ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ THU THỦY RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ THU THỦY
RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ THU THỦY
RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Đàm Thị Uyên, các thầy cô trong tổ Lịch sử Việt Nam – Khoa học lịch
sử, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đã chỉ bảo tận tình, động viên khích
lệ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Trong thời gian đi thực tế làm luận văn tại các làng xã, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của già làng, trưởng bản, Ủy ban nhân dân huyện Hà Quảng Tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Thủy
XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Đàm Thị Uyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu của đề tài .5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: KHÁI QUÁT TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM TỈNH CAO BẰNG 8
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên .8
1.1.1 Vị trí địa lý 8
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 9
1.2 Khái quát lịch sử hành chính 13
1.3 Các thành phần dân tộc 15
1.3.1 Dân tộc Nùng 17
1.3.2 Dân tộc Tày 19
1.3.3 Dân tộc Mông 20
1.3.4 Dân tộc Kinh 21
1.3.5 Dân tộc Dao 22
1.3.6 Các dân tộc khác 23
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Hà Quảng 24
1.4.1 Về kinh tế 24
Trang 61.4.2 Về văn hóa – xã hội 28
Chương 2: RUỘNG ĐẤT Ở TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX 31
2.1 Địa bạ Hà Quảng nửa đầu thế kỷ XIX 31
2.2 Ruộng đất ở Hà Quảng theo địa bạ năm Gia Long 4 (1805) 33
2.2.1 Tình hình ruộng đất khu vực miền núi phía Bắc trước thế kỷ XIX .33
2.2.2 Tình hình ruộng đất của Hà Quảng tỉnh Cao Bằng theo địa bạ năm Gia Long 4 (1805) 34
2.3 Tình hình ruộng đất của Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng qua tư liệu địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 48
2.4 So sánh sở hữu ruộng đất ở Hà Quảng nửa đầu thế kỷ XIX theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) .55
2.5 Chế độ tô thuế 63
Chương 3: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX 69
3.1 Trồng trọt 70
3.1.1 Canh tác lúa nước 70
3.1.2 Làm nương rẫy 79
3.1.3 Làm vườn 84
3.2 Chăn nuôi 85
3.2.1 Nuôi gia súc 86
3.2.2 Nuôi gia cầm 88
3.2.3 Nuôi thủy sản 89
3.3 Kinh tế tự nhiên 89
3.3.1 Hái lượm 90
3.3.2 Săn bắt 91
3.4 Nghi lễ và tín ngưỡng liên quan đến trồng trọt 92
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ĐHSPHN Đại học Sư phạm Hà Nội
2 ĐHSPTN Đại học Sư phạm Thái Nguyên
4 KHXH Khoa học xã hôi
5 M.s.th.t.p Mẫu, sào, thước, tấc, phân
Thí dụ: 302 mẫu 3 sào 13 thước 9 tấc 0 phân sẽ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Các thành phần dân tộc huyện Hà Quảng 16
Bảng 1.2: Tình hình sử dụng đất của huyện Hà Quảng 24
Bảng 2.1: Thống kê địa bạ Hà Quảng nửa đầu thế kỷ XIX 32
Bảng 2.2: Tình hình ruộng đất của Hà Quảng qua địa bạ năm Gia Long 4 (1805) 35
Bảng 2.3: Tổng diện tích các loại ruộng đất của Hà Quảng theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 36
Bảng 2.4: Quy mô ruộng đất thuộc sở hữu của 8 xã của Hà Quảng theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 38
Bảng 2.5: Bình quân sở hữu ruộng đất của một chủ theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 41
Bảng 2.6: Diện tích thổ trạch viên trì ở Hà Quảng theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 42
Bảng 2.7: Tình hình giới tính trong sở hữu tư nhân 43
Bảng 2.8: Quy mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ 45
Bảng 2.9: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc 46
Bảng 2.10: Tình hình ruộng đất của Hà Quảng qua địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 48
Bảng 2.11: Diện tích các loại ruộng đất theo địa bạ Minh Mệnh 21(1840) 49
Bảng 2.12: Quy mô ruộng đất thuộc sở hữu của 3 xã ở Hà Quảng theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 50
Bảng 2.13 : Bình quân sở hữu ruộng đất của một chủ trong 3 xã ở Hà Quảng theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 52
Bảng 2.14: Diện tích thổ trạch viên trì theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 52
Bảng 2.15: Quy mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 53
Bảng 2.16: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức dịch theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 54
Bảng 2.17 : So sánh sự phân bố các loại ruộng đất theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 55
Trang 9Bảng 2.18 : So sánh quy mô sở hữu ruộng đất tư theo địa bạ Gia Long 4
(1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 57
Bảng 2.19: So sánh quy mô sở hữu theo nhóm họ theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 59
Bảng 2.20: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 62
Bảng 2.21: Biểu thuế ruộng công, tư khu vực III năm 1803 65
Bảng 2.22: Biểu thuế thời Minh Mệnh năm 1840 66
Bảng 2.23: Biểu thuế thời Tự Đức 67
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Sự phân bố các loại ruộng đất ở Hà Quảng năm 1805 36
Biểu đồ 2.2: Quy mô sở hữu ruộng tư của Hà Quảng (1805) 39
Biểu đồ 2.3: Sự phân bố các loại ruộng đất ở Hà Quảng năm 1840 49
Biểu đồ 2.4: Quy mô sở hữu ruộng tư của Hà Quảng (1840) 50
Biểu đồ 2.5: Sự thay đổi các loại ruộng đất ở Hà Quảng năm 1805, 1840 56
Biểu đồ 2.6: Quy mô sở hữu ruộng đất tại hai thời điểm 1805 và 1840 57
Biểu đồ 2.7: So sánh quy mô sở hữu theo nhóm họ ở Hà Quảng giữa hai thời điểm 1805 và 1840 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta, vấn đề ruộng đất luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng, gắn liền với cuộc sống của nhân dân Với đặc điểm nền
kinh tế của nước ta là “dĩ nông vi bản”, kinh tế chủ đạo là nông nghiệp “Nước ta
từ thời thượng cổ là một nước nông nghiệp ”, “Trải qua hàng chục thế kỷ, dân Việt Nam đã lấy nghề nông “làm gốc”và tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý giá trong việc cày cấy” [62 ,tr.5] Ruộng đất là nguồn tư liệu sản xuất chính, có mối
liên quan trực tiếp đến nông nghiệp Vấn đề ruộng đất luôn được các nhà nước quân chủ Việt Nam quan tâm đặc biệt Các nhà nước quân chủ Việt Nam đều quan tâm đến ruộng đất Các chính sách ruộng đất được thực hiện, đều nhằm mục đích phát triển kinh tế và ổn định tình hình chính trị xã hội Trải qua các đời vua khác nhau, thì các chính sách ruộng đất ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn Thế kỷ XIX là thế kỷ có nhiều biến động phức tạp, cho nên chính sách về ruộng đất có khá nhiều đặc điểm riêng biệt Cùng với vấn đề ruộng đất sự phát triển kinh tế nông nghiệp luôn được Nhà nước quan tâm
Theo như các nhà nghiên cứu nhận định“Bức tranh ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ … do những đặc điểm riêng có sự khác biệt nhất định giữa các địa phương” [24, tr.712] Như vậy mỗi địa phương ở trên đất nước ta, vấn đề
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp đều có những đặc điểm riêng biệt bên cạnh những đặc điểm chung Khi nghiên cứu tình hình ruộng đất và nông nghiệp của một địa phương nhất định thì chúng ta sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế xã hội của địa phương đó, bên cạnh những nét chung thì chúng ta cũng thấy được những nét riêng đặc thù của địa phương đó Từ đó có thể so sánh với các địa phương khác và đưa ra được những biện pháp phù hợp, cụ thể với từng địa phương để có thể phát triển toàn diện mọi mặt Để đưa ra được các chính sách ruộng đất phù hợp, thì vấn đề then chốt là phải nắm rõ được tình hình ruộng đất trong nước như thế nào Đó là cơ sở xuất hiện địa bạ
Trang 12Hà Quảng là một huyện miền núi biên giới phía bắc của tỉnh Cao Bằng,
xa trung tâm của đất nước, đây là nơi sinh sống chủ yếu của các đồng bào dân tộc thiểu số Nên có những đặc điểm kinh tế riêng biệt mang tính đặc thù Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu, khai thác về vấn đề ruộng đất
và kinh tế nông nghiệp của Hà Quảng vào thế kỷ XIX Nên chúng tôi quyết
định chọn đề tài luận văn của mình là “Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp tổng
Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với tầm quan trọng cũng như rộng lớn của vấn đề ruộng đất Nên vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm, cũng như nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Địa bạ là một nguồn tài liệu quý, để trên cơ sở đó nghiên cứu về vấn đề ruộng đất được toàn diện và mang tính chính xác cao Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề, ruộng đất dựa trên nguồn tư liệu địa bạ Các công trình đề cập đến ruộng đất và kinh tế nông nghiệp nói chung, nhà Nguyễn nói riêng có thể
kể đến như sau:
Thời kỳ phong kiến, các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã được đề cập trong Đại Nam thực Lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm Định Đại Nam hội điển sử lệ, Đồng Khánh dư địa chí, Vân Đài loạn ngữ…
Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” của Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch của nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế ) được xuất bản năm
2005 Bộ sách đã cung cấp những tư liệu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Đặc biệt là trong tập III, viết khá rõ về chế
độ ruộng đất, chế độ tô thuế dưới triều Nguyễn
Năm 2003, cuốn sách “Đồng Khánh dư địa chí ” tập 1, bản dịch của các tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, cuốn sách viết về lịch sử và địa lý các tỉnh Việt Nam trong đó có Cao Bằng
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, vấn đề ruộng đất được các nhà sử học quan tâm nghiên cứu, có nhiều công trình được công bố như:
Trang 13Năm 1979, tác giả Vũ Huy Phúc với tác phẩm “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội) Tác phẩm đã nêu lên bản chất chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn, thông qua việc nêu lên những chính sách lớn về ruộng đất của triều Nguyễn, đặc điểm các loại ruộng đất Đây là tác phẩm có giá trị giúp người đọc có định hướng khi nghiên cứu đời sống kinh tế - xã hội nông nghiệp trong thế kỷ XIX
Năm 1993, tác giả Khổng Diễn với tác phẩm “ Những biến đổi về kinh
tế - văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc” (nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội) với những nội dung về điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội truyền thống và ảnh hưởng của nó
Tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang với tác phẩm “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn” (nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế năm 1997), trong tác phẩm này các tác giả đã đề cập trực tiếp đến vấn đề địa bạ thời Nguyễn và tình hình ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, một phần quan trọng của đề tài tác giả nghiên cứu Đây là tác phẩm tham khảo quan trọng, giúp tác giả cơ sở nhận thức trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Các tài liệu địa phương: Năm 2001,cuốn sách “Non nước Cao Bằng” của các tác giả Nguyễn Thị An, Hoàng Tuấn Nam đã giới thiệu cuộc sống của các thành phần dân tộc trong tỉnh Một vài nét về truyền thống xây dựng kinh tế, về thiên nhiên của Cao Bằng Nhưng quan trọng hơn cả là cuốn sách đã giới thiệu về lịch sử
từ buổi bình minh đến khi hình thành tỉnh Cao Bằng cho đến ngày nay Cuốn sách
đã cung cấp bản đồ hành chính tỉnh Cao Bằng qua các thời kỳ lịch sử
Cuốn Lịch sử tỉnh Cao Bằng, của Tỉnh ủy-UBND tỉnh Cao Bằng (nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2009) Cuốn sách nói về vùng đất, con người
và truyền thống lịch sử tỉnh Cao Bằng qua các thời kỳ
Cuốn “Lịch sử Đảng Bộ Huyện Hà Quảng (1930 - 2010)” tác giả Đinh Ngọc Viện, Trần Văn Trân, Triệu Thị Thu Trang, Vương Văn Võ (nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010) Đây là công trình nghiên cứu về Hà Quảng một cách khá đầy đủ và có hệ thống trong thời kỳ kháng chiến, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Trang 14Năm 2011, tác giả Đàm Thị Uyên với cuốn sách “Huyện Quảng Hòa (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Tuy đây là cuốn sách nói về một huyện không liên quan đến Hà Quảng nhưng đây là cuốn sách đầu tiên đề cập đến vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của một huyện của tỉnh Cao Bằng Do vậy cuốn sách này
đã gợi mở những ý kiến quý báu, để tác giả nghiên cứu tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của một nơi cũng ở Cao Bằng là Hà Quảng
Trong thời gian gần đây vấn đề ruộng đất cũng đã trở thành đối tượng để nhiều sinh viên, học viên tìm hiểu và nghiên cứu Có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ như: “ Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể (Tỉnh Bắc Kạn) nửa đầu thế kỷ XIX” của Nguyên Đức Thắng và “ Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên) nửa đầu thế
kỷ XIX” của Hoàng Xuân Trường…
Tuy nhiên vấn đề “Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX” chưa được tìm hiểu và nghiên
cứu cụ thể Nên đề tài này chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề này Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong các tác phẩm trên đây là những nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi thực hiện và hoàn thành tốt đề tài
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài “Ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX” Trên cơ
sở các nguồn tài liệu thu thập được, đặc biệt là tài liệu địa bạ của Hà Quảng năm Gia Long (1805) và năm Minh Mạng (1840), chúng tôi nhằm mục đích
tìm hiểu tình hình ruộng đất thế kỷ XIX và kinh tế nông nghiệp của Hà Quảng
Từ đó sẽ khôi phục lại bức tranh về Hà Quảng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội
Nhiệm vụ nghiên cứu: Khái quát Hà Quảng với những đặc điểm chính
về tự nhiên, dân cư, hành chính của Hà Quảng
Trang 15Làm rõ được tình hình sở hữu ruộng đất của tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX
Trình bày những đặc trưng về kinh tế nông nghiệp của tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu sở hữu ruộng đất,
tình hình kinh tế nông nghiệp của tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ năm Gia Long (1805) và địa bạ năm Minh
Mệnh (1840)
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn về không gian: Đề tài tập trung nghiên
cứu tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX Với các vấn
đề chính là tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
Giới hạn về thời gian: Giới hạn đề tài đi nghiên cứu trong khoảng thời
gian thế kỷ XIX Tuy nhiên vấn đề hành chính của Hà Quảng được xem xét theo tiến trình lịch sử của tỉnh Cao Bằng từ thời Hùng Vương cho đến nay
4 Nguồn tư liệu của đề tài
Để nghiên cứu đề tài của mình, trong quá trình thực hiện và hoàn thành
đề tài này, chúng tôi đã được tiếp cận và tham khảo vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhưng chủ yếu là các nguồn tư liệu sau đây:
Nguồn tư liệu thành văn: Bao gồm các sử sách được biên soạn, dưới các
triều đại phong kiến có các tác phẩm như Đồng Khánh dư địa chí, Đại Nam
nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ…
Ngoài ra còn bao gồm các tác phẩm nghiên cứu của các tác giả đã xuất bản, đây là các giáo trình, sách chuyên khảo, các tác phẩm có độ chính xác cao
và đáng tin cậy: Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn, Đất nước Việt Nam qua các đời, Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX…
Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử Đảng bộ huyện Hà Quảng, Lịch sử tỉnh Cao Bằng, Địa chí Cao Bằng, Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng…
Trang 16Nguồn tư liệu điền dã: Để tìm hiểu thêm thực tế, cũng như để thẩm định
một số vấn đề mà tư liệu thành văn không có, tôi tiến hành thực địa tại huyện
Hà Quảng tỉnh Cao Bằng ngày nay Đây là nguồn tư liệu bổ trợ cho luận văn
thông qua các tài liệu truyền miệng, ca dao, tục ngữ địa phương…
Nguồn tư liệu địa bạ: Được khai thác tại trung tâm lưu trữ quốc gia I ở
Hà Nội Đây là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu chế độ sở hữu ruộng đất
và tình hình nông nghiệp Trong đề tài này chúng tôi sử dụng tất cả là 11 đơn vị địa bạ trong đó có 8 đơn vị địa bạ có niên đại Gia Long (1805) và 3 đơn vị địa
bạ có niên đại Minh Mệnh (1840)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Với đặc điểm nguồn tư liệu chính là địa bạ nên vấn đề
xử lý tư liệu với độ chính xác cao được đặt lên hàng đầu
Từ các nguồn tư liệu trên chúng tôi kết hợp phương pháp đối chiếu, so sánh các nguồn tư liệu khác liên quan đến đề tài Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa
Phương pháp khai thác tư liệu thành văn đồng thời có sự kết hợp với phương pháp điền dã dân tộc học, địa lý học
Quan trọng hơn cả, phương pháp chúng tôi sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu đó là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để dựng lại bức tranh kinh tế của Hà Quảng thế kỷ XIX
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về tình hình sở hữu ruộng đất ở
Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX Là công trình đầu tiên
Trang 17tập hợp, một cách có hệ thống các nguồn tư liệu đáng tin cậy, đưa ra một số nhận xét, về đặc điểm tình hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở Hà Quảng thế kỷ XIX Dựa vào những nguồn tài liệu thu thập được, đề tài sẽ khôi phục lại, bức tranh hoàn chỉnh về sở hữu ruộng đất ở Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX
Luận văn cung cấp một số tư liệu về ruộng đất của 11 địa bạ thời Nguyễn về Hà Quảng Thông qua đề tài này việc phân tích địa bạ giúp chúng tôi hệ thống được quy mô sở hữu ruộng đấtvà các chính sách quản lý của nhà Nguyễn đối với vùng đất biên giới, xa xôi hẻo lánh, xa trung tâm đất nước
Luận văn còn là một tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ trung đại nói chung, về Hà Quảng nói riêng
7 Cấu trúc của luận văn
Đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu, nội dung, và phần kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng Chương 2: Ruộng đất ở tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp ở tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX
Ngoài ra đề tài có thêm phần phụ lục, mục lục và danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 18Chương 1 KHÁI QUÁT TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
Hà Quảng thuộc huyện Thạch Lâm, theo Đại Nam nhất thống chí có ghi:“ từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 31 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 119 dặm Phía Đông đến địa giới huyện Thạch An tám dặm; phía Tây đến địa giới huyện Cảm Hóa tỉnh Thái Nguyên 23 dặm; phía Nam đến địa giới huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn 60 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Thạch An 59 dặm” [34, tr 1609]
Hà Quảng ngày nay là một vùng đất biên giới nằm ở phía bắc của tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 45km theo đường tỉnh lộ 203, cách thủ đô Hà Nội 255km
Về vị trí địa lý: Huyện Hà Quảng phía đông giáp huyện Trà Lĩnh (Tỉnh Cao Bằng) Phía Tây giáp huyện Thông Nông (Tỉnh Cao Bằng) Phía nam giáp huyện Hòa An (Tỉnh Cao Bằng) Phía bắc giáp tỉnh Quảng Tây Trung Quốc
Được giới hạn ở tọa độ địa lý:
Vĩ độ bắc từ 22047’23” đến 23000’00” (từ xóm Làng Mòn xã Hạ Thôn) đến xóm Nặm Sấn xã Lũng Mặn)
Kinh độ đông từ 105057’14” đến 106015’50” (từ thôn Lũng Dươi xã Sóc
Hà đến thôn Ngườm Luông xã Tổng Cọt)
Huyện Hà Quảng có cửa khẩu cấp tỉnh giáp Trung Quốc là của khẩu Sóc Giang tại xã Sóc Hà cùng với hai cửa khẩu khác là cửa khẩu Tà Lùng và cửa
Trang 19khẩu Hùng Quốc là ba của khẩu lớn của Cao Bằng tiếp giáp với Trung Quốc
Là một trong các huyện của tỉnh có vị trí quan trọng và có nhiều di tích lịch sử quan trọng, gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình của Hà Quảng chia cắt mạnh, xen kẽ giữa các dãy núi đá cao là những thung lũng nhỏ hẹp Huyện nằm ở độ cao khá lớn so với mặt nước biển như ở xã Mã Ba có độ cao 985m, xã Nội Thôn có độ cao là 946m chính đặc điểm này đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tự nhiên của huyện Đồi núi chiếm phần lớn diện tích, nhiều xã địa hình đồi núi chiếm hơn một nửa tổng diện tích
tự nhiên của xã như xã Cần Viên là 82,05%, xã Nà Sác chiếm 85,62% Địa hình chủ yếu là núi đá vôi, có hệ thống những dãy núi đã vôi chiếm diện tích rất lớn Núi đá vôi ở xã Lũng Nặm chiếm 85%, xã Mã Ba có khoảng 86,45% Có những ngọn núi đá nổi tiếng như núi Phja Mạ, Phja Viềng, Phja Tọ… ở xã Sóc
Hà, dãy núi đá Các Mác ở xã Trường Hà là nơi gắn liền với sự kiện lịch sử quan trọng Trong huyện có nhiều ngọn núi cao, nằm rải rác ở các xã như ở xã Thượng
Thôn “có núi Tổng Cáng có độ cao so với mặt nước biển là 900m” [4, tr.263], núi
Phja Lũng Rài, Phja Đeng Keng ở thị trấn Xuân Hòa cao 731m, núi cao trên 1000m như núi Báng Trắc ở xã Hồng Sỹ… Trong huyện có nhiều đèo, hang động, thác nước Có xã quá nửa xóm là có đèo như xã Lũng Nặm có 9 xóm, xã Tổng Cót cả 14 xóm… Các hang động trong huyện to nhỏ cao thấp khác nhau, như hang Ngườm Lồm có độ sâu 100m, hang Ngườm Gảng cao 470m…Với đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi trên địa bàn của huyện có nhiều khu rừng già: như rừng Bó Nặm, rừng Gò Luồng, rừng Khỏi Tướn…
Rừng ở đây có độ che phủ với những tỷ lệ che phủ khác nhau xấp xỉ 50% Có những xã độ che phủ của rừng dưới 50%, ở xã Vân An diện tích đất rừng chiếm 21,26%, xã Qúy Quân và xã Kéo Yên độ che phủ của rừng là 40%
Độ che phủ của rừng trên 50% chiếm tỷ lệ nhỏ như ở xã Nà Sác độ che phủ của rừng hơn 50%, xã Phù Ngọc độ che phủ của rừng là 65% Vì rừng chiếm tỷ lệ khá nhỏ, cùng với sự khai phá bừa bãi của người dân, nên hiện nay rừng ở đây hệ
Trang 20thống thực vật, động vật khá nghèo nàn không được phong phú như các khu vực khác trong tỉnh Cây ăn quả tập trung trong hộ gia đình Nhóm cây dây leo dược liệu chưa được khai thác Còn có một số loại cây có giá trị như cây thảo quyết minh, nhân sâm, cỏ sước, bồ công anh hay cây công nghiệp thì có cây gạo, dả vàng, mạy mạ ở xã Hồng Sỹ Cây lấy gỗ quý hiếm như gố nghiến, san hô, xạ cài, lim, bồ đề… Cùng với thực vật trong rừng có rất nhiều loại động vật quý hiếm cần được quan tâm để bảo vệ như xã Xuân Hòa có cầy hương, chồn, thằn lằn, các loại chim… Xã Trường Hà có khỉ, sơn dương, tê tê, rắn, trăn, cầy hương…
Trong lòng đất của huyện có nhiều khoáng sản quý, như quặng boxit,
sắt, đá, trong “Đồng khánh dư địa chí’’ cũng đã ghi “… núi Nha Sơn ở xã Quảng Trù (núi này có đá nam châm, quặng sắt)… ”, “Hà Quảng có đá nam châm”, “Sắt thì có ở Hà Quảng” [47, tr.657] Quặng Boxit tập trung ở Hà
Quảng với trữ lượng lớn Với đặc điểm địa hình chủ yếu là núi đá, nên đây cũng là nguồn cung cấp vật liệu cho các ngành sản xuất vật liệu xây dựng Nhưng khoáng sản ở đây chưa được đầu tư, khai thác có kế hoạch, như ở xã
Tổng Cọt “ Xã có khoáng sản, chủ yếu là quặng ở Cả Mộng, nhưng chưa được khai thác ” [4 ,tr.272] Do vậy hiệu quả từ khoáng sản đem lại chưa cao
Các con sông ở Hà Quảng, cũng như là ở Cao Bằng đều được bắt nguồn
từ biên giới của Trung Quốc Ở xã Sóc Giang có sông Bằng Giang chảy qua Sông Bằng được bắt nguồn từ tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc Đông Bắc, chảy qua các huyện Hà Quảng, huyện Hòa An, thành phố Cao Bằng, huyện Phục Hòa đến Thủy Khẩu sang Trung Quốc Trong khu vực của huyện hệ thống sông suối có sự phân bố không đều, xã Đào Ngạn
có duy nhất nguồn nước tự nhiên là Bó Meng, Phai Xả; xã Phù Ngọc có hai con suối Bản Bó và Nà Giàng cùng dòng sông Nậm Thoong… Nơi có nhiều con suối như Thị trấn Xuân Hòa có ba con suối chính và hai con suối cạn… Ở huyện còn có một con suối nổi tiếng là suối LêNin Ngoài sông suối trong
huyện còn có đập Bản Nưa, hồ Thôm Cải, ao Thôm Rẹp… “Sát biên giới của
Hà Quảng là vùng thung lũng cao thuộc xã Nà Sác tiếp đến là vùng Lục Khu
Trang 21Hà Quảng – Trà Lĩnh có độ cao từ 500m – 700m,…rất hiếm nước chảy trên bề mặt, chủ yếu là dòng chảy ngầm trong những hang đá vôi sâu dưới lòng đất, nơi lộ ra thường chảy thành những con suối khá lớn, nước trong xanh quanh năm” [ 26, tr.32] Vùng Lục Khu Hà Quảng –Trà Lĩnh, nước chảy ngầm hết
qua đá vôi Chân dãy núi đá đó có những nguồn nước ngầm chảy ra cho ta những con suối dồi dào nước: suối Pắc Bó, Nà Dầm… Ở vùng Lục Khu – Hà Quảng thiếu nước trầm trọng vào mùa khô, vì chỉ có mạch nước ngầm, dòng chảy nhỏ Vì thế công tác thủy lợi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nên có nhiều gia đình phải đi gánh nước xa từ 7km đến 10 km, thậm chí 15 km đến 20 km
Để giải quyết nhu cầu nước sinh hoạt cho người dân, tỉnh đã nghiên cứu lắp bể cho nhân dân ở đây, xây các tuyến đường ống phục vụ nước sinh hoạt, phục vụ cho đồng bào Đặc điểm của sông suối của huyện là các con sông con suối ở đây nhỏ hẹp lượng nước của các dòng sông thường ít vào mùa khô, ảnh hưởng đến nông nghiệp, thiếu nước tưới cho cây trồng Còn mùa mưa nước các dòng sông dòng suối lên cao thậm chí còn gây ra lũ lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sản xuất của người dân Sông ngòi có giá trị về thủy điện Khả năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ rất phong phú, tạo điều kiện cho việc điện khí hóa nông thôn vùng núi, nhất là những nơi lưới điện quốc gia chưa tới
Trước đây với đặc điểm của địa phương khá phức tạp chủ yếu là đồi núi, nên việc xây dựng và sửa chữa đường sá gặp nhiều khó khăn Do vậy đường đi chủ yếu là đường mòn qua núi, qua các con đường nhỏ và hẹp, mật độ chưa cao chất lượng thấp Mạng lưới giao thông vận tải chưa phát triển Loại hình vận tải duy nhất là đường bộ Nên người dân đi lại chủ yếu là đi bộ, vận chuyển hàng hóa chủ yếu là bằng sức người và sức của động vật điển hình như ngựa
thồ…Cho nên khá nhiều tuyến đường cũng đã được sửa chữa như “ tuyến Sóc Giang – Nà Giàng - Khau Mắt, tuyến Đôn Chương – Nặm Nhũng – Tổng Cọt, Sóc Giang – Mỏ Sắt, Sóc Giang – Bó Gai, Bó Gai – Trung Thắng, Trung Thắng – Bình Lăng, Trung Thắng – Mỏ Sắt, ” [63, tr.163] để phục vụ cho việc đi lại được thuận
tiện hơn Có hệ thống đường vành đai biên giới đi qua Hà Quảng và nhiều huyện
Trang 22trong tỉnh Hiện nay với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với ý nghĩa quan trọng của huyện, vì có những di tích lịch sử gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước nên giao thông đã được cải thiện xây mới thuận tiện cho việc đi lại của người dân Giao thông trong huyện đã được mở rộng nâng cấp Nhà nước
đã nâng cấp đường, rải đá cấp phối các tuyến đường liên xã Tất cả các xã đều có đường tỉnh lộ 203 nối liền từ huyện đến xã Giao thông thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển toàn diện về kinh tế văn hóa xã hội, qua đó cải thiện đời sống của nhân dân
Do đặc điểm địa hình nên khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố địa hình Các yếu tố đó đã làm cho khí hậu của huyện chia làm hai mùa
rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa đông thì rét buốt, ít mưa, có mưa chủ yếu
là mưa phùn Mùa hè thì mát mẻ, mưa lớn Khí hậu của huyện chia làm hai mùa, mùa nóng hay còn gọi là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô hay còn gọi là mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Hà Quảng có lượng mưa trung bình, lượng mưa từ 1.300 – 1500mm Về lượng mưa Hà Quảng có thể chia làm hai vùng rõ rệt Vùng phía bắc của Hà Quảng là vùng mưa nhiều với lượng mưa từ 1500mm – 1900mm Vùng phía nam của Hà Quảng là vùng lượng mưa ít từ 1300mm – 1500mm Số ngày mưa trung bình trong năm là 125,6 ngày Tháng 7 có số ngày mưa trung bình nhiều nhất là 17,7 ngày Tháng
12 có số ngày mưa trung bình ít nhất là 4,7 ngày Là khu vực thỉnh thoảng có mưa đá xảy ra Số ngày mưa đá trung bình trong năm là 0,2 ngày Mưa đá thường xuất hiện vào tháng 4, 6 Hà Quảng là huyện có khí hậu khá mát mẻ,
“Những vùng có khí hậu mát mẻ khác là vùng Lục Khu Hà Quảng – Trà Lĩnh” [28, tr.36]” Nhiệt độ trung bình trong năm là 21,4oC Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 cũng chỉ đến 27oC Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 là 13,20C Tuy nhiên có năm nhiệt độ ở Hà Quảng rất cao là 370C Cũng có năm nhiệt độ thấp nhất là 0,40C Số giờ nắng của Hà Quảng là 1421 giờ Độ ẩm trung bình trong năm là 81% Độ ẩm cao nhất là tháng 8 là 84%, độ
ẩm thấp nhất là tháng 2 và tháng 11 là 78%
Trang 23Với điều kiện tự nhiên này đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế
và xã hội, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cần giải quyết một cách phù hợp Nếu muốn phát triển toàn diện, trên nhiều lĩnh vực Hà Quảng có vị trí chiến lược quan trọng đối với Cao Bằng nói riêng và cả nước nói chung Hà Quảng
có tiềm năng phát triển nhiều mặt kinh tế văn hóa xã hội, đặc biệt là du lịch nếu như được đầu tư khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả
1.2 Khái quát lịch sử hành chính
Hà Quảng thuộc địa phận của châu Thạch Lâm nên lịch sử hành chính của Hà Quảng gắn liền với với sự hình thành, phát triển và thay đổi của châu Thạch Lâm
Ngược dòng lịch sử, theo những tài liệu xưa còn lưu giữ được cho đến ngày nay, ta có thể thấy được trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội, đơn vị hành chính của Hà Quảng có nhiều thay đổi cùng với sự phát triển và thay đổi của châu Thạch Lâm nói riêng và Cao Bằng nói chung qua các thời đại
Vào thời đại các vua Hùng dựng nước, Hà Quảng nói riêng và Cao Bằng nói chung thuộc bộ Vũ Định, đây là một trong mười năm bộ của nước Văn Lang Đầu năm 1010 sau khi lên ngôi Vua Lý Thái Tổ đã tổ chức lại các đơn vị hành chính , đã thực hiện đổi 10 đạo lúc trước thành 24 lộ phủ, các vùng xa xôi
hẻo lánh được gọi là châu Cao Bằng thuộc Thái Nguyên “Dưới thời Lý, Thạch Lâm là một bộ phận của châu Quảng Nguyên” [17, tr.32], nên lúc này Hà
Quảng thuộc châu Quảng Nguyên Thế kỷ XII, Hà Quảng thuộc địa phận của châu Thái Nguyên vì thời gian này châu Thạch Lâm có sự thay đổi tên gọi được gọi là châu Thái Nguyên Sang thế kỷ XIII thời nhà Trần, nhà nước sắp xếp lại các đơn vị hành chính, đã đổi 24 lộ của thời nhà Lý thành 12 lộ Thời gian này Hà Quảng vẫn thuộc châu Thái Nguyên Đến năm 1397 thì châu Thái Nguyên được đổi thành trấn Thái Nguyên Thời thuộc Minh châu Thạch Lâm
là huyện Thái Nguyên thuộc phủ Thái Nguyên Nên trong thời gian này Hà Quảng thuộc huyện Thái Nguyên Vào thế kỷ XV, thời nhà Lê, lúc này cả nước
Trang 24chia làm 5 đạo, Hà Quảng vẫn thuộc huyện Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo Năm
1469 châu Thái Nguyên được đổi tên thành châu Thạch Lâm Năm 1499 châu Thạch Lâm thuộc trấn Cao Bằng, từ đây địa phận Hà Quảng thuộc châu Thạch Lâm, phủ Cao Bằng
Vào đầu thế kỷ XIX, thời vua Gia Long (1802 – 1820 ), Hà Quảng thuộc châu Thạch Lâm, vào thời gian đó châu Thạch Lâm thuộc trấn Cao Bằng có 14 tổng, 133 xã, thôn, phường, phố, trại, động Còn Hà Quảng có 8 xã Thời vua Minh Mạng vào năm 1831 trấn Cao Bằng đã được đổi thành tỉnh Cao Bằng Sang năm 1834 châu Thạch Lâm đã được đổi thành huyện Thạch Lâm, đến lúc này vùng đất Hà Quảng nằm trong địa hạt huyện Thạch Lâm Thời vua Đồng Khánh (1886 – 1889 ), Hà Quảng thuộc huyện Thạch Lâm Huyện Thạch Lâm
có 8 tổng và 77 xã Tổng Hà Quảng có 7 xã
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta đến năm 1884 về cơ bản đã chiếm được Bắc Kỳ, cho đến năm 1886 thực dân Pháp đánh Cao Bằng, sau đó thực dân Pháp bắt đầu mở rộng địa bàn chiếm đóng trong đó có Hà Quảng và hoàn thành công cuộc bình định Cao Bằng Cùng với cả nước thực dân Pháp đã thiết lập nền cai trị và tiến hành thay đổi nhiều đơn vị hành chính Thực dân Pháp đã chia Cao Bằng thành 8 châu, 33 tổng và 230 xã Thời thuộc
Pháp thực dân Pháp “lấy tỉnh Cao Bằng đặt làm đạo quân sự thứ hai gồm một phủ là Hòa An và bảy châu là Hà Quảng (châu lỵ Sóc Giang); Thạch An (châu
lỵ Đông Khê), Nguyên Bình, Phúc Hòa (châu lỵ Tà Lùng), Quảng Uyên, Thượng Lang (châu lỵ Trùng Khánh phủ), Hạ Lang”[2, tr 222] Châu Hà
Quảng lúc này có 4 tổng là tổng Hà Quảng có 6 xã, tổng Phù Dúng có 8 xã, tổng Thông Nông có 8 xã, tổng Trung An có 9 xã,
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Sau ngày tổng tuyển cử là ngày 6/1/1946 Vào ngày 25/3/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 148SL thống nhất trong cả nước
Bỏ phủ, châu, quận, trên cấp xã là huyện, bỏ cấp tổng, đổi châu thành huyện,
Trang 25tên các xã, xóm, làng đã được đổi lại cho phù hợp và tồn tại như ngày nay
Theo như quyết định 127-NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 5/4/1965 Theo
quyết định số 67- CP của Hội đồng chính Phủ Ngày 7/4/1966 thì huyện Hà Quảng được tách thành thành hai huyện là huyện Thông Nông và huyện Hà Quảng Năm 1981 một số xã của huyện Hà Quảng, xã Nội Thôn, Vân An, Cải Viên, Thượng Thôn, Lũng Nặm đã được điều chỉnh lại địa giới hành chính
Hiện nay, trên địa bàn của huyện Hà Quảng bao gồm có 19 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn Xuân Hòa và 18 xã: Cải Viên, Đào Ngạn, Hạ Thôn, Hồng
Sỹ, Kéo Yên, Lũng Nặm, Mã Ba, Nà Sác, Nội Thôn, Phù Ngọc, Qúy Quân, Sóc
Hà, Sỹ Hai, Thượng Thôn, Tổng Cọt, Trường Hà, Vân An, Vần Dính
1.3 Các thành phần dân tộc
Hà Quảng là một huyện miền núi biên giới, xa xôi hẻo lánh, được hình thành từ lâu đời Có nhiều bằng chứng cho thấy ngay từ thời tiền sử vùng đất này và con người nơi đây đã xuất hiện và sinh sống Theo sách Cao Bằng thời tiền sử và sơ sử ở Hà Quảng có Hang Piúc ở xã Xuân Hòa có nền và vách hang
có trầm tích màu vàng, trong khối trầm tích có răng hươu và xương thú hóa thạch có tuổi hậu kỳ cánh tân Ở xã Trường Hà có di tích cự thạch theo ông
Nông Văn Chương “do con người dựng nên từ thời Giao Chỉ” [10, tr.233]
Nhân dân ở Hà Quảng chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số đã cư trú ở đây
từ rất lâu đời Mỗi dân tộc khác nhau có những đặc điểm khác nhau từ hình thức canh tác đến phong tục tập quán Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu
số, trong đó dân tộc Tày và dân tộc Nùng là hai dân tộc cư trú sớm nhất là cư dân bản địa chiếm ưu thế Trong Đồng Khánh dư địa chí có ghi chép về các dân
tộc này sống ở đây khi xưa: “Hai huyện Thạch Lâm Thạch An phủ Hòa An người Nùng, người Mán và người Thổ (Tày), ở xen kẽ nhau.” [47, tr.652]
Trong quá trình tồn tại và phát triển mỗi dân tộc với những phong tục tập quán riêng của mình, đã tạo ra dấu ấn văn hóa riêng cho dân tộc của mình Chính điều này đã làm phong phú thêm cho nền văn hóa của huyện Dân cư các dân
Trang 26trương của Đảng đi làm kinh tế ở vùng đất mới, sau năm 1975 sau ngày thống nhất đất nước, thì đã có rất đông những người di chuyển vào miền Nam sinh sống Theo Niên giám thống kê huyện Hà Quảng năm 2012 huyện Hà Quảng
có số dân đông đứng thứ 7 trong tỉnh, số dân của huyện là 33.612 người
Huyện Hà Quảng hiện nay có 10 dân tộc sinh sống bao gồm các dân tộc là: Kinh, Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu
Bảng 1.1: Các thành phần dân tộc huyện Hà Quảng
Số thứ tự Thành phần dân tộc Dân số (Người) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Hà Quảng năm 2012)
Số liệu thống kê 2012 của chi cục thống kê huyện Hà Quảng, các dân tộc chiếm số lượng nhiều hơn cả, vẫn là các dân tộc Tày, Nùng, Mông Các dân tộc này đều có dân số trên 4.000 người, dân tộc Mông có 4.181 người Thậm chí hai dân tộc Tày và Nùng có dân số trên 10.000 người Ngoài ra còn 5 dân tộc khác có dân số từ 13 ngườitrở xuống là dân tộc Mường, Sán Dìu, Sán Chay, Thái, Hoa Mật độ dân số ở Hà Quảng nhìn chung là thấp Ở thời điểm năm
2012, bình quân trên một km2 chỉ có 74 người So với mức trung bình trong
cả tỉnh là 77 người, mật độ dân số của Hà Quảng ở mức trung bình Dân cư
Trang 27thưa thớt nhưng lại phân bố không đều trong huyện Nhìn chung dân cư tập trung đông đúc, nơi gần đường giao thông, các dòng sông thuận lợi cho cuộc sống và buôn bán Do đó phân theo các đơn vị hành chính, thì nơi có mật độ dân số cao nhất là xã Phù Ngọc nằm ở phía bắc của huyện với mật độ dân số
là 141 người/km2 Còn ở những vùng núi cao, đường đi khó khăn hiểm trở thì dân cư thưa thớt Xã có dân cư thưa thớt, mật độ thấp nhất là xã Qúy Quân có 47 người/km2
Tỷ lệ dân số giữa thành thị và nông thôn có sự chênh lệch khá cao, vì đặc điểm của huyện chủ yếu là đồi núi, nghề nghiệp chính của người dân là nông nghiệp do vậy dân số sống ở nông thôn chiếm đa số Theo như số liệu của Phòng Thống kê của huyện trong những năm 2003, 2004, 2005, 2006 thì trong huyện 100% dân số sống ở nông thôn Dân thành thị tập trung ở thị trấn Bắt đầu từ năm 2006 đến nay mới có người dân sống ở thành thị, khi thị trấn Xuân Hòa được thành lập Do vậy số dân ở thành thị chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ
so với dân số sống ở nông thôn Số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Hà Quảng năm 2012 thì dân số nông thôn là chủ yếu chiếm đến 88% là 29.555 người , còn dân số thành thị chỉ chiếm 12% là 4.057 người Dân thành thị chiếm tỷ lệ nhỏ 12 % năm 2012, điều đó chứng tỏ mức độ đô thị hóa ở đây còn thấp Phân theo giới tính thì tỷ lệ nam nữ cũng xấp xỉ tương đương nhau, tỷ lệ chênh lệch giới tính không cao nam giới là 16.755 người chiếm 49,8%, còn nữ giới là 16.857 người chiếm 50,2 %
cư trú, người Nùng đã sớm gắn bó với cuộc sống chung của các dân tộc nước ta” [42, tr.25] Hà Quảng là huyện có sự tập trung của người Nùng rất đông,
Trang 28xét trên quy mô cấp tỉnh số lượng người Nùng ở huyện chỉ đứng sau huyện Quảng Hòa Họ có quan hệ thân thiết, sống xen kẽ trong cùng một khu vực và
đã hòa vào dân tộc Tày Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái
Người Nùng có nhiều nhóm tên gọi khác nhau: Nùng Xuồng, Nùng Cháo, Nùng Lòi, Nùng Mấn Ở Hà Quảng dân tộc Nùng là cư dân bản địa của huyện, chiếm số lượng đông nhất trong huyện, có mặt ở tất cả các xã trong huyện Trước đây có xã 100 % là dân tộc Nùng như xã Cải Viên, Kéo Yên Có những xã dân tộc Nùng chiếm trên 80% như xã Mã Ba, Sỹ Hai, Lũng Nặm Hiện nay do nhiều lý do khác nhau, như kết hôn, hoặc làm ăn sinh sống thì các xã này đã có sự xuất hiện ngày càng nhiều của các dân tộc khác, nên tỷ lệ giữa các dân tộc có sự thay đổi Nhưng dân tộc Nùng vẫn chiếm số lượng đáng kể Người Nùng vẫn có mặt tất cả các xã Có 11 xã có trên 50% là người Nùng Xã có đông người Nùng nhất là xã Vân An, Kéo Yên, Tổng Cọt 96,15% Cũng có những xã có số lượng người Nùng khá thấp như xã Nội Thôn có 7,54%
Người Nùng thường sống ở địa điểm, có vị trí khá thuận lợi so với các dân tộc khác Địa bàn cư trú của người Nùng, là vùng chuyển thấp giữa vùng núi thấp và vùng núi cao Họ thường sinh sống ở sườn đồi, thung lũng, ở cạnh những chân núi đá Bản làng của người Nùng nhà ở san sát thành các cụm dân cư ở dưới chân núi đá Những vị trí này thuận lợi cho nghề nông của họ, thuận lợi cho việc làm nương rẫy cày bừa Hoạt động kinh tế chủ đạo của họ là trồng lúa nước và làm nương rẫy Họ thường thâm canh trên đất ruộng là chủ yếu Ngoài ra họ cũng làm thêm một số nghề thủ công khác để cải thiện cuộc sống như đan lát, nhuộm vải, rèn dao búa… Nghề dệt thủ công phát triển đến trình độ cao, dệt thổ cẩm ở Trường
Hà, Phù Ngọc…Nên các đồ dùng này không chỉ được dùng trong gia đình
mà con có thể đem ra chợ bán, tiến hành trao đổi hàng hóa tăng thêm nguồn thu nhập cho cuộc sống của người dân
Trang 29trước đây được gọi là người Thổ ở lẫn với người Nùng “Dân hạt ấy người Thổ
và người Nùng ở lẫn với nhau, lời nói không giống nhau, người biết tiếng Kinh thì ít” [35, tr.223] Ở Hà Quảng dân tộc Tày đứng thứ hai sau dân tộc Nùng
Dân tộc Tày có các tên gọi khác nhau như: Tày Đeng, Tày Ngạn… Các nhóm dân tộc Tày sống xen kẽ lẫn nhau, và sống xen kẽ với các dân tộc khác Dân tộc Tày cùng với dân tộc Nùng là 2 dân tộc bản địa Dân tộc Tày tập trung chủ yếu
ở các xã Đào Ngạn, Phù Ngọc, thị trấn Xuân Hòa… Và rải rác sinh sống trong các xã còn lại, có xã có tỷ lệ phần trăm khá ít như xã Kéo Yên, xã Nội Thôn Dân tộc Tày sống xen kẽ hòa thuận cùng với các dân tộc khác trong huyện Nghề chính của họ là trồng trọt và chăn nuôi Phần đông người dân tộc Tày cư trú ở những vùng thấp, thung lũng lòng chảo, dọc hai bên bờ các con sông Những nơi khá bằng phẳng, khá là thuận lợi để sinh sống và lao động sản xuất
Họ sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước Ngoài ra còn trồng ngô, hoa màu và các loại cây khác Họ có nhiều nghề truyền thống, có thể kể đến như dệt thổ cẩm, nghề rèn, nghề đan mây tre để làm các vật dụng nông nghiệp Người Tày tập trung khá đông đúc và có trình độ phát triển tương đối cao Họ sống theo bản làng, có bản làng có vài chục hộ cũng có bản vài trăm hộ Họ ở nhà sàn Dân tộc Tày và dân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử Tuy hiện nay đã thành hai dân tộc riêng biệt, nhưng giữa hai dân tộc này vẫn có những nét giống nhau khá rõ nét về văn hóa, kinh tế Họ có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều lễ hội và các làn điệu dân ca, như hát then Văn nghệ dân gian của
họ cũng phong phú Nhiều nghi lễ của họ liên quan đến hát Họ có các điệu hát
Trang 30dân ca mà tiếng dân tộc Nùng gọi là hát “tài sli”, hát giao duyên, hát mừng nhà mới… Trong các lễ hội họ sử dụng nhiều nhạc cụ như thanh la, pí lè, kèn… Nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như ném còn, kéo co, đánh khăng Trong kho tàng văn học dân gian của họ rất phong phú Dân tộc Tày có nhiều nét văn hóa đặc sắc, mà hiện nay vẫn được giữ gìn lưu truyền từ thế hệ nay sang thế hệ khác Hát dân ca có các điệu hát như hát then, hát ru, hát buổn…
1.3.3 Dân tộc Mông
Dân tộc Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao Người Mông thường
có Mông Trắng, Mông Đen… Họ có mối quan hệ thân thuộc với người Dao
Họ có nguồn gốc từ Tây Nam Trung Quốc Do nhiều nguyên nhân như thiên tai mất mùa, bị áp bức bóc lột… nên họ đã di cư đến Việt Nam Người Mông đến Việt Nam có nguồn gốc từ Quý Châu, Trung Quốc Trải qua hàng trăm năm họ
đã coi Việt Nam là quê hương của mình Dân tộc Mông cũng đã sinh sống ở đây từ lâu Dân tộc Mông có dân số đứng thứ ba trong toàn huyện, sau dân tộc Tày và Nùng Nhưng nếu so với hai dân tộc Tày và Nùng, thì dân tộc Mông chiếm tỷ lệ nhỏ hơn rất nhiều chỉ chiếm 12,44% so với dân số toàn huyện Ở xã Lũng Nặm thì dân tộc Mông chỉ chiếm 8,18% Xã Sĩ Hai trong khi dân tộc Nùng chiếm đến 86,37%, thì dân tộc Mông chỉ chiếm 11% Xã Cải Viên tỷ lệ này còn thấp hơn , trong khi dân tộc Nùng chiếm đến 94,87% thì dân tộc Mông chỉ chiếm 0,09%
Dân tộc Mông sinh sống ở vị trí địa hình cao nhất so với các dân tộc khác Họ sinh sống chủ yếu ở những nơi cao, ở vùng núi đá cao Những nơi có địa hình hiểm trở với độ cao 800m-1000m trong những điều kiện khắc nghiệt Địa hình hiểm trở, vách đá dựng đứng những khu vực đồi núi, giao thông đi lại khó khăn rất nhiều, họ chủ yếu là đi bộ hoặc dùng gia súc để làm phương tiện vận chuyển,đi lại Khi nào có ngày chợ, buôn bán trao đổi hàng hóa họ mới hay xuống núi Cuộc sống của họ vẫn chủ yếu dựa vào nương rẫy, du canh du cư Nguồn sống chính của họ là làm nương Với hình thức canh tác này đời sống
Trang 31của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà… Do địa hình nên ngựa là động vật quan trọng, vì địa hình chủ yếu là đồi núi nên, họ phải dùng ngựa để làm phương tiện vận chuyển Một số nghề thủ công của người Mông khá phát triển Dân tộc Mông có những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc Người Mông có những phong tục tập quán riêng, mang đặc trưng riêng của dân tộc mình Dân tộc Mông có nhiều truyện cổ được truyền lại
từ đời này sang đời khác chủ yếu bằng hình thức truyền miệng như “Tir lâus cluas, Muav gaux chaur, Uôngx phaiz, Muar gaux cuz cáus” [15, tr.185]
Người Mông thường múa, thổi khèn lá, khèn trúc trong các ngày đi họp chợ, chợ phiên Tuy nhiên hiện nay không còn duy trì nhiều như trước nữa
1.3.4 Dân tộc Kinh
Vì là vùng đất xa kinh đô, lại có vị trí quan trọng, do vậy Cao Bằng nói chung và Hà Quảng nói riêng đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của chính quyền trung ương Đối với vùng đất Cao Bằng thời Lý đã áp dụng chính sách
“ki mi” có nghĩa là ràng buộc lỏng lẻo, nhưng khi cần thiết cũng sử dụng sức mạnh quân sự để khống chế Bên cạnh đó nhà Lý, còn áp dụng chính sách “nhu viễn” tức là quan hệ “thân tộc và hôn nhân ” Nhà Lý gả con gái cho các tù
trưởng miền núi hoặc tuyển con gái họ để làm phi tần để ràng buộc Như Dương Tự Minh được vua Lý Nhân Tông gả công chúa cho và phong làm Tri phủ Phú Lương Ông đã cai quản một vùng đất rộng lớn Cùng với các chính sách trên, để có thể tăng cường sự ảnh hưởng của mình, hạn chế ảnh hưởng của các tù trưởng thì các triều đại phong kiến đã thực hiện chính sách đưa quan lại miền xuôi lên trấn trị ở miền núi Thời Minh Mạng chính sách này đã được áp
dụng “Minh Mạng từng bước xóa bỏ chế độ thổ quan, thực hiện biện pháp: Người Kinh và người Thổ cùng cai trị” [57, tr.153] Dần dần người Kinh lên
đây càng ngày càng đông dẫn đến hiện tượng “Kinh già hóa Thổ ” Từ đó đến nay số người Kinh lên khu vực này ngày càng nhiều hơn Người Kinh hay còn gọi là người Việt Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường Người Kinh đứng
Trang 32hàng thứ tư về dân số trong huyện Tập trung nhiều nhất ở thị trấn Xuân Hòa với tỷ lệ là 5,87%, ở các xã như xã Phù Ngọc, Trường Hà Ở các xã khác số lượng ít hơn nhiều, như xã Hồng Sỹ, Vần Dính Qua đó ta có thể thấy ở các xã nhiều nhất thì tỷ lệ dân tộc Kinh cũng rất thấp, không đáng kể Nhìn chung, người Kinh chủ yếu sống ở thị trấn, thị xã Họ làm việc trong các cơ quan Nhà nước, hợp tác xã thủ công nghiệp và buôn bán, số người sống ở nông thôn không đáng kể
Dân tộc Kinh chiếm số lượng ít so với các dân tộc khác trong tỉnh Người Kinh từ dưới xuôi lên khu vực này sinh sống, dần dần hòa nhập vào cuộc sống của người bản địa, sống theo các phong tục tập quán của người dân ở đây Người Kinh sống tập trung ở một số xã như xã Nà Sác, Phù Ngọc Ngoài ra họ cũng sống rải rác ở một số xã khác trong huyện Hoạt động kinh tế chủ yếu của
họ là mua bán, trao đổi hàng hóa, sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp
1.3.5 Dân tộc Dao
Người Dao đã xuất hiện và sinh sống ở nước ta từ lâu Ở Cao Bằng người Dao cũng đã đến và sinh sống từ lâu đời Người Dao trước đây gọi là người Mán Tên gọi người Dao được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau có tên tự gọi là Kim Miền hay Kim Mùn Dân tộc Dao ở nước ta có các nhóm như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Giang, Dao Tiền hay có tên gọi khác là Dao Đeo Tiền… Với số lượng nhỏ không nhiều nên họ không chiếm ưu thế ở khu vực này Tiếng nói thuộc ngữ hệ Mông – Dao, của ngữ hệ Nam Á Các nhóm Dao
có tiếng nói riêng, ngôn ngữ của họ gần với ngôn ngữ của người Mông Người Dao có nguồn gốc từ Giang Tô, Trung Quốc di cư đến Việt Nam từ thế kỷ XI, nguyên nhân do chiến tranh loạn lạc Đời sống gặp nhiều khó khăn do vậy họ
đã thiên di xuống phía Nam, đến những vùng đất mới trong đó có Việt Nam
Dân tộc Dao chủ yếu tập trung ở một số xã như xã Qúy Quân, Sóc Hà… Còn ở các xã khác có dân tộc Dao, thì dân tộc Dao chỉ có tỷ lệ dưới 1% như xã Kéo Yên, Nà Sác Họ sinh sống thành từng bản làng, nhưng dân cư thưa thớt,
Trang 33có khi khoảng cách giữa hộ gia đình này với gia đình khác cách nhau một quả đồi Họ cư trú xen kẽ cùng các dân tộc khác Họ sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao, ở các mỏm núi đá cao, lưng chừng núi đất, núi đá, sườn đồi, cũng có bộ phận sống ở các thung lũng Hoạt động kinh tế chủ yếu của họ là làm nương rẫy, gieo hạt trong các hốc đá Hình thức canh tác mang tính chất quảng canh, sản xuất nương rẫy chiếm vị trí chủ đạo Họ chủ yếu làm nương rẫy, kỹ thuật canh tác thô
sơ lạc hậu Do vậy hình thức du canh du cư khá phổ biến Nên cuộc sống của người dân còn thiếu thốn bấp bênh Hiện nay họ đã dần dần ổn định cuộc sống, sống định canh Họ có nghề dệt thổ cẩm Trang phục quần áo, khăn, đan lát, nghề dệt… của họ thường là tự dệt lấy Những nghề thủ công như trên chỉ là nghề phụ,
để phục vụ nhu cầu trong gia đình chứ chưa trở thành hàng hóa Nền kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp Trang phục nổi bật là có nhiều bông hoa đỏ trước ngực,
họ đeo đồ trang sức truyền thống như vòng ở cổ Nhạc cụ họ có nhiều và phong phú như trống, khèn, pí lè, thanh la, sáo…Nổi bật hơn cả trong các nhạc cụ ọ là kèn đồng, được người Mông sử dụng phổ biến trong các ngày lễ tết, lễ hội, đám cưới, đám ma Đây là một trong số 5 dân tộc có dân số đông hơn cả ở Hà Quảng
Trang 34thần của mỗi dân tộc vẫn được giữ gìn và phát huy từ thế hệ này sang thế
khác.“Tuy có thời gian sinh sống ở Việt Nam khác nhau, song các dân tộc thiểu
số đều có truyền thống đoàn kết gắn bó với người Việt để xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc; các dân tộc thiểu số có nguồn gốc bên ngoài đều coi Việt Nam là Tổ quốc thân yêu, hình thành ý thức quốc gia dân tộc Việt Nam” [7, tr.17] Vì vậy
ngày nay các dân tộc trong huyện đang sống hòa thuận với nhau, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống và lao động, để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
hơn Các dân tộc thiểu số ở Hà Quảng nói riêng và cả nước nói chung đều
“…sống tại những địa bàn có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, chính trị,
an ninh quốc phòng ” [7, tr.16] Do vậy “ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ IX, ĐCSVN nhận định “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn
có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng” [7, tr.41]
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Hà Quảng
1.4.1 Về kinh tế
Theo số liệu thống kê năm 2012 Hà Quảng có tổng diện tích đất tự nhiên
là 45.322 ha đứng thứ 6 trong tỉnh hiện trạng đất đai được phân bố như sau:
Bảng 1.2: Tình hình sử dụng đất của huyện Hà Quảng
1 Đất sản xuất nông nghiệp 7.293 16,09
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng năm 2012
Với dân số của huyện là 88% sống ở nông thôn, nên người dân ở đây chủ yếu là làm nông Diện tích đất nông nghiệp là 7.293 ha, chiếm 16,9% diện tích Hà Quảng đang được đầu tư hình thành vùng ngô của tỉnh Ngoài cây ngô
Trang 35thì còn trồng khoai sắn… Năm 2012 diện tích gieo trồng cây lương thực đạt
5154 ha Diện tích trồng cây công nghiệp là 2.034,7 ha Sản lượng nhiều nhất là cây lạc Vùng Lục Khu được đầu tư để trở thành vùng sản xuất lạc hàng hóa Cây công nghiệp lâu năm chỉ có cây chè Các loại cây ăn quả phát triển trong các hộ gia đình Diện tích chỉ có 88,21 ha Nhóm các loại quả chiếm diện tích đáng kể là mận, lê, đào, hồng
Ngoài trồng trọt để tăng thêm thu nhập cho cuộc sống, người dân của trong huyện còn chú ý đến tiểu thủ công nghiệp Các nghề tiểu thủ công nghiệp như: sơ chế, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt thổ cẩm, sản xuất nông cụ, nghề rèn, đan lát tre nứa, nhuộm vải chàm bằng tay, rèn
dao búa Ở Nà Giàng có làng nghề “Khẩu sli” “Ở xã Trường Hà có nghề làm giấy dó và hương thắp ở hai thôn Nà Mạ và Nà Kéo, được các xã và các huyện trong tỉnh biết đến ” [4, tr.290] “Trên cơ sở đó xây dựng cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Sóc Giang với diện tích khoảng 5ha thuộc xã Sóc Giang Cụm công nghiệp này gần đường giao thông, gần cửa khẩu nên thuận tiện trong việc cung cấp nguyên, nhiên liệu, giao lưu buôn bán và tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra hình thành một điểm công nghiệp làng nghề dệt thổ cẩm Lũng Nọi tại xã Phù Ngọc nhằm khôi phục và phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động” [26, tr.97] Thủ công nghiệp không tách khỏi
nông nghiệp Người nông dân chủ yếu làm những lúc nông nhàn
Số lượng vật nuôi ngày càng tăng Năm 2012 số lượng trâu là 5.997 con,
bò là 7.507 con, lợn là 26.480 con, số lượng ngựa là 1.326 con, số lượng dê cừu
là 1.826 con, số lượng gà 127.539 con…Dự án phát triển đàn bò đã được thực hiện ở Hà Quảng Việc nuôi trồng thủy sản được chú ý đầu tư phát triển, suối Bản Bó – Nà Giàng và sông Nậm Thoong có nhiều cá nước ngọt quý hiếm Diện tích nuôi trồng thủy sản là 18,92 ha Giá trị sản xuất thủy sản đạt 1.352 triệu tấn Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 26,83 tấn Sản lượng cá nuôi đạt
25,30 tấn như ở xã Sóc Hà “nuôi cá theo phương pháp quảng canh, hàng năm thu hoạch từ 250 – 300kg cá” [4, tr.245]
Trang 36Trước đây, rừng ở Hà Quảng có độ che phủ khá lớn, nhưng do đốt nương làm rẫy, ý thức bảo vệ rừng chưa cao nên số lượng rừng đã bị giảm rất nhiều Hiện nay độ che phủ của rừng đạt 50%, vấn đề trồng rừng phủ xanh đồi trọc rất cần được quan tâm Trong rừng có nhiều cây gỗ quý như nghiến, lim, sến, táu, trai lý… có giá trị cao Năm 2012 đã khai thác được hơn 212.000 cây tre, nứa, luông Diện tích rừng hiện có là 21.342 ha Đến năm 2012 đã không còn hiện tượng rừng bị cháy bị phá
Kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số mang tính chất tự cung tự cấp Nhưng họ vẫn tiến hành buôn bán, trao đổi hàng hóa ở chợ Chợ cũng là nơi giao lưu tình cảm Hình ảnh chợ đã đi vào những câu thơ:
Hay ngược lên Háng Lủng ngày chợ phiên Tiếng Sli Giang thiết tha lưng chừng núi
(53, tr.153) Trước năm 1945 ở Hà Quảng nổi tiếng với chợ hay được goi là háng
Slốc Sau năm 1945 ở Hà Quảng “Có 6 chợ, chợ chính xây dựng tại Nà Giàng (xã Phù Ngọc) cách huyện lỵ 20 km…Chợ huyện tại Sóc Hà cách xã
3 km Trong chiến tranh biên giới, địch phá sập chợ Năm 1990 tỉnh cho xây lại đình chợ mới…
Năm 1979 huyện lỵ mới đưa về Bản Giới có thêm chợ Bản Giới (xã
Xuân Hòa) và mở thêm chợ Kéo Dà (xã Trường Hà)” [49, tr.414] Hiện
nay các xã đã đầu tư xây dựng các trạm thu mua nông sản, các chợ buôn bán như chợ Tổng Cọt, chợ Nậm… Huyện có cửa khẩu Sóc Giang góp
phần thúc đẩy kinh tế phát triển, tuy nhiên “Khu kinh tế của khẩu Sóc Giang huyện Hà Quảng hiện nay so với khu kinh tế của khẩu Tà Lùng và khu kinh tế cửa khẩu Hùng Quốc thì còn hạn chế hơn nhiều về kim nghạch xuất khẩu và lượng người qua cửa khẩu, cũng như cơ sở hạ tầng và kỹ thuật” [ 26, tr 84] Hiện nay cửa khẩu cũng đang nhận được sự quan tâm, đầu tư để phát triển
Trang 37Ở Hà Quảng hiện nay các ngành công nghiệp, tập trung chủ yếu vào công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Chủ yếu đầu tư vào khai thác
đá và các loại mỏ khác Công nghiệp chế biến phát triển sản xuất thực phẩm, sản phẩm dệt, trang phục, sản phẩm từ kim loại, sản phẩm khoáng phi kim loại… Số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn huyện Hà Quảng là 127
cơ sở, trong đó có 10 cơ sở tập thể và 117 cơ sở cá thể Công nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có
Hà Quảng là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, có nhiều di tích lịch sử:
Bạn thẳng lên đường Pắc Bó Thăm hang Bác ở ngày xưa Suối Lê Nin, núi Các Mác trầm tư Thăm mộ Kim Đồng, thăm đồi Thoong Mạ
(53, tr.153)
Hà Quảng là mảnh đất lịch sử, có truyền thống cách mạng Người dân ở đây luôn tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương mình Đây là nơi có cụm di tích cách mạng tiêu biểu nhất tỉnh Cao Bằng, nên được nhiều người đến thăm nhất Là nơi Bác Hồ đã trở về làm việc sau hơn 30 năm tìm đường cứu nước, là quê hương của Kim Đồng, hiện nay để tưởng nhớ chiến công của người anh hùng này cho dân tộc thì tại thôn Nà Mạ xã Trường Hà Hà Quảng
còn có ngôi mộ của người anh hùng Xã Trường Hà “ có Khu di tích lịch sử Pác Bó Tại đây, xã đã xây dựng nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh” [4, tr.297] Xã
Đào Ngạn có di tích lịch sử cách mạng Khuổi Slứn có hang Ngườm Phja Gào
là nơi ở và làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng Tại xóm Bản Bó xã Phù Ngọc có di tích thành nhà Mạc Tại xóm Cốc Vường xã Sóc Hà có đền thờ Nùng Trí Cao… Đến đây du khách không những có điều kiện thăm quan những thắng cảnh đẹp núi, sông hùng vỹ mà còn có thể ôn lại lịch sử cũng như tìm hiểu thêm một phần con người của Bác và hoạt động cách mạng của Bác trong thời gian Bác hoạt động tại đây
Trang 38Là nơi được thiên nhiên ưu đãi với những tiềm năng phong phú Lại có những di tích lịch sử cách mạng Do vậy du lịch với tiềm năng đầy hứa hẹn sẽ góp phần làm cho Hà Quảng phát triển thoát nghèo, làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế của Hà Quảng – một huyện biên cương của tỉnh Cao Bằng Hà Quảng
có tiềm năng để phát triển du lịch về nguồn, kết hợp với du lịch văn hóa các dân tộc khi đây là nơi có nhiều dân tộc cùng sinh sống, nên văn hóa đa dạng và phong phú, du lịch biên giới Đây là điều kiện thận lợi để phát triển du lịch kết hợp với giáo dục truyền thống lịch sử tốt nhất so với các huyện khác trong tỉnh
1.4.2 Về văn hóa – xã hội
Để nâng cao chất lượng giáo dục trước hết là đầu tư cho cơ sở vật chất, tạo môi trường thuận lợi cho học tập Dù là một huyện miền núi còn nhiều khó khăn nhưng trong thời gian qua đã được sự quan tâm của Đảng về Nhà nước, nên cơ sở vật chất ngày càn được nâng cao Trong huyện mạng lưới trường học phát triển rộng khắp, đủ các cấp học Lớp mầm non là 126 trường, 119 giáo viên, 1.901 học sinh Có 39 trường trung học phổ thông với 372 lớp học và 599 giáo viên (có 19 trường tiểu học với 243 lớp và 294 giáo viên, 17 trường trung học cơ sở với 94 lớp và 219 giáo viên , 3 trường trung học phổ thông với 35 lớp
và 86 giáo viên) Tổng số học sinh phổ thông là 6.413 người, trong đó có 2.865 học sinh tiểu học, 2.327 học sinh trung học cơ sở, 1.221 học sinh trung học phổ thông Chất lượng giáo dục ngày càng được đầu tư nâng cao tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 98,66% Để phổ cập giáo dục và nâng cao trình độ học vấn cho người dân, trong huyện mở các lớp bổ túc để xóa mù chữ
Do đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong thời gian bị thực dân Pháp cai trị, lại bị thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân nên mỗi khi
ốm đau bệnh tật người dân chủ yếu chữa bằng lá cây, rễ cây, chứ không có thuốc thang để dùng Khi có bệnh, ốm đau bệnh tật thì họ thường mời thầy mo, then, tào, bụt về làm lễ cúng để trừ bệnh tật Họ cũng hay dùng những mẹo dân gian, hay những bài thuốc gia truyền để chữa bệnh Đến khi nhà nước đầu tư
Trang 39xây dựng các trạm y tế thì từ đó người dân đã đến đây để chữa bệnh Mạng lưới
y tế trong huyện ngày càng được phát triển rộng khắp, để chăm sóc sức khỏe cho người dân Trên địa bàn có 24 cơ sở y tế và 141 giường bệnh Với 24 cơ sở
y tế thì có 1 bệnh viện đa khoa, 4 phòng khám khu vực, 19 trạm y tế xã Tổng
số giường bệnh là 141 giường bệnh, trong đó bệnh viện đa khoa có 60 giường bệnh, phòng khám khu vực có 24 giường bệnh, trạm y tế xã có 57 giường bệnh
Cán bộ ngành y dược của huyện so với các huyện trong tỉnh khá cao, nên tính đến năm 2012 thì tổng số cán bộ ngành y dược trên địa bàn là có 173 người Trong số 173 người thì bác sỹ có 28 người, y sỹ có 77 người, y tá có 36 người, hộ sinh là 32 người Cán bộ ngành dược trên địa bàn huyện là 11 người, trong đó dược sỹ là 1 người, dược sỹ trung cấp là 8 người, dược tá là 2 người
Tỷ lệ xã có bác sỹ là 68,4% Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 47,4 % Đặc biệt việc chăm sóc sức khỏe cho những người mang thai và trẻ em khá tốt 100% xã có hộ sinh hoặc y sỹ sản 96% trẻ em dưới một tuổi được tiêm chủng đầy đủ Y tế ngày càng được đầu tư nên việc chăm lo sức khỏe cho người dân ngày càng được nâng cao số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dược chăm sóc bảo vệ là 1.519 người
Nhà nước đã rất quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt của người dân, nên đã đầu
tư xây dựng các hệ thống cung cấp nước, các bể nước ăn được xây dựng, các hồ đập tưới tiêu cho người dân như đập Lảo Lường (Bắc Phương) Bên cạnh đó bưu điện, nhà văn hóa xã cũng đã được đầu tư xây dựng Nhà nước đầu tư hệ thống điện lưới quốc gia đến khắp nơi trong huyện Thông tin văn hóa được phát triển, trình độ dân trí của người dân được nâng cao Đời sống của người dân ngày càng được nâng cao ở huyện số lượng hộ dân cư đạt chuẩn văn hóa năm 2012 là 4.486 hộ Ở Hà Quảng thu nhập của người dân còn thấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Hiện nay ở Hà Quảng một số thế mạnh và tiềm năng đang được chú ý đầu tư khai thác để phát triển Trong đó cải tạo các khu di tích lịch sử, để thu hút du lịch là đáng chú ý hơn cả
Trang 40Tiểu kết chương 1: Địa bàn huyện Hà Quảng là địa bàn cư trú từ lâu
đời của các dân tộc thiểu số trong đó chủ yếu là dân tộc Tày Nùng Trình độ dân trí của người dân giữa các vùng trong huyện còn khá chênh lệch Nhưng với sự quan tâm của Đảng Và Nhà nước nhằm nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân từ đó cũng đã cải thiện được đời sống cho nhân dân Đây là huyện có điều kiện tự nhiên chủ yếu là đồi núi Phù hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên cũng cũng chính điều kiện tự nhiên này cũng đã gây ra khá nhiều khó khăn để phát triển kinh tế của huyện