điểm căn bản trong nghệ thuật sống của con người, đó là những đức tính : từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung, trí túc và kiến vi, làm bạn với thiên nhiên , không hủy hoại , làm xáo trộn trật tự tự nhiên vốn mang tính điều hòa Họ luôn giữ được đồng nhất với đạo, họ hoà mình vào khoảng không Họ biết dành cho người khác chỗ mà không làm mất chỗ của mình Họ biết giảm ánh sáng của mình để có thể làm mất chỗ của mình vào bóng tối của kẻ khác
Tư tưởng của Lão Tử chủ nghĩa "vô vi" là rất sâu sắc và độc đáo Với trình độ
tư duy lí luận cao, những quan điểm ấy của Lão Tử đã đóng góp đáng kể vào sự