Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được n
Trang 1NGÔ THẾ CƯỜNG
PHÁT TRIỂN TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT
NHẰM TĂNG THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN
TẠI HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khánh Doanh
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn
Ngô Thế Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý Kinh
tế tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, nhằm vận dụng kiến thức đã được học vào thực tiễn sản xuất, được sự nhất trí của trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, khoa Sau đại
học, tôi thực hiện đề tài: “Phát triển trồng rừng sản xuất nhằm tăng thu
nhập cho hộ nông dân tại huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn”
Sau thời gian thực tập khẩn trương và nghiêm túc, với sự cố gắng của bản thân và sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Khánh Doanh, các thầy cô trong khoa Sau Đại học, đến nay luận văn đã hoàn thành Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, khoa Sau Đại học, các thầy cô giáo trong nhà trường đã giúp đỡ trong quá trình học tập Tôi xin đặc biệt cảm ơn: PGS.TS Nguyễn Khánh Doanh đã giành nhiều thời gian quý báu tận tình hướng dẫn chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Thống Kê, Hạt Kiểm Lâm, Ban Quản lý dự án trồng rừng sản xuất theo
QĐ 147 huyện Ba Bể cùng các bạn bè đồng nghiệp và các cán bộ địa phương nơi tôi thực hiện nghiên cứu Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ có hiệu quả đó
Mặc dù bản thân rất cố gắng, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp khuyến khích động viên, song do thời gian có hạn, năng lực bản thân cũng như các thông tin về đối tượng nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 07 năm 2013
Tác giả
Ngô Thế Cường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Phạm vi không gian 3
4.2 Phạm vi thời gian 3
4.3 Phạm vi nội dung 3
5 Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái niệm rừng 4
1.1.2 Các yếu tố tác động đến phát triển trồng rừng sản xuất 4
1.1.2.1 Điều kiện lập địa 4
1.1.2.2 Nguồn giống 5
1.2 Cơ sở thực tiễn 6
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 10
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Quan điểm nghiên cứu 22
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tổng quát 22
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 23
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm của huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn 27
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 30
3.2 Thực trạng phát triển trồng rừng tại huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn 35
3.2.1 Các giai đoạn phát triển rừng trồng sản xuất 35
3.2.2 Nguồn vốn, mục tiêu và cơ cấu cây trồng 37
3.2.3 Diện tích rừng trồng của huyện Ba Bể 39
3.3 Các yếu tố tác động đến phát triển trồng rừng sản xuất trên địa bàn huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn 42
3.3.1 Điều kiện lập địa 42
3.3.2 Nguồn giống 43
3.3.3 Phân bón 44
3.3.4 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 45
3.3.5 Chính sách và thị trường 46
3.4 Tình hình chung về phát triển trồng rừng sản xuất của nhóm hộ nghiên cứu 61
3.4.1 Đặc điểm chung của nhóm hộ trồng rừng sản xuất 61
3.4.2 Tình hình sinh trưởng, năng suất và chất lượng của các mô hình rừng trồng trong nhóm hộ điều tra 63
3.4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình trồng rừng trong nhóm hộ điều tra 65
Trang 73.4.4 Tình hình thu nhập của nhóm hộ nghiên cứu trên địa bàn huyện Ba Bể -
tỉnh Bắc Kạn 71
3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển trồng rừng sản xuất tại huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn 73
3.5.1 Thuận lợi 73
3.5.2 Khó khăn 74
CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT 76 4.1 Phương hướng phát triển trồng rừng sản xuất tại huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn 76
4.1.1 Một số quan điểm phát triển 76
4.1.2 Một số chỉ tiêu trồng rừng sản xuất tại huyện Ba Bể 78
4.2 Một số giải pháp phát triển trồng rừng sản xuất nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn 78
4.2.1.Giải pháp về lập địa 78
4.2.2 Giải pháp về giống 79
4.2.3 Giải pháp về phân bón 79
4.2.4 Giải pháp về kỹ thuật lâm sinh 80
4.2.5 Giải pháp về chính sách và thị trường 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 86
PHỤ LỤC 91
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân loại đất đai theo đơn vị hành chính 30
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Ba Bể từ năm 2008 đến năm 2012 31
Bảng 3.3 Tình thu nhập kinh tế của huyện Ba Bể từ năm 2008 - 2012 32
Bảng 3.4 Nguồn vốn đầu tư và mục tiêu trồng rừng sản xuất 37
Bảng 3.5 Cơ cấu cây trồng và sản phẩm trồng rừng sản xuất 38
Bảng 3.6 Tổng hợp diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 39
Bảng 3.7 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp huyện Ba Bể 40
Bảng 3.8 Tổng hợp diện tích rừng và đất rừng sản xuất phân theo xã của huyện Ba Bể 41
Bảng 3.9 Danh mục các loài cây đưa vào trồng rừng huyện Ba Bể 43
Bảng 3.10 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng 45
Bảng 3.11 Diện tích đất nông nghiệp đã trao cho hộ dân 56
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của giao đất, giao rừngtới phát triển trồng rừng sản xuất 57
Bảng 3.13 Kết quả điều tra, khảo sát một số cơ sở chế biến và sử dụng gỗ rừng trồng của huyện Ba Bể 59
Bảng 3.14 Tình hình nhân lực của hộ 61
Bảng 3.15 Tình hình đất sản xuất của nhóm hộ 62
Bảng 3.16 Sinh trưởng và trữ lượng cây trồng 64
Bảng 3.17 Chất lượng rừng trồng 3 mô hình nghiên cứu 65
Bảng 3.18 Tổng chi phí 01 ha rừng trồng đến hết chu kỳ kinh doanh 66
Bảng 3.19 Thu thập cho 01 ha rừng trồng của các mô hình điều tra 67
Bảng 3.20 Cân đối thu nhập và chi phí cho 01 ha rừng trồngtrong các mô hình 67
Bảng 3.21 Biểu dự đoán kết quả kinh tế cho 01 ha rừng trồngtrong các mô hình 68 Bảng 3.22 Mức độ tham gia của người dân vào hoạt động lâm nghiệp 70
Bảng 3.23 Tình hình thu nhập trước khi trồng rừng của nhóm hộ 71
Bảng 3.24 Thu nhập của nhóm hộ đã cho sản phẩm từ trồng rừng 72
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu phát triển trồng rừng sản xuất đến năm 2020 78
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Diện tích đất sản xuất của nhóm hộ 63 Biểu đồ 3.2 Thu nhập của nhóm hộ trước khi tham gia trồng rừng 71 Biểu đồ 3.3 Thu nhập của nhóm hộ đã có sản phẩm từ trồng rừng 72
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ba Bể là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn có diện tích
tự nhiên là 68.412,28 ha Trong đó diện tích đất lâm nghiệp 54.875,80 ha chiếm 74% tổng diện tích của toàn huyện Nền sản xuất chính là Nông - Lâm nghiệp Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ trên địa bàn còn nhỏ lẻ, các hình thức sản xuất chủ yếu là thủ công kết hợp cơ khí nhỏ quy mô hộ gia đình Ba Bể là huyện có tài nguyên rừng và đất rừng phong phú, đây là thế mạnh để phát triển sản xuất Nông - Lâm nghiệp Đơn vị hành chính trên địa bàn huyện gồm 15 xã và 1 thị trấn, hiện nay 9/16 xã thuộc
xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 Trong những năm vừa qua mặc dù được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như các cấp, các ngành trên địa bàn song huyện Ba Bể vẫn là một trong những huyện nghèo của tỉnh Bắc Kạn
Dân số trong huyện Ba Bể là 47.249 người, với 7 dân tộc anh em đang sinh sống, gồm: Dân tộc Tày, Kinh, Dao, Nùng và một số ít các dân tộc khác Thu nhập bình quân trên đầu người của huyện còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn rất cao đặc biệt là dân tộc thiểu số do họ sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về mặt địa lý giao thông đi lại khó khăn, họ khó tiếp cận với nguồn vốn để phát triển kinh tế hộ gia đình Hiện tại, trên địa bàn tỉnh đã có những chương trình dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho giáo dục, y tế,
hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao năng lực…Nhưng các chương trình, dự án này còn đầu tư chồng chéo, không đồng bộ và chưa đủ lực để giúp các hộ thoát khỏi đói nghèo
Vấn đề về khai thác tiềm năng ở địa phương với thế mạnh của một huyện miền núi là rừng, tuy đã được các cấp, các ngành chú ý phát triển trong những năm qua nhưng đất rừng còn nhiều, chưa được khai thác hiệu quả tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Đất có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 12trên địa bàn còn nhiều có thể quy hoạch là vườn đồi, vườn rừng, trang trại, mặt khác số diện tích đất lâm nghiệp đã được giao cho hộ gia đình quản lý cũng chưa sử dụng đúng mục đích, chưa có sự tác động con người vào làm nghề rừng, nâng cao hiệu quả của đất rừng Đây là một tiềm năng to lớn của địa phương trong vấn đề thu hút và sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Phát triển trồng rừng
sản xuất nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân tại huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn” làm cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp có tính khả thi đạt mục tiêu
phát triển lâm nghiệp ở địa bàn nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng trồng rừng sản xuất của hộ nông dân tại huyện Ba
Bể, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển rừng trồng sản xuất tăng thu nhập và đời sống cho hộ nông dân phát triển kinh tế xã hội của huyện theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ, tăng sản lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường
Trang 133 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến phát triển trồng rừng sản xuất tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp phát triển trồng rừng sản xuất
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm rừng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng
từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004)
Rừng sản xuất: Là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh
gỗ, các loại lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường
Rừng phòng hộ: Là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chóng xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu và bảo vệ môi trường
Rừng đặc dụng: Là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của Quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử; văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường
Trồng rừng được hiểu là sự chuyển đổi từ đất không có rừng thành rừng thông qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên
Trong khuôn khổ đề tài này quan tâm nghiên cứu về vấn đề trồng rừng sản xuất trên địa bàn huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn và các yếu tổ ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng để tăng thu nhập cải thiện đời sống cho người nông dân
1.1.2 Các yếu tố tác động đến phát triển trồng rừng sản xuất
1.1.2.1 Điều kiện lập địa
Điều kiện lập địa là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng, nếu chọn cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa thì cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 151.1.2.2 Nguồn giống
Giống là khâu quan trọng nhất của trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng sản xuất Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao Giống được cải thiện có thể làm tăng 50% đến 60% năng suất rừng trồng Vì vậy, nghiên cứu về giống cây trồng lâm nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là yêu cầu cấp bách đối với sản xuất lâm nghiệp
1.1.2.4 Kỹ thuật lâm sinh
Kỹ thuật lâm sinh là tổng hợp các biện pháp biện pháp tác động đến công tác trồng rừng bao gồm từ xử lý thực bì, làm đất, cuốc lấp hố, mật độ và phương thức trồng rừng, nguồn giống cây trồng, bón phân, chăm sóc rừng trồng cho đến khai thác rừng Tùy từng loài cây, điều kiện đất đai cụ thể mà
áp dụng biệt pháp kỹ thuật lâm sinh cho phù hợp sẽ giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt
1.1.2.5 Chính sách và thị trường
Cơ chế chính sách là một mắt xích rất quan trọng, quyết định đến sự thành bại của bất kỳ quá trình sản xuất nào Vì vậy, để phát triển ngành lâm nghiệp cần phải có chương trình xây dựng chính sách trên cơ sở tổng kết đánh giá hệ thống chính sách đã có một cách toàn diện và khoa học
Trang 16Rừng có ý nghĩa rất quan trọng nên Chính phủ đã ban hành hàng loạt cách chính sách về quản lý rừng như Luật đất đai, Luật bảo vệ và Phát triển rừng, các Nghị định 01/CP, Nghị định 163/CP về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp; các chính sách về đầu tư tín dụng như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định 50/1999/NĐ-CP, Quyết định 661/QĐ-TTg, Quyết định 147/2007/QĐ-TTg, tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng sản xuất
Thị trường lâm sản chính là sự chuyển giao quyền sở hữu lâm sản từ người chủ này sang người chủ khác với một giá cả nhất định do họ thoả thuận định ra
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trồng rừng là một khâu quan trọng trong công tác phát triển rừng nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển hình thuộc các chuyên đề sau đây:
1.2.1.1 Nghiên cứu về lập địa
Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: 1) khí hậu, 2) địa hình, 3) loại đất, 4) hiện trạng thực bì Điển hình là các công trình nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974 và 1992), Pandey (1983), Golcalves J.L.M
và cộng sự (2004) Khi nghiên cứu đặc điểm đất ở Châu Phi, Laurie, Julian Evans (1974) cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dầy tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối Vì thế, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất ấy cũng khác nhau Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P patula ở Swaziland, Evans, J (1974) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) với
Trang 17các yếu tố địa hình và đất đai Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1983) đã chỉ cho thấy Bạch đàn E camaldulensis trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thường chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt tới 30m3/ha/năm Rõ ràng điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau rõ rệt Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.L.M và cộng sự (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các yếu tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau đây: nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng
1.2.1.2 Nghiên cứu về giống
Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể Điển hình như ở Công
Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7 Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn đựơc giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm (Pandey, 1983) Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E.grandis đạt từ 35-40m3/ha/năm, giống E.urophylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên đến 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988)
1.2.1.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng
Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không
Trang 18bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50% Trong một công trình nghiên cứu khác ở South Africa của Schonau (1985) về vấn đề phân bón cho bạch đàn Eucalyptus grandis đã cho thấy công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N:P:K= 3 :2 :1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất Đối với Thông caribê (P caribeae) ở Colombia, Bolstad và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho rừng trồng như Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium Khi nghiên cứu phân bón cho rừng Thông caribê (P.caribeae) ở CuBa, Herrero và cộng sự (1988) cũng cho thấy bón Phosphate đã nâng sản lượng từ 56m3
lên 69m3/ha sau 13 năm trồng
1.2.1.4 Nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh
Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng Vấn đề này đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J.(1992) tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau (2.985 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao
Tại Malaysia năm (1995) người ta tiến hành xây dựng rừng hỗn loài nhiều tầng trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch với 23 loài bản địa có giá trị, trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh,
vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp
Trang 191.2.1.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường
Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế
là chủ yếu Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B Durst (2004), để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường Nhận biết được hai vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật nghiên cứu kinh
tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2004) đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyết khích tư nhân phát triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản
- Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng
- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung về vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân Có thể nói đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng mà còn gợi ý những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Trang 20Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop (2004) ở Thailand, Ashadi và Nina Mindawati (2004) ở Indonesia Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem
là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân
Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng
Tóm lại: Điểm qua những vấn đề nghiên cứu trên thế giới có liên quan cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu khá sâu và công phu Tuy các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã giải quyết khá đầy đủ các vấn đề có liên quan, nhưng hầu hết các công trình được nghiên cứu trong những hoàn cảnh sinh thái và các điều kiện kinh tế kỹ thuật hết sức khác nhau nên không thể ứng dụng một cách máy móc vào điều kiện cụ thể của nước ta nói chung cũng như ở huyện Ba Bể nói riêng
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ngành lâm nghiệp của nước ta đã có những đổi mới đáng kể trong những năm qua Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, các hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng được quan tâm Các chương trình dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả
Trang 21nước với nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thử nghiệm và phát triển, nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút và xây dựng quy trình, quy phạm phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng, trong đó có trồng rừng sản xuất Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, đánh giá liên quan tới trồng rừng ở nước ta thuộc các lĩnh vực sau đây:
1.2.2.1 Nghiên cứu về lập địa
Vấn đề xác định điều kiện lập địa thích hợp cho các loài cây trồng ở nước
ta trong những năm gần đây đã được chú ý và đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau, nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994), khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, các tác giả căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là đơn vị
sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80% Đặc biệt, thích hợp để phát triển các loài cây cung cấp gỗ công nghiệp như một số loài Bạch đàn (Eucalyptus)
và Keo (Acacia) Ngoài ra, vùng Đông Nam Bộ còn thích hợp để trồng rừng
gỗ lớn như Tếch (Tectona grandis), Sao (Hopea odorata) và Dầu nước (D.alatus) Khi nghiên cứu tiêu chuẩn phân chia lập địa cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, Ngô Đình Quế và cộng sự (2001) cũng đã nhận định có 4 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng công nghiệp, bao gồm: 1) đá mẹ và các loại đất; 2) độ dày tầng đất và tỷ lệ đá lẫn; 3) độ dốc; 4) thảm thực vật chỉ thị Khi nghiên cứu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã để phục vụ trồng rừng, Đỗ Đình Sâm và cộng
sự (2003) cũng đã xây dựng được bộ tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá gồm 6 tiêu chí và 24 chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên và 5 tiêu chí về điều kiện kinh tế xã hội
Nghiên cứu trồng rừng Keo lai trên các loại đất khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) cũng đã chỉ ra rằng mặc dù cũng
đã được áp dụng các biện pháp thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu đỏ
Trang 22Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ Khi đánh giá năng suất rừng trồng Bạch đàn (E.urophylla) trên 3 loại đất khác nhau ở khu vực Tây Nguyên, Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2004) cũng có nhận xét tương tự, trên đất xám granis ở An Khê và K’Bang rừng trồng E.urophylla sau 4-5 năm tuổi
có thể đạt từ 20-24m3/ha/năm, nhưng trên đất nâu đỏ phát triển trên đá macma acid ở Mang Yang sau 6 năm tuổi chỉ đạt 12m3/ha/năm, trên đất đỏ bazal
định điều kiện lập địa thích hợp cho trồng rừng nói chung là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao năng suất rừng trồng
1.2.2.2 Nghiên cứu về giống
Công tác giống cây rừng trong những năm gần đây phục vụ cho sản xuất trên phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả rõ rệt, điển hình là những công trình trong nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Đặc biệt là những công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Khả (1999), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) đã nghiên cứu tuyển chọn các dòng Keo lai tự nhiên, Bạch đàn có năng suất cao và khả năng kháng bệnh Hơn nữa, đã lai giống nhân tạo thành công cho các loài Keo và Bạch đàn, kết quả đã chọn tạo ra các dòng lai có khả năng sinh trưởng gấp từ 1,5-2,5 lần các giống bố mẹ, năng xuất
40m3/ha/năm
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích kinh doanh khác nhau, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng giống cây bản địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327 và 661
Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tổng hợp và đề xuất được 100 loài cây bản địa phục vụ các chương trình trồng rừng, trong đó có nhiều loài đã được đưa và sản xuất đại trà và có
Trang 23quy mô lớn như: Quế, Mỡ, Trẩu, Sở, Thông đuôi ngựa, Samu nhiều loài khác với quy mô nhỏ hơn như Lim xẹt, Lát hoa, Giổi xanh, Dó giấy (Viện KHLN Việt Nam, 2002)
Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hom cành cây Luồng Thanh Hóa thành công của Lê Quang Liên (1991) đã nâng cao hệ số nhân giống phục vụ sản xuất Đặc biệt, tác giả đã di thực thành công cây Luồng từ Thanh Hóa ra 1 số tỉnh phía Bắc như: Phú Thọ, Hòa Bình đã bổ sung thêm loài cây trồng trong
cơ cấu các loài cây nguyên liệu giấy phục vụ nhà máy giấy Bãi Bằng, đồng thời
là loài cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Trong khoảng 10 năm trở lại đây công tác nghiên cứu giống cây rừng ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhiều giống TBKT và giống quốc gia đã được công nhận, khả năng sinh trưởng của các giống này vượt trội từ 50-100% về thể tích so với các giống bố mẹ Đặc biệt, gần đây nhiều tác giả đã đi sâu chọn giống theo hướng chất lượng Trên cơ sở các giống có khả năng sinh trưởng nhanh, các tác giả tiếp tục chọn giống theo hướng kháng bệnh, điển hình là công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000) đã chọn được 2 dòng Bạch đàn là MS16 và MS23 và đã được công nhận là giống TBKT Song song với việc chọn giống, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính nhằm duy trì đặc điểm phẩm chất của cây mẹ đã lựa chọn phục vụ sản xuất có hiệu quả hơn
Hiện nay hầu hết các vùng kinh tế trọng điểm đều có vườn ươm công nghiệp với quy mô sản xuất hàng triệu cây một năm Những thành công trong công tác nghiên cứu giống cây rừng đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển rừng trồng sản xuất ở nước ta trong những năm qua Tuy nhiên, những giống cây mới có năng suất cao chủ yếu được thử nghiệm và phát triển chủ yếu ở một số tỉnh của các vùng như Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Đối với vùng núi phía Bắc, trong đó có huyện Ba
Bể tỉnh Bắc Kạn mới chỉ được phát triển trong phạm vi hẹp Vì vậy, đưa
Trang 24nhanh những giống mới và kỹ thuật nhân giống vô tính vào sản xuất là rất cần thiết nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả công tác trồng rừng, thu hút nhiều thành phần kinh tế vào xây dựng rừng Đây cũng là mong muốn và là chủ trương của chính quyền địa phương các cấp của tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Ba Bể nói riêng
1.2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng
Bón phân cho cây rừng cũng là một trong những biện pháp thâm canh ở nước ta đã được áp dụng trong khoảng 10-15 năm trở lại đây, bón phân nhằm
bổ sung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu Đặc biệt, bón phân chuồng không những cải thiện được hoá tính mà còn cải thiện được lý tính của đất, nổi bật là công trình bón phân cho Keo lai ở Cẩm Quỳ (Ba Vì-Hà Tây cũ) của Lê Đình Khả và cộng sự (1999) Ngày nay do nguồn phân hữu cơ có hạn, để bón cho rừng trồng thông thường
là các loại phân khoáng tổng hợp như NPK, supe lân hoặc phân vi sinh hữu cơ và thường được dùng để bón lót và bón thúc cho rừng trồng trong từ 1-2 năm đầu, có thể điểm qua một số công trình nổi bật nhất trong thời gian gần đây như công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm (2001), tác giả đã bố trí 14 công thức phân khác nhau cho Keo lai trồng trên đất phù sa cổ ở Đông Nam
Bộ, sau 2 năm tuổi kết quả cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt nhất ở những công thức bón từ 150-200gNPK kết hợp với 100g phân vi sinh, trữ lượng cây đứng có thể đạt tới 26m3/ha/năm Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải (2003) đã bố trí 8 công thức thí nghiệm bón lót khác nhau cho 3 giống Thông Caribeae (P caribaea var bahamensis -1167; P.caribaea var hondurensis-1160 và P caribaea var hondurensis - giống Đại Lải) trên đất nghèo xấu ở Cẩm Quỳ (Ba Vì-Hà Tây cũ), kết quả thí nghiệm cho thấy sau từ 14-36 tháng tuổi cả 3 giống Thông trên đều sinh trưởng tốt ở công thức bón
Trang 25Dũng (2003), cũng đã thử nghiệm các công thức bón lót khác nhau cho các loài Bạch đàn E camaldulensis và E tereticornis, kết quả cho thấy phân bón
có ảnh hưởng khá rõ rệt đến sinh trưởng của cả 2 loài Bạch đàn nói trên, đặc biệt ở công thức bón phân từ 50 - 100gNPK kết hợp với 50 -100gP/gốc đã làm tăng lượng sinh trưởng về chiều cao từ 31-36% so với đối chứng ở giai đoạn 3,5 tuổi Trong một thí nghiệm khác với Keo lai trồng trên đất feralit vàng xám ở Tân Lập (Bình Phước), Phạm Thế Dũng (2004) cũng đã cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt ở công thức bón lót gồm 100g NPK kết hợp với 500g
vi sinh Sông Gianh/Gốc
Khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Bạch đàn uro từ 1,5-5 tuổi trên
6 địa điểm khác nhau, Nguyễn Đức Minh và cộng sự (2004) đã chỉ ra rằng hiệu lực của phân NPK bao giờ cũng cao hơn phân vi sinh hữu cơ hoặc supe lân bón riêng rẽ, bón 300gNPK/gốc có hiệu lực cao hơn bón 200gNPK/gốc và 100gNPK/gốc Tương tự như vậy, khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Keo lai từ 1,5-5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau, tác giả cho thấy rừng trồng Keo lai được bón lót 100gNPK/gốc và bón thúc 100gNPK/gốc vào năm thứ 2 cho lượng tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót
Ngô Đình Quế và cộng sự (2004) đã tập hợp các công trình nghiên cứu trước đây và nghiên cứu bổ xung đã xây dựng được quy phạm kỹ thuật bón phân cho 4 loài cây chủ yếu là Keo lai, Bạch đàn uro, Thông nhựa và Dầu nước Ngoài ra, Lê Quốc Huy (2002) cũng đã nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế biến chế phẩm Rhizobium cho Keo lai, Keo tai tượng trong vườn ươm và rừng non nhằm nâng cao chất lượng cây con và năng suất rừng trồng
Ngoài ra công trình “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu” của Nguyễn Huy Sơn (2006) cũng
đã xây dựng thí nghiệm trồng rừng thâm canh Keo lai ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên trong đó có thí nghiệm bón lót và bón thúc năm thứ 2 gồm: 100g NPK(5:10:3) + 400g VS+50g vôi bột/gốc, dự đoán sau 7-8 năm có thể đạt từ
Trang 2625-30m3/ha/năm Cũng ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên với một số loài Bạch đàn bón: 200g NPK(5:10:3) + 100VS + 50g vôi bột/hố, dự đoán sau 7-8 năm tuổi
có thể đạt 25- 30m3/ha/năm
Như vậy, bón phân cho rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh đã được tập trung nghiên cứu nhiều, hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt đến khả năng sinh trưởng của các loài cây trồng, nhất là các loài cây trồng rừng nguyên liệu công nghiệp Tuy nhiên, mỗi loài cây trên mỗi dạng lập địa có nhu cầu phân bón khác nhau
1.2.2.4 Nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh
Trong những năm gần đây, việc áp dụng cơ giới trong trồng rừng, nhất
là trồng rừng công nghiệp đã được các nhà lâm học quan tâm, điển hình là công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001), thông qua thí nghiệm cày ngầm để trồng Bạch đàn uro trên đất thoái hoá ở Phù Ninh (Phú Thọ), tác giả cho thấy năng suất của rừng Bạch đàn được trồng trên đất cày ngầm cao hơn nhiều so với nơi làm đất bằng thủ công, sau 8 tuổi ở nơi làm đất bằng cày ngầm trữ lượng cây đứng của Bạch đàn uro có thể đạt
lại, trên đất dốc chưa bị thoái hoá ở Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng
sự (2005) đã thử nghiệm 2 phương pháp làm đất thủ công và cơ giới để trồng rừng Keo lai, kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của Keo lai ở phương pháp làm đất thủ công lại tốt hơn phương pháp làm đất cơ giới, sau 3 năm tuổi
ở công thức làm đất cơ giới chỉ đạt từ 8,74-8,87cm về đường kính và 9,92m về chiều cao, nhưng ở công thức làm đất thủ công lại đạt với các trị số tương ứng là 9,40- 10,38cm và 11,33-11,71m Tác giả có nhận xét rằng trên đất dốc còn tơi xốp, sử dụng cơ giới để xử lý thực bì, san ủi gốc cây và cày toàn diện sẽ làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi và thúc đẩy quá trình thoái hoá nhanh hơn Vì vậy, phải tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai và địa hình để xác định phương pháp làm đất thích hợp
Trang 279,82-Ngoài ra, một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng rõ rệt nhất đến năng suất rừng trồng đó là mật độ Mật độ quá cao
sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, nhưng mật độ thấp sẽ lãng phí đất, phải tốn công chăm sóc và diệt cỏ dại Hơn nữa, mật độ thấp cành nhánh phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng gỗ nguyên liệu Mật độ trồng ban đầu như thế nào thì có hiệu quả nhất? Vấn đề này phải căn cứ vào mục đích trồng rừng, đồng thời tuỳ thuộc vào lập địa nơi gây trồng Tuy nhiên, vấn
đề này ở trong nước vẫn còn ít các công trình nghiên cứu, theo kinh nghiệm ở một số công ty trồng rừng nguyên liệu hiện nay thường trồng từ 1.600-2.500 cây/ha đối với các loài cây mọc nhanh và trung bình, mật độ này đã phải là tối
ưu chưa? Câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời một cách có khoa học Khi đánh giá rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau là: 952 cây/ha; 1.111 cây/ha; 1.142 cây/ha và 1.666 cây/ha, kết quả phân tích cho thấy sau 3 năm trồng năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1.666 cây/ha
Trang 28Để xác định mật độ trồng thích hợp trên loại đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét ở khu vực Bắc Trung Bộ là công trình “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu” của Nguyễn Huy Sơn (2006) đã bố trí thí nghiệm 3 loại mật độ: 1.330 cây/ha (3x2,5m); 1.660 cây/ha (3x2m) và 2.500 cây/ha (2x2m), giống hỗn hợp của các dòng Keo lai BV5; BV10 và BV33, nhân giống bằng phương pháp giâm hom Qua thống kê sau 1 năm trồng tỷ lệ sống khá cao, đạt từ 98% - 100%, sau 2 năm tỷ lệ sống ở các công thức thí nghiệm đều giảm những vẫn đạt từ 91,67%- 93,52% Số liệu sinh trưởng và kết quả phân tích phương sai cho thấy sau 1 năm mật độ trồng đã bắt đầu có ảnh hưởng rõ đến khả năng sinh trưởng cả về đường kính, chiều cao và đường kính tán của Keo lai (Ftt>F05), sau 2 năm tuổi sự ảnh hưởng này càng thể hiện rõ hơn (Ftt>F05), tốt nhất thuộc về mật độ 1.330cây/ha, tiếp theo ở mật độ 1.660 cây/ha và kém nhất ở mật độ 2.500cây/ha Cũng nghiên cứu về mật độ trồng rừng với mục tiêu nguyên liệu dăm giấy, Nguyễn Huy Sơn (2006) đã bố trí thí nghiệm mật độ trên đất phù sa cổ tại Đồng Nơ (Bình Phước) gồm 3 công thức: 1.100 cây/ha (3x3m), 1.660 cây/ha (3x2m), 2.220 cây/ha (3x1,5m), cây con được nhân giống bằng phương pháp giâm hom hỗn hợp của các dòng TB03 và TB12 với
tỷ lệ 1:1:1:1 Xử lý thực bì và làm đất bằng phương pháp cơ giới, cày toàn diện sâu 25cm, cày rạch hàng sâu 40cm, bón lót đồng nhất 200gNPK+100g vi sinh Sau 24 tháng tuổi tỷ lệ sống giữa các công thức mật độ biến động từ 86,46-97,90% Cao nhất ở mật độ 1100cây/ha và giảm dần theo chiều tăng của mật độ, thấp nhất ở mật độ 2.220cây/ha Khả năng sinh trưởng đường kính và chiều cao giữa các công thức mật độ sau 24 tháng tuổi đã khác nhau
rõ rệt (Ft>F05), cao nhất ở mật độ 1.100 cây/ha với đường kính đạt 7,72cm, chiều cao 8,79m, tiếp theo là mật độ 1.660 cây/ha có các trị số tương ứng là 6,46cm và 7,40m, thấp nhất là mật độ 2.220 cây/ha có các trị số tương ứng là 5,58cm và 7,12m Như vậy, mật độ có ảnh hưởng khá rõ đến khả năng sinh trưởng và năng suất rừng trồng
Trang 291.2.2.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường
Cùng với đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp, chính phủ đã ban hành hàng loạt cách chính sách về quản lý rừng như Luật đất đai, Luật bảo vệ và Phát triển rừng, các Nghị định 01/CP, Nghị định 163/CP về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp; các chính sách về đầu tư tín dụng như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định 50/1999/NĐ-CP, Quyết định 661/QĐ-TTg, Quyết định 147/2007/QĐ-TTg, tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng sản xuất
Nhìn chung những nghiên cứu về chính sách phát triển rừng trồng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng mới chỉ quan tâm tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình của các tác giả sau đây: Đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá, Võ Nguyên Huân (1997) đã xác định được các loại hình sản xuất và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong sử dụng và quản lý rừng bền vững Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất và khoán bảo vệ rừng Nghiên cứu rà soát các chính sách liên quan đến rừng như chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng Phạm Xuân Phương (2003) cũng đã chỉ rõ các chủ trương và chính sách là rất kịp thời và có ý nghĩa, nhưng trong quá trình triển khai còn nhiều bất cập Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để có quy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt
Đánh giá thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong thời gian qua Nguyễn xuân Quát và cộng sự (2003)
đã nêu ra được những khó khăn, thuận lợi của công tác trồng rừng phục vụ
Trang 30công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản Thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vì đây là vấn đề có quan hệ mật thiết với sản phẩm trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau: Trong nghiên cứu về thị trường lâm sản rừng trồng miền núi phía Bắc, Võ Đại Hải (2004; 2005a, 2005b) đã chỉ ra rằng, để phát triển thị trường lâm sản rừng trồng cần phát triển công nghệ chế biến lâm sản cũng như hình thành được những phương thức kinh doanh liên kết giữa người dân và các xí nghiệp lâm nghiệp Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng thâm canh Keo lai của Đoàn Hoài Nam (2006) ở một số vùng sản xuất kinh tế lâm nghiệp như Bình Dương, Quảng Trị, Gia Lai, Thái Nguyên, kết quả cho thấy tỷ xuất thu hồi vốn nội bộ IRR nằm trong khoảng từ 2,56- 3,23%, như vậy IRR tính toán được ở các tỉnh lớn hơn 3 lần lãi suất vay đầu tư ưu đãi (5,4%), như vậy, việc kinh doanh rừng trồng Keo lai ở địa bàn nghiên cứu là có lãi
Đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu có thể rút ra được một số nhận xét sau đây: Các công trình nghiên cứu trên thế giới được triển khai tương đối toàn diện và có quy mô lớn trên tất cả các lĩnh vực từ khâu kỹ thuật cho tới kinh tế - chính sách, nhiều nghiên cứu về chọn tạo giống, kỹ thuật trồng, sinh trưởng và sản lượng rừng
đã được tiến hành đồng bộ tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng rừng sản xuất ở các nước, đặc biệt với quy mô công nghiệp, góp phần ổn định sản xuất, nâng cao đời sống người dân và phát triển kinh tế xã hội từ nhiều năm nay
Ở nước ta nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất mới được thực sự quan tâm trong khoảng 10 năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, phát triển các nhà máy giấy và các khu công nghiệp lớn Các công trình nghiên cứu trong các năm qua cũng đã khá toàn diện về các lĩnh vực, từ nghiên cứu chọn, tạo giống cho tới các biện pháp kỹ thuật gây trồng, chính sách và thị trường nhằm thúc đẩy sự phát triển rừng trồng sản xuất Đặc biệt, chương trình 327 triển khai từ đầu thập niên 90 của
Trang 31thế kỷ trước cho đến chương trình 5 triệu ha rừng và gần đây nhất là việc hỗ trợ phát triển rừng sản xuất theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Hơn nữa, do nhu cầu sản xuất phát triển rừng kinh tế, thời gian vừa qua Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT tiến hành rà soát lại 3 loại rừng, chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ và đặc dụng sang rừng sản xuất Tuy nhiên, để có cơ sở phát triển rừng sản xuất một cách toàn diện nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân thì việc đánh giá thực trạng rừng trồng sản xuất làm cơ sở định hướng phát triển rừng sản xuất có hiệu quả hơn là hết sức cần thiết
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng trồng rừng sản xuất trên địa bàn huyện Ba Bể?
- Những yếu tố nào tác động đến phát triển trồng rừng sản xuất trên địa bàn huyện?
- Hiệu quả kinh tế từ trồng rừng sản xuất đối với đời sống của người dân trên địa bàn?
- Những giải pháp nào nhằm phát triển trồng rừng sản xuất tại huyện Ba Bể?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quan điểm nghiên cứu
Do đối tượng nghiên cứu là rừng trồng sản xuất nên đề tài sẽ xem xét chủ yếu về mặt năng suất lâm sản và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, với quan điểm phát triển bền vững thì trồng rừng sản xuất phải đem lại hiệu quả kinh tế nhưng cũng phải đáp ứng được cả yêu cầu về mặt xã hội và môi trường sinh thái
Nghiên cứu phát triển rừng trồng sản xuất ở huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn không chỉ xem xét và chú ý tới khâu trồng rừng mà cần phải xem xét và nghiên cứu cả các khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm mà rừng trồng tạo ra vì các khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau trong chuỗi hành trình sản xuất hàng hóa và gia tăng giá trị sản phẩm
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tổng quát
Sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu, các tài liệu công bố, kết hợp với phương pháp phỏng vấn và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia để thu thập các thông tin có liên quan Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến điển hình với phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn tạm thời để định lượng các chỉ tiêu cần thiết Xử lý và phân tích số liệu theo phương pháp thống kê toán học có sự trợ giúp của phần mềm Excel
Trang 332.2.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.3.1 Tìm hiểu quá trình trồng rừng sản xuất:
- Kế thừa tài liệu của các cơ quan quản lý các cấp có liên quan
- Phỏng vấn cán bộ quản lý các cấp và những người trực tiếp trồng rừng
2.2.3.2 Đánh giá các mô hình rừng trồng sản xuất:
- Phương pháp điều tra khảo sát kết hợp với phương pháp điều tra ÔTC
- Sử dụng phương pháp thống kê kết hợp với phương pháp phỏng vấn
để tập hợp các mô hình rừng trồng đã có, các loài cây, giống cây đã sử dụng trong sản xuất, diện tích đã trồng, các xưởng chế biến
- Sử dụng phương pháp kế thừa kết hợp với phương pháp phỏng vấn để tìm hiểu về kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng trong sản xuất
- Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của toàn bộ số cây trong ÔTC, mỗi
mô hình trồng rừng sản xuất điều tra 3 ÔTC ở cấp tuổi cao nhất
- Các chỉ tiêu thu thập trong ÔTC gồm D1.3(cm); Hvn(m); Dt(m); tỷ lệ sống, chất lượng sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu)
2.2.3.3 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của chính sách, thị trường và chế biến lâm sản
Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của chính sách được chia làm 2 bước: Bước 1: Tổng luận và phân tích các chính sách hiện có liên quan đến phát triển trồng rừng sản xuất tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bước 2: Trên cơ sở phân tích các chính sách, tiến hành khảo sát thực địa để xem xét những tác động tích cực và những mặt còn hạn chế đối với phát triển trồng rừng sản xuất ở địa phương Các chính sách quan trọng được phân tích gồm:
- Phân tích chính sách về quản lý rừng
- Phân tích chính sách về đất đai
- Phân tích chính sách về thuế, đầu tư và tín dụng
Trang 34- Chính sách khai thác, vận chuyển và thị trường lâm sản
- Chính sách khác có liên quan như: các dự án quốc tế và trong nước, chính sách của tỉnh…
- Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của thị trường và chế biến lâm sản
- Phân tích các kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng sản xuất thông qua điều tra khảo sát các đối tượng có liên quan như các chủ rừng (hộ gia đình, lâm trường…) tư thương, công ty cung ứng và vận chuyển lâm sản, các nhà máy, xí nghiệp và xưởng chế biến… các vấn đề được quan tâm là giá cả, nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến, cơ sở hạ tầng
2.2.3.4 Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế
+ Giá trị lợi nhuận ròng (NPV - net present value)
NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện hàng năm của các hoạt động sản xuất trong các mô hình rừng trồng, sau khi đã chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại và được tính theo công thức (1):
NPV =
Trong đó:
- NPV: Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng)
- Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
- Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng)
- t: Thời gian thực hiện tại của lợi nhuận ròng từ năm 0 đến năm t NPV: Dùng để đánh giá hiệu quả các mô hình có quy mô đầu tư, kết cấu giống nhau, mô hình nào có NPV lớn thì hiệu quả lớn hơn Chỉ tiêu này nói lên được quy mô lợi nhuận về mặt số lượng, nếu NPV > 0 thì mô hình có hiệu quả Ngược lại, chỉ tiêu này nói lên mức độ (độ lớn) của các chi phí đạt được NPV, chưa cho biết được mức độ đầu tư
Trang 35+ Tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR-bennefits to cost ratio)
BCR là tỷ số sinh lãi thực tế, nó phản ánh mức độ đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất và được tính theo công thức (2):
n
t t
- BCR: là tỷ suất giữa lợi nhuận và chi phí (đ/đ)
- BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đ)
- CPV: Giá trị hiện tại của chi phí (đ)
Dùng BCR để đánh giá hiệu quả đầu tư cho các mô hình, mô hình nào
có BCR> 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR - internal rete of return)
IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn, IRR là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là:
IRR được tính theo (%) được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế, mô hình nào có IRR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
* Chỉ tiêu về Giống:
- Đối với các loài cây trồng lâm nghiệp chính được công bố trong Danh mục của Bộ Nông nghiệp và PTNT như Keo tai tượng, Thông mã vĩ… cần phải tuân thủ theo Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp mà Bộ Nông nghiệp và PTNT đã quy định đó là cây trồng phải được công nhận nguồn gốc giống và sử dụng đúng vùng quy định
Trang 36- Chất lượng cây giống đem trồng rừng phải đảm bảo tiêu chuẩn theo từng loài quy định (chiều cao, độ tuổi, đường kính gốc…)
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm của huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn
Ba Bể là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn có diện tích
tự nhiên là 68.412,28 ha Trong đó diện tích đất lâm nghiệp có: 54.875,80 ha chiếm 74% tổng diện tích của huyện Nền sản xuất chính vẫn là Nông - Lâm nghiệp, công nghiệp nhỏ lẻ chưa phát triển Là huyện có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế Nông - Lâm nghiệp, tài nguyên rừng và đất rừng phong phú, đây
là thế mạnh trong việc phát triển sản xuất lâm nghiệp
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý
Huyện Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Kạn gồm 15 xã và 01 thị trấn gồm các xã: Chu Hương, Mỹ Phương, Yến Dương, Địa Linh, Thượng Giáo, Hà Hiệu, Phúc Lộc, Bành Trạch, Cao Trĩ, Cao Thượng, Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê, Hoàng Trĩ, Đồng Phúc và thị trấn Chợ Rã
Phía Bắc giáp huyện Pác Nặm, và tinh Cao Bằng
Phía Nam giáp huyện Bạch Thông
Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn
Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang
Thị trấn Chợ Rã là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của huyện cách thị xã Bắc Kạn 50 km về phía Bắc
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Ba Bể có địa hình phức tạp hầu hết là núi cao chia cắt mạnh, độ dốc lớn Độ cao tuyệt đối trung bình toàn huyện 500-600m, cao nhất là dãy núi Phia Bjoóc chạy dài từ xã Thượng Giáo đến xã Mỹ Phương đỉnh cao nhất 1.502m và thấp nhất là xã Chu Hương 250m Nhìn tổng thể địa hình huyện có hướng thấp dần từ tây nam sang đông bắc, được chia làm 2 dạng địa hình chính
Trang 38Địa hình vùng núi đá: Tập trung nhiều ở các xã Mỹ Phương, Bành Trạch
và Thượng Giáo, ngoài ra còn còn có các dải núi đá xen kẽ núi đất nằm rải rác
ở phía bắc huyện Đặc điểm là những khối đá riêng biệt hoặc liền dải, dạng lởm chởm sườn dựng đứng, xen kẽ là những thung lũng xâm thực bằng, thấp
Địa hình vùng núi đất: Phân bố hầu hết ở các xã trong huyện, gồm các dãy núi liên tiếp nhau kéo dài có độ cao thay đổi từ 300- 700m Địa hình vùng này rất phức tạp hầu hết các dãy núi có đỉnh nhọn độ dốc lớn Xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông , suối lớn là các thung lũng được khai thác để trồng cây nông nghiệp Vùng này thực vật đa dạng phong phú, đất đai tốt còn mang tính chất đất rừng, tầng đất dày Một số nơi do canh tác nương rẫy nên độ che phủ thấp đất đai bị xói mòn rửa trôi mạnh, hàm lượng chất mùn suy giảm nhiều
3.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn
- Khí hậu
Khí hậu huyện Ba Bể mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 mùa này nóng ẩm, mưa nhiều hay xuất hiện gió lốc và lũ quét Mùa đông từ tháng 10 kéo dài đến tháng 3 năm sau, mùa này lạnh, khô hanh, có gió mùa đông bắc, đôi khi xuất hiện sương muối ảnh hưởng đến cây trồng
Nhiệt độ trung bình năm từ 230C , nhiệt độ cao nhất là 370C ; nhiệt độ thấp nhất là 20
C
Nhìn chung điều kiện khí hậu của huyện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông - lâm nghiệp
- Thuỷ văn
Trên địa bàn huyện Ba Bể có lưu vực của sông Năng gồm nhánh chính
và phụ lưu như sau:
- Nhánh chính: Sông Năng bắt nguồn từ vùng núi thuộc huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) chảy qua địa phận huyện Pác Nặm, Ba Bể qua các xã Bành Trạch,Thượng Giáo, Khang Ninh, Cao Thượng rồi hợp với sông Gâm
- Phụ lưu: Sông Hà Hiệu gồm 2 nhánh, nhánh thứ nhất bắt nguồn từ các xã phía Tây nam của huyện Ngân Sơn chảy qua các xã Hà Hiệu, Bành
Trang 39Trạch rồi đổ vào sông Năng tại bản Nà Niếng (phía tây nam xã Bành Trạch cách huyện lỵ Ba Bể khoảng 4 km về phía đông); nhánh thứ 2 được bắt nguồn
từ dãy núi Hoa Sơn thuộc địa phận xã Mỹ Phương rồi chảy qua xã Chu Hương, hợp với sông Hà Hiệu tại xã Hà Hiệu
Nhìn chung địa bàn huyện Ba Bể khá giàu nguồn nước Sự phân phối nước trong năm giữa 2 mùa được phân biệt rõ rệt Mùa lũ thường xảy ra vào tháng 7 và 8 mùa cạn vào tháng 12, tháng 1 Tuy hệ thống sông suối khá dày nhưng nhỏ và ngắn, phần lớn nằm ở thượng nguồn nên nhiều thác ghềnh, việc vận chuyển và đi lại bằng đường thuỷ gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm Một
số con suối thường bị cạn về mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh nên
có thể xảy ra lũ quét ở miền núi
3.1.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Từ các yếu tố về khí hậu, thời tiết, địa chất và thực vật đã tạo nên đất đai của huyện rất đa dạng với đầy đủ các nhóm đất thuỷ thành, bán thuỷ thành
và địa thành
- Đất địa thành bao gồm các loại chính sau:
+ Đất Feralít đỏ vàng trên đá biến chất (FQj) có diện tích lớn nhất, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện nhưng tập chung và nhiều nhất là xã Phúc Lộc, Hà Hiệu Tầng đất dày và kết cấu đất tơi xốp nên rất dễ bị sụt lở, rửa trôi Đạm và mùn có hàm lượng khá giàu nhưng lân dễ tiêu lại nghèo, đất chua
+ Đất Feralit mùn trên núi cao 700 m (FH), phân bố ở các xã trong huyện Tầng đất mỏng nhưng hàm lượng mùn khá cao do chất hữu cơ phân giải, thích nghi với một số loại cây trồng ôn đới
+ Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá granit, loại đất này phân bố ở các xã Mỹ Phương, Chu Hương và Địa Linh Thành phần cơ giới trung bình và tầng đất từ trung bình đến dày, hàm lượng mùn cao, đất có phản ứng trung tính
+ Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi (FQv), phân bố chủ yếu ở Thượng Giáo, tầng đất mỏng nhưng cấu tượng của đất tốt, hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong loại đất này như Ca và Mg rất lớn
Trang 40+ Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá granit (FQa), loại đất này phân
bố chủ yếu ở xã Cao Trĩ và Thượng Giáo Thành phần cơ giới trung bình và tầng đất từ trung bình đến dày, hàm lượng mùn cao, đất có phản ứng trung tính
+ Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi (FQv), phân bố ở hầu khắp các xã trong vùng nhưng chủ yếu tập trung ở xã Cao Thượng, tầng đất mỏng nhưng cấu tượng của đất tốt, hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong loại đất này như Ca và Mg rất lớn
- Đất Thuỷ thành và bán thuỷ thành (dốc tụ và phù sa):
Đất này được hình thành do bồi đắp phù sa của sông suối và sản phẩm xói mòn của đồi núi tích tụ lại ở kiểu địa hình thung lũng, máng trũng Loại này có thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, đất tốt, tầng dày, màu nâu xám và tơi xốp bao gồm đất phù sa sông, đất dốc tụ trồng lúa nước, đất phù sa ngòi suối Đất này thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Bảng 3.1 Phân loại đất đai theo đơn vị hành chính
(Nguồn: Quy hoạch BVPTR năm 2009)
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm dân số - lao động
Lao động là một trong những yếu tố quyết định tới chất lượng cũng như
số lượng của sản phẩm hàng hóa, vì vậy việc sử dụng nguồn lao động một cách đầy đủ, hợp lý đã trở thành nguyên tắc của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Sản xuất nông lâm nghiệp đòi hỏi cần phải
có một lực lượng lao động tương đối lớn và theo thời vụ, do vậy việc sắp xếp giải quyết nguồn lao động hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, đồng thời cũng là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển