1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ

16 954 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA 2

1 Sơ lược sự hình thành và phát triển đạo gia 2

2 Một số tư tưởng triết học cơ bản của đạo gia 2

2.1 Tư tưởng triết học của Lão Tử 2

2.2.1 Lý luận về đạo và đức 3

2.2.2 Quan niệm biện chứng về thế giới 3

2.2.3 Thuyết vô vi 5

2.2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo Gia 6

CHƯƠNG II: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA 10

1 Những giá trị của trường phái đạo gia 10

2 Những hạn chế của trường phái đạo gia 11

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Mầm mống của tư tưởng triết học Trung Hoa có thể tìm thấy tư tưởng trong thần thoại, nhưng tư tưởng triết học có hệ thống được hình thành trong thời Xuân Thu – Chiến quốc Đây là thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, nhiều học giả đưa ra học thuyết của mình, lịch sử gọi là thời Bách gia tranh minh Vượt lên trên các học thuyết ấy, Đạo giáo (hay Đạo gia) – cùng Nho giáo và Phật giáo là ba học thuyết phát triển rực rỡ nhất, tạo thành nền tảng cho văn hóa phương Đông cho đến ngày nay và được trân trọng gọi là Tam giáo

Trong đó triết học của Đạo gia với nhà tư tưởng khai sáng là Lão Tử có nhiều điểm độc đáo, đặc biệt là nhận thức vũ trụ quan Triết học Đạo gia chú trọng nhận thức về thế giới tự nhiên, về bản thể của vũ trụ và những quy luật vận động của thế giới khách quan,

Những tư tưởng của Đạo gia thấm sâu vào dân tộc Trung Hoa, làm cốt lõi của văn hóa Trung Hoa, vừa tạo thú sống cho tao nhân quân tử vừa như một tôn giáo cho giới bình dân ngưỡng vọng

Không chỉ ảnh hưởng đến nền triết học phương Đông, ở phương Tây, từ khoảng một trăm năm nay, Đạo gia cũng có mặt ngày càng nhiều trong phạm vi nghiên cứu của nhiều học giả thuộc bộ môn triết ở các đại học, cho tới các trí thức muốn tìm cho mình một lối suy tư và sống thanh thoát giữa lòng xã hội bị

cơ khí hóa và vật chất hóa

Tại Việt Nam, Tam giáo (bao gồm Đạo gia) đã du nhập từ ngàn xưa và có ảnh hưởng không ít đến đời sống tư tưởng văn hóa Việc nghiên cứu Đạo gia là cần thiết để hiểu rõ hơn luồng tư tưởng này cũng như hiểu rõ hơn về đời sống tư tưởng của dân tộc

Hai nhà tư tưởng đại diện xuất sắc nhất của Đạo gia là Lão Tử và Trang

Tử, ngoài ra còn có các nhà tư tưởng khác như Hoài Nam Tử, Doãn Văn Tử, Liệt

Tử, Dương Tử Tuy nhiên trong phạm vi hạn hẹp của tiểu luận này, chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng của 2 nhân vật điển hình nhất của Đạo gia là Đức Lão Tử và Trang Tử thông qua 2 tác phẩm tiêu biểu là Đạo đức kinh (Lão Tử) và Nam hoa kinh (Trang Tử), từ đó đúc kết ra những giá trị và hạn chế của trường phái triết học Đạo gia

Trang 3

CHƯƠNG I: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

CỦA TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA

1 Sơ lược sự hình thành và phát triển đạo gia

Đạo giáo hay Đạo gia là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện

Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là tôn giáo này hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (1040 –

256 trước CN), những tư tưởng vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về năng lượng, chân khí, thuyết âm dương và Kinh Dịch Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử [2]

2 Một số tư tưởng triết học cơ bản của đạo gia

Đạo gia còn được gọi là Lão Trang, được gọi theo tên 2 đại diện xuất sắc nhất của Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử, tư tưởng của 2 nhà triết gia lớn này đặt nền tảng cho toàn bộ tư tưởng của Triết học Đạo gia

2.1 Tư tưởng triết học của Lão Tử

Lão Tử là nhà triết học lớn với học thuyết về “Đạo” nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại Ông được coi là người sáng lập ra trường phái triết học Đạo gia, một trong ba trường phái lớn nhất thời Xuân thu – Chiến quốc Cuộc đời và sự nghiệp của ông mang đầy tính huyền thoại, cũng thấp thoáng, mập mờ, nửa hư, nửa thực như triết lý của ông, nên người ta khó xác định được một cách chính xác Đa số các tài liệu đều cho rằng Lão Tử có thể sống đồng thời với Khổng Tử

và có dạy lễ cho Khổng Tử Quan điểm này chủ yếu dựa vào hai thiên “Khổng

Tử thế gia” và “Lão Tử liệt truyện” trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên nói rằng Khổng Tử đã từng gặp Lão Tử ở Chu để hỏi về lễ [3]

Toàn bộ tư tưởng của ông, được trình bày ngắn gọn và xúc tích trong cuốn Đạo đức kinh, gồm 81 chương, chia làm hai thiên thượng và hạ Với cách diễn đạt vắn tắt, thâm trầm, gợi mở bằng những châm ngôn, ngạn ngữ có tính ẩn dụ,

Trang 4

Lão Tử đã trình bày ba vấn đề triết học căn bản là: học thuyết về Đạo, tư tưởng

về phép biện chứng và học thuyết “vô vi”

2.1.1 Lý luận về đạo và đức

Ý nghĩa chữ Đạo giữ một vai trò trọng tâm trong toàn bộ hệ thống triết học Đạo gia Đức Lão Tử cho rằng Đạo là bản nguyên của vũ trụ.Ngài dạy: “Đạo sanh nhất, nhất sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa.” (Chương 42, Đạo đức kinh) Đạo là Vô cực, sinh một chỉ vào cái thể duy nhất của Đạo là Thái cực, sinh hai chỉ về Âm dương tức hai nguyên lý mâu thuẫn cùng có trong mỗi vật, và giữa sự xô xát xung đột của hai nguyên lý ấy có cái gì đó làm cho nó dung hòa, Âm dương tương hợp sinh ra vạn vật muôn loài [4]

Đức là một phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của Đạo,

là cái hình thức nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt được với nhau, là cái

lý sâu sắc để nhận biết vạn vật Chương 51, ngài Viết: “Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở vạn vật“ Đạo sinh ra vạn vật, thì Đức bao bọc dưỡng nuôi vạn vật Đức là biểu hiện của Đạo nơi sự vật, là hình của Đạo Vậy, Đạo là cái mà nhờ đó mà mọi vật được sinh ra và Đức là cái mọi vật được định hình và đặt tên để trở thành nó mà phân biệt với cái khác

Tóm lại, Đạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang và sẽ tồn tại trong thế giới Điều này cho phép hiểu Đạo như nguyên

lý thống nhất – vận hành của vạn vật – nguyên lý Đạo pháp tự nhiên (Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên) Đạo vừa mang tính khách quan (vô vi) vừa mang tính phổ biến; vì vậy, trong thế giới, không đâu không có Đạo, không ai không theo Đạo…

Như vậy, quan niệm về Đạo của trường phái Đạo gia đã thể hiện một trình

độ khái quát cao của tư duy về những vấn đề bản nguyên thế giới được xem xét trong tính chỉnh thể thống nhất của nó

2.1.2 Quan niệm biện chứng về thế giới

Phép biện chứng của Lão Tử là sự phát triển tư tưởng về sự biến dịch trong "Kinh Dịch" Theo ông toàn bộ thế giới là một cuộc đại chuyển tiếp không ngừng Thuật ngữ "Đạo trường" trong "Đạo đức kinh" thường đồng nghĩa với Dịch – đó là sự chuyển biến, thay đổi của vạn vật Trong sự vận động, biến đổi

đó tất cả chỉ là tương đối, chỉ là một giai đoạn của dòng chuyển hoá vô tận Sự vận động của vạn vật không phải là hỗn loạn mà tuân theo những quy luật tất yếu

Trang 5

của tạo hoá Đây là những quy luật nghiêm ngặt, không sự vật nào đứng ngoài quy luật đó kể cả trời, đất, thần linh [4]

Toàn thể vũ trụ, theo Lão Tử, bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến là: luật quân bình và luật phản phục Luật quân bình là giữ cho vận động được thăng bằng không để cho cái gì thái quá, thiên lệch hay bất cập Cái gì khuyết sẽ được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì vơi dễ được bồi đắp cho đầy, cái gì cũ thì sẽ đổi mới lại Đó là Đạo tự nhiên Biểu tượng của luật quân bình là nước Nước có bản tính mềm mại, gặp chỗ trống thì chảy vào, gặp chỗ đầy thì chảy ra, lánh cao mà tìm thấp Vì thế nó ngày đêm chảy mãi không ngừng, lên trên thành mưa thấm nhuần vạn vật, xuống dưới thì thành sông lạch tưới mát muôn loài

Chính nhờ luật quân bình mà vạn vật tồn tại, biến đổi không ngừng theo một trật tự tự nhiên, nhất định Luật quân bình chống lại những gì thái quá trái với sự điều hoà của tự nhiên Để chống lại những gì thái quá, nó thường lấy nhu thắng cương, nhược thắng cường

Theo Lão Tử, trong quá trình vận động, biến đổi, khuynh hướng tất yếu của vạn vật là trở về trong Đạo, trở về với tĩnh lặng, hư không theo luật "phản phục" Lão Tử gọi luật đó là "trở lại của đạo" Luật "phản phục" ở Lão Tử có hai nghĩa Thứ nhất, phản phục có nghĩa là vạn vật biến hoá trao đổi cho nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn, kế tiếp, nhịp nhàng bất tận như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thay đổi, qua lại Thứ hai, phản phục còn có ý nghĩa trở về với Đạo, tự nhiên, vô vi Trở về với Đạo tự nhiên, vô vi là trở về với chính bản tính tự nhiên của mình, không thái quá, không bất cập Như vậy thì "không làm gì cả, mà không gì không làm" Theo Lão Tử, nếu không trở về Đạo tự nhiên, vô vi, cố tình can thiệp vào cái bản tính tự nhiên của tạo hoá, là chuốc lấy thất bại: "nếu trời không trong sẽ vỡ, đất không yên sẽ lở, hang không đầy sẽ cạn, vạn vật không sống sẽ dứt"

Mọi sự vật biến động, biến đổi, theo Lão Tử có nguồn gốc từ trong bản thân sự vật Mỗi vật đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập, vừa tương hoà, vừa xung khắc, vừa đối lập lại vừa liên hệ, ràng buộc bao hàm lẫn nhau và không thể thiếu được nhau Lão Tử viết : "Trong vạn vật, không vật nào mà không cõng

âm, bồng dương, nhân chỗ xung nhau mà hoà vào nhau"

Theo ông một sự vật trong một chu kì phát triển đến cực điểm, chúng sẽ chuyển thành mặt đối lập với chính nó Lão Tử cũng đã xây dựng một loạt các mâu thuẫn trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, đạo đức, quan hệ ứng xử xã hội, để giải quyết theo chủ trương điều hoà của ông và còn được nâng lên như một nghệ thuật sống như: động và tĩnh, nóng và lạnh, thấp và cao, mềm và cứng,

Trang 6

hữu và vô, còn và mất, thọ và yểu, thiện và ác, tốt và xấu, hưng và vong Các mặt đối lập đi đôi với nhau thì vạn vật mới tươi tốt, mới thuận hoà, còn khi chúng phát triển đến cực thịnh thì chúng sẽ biến thành cái đối lập với bản thân mình

2.1.3 Thuyết vô vi

Mở rộng tư tưởng về “đạo” đến mặt đời sống xã hội, Lão Tử đã đề xướng học thuyết “vô vi” “Vô vi” là một học thuyết triết học – đạo đức của người Trung Hoa cổ đại, đã được Lão Tử nâng lên thành học thuyết về nghệ thuật sống của con người trong sự hòa nhập với tự nhiên

Quan điểm "vô vi" của Lão Tử xét cho cùng là những vấn đề đạo đức, nhân sinh và chính trị xã hội Mặc dù Lão Tử đề cao mặt tự nhiên của con người, phủ nhận mặt xã hội, nhưng quan điểm "vô vi" của Lão Tử vẫn biểu hiện sâu sắc nghệ thuật sống, thái độ ứng xử của con người, phương pháp trị nước của vua chúa hay bộ máy nhà nước, và đây cũng chính là chỗ tập trung giá trị hệ thống triết học của ông [5, 46]

"Vô vi" trong "Đạo đức kinh" có ba ý nghĩa chính: Một là vạn vật đều có bản tính tự nhiên của mình, chúng tồn tại, vận động, biến hoá theo lẽ tự nhiên vốn có, không can thiệp vào quá trình vận hành của các vật khác, biết chấp nhận

và thích ứng với mọi hoàn cảnh, môi trường Hai là "vô vi" còn có nghĩa tự do

"tuyệt đối", không bị ràng buộc bởi bất cứ ý tưởng, dục vọng, đam mê, ham muốn nào, nếu cố chạy theo những nhu cầu, ham muốn trái với khả năng, bản tính tự nhiên của mình thì sẽ đánh mất chính bản thân mình Và ba là "vô vi" còn

có nghĩa là luôn bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của vạn vật mà trước hết là chống lại mọi hành động của con người tác động vào xã hội

Từ quan điểm vô vi, Lão Tử rút ra những điểm căn bản trong nghệ thuật sống của con người, đó là những đức tính: từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung, trí túc và kiến vi

Cũng từ học thuyết vô vi, Lão Tử đề cập tới những vấn đề chính trị, xã hội Trong đời sống xã hội và phép trị nước, trước hết Lão Tử chủ trương phải bỏ hết những gì trái với đạo tự nhiên vô vi, vượt quá bản tính, khả năng, nhu cầu tự nhiên cần thiết của con người Trị nước bằng vô vi, Lão Tử kêu gọi đưa xã hội và cuộc sống con người trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên thuỷ, chất phác, không ham muốn, dục vọng, không thể chế, pháp luật, không ràng buộc bởi truyền thống đạo đức, không tri thức văn hoá, kĩ thuật Theo bản tính tự nhiên, mọi người tự làm những việc mà mỗi con người cần phải làm một cách tự nhiên

Trang 7

Hơn thế nữa, Lão Tử con chủ trương đưa đức tính con người trở lại với thời kỳ trẻ thơ, hồn nhiên, chân chất, vô dục Ông muốn con người thấu suốt mọi

lẽ của tự nhiên mà sống hòa hợp với tự nhiên, không tự mãn, không tự phụ, không xao động, không phô trương, không thái quá hay bất cập

Theo đạo vô vi, phản đối những hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội do

sự áp bức bóc lột của bọn quý tộc cũng như sự phát triển kinh tế hàng hoá gây nên mơ ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã nguyên thuỷ, Lão Tử chủ trương bất bạo động, phản đối việc gây chiến tranh bạo lực Ông cho đó là sự tàn bạo, là tai hoạ của đời sống con người Trong cuộc chiến tranh Lão Tử cho rằng, chẳng có thắng bại vinh nhục Ông viết: "Chiến tranh là việc chẳng lành, không phải việc của quân tử Nếu bắt buộc phải dùng binh thì phải điềm đạm Nếu thắng cũng đừng cho là hay Đắc thắng mà cho là hay tức là kẻ thích giết người, cuộc chiến tranh phải xử bằng tang lễ" (Đạo đức kinh, Chương 31)

2.2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo Gia

Trang Tử được coi là nhà tư tưởng lớn về đạo học trong triết học cổ Trung Quốc, người có công mài dũa viên ngọc Đạo của Lão Tử làm hiện lên đầy đủ vẻ lấp lánh huyền hoặc của nó Vì thế, người đời xưa thường gọi trường phái triết học này là Lão – Trang

Trang Tử tên thật là Trang Chu Ông sinh vào khoảng nửa cuối thế kỷ thứ

IV trước Công nguyên và mất vào những năm đầu của thế kỷ thứ III trước Công nguyên Trang Tử xuất thân từ tầng lớp quý tộc sa sút trong xã hội, đã từng làm quan, sau đó từ quan và sống ẩn dật cho tới cuối đời Địa vị giai cấp của Trang

Tử đã thể hiện rõ trong thuyết tương đối và chủ nghĩa vô vi của ông [5, 51]

Tác phẩm của Trang Tử được lưu truyền đến nay, chỉ còn bộ Nam Hoa kinh với 33 thiên còn lại, được chia làm ba phần lớn, gọi là Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên Phần Nội thiên gồm 7 thiên, Ngoại thiên gồm 15 thiên và Tạp thiên có 11 thiên Trung tâm của toàn bộ học thuyết triết học Trang Tử là quan niệm về “Đạo”, “Đức” và mối quan hệ đồng nhất của chúng

Quan niệm về Đạo ở Trang Tử thực chất là những vấn đề bản thể luận và

vũ trụ quan, nó là nền tảng và quyết định đường lối triết học của ông Có thể diễn đạt tư tưởng đó của ông bằng những nội dung sau:

Nội dung thứ nhất về Đạo của Trang Tử là cái vô danh Trong thiên Tri bắc du, Trang Tử viết: “Đạo chẳng có thể nghe được, nghe được không còn phải

là nó Đạo cũng chẳng có thể thấy được, thấy được không còn phải là nó nữa Có

Trang 8

thể nào lấy trí mà hiểu được cái hình dung của cái không hình dung được chăng? Vậy thì không nên đặt tên cho đạo”

Ông cho rằng Đạo có trước Thái cực, vượt lên tất cả, Đạo sinh ra quỷ thần, thượng đế, “Thái cực” Bác bỏ trời, thượng đế, quỷ thần, Trang Tử đã bộc

lộ quan điểm phiếm thần, đồng thời ông đã tuyên bố đường lối triết học của mình

là, xuất phát từ tự nhiên để giải thích nó, đó chính là chủ nghĩa duy nhiên – hư

vô, là đường lối “vô vi” trong triết học của ông

Theo Trang Tử, Đạo là cái hư không Nó mơ hồ hỗn độn, nửa sáng nửa tối, nửa tồn tại và nửa không tồn tại Nó vượt ra khỏi mọi mối liên hệ với không gian, thời gian, sinh tử Nó không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà là cái vĩnh viễn vượt ra khỏi cả mối liên hệ giữa tồn tại và không tồn tại, vì thế mà nó vô danh

Về nguyên nhân và năng lực của Đạo, Trang Tử đã thể hiện quan điểm duy vật khi ông cho Đạo là cái tự nhiên như thế, nó không do ai sinh ra mà tự bản

tự căn Nó là bản thể đầu tiên của vũ trụ và vạn vật, nên nó “sinh ra trời đất”

Nội dung thứ hai về Đạo của Trang Tử là vô thường Đây là nội dung cốt lõi của Đạo ở Trang Tử Đạo vô thường chính là cuộc biến hóa của vũ trụ, là cuộc đại chuyển tiếp giữa vũ trụ và vạn vật, là trạng thái động, biến đổi không ngừng của Đạo Trang Tử tuyệt đối hóa sự vận động, bỏ qua sự đứng im, sự tồn tại tương đối của vạn vật Đây chính là điểm khác biệt giữa Trang Tử và Lão Tử Nếu Lão Tử chú ý phân biệt các mặt đối lập, tương phản nhau trong Đạo thì ở Trang Tử, ông đã hòa nhập tất cả là một trong sự biến hóa không lường Vì vậy,

vũ trụ, vạn vật luôn ở trạng thái tương đối

Theo Trang Tử Đạo còn là quy luật tự nhiên chi phối mọi sự vận động, biến đổi của vũ trụ Trang Tử cho rằng vạn vật trong thế giới vận động, biến hóa khôn lường, nhưng chúng vận động không lộn xộn, tùy tiện mà vận động theo một trật tự, một nguyên tắc nghiêm ngặt, không phải theo chiều hướng phát triển

đi lên, mà là theo một vòng tròn khép kín không rõ đầu, cuối

Trong triết học Trang Tử, quan niệm về Đức cũng là một nội dung hết sức quan trọng Nó liên quan đến vấn đề con người tự nhiên và bản chất tự nhiên của con người, sự đồng nhất giữa Đạo và Đức Khái niệm Đức không phải là đạo đức trong đời sống xã hội, mà là năng lực phát triển tự do trọn vẹn có bản tính tự nhiên ở mọi người, mọi vật Đức là một trạng thái tất yếu của vạn vật được quy định bởi bản tính tự nhiên của nó

Phần không kém đặc sắc trong triết học Trang Tử là phép biện chứng tự phát Trang Tử đã xem xét vũ trụ, tự nhiên bằng quan điểm biện chứng, mà nổi bật là tư tưởng về sự vận động, biến hóa không ngừng của thế giới Trong quan

Trang 9

điểm về nhận thức, Trang Tử cho rằng Đạo là đối tượng nhận thức và cảm nhận của con người Đó là chỗ tận cùng của nhận thức Trang Tử cho rằng nếu chỉ bằng nhận thức lý trí thông thường thì con người không thể đạt tới Đạo, hòa làm một với Đạo được Trí tuệ con người bất lực trước Đạo và nếu cố gắng thì nó chỉ dừng lại ở mức tương đối mà thôi Quá tin vào trí tuệ con người, đó là đều lầm lẫn và nguy hại Nó không những chẳng nhận thức được gì hơn, mà chỉ làm sự hiểu biết đó mờ tối đi vì thiên kiến

Tuy hạ thấp khả năng lý trí của con người Trang Tử cho rằng bằng sự cảm nhận, bằng trực giác và kinh nghiệm đời sống người ta vẫn có thể đạt tới lẽ cao cả của Đạo – thông qua nhận thức ở bậc đại trí

Tiêu chuẩn thứ nhất để đạt tới bậc đại trí là phải hòa đồng hay huyền hóa vào vũ trụ vạn vật, hòa nhập giữa chủ thể nhận thức với đối tượng nhận thức Sự cảm nhận ở bậc đại trí là chính bản thân cuộc sống hòa đồng tự nhiên của bậc thánh nhân Tiêu chuẩn thứ hai để đạt được bậc đại trí, đó là hạng người “vô kỷ,

vô công, vô danh”, tức là hạng người vượt ra khỏi những thiên kiến của nhận thức thông thường, vượt ra khỏi không gian và thời gian, quên cả mình và quên

cả mọi sự ràng buộc của đời sống bình thường, vượt qua và quên những sự phân biệt về mọi vật để được làm một với Đạo

Về những vấn đề nhân sinh, mục đích của triết học Trang Tử là cứu đời, cứu người nên ông cho rằng không triết lý suông về đạo mà là thực hành bản thân cuộc sống theo Đạo Điểm cốt lõi trong triết lý nhân sinh của Trang Tử chính là học thuyết “vô vi” “Vô vi” nghĩa đen là “không làm gì”, tuy nhiên

“không làm gì” không có nghĩa là không làm, mà là không làm, không hành động trái với đạo tự nhiên Nội dung thực sự của “vô vi” là hành động theo lẽ tự nhiên,

vô tư, hồn nhiên như trẻ thơ, không bị cưỡng chế hoặc ràng buộc bởi bất cứ một định kiến hoặc ý muốn nào Những hành động xã hội với mọi ràng buộc sẽ làm tổn hại đến bản tính tự nhiên của vạn vật

So với Lão Tử, quan điểm “vô vi” của Trang Tử có hai nội dung mới: một

là, “vô vi” theo Trang Tử nghĩa là không hành động thái quá, hai là phá bỏ tất cả những gì trở ngại cho việc phát triển tự nhiên của vạn vật Trang Tử cho rằng tất

cả những chế độ chính trị, pháp luật, đạo đức luân lý đều là những cái có hại cho sự phát triển tự do theo bản tính tự nhiên của người và vật, cần phải loại bỏ

Tóm lại, khái niệm “vô vi” của Trang Tử có ba nội dung chính: một là, sống, tồn tại theo bản tính tự nhiên vốn có của mình; hai là, thuận theo lẽ tự nhiên mà làm, không làm gì trái với tự nhiên và ba là, làm cho mọi vật đều được

Trang 10

tự do, bình đẳng sống, hành động theo đúng bản tính, khả năng, sở thích tự nhiên của chúng [3]

Trên cơ sở thuyết “vô vi”, Trang Tử phản đối quan điểm tự do và bình đẳng thông thường, đó là sự tự do, bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật, luân

lý, giáo dục Cơ sở của tự do, bình đẳng ở Trang Tử là mọi vật đều được tự do sống theo chính bản thân tính tự nhiên của mình, không bị ràng buộc bởi các tiêu chuẩn do xã hội đề ra Trên cơ sở tự do, bình đẳng này mà con người có được hạnh phúc tuyệt đối

Xuất phát từ học thuyết “vô vi”, Trang Tử đã trình bày những vấn đề chính trị – xã hội của mình Tuyệt đối hóa mặt tự nhiên của con người, Trang Tử

đã xem thường vai trò, sức mạnh cải tạo xã hội của con người, phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn xã hội Tôn trọng bản tính tự nhiên của mỗi người mỗi vật, phủ nhận mọi thể chế, luật lệ, quy tắc đạo đức, Trang Tử kịch liệt phản đối việc con người dùng sức lực áp chế, uốn nắn tự nhiên Mọi hình thức nhân tạo như pháp luật, chính trị, đạo đức đều chỉ san bằng mọi dị biệt, cá tính, xâm phạm bản tính

tự nhiên vốn có của mỗi người mỗi vật, gò ép chúng vào một khuổn chung qua

sự cắt xén, gọt giũa trái với tự nhiên Đó là “lấy người để diệt trời”, tất yếu sẽ dẫn đến kết quả tai hại, mặc dù đó là ý muốn tốt Ông đòi hỏi phải tôn trọng chỗ khác nhau của mọi vật, thuận theo bản tính tự nhiên của chúng, mọi vật tự do sống theo khả năng, sở thích của mình thì thiên hạ sẽ yên bình

Vậy theo Trang Tử, để trị thiên hạ thì không cần phải làm gì cả, tự nhiên

mà hóa Mẫu mực xã hội ở ông là một xã hội không thể chế, không pháp luật, không luân lý, không đạo đức Đó là một xã hội thời tiền sử Sự vọng cổ với thái độ hoài nghi, yếm thế đã đẩy Trang Tử vào chủ nghĩa tự nhiên, vô chính phủ: “Ta nghe nói khoan dung để thiên hạ tự tại, không nghe nói trị thiên hạ vậy

Để tự tại thì sợ thiên hạ loạn mất tính, khoan dung thì sợ thiên hạ loạn mất cái đức Thiên hạ không loạn tính, không rời cái đức thì thiên hạ trị vậy” (Nam Hoa kinh, thiên Tại hựu)

Ngày đăng: 20/11/2014, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w