chất lượng tăng trưởng kinh tế
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để có được một sản phẩm nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh như thế này, đầu tiên nhóm muốn gửilời cảm ơn tới chân thành tới Th.S Đào Thế Sơn- giảng viên bộ môn Kinh tế Vĩ mô, người đã tận tìnhgiúp đỡ, hướng dẫn nhóm trong suốt quá trình làm nghiên cứu, đồng thời cung cấp một số tài liệu thamkhảo cho nhóm Tiếp đến, nhóm cũng muốn nói lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa đã ủng hộ,tạo những điều kiện tốt nhất để nhóm có thể tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Chất lượng tăng trưởng kinh
tế giai đoạn 2006- 2011” một cách thuận lợi Và cuối cùng, nhóm muốn gửi một lời cảm ơn nữa tớitrường Đại học thương mại, cảm ơn nhà trường đã đã tổ chức ra hoạt động nghiên cứu khoa học hằngnăm giúp sinh viên có cơ hội tham gia, nâng cao hiểu biết của bản thân Qua đây, sinh viên có thể ápdụng những kiến thức đã được học trên lớp áp dụng vào thực tiễn, là cơ hội để sinh viên được thể hiệnmình, cống hiến những sản phẩm khoa học cho xã hội
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do gặp phải những khó khăn trong việc tìm kiếm, tổng hợp sốliệu, cùng với sự hiểu biết của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài nghiên cứu khoa học không thểkhông tránh khỏi những sai sót Vì vậy, nhóm rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy
cô và bạn đọc để sản phẩm khoa học của nhóm được hoàn thiện hơn
Nhóm xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 3 năm 2013
Trang 2DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1 GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011, theo giá so sánh năm
1994……… 16
2 Bảng 2 Tỷ trọng các ngành trong GDP, 2006 – 2011 (% theo giá so sánh)……… 18
3 Bảng 3 Cơ cấu lao động Việt Nam phân theo nhóm ngành kinh tế (%)………20
4 Bảng 4 Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP Việt Nam (% theo giá so sánh năm 1994) ………21
5 Bảng 5 Năng suất lao động xã hội của Việt Nam, 2007 – 2009 ……… 22
6 Bảng 6 Năng suất lao động một số nước năm 2010………22
7 Bảng 7 Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2007- 2011……… 24
8 Bảng 8 Hệ số ICOR từ vốn đầu tư và tích lũy tài sản……… 24
9 Bảng 9 ICOR theo khu vực sở hữu………24
10 Bảng 10 So sánh mức thu nhập từ vốn và vốn đầu tư( Đơn vị: tỷ đồng/ giá thực tế)… 25
11 Bảng 11 Đóng góp của TFP vào tăng trưởng của một số nước 2005 – 2010……….26
12 Bảng 12 Đóng góp của các yếu tố vào GDP( %)……… ……….26
13 Bảng 13 Việt Nam trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn 2006 – 2011………30
14 Bảng 14 Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2006 – 2011 (đơn vị %)……… 32
15 Bảng 15 Tỷ lệ thiếu việc làm giai đoạn 2006 – 2011 (tỷlệ %)……… 33
16 Bảng 16 Thống kế số cơ sở khám chữa bệnh Việt Nam, 2006 – 2011……….35
17 Bảng 17 Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số ngành công nghiệp Việt Nam, 2006 – 2010……….37
18 Bảng 18 Độ che phủ rừng ở Việt Nam, 2008- 2011( Đơn vị: %)……….38
19 Bảng 19 Diện tích rừng bị hủy hoại hàng năm ở Việt Nam, 2007- 2011( Đơn vị: ha)… 38
Trang 3DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Hình 1 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam, 2006 – 2011………16
2 Hình 2 Thay đổi tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP, 2006 – 2011……… 19
3 Hình 3 Tăng trưởng của các ngành kinh tế, 2006 – 2011………19
4 Hình 4 Tăng trưởng các thành phần kinh tế, 2006 – 2011……… 21
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APO : Tổ chức năng suất châu Á( Asia Productivity Organization)
C : Tổng chi tiêu của các hộ gia đình
CG : Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam
Dp : Khấu hao vốn cố định
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
EPC : Hợp đồng Tổng thầu (Engineering Procurement Construction)FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
G : Chi tiêu của Chính Phủ
GCI : Chỉ số năng lực tăng trưởng
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội( Gross domestic product)
GNI : Tổng thu nhập quốc dân( Gross national income)
GO : Tổng giá trị sản xuất( Gross output)
HDI : Chỉ số phát triển con người( Human Development Index)
I : Đầu tư tích lũy tài sản
IC : Chi phí trung gian
ICOR : Hệ số sử dụng vốn( Incremental Capital- Output Ratio)
IM : Kim ngạch nhập khẩu
IMF : Quỹ tiền tệ Quốc tế( International Monetary Fund)
In : Thu nhập của người có tiền cho vay
KH- CN : Khoa học- công nghệ
NDI : Thu nhập quốc dân sử dụng( National Disposable Income)
NI : thu nhập quốc dân( National Income)
NS : Tỷ lệ nhập siêu
NSNN : Ngân sách Nhà nước
Pr : Thu nhập của người có vốn
R : Thu nhập của người có đất cho thuê
ROA : Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản( Return on Assets)
Trang 5ROE : Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn sản xuất kinh doanh
( Return on Equity)ROS : Tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu( Return on Sales)
Ti : Thuế kinh doanh
TFP : Năng suất các nhân tố tổng hợp( Total factor productivity)
VA : Giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ
W : Tiền công( tiền lương)
WB : Ngân hàng Thế giới( World Bank)
WEF : Diễn đàn Kinh tế Thế giới( World Economic Forum)WIPO : Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới
( World intellectual Property Organization)WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới( World Trade Organization)
X : Kim ngạch xuất khẩu
Trang 6M C L C Ụ Ụ
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1
1.2 Xác lập và tuyên bố vần đề trong đề tài 2
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 2
1.5 Phạm vi đề tài nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4
2.1 Tổng quan về chất lượng tăng trưởng kinh tế 4
2.1.1 Một số khái niệm, quan điểm cơ bản 4
2.1.2 Ý nghĩa của nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế 5
2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế 6
2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu 6
2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 7
2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế……… 8
2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội 10
2.2.5 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến môi trường và tài nguyên 11
2.3 Các nhân tố tác động đến tôc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế 11
2.3.1 Các nhân tố kinh tế 11
2.3.2 Các nhân tố phi kinh tế 12
2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 13
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 – 2011 15
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề 15
3.1.1 Phương pháp thu thập thông tin 15
3.1.2 Phương pháp xử lý số liệu 15
3.1.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 15
3.2 Tổng quan tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 16
3.2.1 Những thành tựu nổi bật trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 16
3.2.2 Những hạn chế của tăng trưởng kinh tế Việt Nam 17
3.3 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 18
3.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 18
3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu 21
Trang 73.3.4 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội 31
3.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến môi trường và 36
tài nguyên 36
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 39
4.1 Những rào cản đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua……… 42
4.1.1 Hạn chế trong huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế 39
4.1.2 Rào cản đối với việc nâng cao hiệu quả đầu tư 41
4.1.3 Sự thấp kém về trình độ khoa học – công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực 43
4.2 Cơ hội, thách thức đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới 47
4.2.1 Những cơ hội đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam 47
4.2.2 Thách thức đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam 49
4.3 Một số kiến nghị nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 52
4.3.1 Đề xuất nhằm nâng cao khả năng huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế 52
4.3.2 Phát triển khoa học - công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 54
4.3.3 Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường 56
Tài liệu tham khảo……… 58
Trang 9Ở Việt Nam, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm trongcác Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, trung tâm của quá trìnhphát triển không chỉ là tăng trưởng cao mà chất lượng tăng trưởng mới là vấn đề quan trọng và có ýnghĩa quyết định Mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng đang ngày càng được thể hiện rõ,
có lúc khắc chế nhau, lại có giai đoạn hỗ trợ, bổ sung cho nhau Tuy nhiên, xét đến cùng, mục tiêuđúng đắn về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam là tốc độ tăng trưởngkinh tế phải cao, ổn định và bền vững mà điều này chỉ có được khi tăng trưởng có chất lượng tốt
Những năm gần đây, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, tính chung cảthời kỳ 1998 - 2005 tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,5 %/năm, giai đoạn 2006 – 2011 tăng trưởng bìnhquân 7.01 %/năm Đó quả là những con số ấn tượng, so với các nước trong khu vực, Việt Nam đứngvào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng rất cao, thu nhập bình quân đầu người tăng lên liên tục, đờisống nhân dân ngày càng được cải thiện
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của nước ta chưa thực sự ổn định và vững chắc Tăng trưởng kinh tếvẫn chủ yếu là theo chiều rộng, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải nhiềuvấn đề đáng quan tâm: Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp chưa cao, sản phẩm chế biến sâu chưanhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất vẫn chưa thực sự được
sử dụng hiệu quả, khai thác khoáng sản chưa hợp lý, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống của conngười đang ngày càng bị hủy hoại Nếu các vấn đề này không được giải quyết sớm thì trong mộttương lai không xa, nó sẽ là vật cản cho quá trình phát triển của Việt Nam Đây là thách thức to lớn chonhững năm sắp tới, khi mà cạnh tranh và hội nhập kinh tế đang ngày càng trở nên sâu sắc hơn Vì vậy,
Trang 10việc nghiên cứu và phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế là một đòi hỏi cấp bách Đó là lý do màchúng tôi lựa chọn nghiên cứu Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011.
1.2 Xác lập và tuyên bố vần đề trong đề tài
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Chấtlượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011” Trong đề tài nghiên cứu này, chúngtôi sẽ đi nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế, các tiêuchí để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế cảu một nền kinh tế, đồng thờiphân tích các nhân tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế
- Nghiên cứu thực trạng về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 thôngqua các tiêu chí đánh giá tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế, đồng thời đánh giá mộtcách tổng quát về chất lượng tăng trưởng kinh tế cảu Việt Nam trong phạm vi giai đoạn nghiên cứu.Dựa trên phân tích thực trạng về chất lượng tăng trưởng kinh tế để đưa ra một số kết luận và kiếnnghị về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến các cơ quan quản lý kinh tế trên tầm vĩ mô nhằmthực hiện việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn sau
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu lớn nhất của nhóm khi quyết định nghiên cứu về đề tài: “ Chất lượng tăng trưởng kinh tế
ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011” là muốn giúp cho bạn đọc có được cái nhìn tổng quan, chính xác
về chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn 2006 – 2011
Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung trên, nhóm đã xác định những mục tiêu cụ thể sau:
- Giúp cho người đọc hiểu được thế nào là tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng kinh tế vàbiết được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
- Đưa ra được những chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăngtrưởng kinh tế để qua đó người đọc có thể biết rằng khi đánh giá chất lượng kinh tế của một đất nướcthì sẽ phải dựa trên bộ chỉ tiêu nào
- Giúp người đọc biết và đánh giá được thực trạng tăng trưởng kinh tế, thực trạng chất lượng kinh
tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 thông qua các chỉ tiêu đã đưa ra Giúp họ biết được những thànhtựu và tìm ra những hạn chế còn tồn tại trong chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn này để
từ đó có thể đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế cho giai đoạn sau
1.4 Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu
Trang 11Để đánh giá một cách chính xác, khách quan về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn
2006 – 2011, chúng ta cần phải đi nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau:
- Thế nào là tăng trưởng kinh tế? Thế nào là chất lượng tăng trưởng kinh tế?
- Có những nhân tố nào tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia?
Việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế đem lại ý nghĩa như thế nào đối với nền kinh tế
-xã hội của đất nước?
- Khi đánh giá tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng của một quốc gia, người ta thường dựavào những chỉ số nào? Cách tính toán các chỉ số đó ra sao? Các chỉ số đó bằng bao nhiêu thì tốt? Bằngbao nhiêu thì xấu?
- Thực tế các chỉ số để đánh giá tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Namgiai đoạn 2006 – 2011 ra sao?
- Việt Nam cần phải làm gì để có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của đất nước tronggiai đoạn tiếp theo?
1.5 Phạm vi đề tài nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu có một vai trò quan trọng đối trong việc thực hiện một đề tài nghiên cứu khoahọc Qua đó cho thấy được khả năng cũng như tầm hiểu biết của người thực hiện
Dựa trên năng lực giới hạn của nhóm, đề tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu các tiêu chí đánhgiá tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong phạm vi thời gian từ năm
2006 – 2011
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận: Nghiên cứu này đóng góp một phần nhỏ để làm rõ hơn khía cạnh chất lượngtăng trưởng kinh tế về mặt phương pháp luận Đây là một trong số ít những nghiên cứu về chất lượngtăng trưởng kinh tế, nó cung cấp khá đầy đủ các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, chúngđược sắp xếp một cách khoa học, được phân tích, giải thích kỹ lưỡng, dễ hiểu, giúp cho giảng viên vàsinh viên có thêm nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho công cuộc giảng dạy và nghiên cứu
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đưa ra một số đánh giá bước đầu về chất lượng tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam Khung nội dung phân tích được bổ sung thêm trên cơ sở tổng kết những nghiên cứumới của thế giới và Việt Nam một cách logic và khoa học Ngoài ra, nhiều khía cạnh chưa được nghiêncứu sâu và đầy đủ cũng là những gợi mở cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo của khoa nói riêng và củatoàn trường, toàn xã hộ nói chung
Trang 12CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Tổng quan về chất lượng tăng trưởng kinh tế
2.1.1 Một số khái niệm, quan điểm cơ bản
Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu đầu tiên của các nước trên thế giới, làthước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia
Khái niệm về tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nến kinh tế trong một khoảng thờigian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phảnánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối vàphản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Bản chất của tăng trưởng của kinh tế là phảnánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
Một số quan điểm về chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Cho đến nay, chưa có một khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng, để có thể đưa ra mộtkhái niệm tương đối hoàn chỉnh, làm cơ sở cho những phân tích về sau, dưới đây là một số quan điểm
về chất lượng tăng trưởng kinh tế
Chất lượng tăng trưởng kinh tế là cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng caohiệu quả
Cơ cấu tăng trưởng thể hiện ở chỉ tiêu điểm phần trăm đóng góp của các ngành vào tăng trưởng vàchỉ tiêu tỷ trọng đóng góp của mỗi bộ phận trong 100% mức tăng trưởng Cơ cấu tăng trưởng có thể xéttheo khu vực thể chế, thành phần kinh tế, vùng, miền và theo yếu tố sản xuất (vốn, lao động, năng suấtnhân tố tổng hợp)
Chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả
Tăng trưởng hình thành theo hai phương thức:
Tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng nhờ vào sự tăng thêm nhiều vốn, tăng lao động vàtăng cường khai thác tài nguyên
Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sửdụng vốn sản xuất, tăng cường chất lượng quản lý, nâng cao hiệu quả áp dụng công nghệ
Ngày nay, yếu tố chất lượng nhân lực và khoa học công nghệ đang có vai trò ngày càng vượt trội
so với các yếu tố truyền thống Chất lượng tăng trưởng kinh tế theo quan điểm hiệu quả phải là tăngtrưởng theo chiều sâu
Trang 13 Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanhnghiệp hoặc hàng hóa sản xuất trong nước
Tăng trưởng đi liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là tăng trưởng có chất lượng cao vàngược lại
Chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi của công dân và gắn liền tăng trưởng vớicông bằng xã hội:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở chỗ tăng trưởng kinh tế đáp ứng phúc lợi cho nhândân như thế nào
Phúc lợi xã hội thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người, chất lượng cuộc sống, môi trường xãhội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sức khỏe
Công bằng xã hội thể hiện ở khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội được thu hẹp và tỷ lệ ngườinghèo trong xã hội giảm bớt
Sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăngtrưởng kinh tế
Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững
Theo WB, phát triển bền vững là phát triển theo nguyên tắc: “sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hômnay không làm tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Phát triển bền vững phải bảotoàn và phát triển ba nguồn vốn: Tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và vốn vật chất
Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị - xã hộicủa nền kinh tế
Mức độ dân chủ hóa thể hiện ở tính minh bạch, ít tham nhũng và sự tham gia của người dân vàoquản lý kinh tế - xã hội, nó sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại Dân chủ chính làbiểu hiện mặt chất của tăng trưởng kinh tế
Như vậy, có thể khái quát khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như sau
Chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế,thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mức sốngcủa người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ pháttriển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xãhội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả
2.1.2 Ý nghĩa của nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Kinh nghiệm lịch sử của nhiều nền kinh tế trên thế giới cũng như của chính nền kinh tế Việt Namđều chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng cao không nhất thiết đi liền với xu hướng tạo ra một nền kinh tế
Trang 14mạnh Tăng trưởng cao chỉ là một điều kiện cần, ta không chỉ quan tâm đến số lượng mà cần phải đồngthời chú trọng đến cả chất lượng của tăng trưởng kinh tế.
Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế sẽ giúp:
Tạo cơ hội đạt được mục tiêu tăng trưởng về số lượng trong dài hạn
Tác động lan tỏa đến các khía cạnh của phát triển bền vững
2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu
- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – năng suất lao động:
Bằng cách lấy GDP chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) ta có thể tính năng suất lao động chotoàn bộ nền kinh tế Kết quả thu được càng lớn thì năng suất lao động xã hội càng cao
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – Hệ số ICOR
Hệ số ICOR là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăngthêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Nó phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư dẫn tớităng trưởng kinh tế Hệ số ICOR càng thấp chứng tỏ hoạt động đầu tư có hiệu quả càng cao
Trang 15Mặc dù hai chỉ tiêu năng suất lao động xã hội và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiềutrong phân tích hiệu quả kinh tế, nhưng trên thực tế, trong sản xuất có 3 yếu tố chính làm tăng GDP:lao động, vốn sản xuất và TFP
Nếu chỉ chia GDP cho lao động hay lấy vốn đầu tư chia cho mức gia tăng GDP thì những chỉ sốnày không thể phản ánh đóng góp riêng của yếu tố năng suất Năng suất chỉ là phần tăng GDP sau khitrừ đi vai trò của việc tăng số lượng lao động và số lượng tài sản cố định trong sản xuất Phần thặng dưnày phản ánh việc tăng chất lượng tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổchức sản xuất, được gọi chung là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) TFP là chỉ số phụ thuộc vào haiyếu tố: tiến bộ công nghệ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế sẽ bảo đảm duy trìđược tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài Tốc độ tăng TFP
và đóng góp TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sửdụng nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế,
là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ
tổ chức, quản lý sản xuất… của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia
Tốc độ tăng TFP được tính theo công thức:
= - (α + β )
Trong đó, là tốc độ tăng GDP, là tốc độ tăng vốn cố định, là tốc độ tăng lao động làmviệc, α và β lần lượt là các tham số đóng góp của vốn và lao động (α + β = 1), thường được xác địnhbằng phương pháp hạch toán hoặc dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas
2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thể hiện cấu trúc bên trong của nền kinh tế Nó biểu hiện qua tỷ trọng của các phần
tử tạo nên cơ cấu và qua các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành Cơ cấu kinh tếquyết định sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng của tất cả các phần tử tạo nên cơ cấu và cuối cùng đem lạikết quả tăng trưởng chung cho nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ ngành: Cơ cấu kinh tế xem xét số lượng và chất lượng các ngành tạo nên nền kinh
tế, cũng như các mối quan hệ giữa chúng với nhau Thông thường, nền kinh tế Việt Nam được chia làm
3 nhóm ngành lớn là nông – lâm nghiệp – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.Sự dịch chuyển
cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác theohướng hiện đại hơn và tiên tiến hơn, cụ thể là tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ,
Trang 16đồng thời giảm tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp trong GDP Ngoài ra, việc chuyển dịch cơ cấu trongnội bộ từng ngành cũng cần được xem xét.
- Dưới góc độ lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế được nhìn nhận theo sự bố trí lực lượng sản xuất giữa cácvùng Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng.Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển Tuy nhiêncũng cần phải xem xét vai trò động lực của từng vùng để lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển
- Dưới góc độ sở hữu: Xem xét có bao nhiêu loại hình kinh tế tồn tại và phát triển trong hệ thốngkinh tế; trong đó, loại hình kinh tế nào có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế Trong điều kiện toàncầu hóa, định hướng vai trò của các loại hình kinh tế phải vì sự phát triển chung
2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế
Khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế được xem xét dưới 3 góc độ: sản phẩm hàng hóa, doanhnghiệp và quốc gia
- Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước
Để đo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước chúng ta thường sửdụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh hoặc trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất = × 100
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = ×100
Tỷ suất lợi nhuận càng cao chứng tỏ sản xuất càng hiệu quả Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
tỷ suất lợi nhuận có cùng xu thế thì chất lượng tăng trưởng tốt và ngược lại
- Khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước
Hàng hóa sản xuất trong nước thường được chia làm 2 loại: hàng hóa sản xuất phục vụ xuất khẩu
và hàng hóa sản xuất thay thế nhập khẩu
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu:
Với hàng hóa xuất khẩu, khả năng cạnh tranh được tính bằng kim ngạch xuất khẩu trên giá trị sảnxuất hay GDP
Trang 17Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ một đất nước sản xuất ra sản phẩm đảm bảo chất lượng tốt, đượccác nước khác ưa chuộng nên xuất khẩu tốt và như vậy chính là có khả năng cạnh tranh tốt và ngượclại Như vậy, nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng xét theo khả năng cạnh tranh phải đảm bảo sảnphẩm sản xuất ra có khả năng xuất khẩu tốt, nghĩa là phải đảm bảo tỷ lệ giá trị xuất khẩu trong giá trịsản xuất phải tăng lên hoặc giữ nguyên Nếu tỷ lệ xuất khẩu giảm có nghĩa là khả năng cạnh tranh ngàymột giảm, tức là tăng trưởng kinh tế không đồng thuận với khả năng xuất khẩu.
Ngoài ra, khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu còn thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sảnxuất từ nguyên liệu trong nước:
Tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu trong nước =
Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng thể hiện sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và phản ánhchất lượng tăng trưởng kinh tế
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa thay thế nhập khẩu:
Hàng hóa thay thế nhập khẩu thường được bảo hộ bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, những hàng rào bảo hộ này sẽ ngày càng được hạ thấp, tiếnđến dỡ bỏ hoàn toàn Do đó, việc đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước và hànghóa nhập khẩu là rất quan trọng, giúp nhận biết năng lực sản xuất của đất nước trong tiến trình hội nhậpkinh tế
Để đo khả năng cạnh tranh của hàng hóa thay thế nhập khẩu ta xem xét mức chênh lệch giá cả giữahai loại hàng hóa tiêu dùng so với tổng kim ngạch nhập khẩu, mức độ nhập siêu của nền kinh tế…
- Năng lực cạnh tranh của quốc gia
Đây là một khái niệm tổng hợp, được hiểu là khả năng đạt được tăng trưởng bền vững, thu hútđược đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân… của một nền kinh tế.Năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế trên thế giới thường được đánh giá thông qua chỉ số năng lực
Trang 18cạnh tranh tăng trưởng (GCI) Nó được xây dựng dựa trên 3 yếu tố cơ bản: môi trường kinh tế vĩ mô,chất lượng của các định chế quốc gia và khoa học công nghệ.
Nếu chỉ có sự ổn định kinh tế vĩ mô thì chưa thể hiện được chất lượng tăng trưởng của một quốcgia tuy nhiên, sự bất ổn về kinh tế vĩ mô sẽ hủy hoại triển vọng phát triển của quốc gia đó
Yếu tố thứ hai của GCI liên quan đến thể chế công Trong nền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế
tư nhân là khu vực sản xuất ra của cải Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân vẫn phải hoạt động trongkhuôn khổ quốc gia, phải tuân thủ pháp luật và tòa án Do đó, GCI đo lường chất lượng của định chếcông và coi đó là yếu tố quan trọng thứ hai trong số 3 yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinhtế
Yếu tố thứ ba là phát triển công nghệ Theo trường phái Tân cổ điển, nguồn gốc cơ bản của sự tăngtrưởng kinh tế dài hạn chính là phát triển khoa học và công nghệ
Ba yếu tố này được gọi là chỉ số kinh tế vĩ mô, chỉ số định chế và chỉ số công nghệ, được tổng hợplại để tính chỉ số GCI chung
2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội
Chúng phản ánh hiệu quả xã hội hay thể hiện sự tác động lan tỏa của tăng trưởng đến các đối tượngchịu ảnh hưởng trong xã hội Quá trình tăng trưởng kinh tế phải kéo theo sự gia tăng các chỉ tiêu phúclợi xã hội dưới các mặt: giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thất nghiệp; giải quyết vấn đề xóa đóigiảm nghèo; những tiến bộ về phúc lợi xã hội (y tế và giáo dục); bảo đảm công bằng xã hội
- Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm:
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ
lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và thời gian nông nhàn ở khu vực nông thôn Điều này đặc biệt có ýnghĩa đối với một quốc gia đông dân, lực lượng lao động đông đảo và phần lớn là chưa qua đào tạo.Các thước đo tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm bao gồm so sánh tốc độ tăng số lượng laođộng trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thời gian laođộng không được sử dụng ở nông thôn
- Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo:
Một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng là nền kinh tế có tăng trưởng đi kèm với xóa đói giảmnghèo Các chỉ tiêu như tỷ lệ nghèo đói của một quốc gia và của các vùng, tốc độ giảm tỷ lệ nghèo đói,
% giảm nghèo so với % tăng trưởng thường được sử dụng để phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng
và giảm nghèo
- Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội:
Trang 19Tiến bộ xã hội được thể hiện rõ nhất ở hai lĩnh vực: giáo dục – đào tạo và y tế Những tiêu chí về
cơ sở vật chất, số lượng học sinh, giáo viên, số cán bộ ngành y gia tăng thể hiện sự tăng trưởng kinh
tế đã dẫn đến nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân Sự nâng cao về trình độ học vấn và chuyên môn
kỹ thuật, cũng như những cải thiện về mặt sức khỏe và chăm sóc y tế đối với người dân có thể được coi
là kết quả của việc gia tăng phúc lợi xã hội và thể hiện rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế Đặc biệt,chỉ số phát triển con người (HDI) là một chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện khá toàn diện tiến bộ của một quốcgia trên hai mặt kinh tế (GDP/người) và xã hội (tuổi thọ và trình độ giáo dục)
- Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:
Khái niệm công bằng xã hội có tính chất rộng và phức tạp, nó dẫn đến những khác biệt trong việcthể hiện và sự khác biệt trong các thước đo công bằng xã hội Một số công cụ và thước đo chủ yếuđược sử dụng là: đường cong Lorenz, hệ số Gini, mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, chỉ
so sánh với mức độ cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường
2.3 Các nhân tố tác động đến tôc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế
nó được lượng hóa thông qua mô hình Harrod-Domar
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đạigần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn con người, đó là lao động có kỹ
Trang 20năng sản xuất, lao động có thể vận hành máy móc thiết bị, phức tạp, lao động có sáng kiến và phươngpháp mới trong hoạt động kinh tế…
Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng ở các nền kinh tế ngàynay Yếu tố công nghệ, một mặt, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học,nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình hay thiết bị kỹ thuật.Mặt khác, đó là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhắm nâng caotrình độ phát triển chung của sản xuất
Tài nguyên được đưa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phảiđảm bảo chúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề có tínhchiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên của quốc gia là vấn
đề sống còn của phát triển Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tốtài nguyên với tư cách là biến số cảu hàm tăng trưởng mà theo họ nó là yếu tố cố định, vai trò củachúng có xu hướng giảm dần, hoặc tài nguyên có thể được quy về vốn sản xuất
Như vậy, có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợp thành, vai trò của chúng phụthuộc vào hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia Đối với các nước nghèo, vốn vật chất, laođộng rẻ và tai nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng Ngược lại, đối với các nước công nghiệp thìvai trò của vốn con người và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn
2.3.2 Các nhân tố phi kinh tế
Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố phi kinh tế như văn hóa – xã hội, thể chế chính trị có tácđộng gián tiếp và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế
Văn hóa – xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình phát triển của mỗi quốc gia
Nó bao trùm lên nhiều mặt, từ tri thưc phổ thông đến những tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại vềkhoa học công nghệ, văn học, lối sống, phong tục, tập quán… Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa vớitrình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Nhìn chung, trình độ văn hóa của mỗi dântộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý
Thể chế được hiểu là các rang buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữangười với người Các thể chế chính trị - xã hội được từa nhân có tác động đến quá trình phát triển đấtnước, đặc biệt thông qua việc tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư Vì nền tảng của kinh tế thịtrường là dựa trên trao đổi của các cá nhân và các nhóm người với nhau, bởi vậy nếu không có thể chếthì các hoạt động này không thể diễn ra vì người này không thể tương tác với người kia mà không cóchế tài nào đó ngăn cản người kia hành động tùy tiện và nược lại với thỏa thuận Các cá nhân và doanhnghiệp chỉ có thể mua, bán, thuê, mướn hợp đồng, đầu tư nếu họ có một mức độ tin tưởng nhất định
Trang 21rằng các thỏa thuận hợp đồng của họ sẽ được thực hiện Các cá nhân tham gia giao dịch thường không
có đủ thông tin Do đó sẽ có các chi phí phát sinh gọi là chi phí giao dịch Tất cả các chi phí này liênquan đến thể chế Một thể chế không tốt sẽ làm cho chi phí thực thi các hợp đồng cao và như thế sẽkhông khuyến khích các giao dịch kinh tế Hơn nữa, một cấu trúc thể chế tốt sẽ tạo ra sự khuyến khíchnhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ nguồn lực con người theo hướng tốt hay xấu chotăng trưởng kinh tế
Về nhân tố dân tộc và tôn giáo, nói chung một đất nươc càng đa dạng về các thành phần tôn giáo
và sắc tộc thì đất nước đó càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột trong nước Điều này có thể dẫnđến các xung đột bạo lực và thậm chí là các cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạng lãng phí nguồn lực quýgiá đáng ra phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu phát triển khác
Sự tham gia của cộng đồng cũng là một yếu tố phi kinh tế tác động đến tốc độ và chất lượng tăngtrưởng kinh tế Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác động tương hỗ Sự phát triển là điều kiện làmtăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội Ngược lại, sự tham giacủa cộng đồng là nhân tố đảm bảo tính chất bền vững và tính động lực nội tại cho phát triển kinh tế xãhội
2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế là vấn đề không phải mới lạ
gì nhưng nó lại nhận được sự quan tâm của nhiều người ở tất cả các quốc gia khác nhau Riêng ở ViệtNam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này như:
Cuốn sách “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của GS TS Nguyễn Văn Nam
và PGS TS Trần Thọ Đạt, trường Đại học kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2006 Cuốn sách đã kháiquát về cơ sở lý luận và thực tiễn về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, đồng thời phân tích thựctrạng tăng trưởng và chất lượng kinh tế ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng kinh tế ở Việt Nam trong những năm tới Tuy nhiên, tác giả cuốn sách lại xem xét, đánh giá vềtốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ năm 1991- 2005
Hay như cuốn sách: “Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” của TS Cù ChíLợi, Viện Kinh tế Việt Nam năm 2009 cũng đã hệ thống một cách đầy đủ cơ sở lý luận về tăng trưởng
và chất lượng tăng trưởng kinh tế, phân tích tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, về phần đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng, tác giả lại chỉ chú trọng tập trung phântích chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội, trong khi đó chất lượng tăngtrưởng kinh tế nó còn được phản ánh qua nhiều chỉ tiêu khác
Trang 22Ngoài ra, các Báo cáo thường niên kinh tế Viêt Nam năm 2011, Báo cáo thường niên kinh tế ViêtNam năm 2012 do TS Nguyễn Đức Thành chủ biên đã cung cấp cho ta thấy tổng quan tình hình kinh
tế Việt Nam qua các năm 2010 và 2011, những sự chuyển dịch kinh tế, hiện thực đầu tư công, nợ côngcủa đất nước, những chính sách lãi suất, tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng Thương mại hay chính sách đốivới việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Mặc dù cung cấp khá đầy đủ những vấn đềliên quan đến tình hình kinh tế qua các năm 2010 và 2011, tuy nhiên, các báo cáo này không đi sâuphân tích chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăngtrưởng kinh tế
Trong quá trình tìm hiểu, nhóm thấy rằng: Vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam là đề tài bàn luậncủa nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình khoa học, nhưng phần lớn các công trình mới chỉ đề cậpmặt lượng mà quên đi mặt chất của tăng trưởng Trong mấy năm gần đây, các vấn đề về chất lượngtăng trưởng kinh tế mới bắt đầu được đưa ra nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu về “Chất lượng tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn từ năm 2006- 2011” thì cho đến nay vẫn chưa có một công trìnhnào đề cập đến Chính vì lí do, nhóm chúng tôi quyết định đi sâu nghiên cứu về đề tài này với hi vọng
sẽ đem đến cho bạn đọc một cách nhìn toàn diện về thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở ViệtNam từ năm 2006- 2011 để từ đó giúp bạn đọc có cách nhìn nhận đúng đắn về vị trí, thực lực kinh tếcủa đất nước mình Từ đó có thể đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tếtrong thời gian tới
Trang 23CHƯƠNG III THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006 – 2011 3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
Để có thể nắm được thực trạng, đánh giá đúng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn2006- 2011, nhóm đã phải kết hợp sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
3.1.1 Phương pháp thu thập thông tin
Đầu tiên, nhóm sẽ xác định xem với đề tài này, nhóm sẽ phải tìm kiếm những thông tin gì? Sau khi
đã xác định được những thông tin cần phải tìm kiếm, nhóm bắt đầu tiến hành thu thập các thông tin liênquan đến tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các giai đoạn, đặc biệt tậptrung vào giai đoạn 2006- 2011qua các tài liệu, sách báo, qua mạng Internet và trong các Báo cáothường niên kinh tế Việt Nam năm 2011, 2012 Để thu được các thông tin nhanh chóng, mỗi một thànhviên trong nhóm sẽ đi tìm hiểu, thu thập số liệu về các chỉ tiêu khác nhau phản ánh chất lượng tăngtrưởng kinh tế Việt Nam
3.1.2 Phương pháp xử lý số liệu
Những số liệu mà nhóm thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau: sách, báo, Tổng cụcThống kêhầu hết là những con số tồn tại dưới dạng nguyên thủy Do đó, để đáp ứng cho công việc nghiên cứu,nhóm phải thống kê, sắp xếp và tổng hợp lại một cách logic, đúng thứ tự Tiếp theo, nhóm sẽ lập các
Trang 24bảng số liệu, xây dựng các biểu đồ và đồ thị để thể hiện rõ chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Namgiai đoạn 2006- 2011 được biểu hiện qua những con số trên đồ thị, bảng biểu.
3.1.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi đã thu thập đầy đủ thông tin, xử lý xong các số liệu nguyên thủy, nhóm sẽ dựa vào những
số liệu đó cùng với những bình luận của các chuyên gia để bắt đầu tiến hành phân tích, đánh giá thựctrạng trạng tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006- 2011 Xemxét những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được và tìm ra những hạn chế còn tồn tại
Ngoài ra, để đánh giá chính xác, khách quan về chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta tronggiai đoạn này, nhóm còn kết hợp sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tếgiai đoạn 2006- 2011 với các giai đoạn trước đó, giữa Việt Nam và một số nước khác trong khu vực vàtrên thế giới để xem Việt Nam có những lợi thế và yếu kém gì so với các quốc gia khác về chất lượngtăng trưởng
3.2 Tổng quan tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
3.2.1 Những thành tựu nổi bật trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
Bảng 1 GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011, theo giá so sánh năm 1994.
(Nghìn tỷ đồng)
Tăng trưởng GDP (%)
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2006 đạt 8,23%, năm 2007 đạt 8,46%, năm
2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32%, năm 2010 đạt 6,78% và năm 2011 đạt 5,89% Bình quân thời kỳ2006-2011, tăng trưởng kinh tế đạt 6,83%/năm, trong đó bình quân giai đoạn 2006-2007 đạt 8,34%;bình quân giai đoạn 2008-2011 đạt 6,08% do ảnh hưởng của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế thếgiới Trong đó,tốc độ tăng trưởng năm 2008 đạt 6,31%, sau khi tăng trưởng 5,32% trong năm 2009,kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng 6,78% trong năm 2010, mạnh nhất trong 3 năm, đến năm 2011,tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 5,89%
Trang 25Hình 1 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam, 2006 – 2011.
“Tốc độ tăng trưởng 5,89% GDP cả năm 2011 đối với Việt Nam là thấp nhưng so với toàn cầu đó
là con số khá cao”, đây là nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Báo cáo cập nhật tình hình pháttriển kinh tế Việt Nam công bố tại cuộc họp báo về Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam(CG), tại Hà Nội
Cụ thể, tăng trưởng ba khu vực kinh tế như sau:
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,34%/năm
Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,94%/năm
Khu vực dịch vụ tăng 7,73%/năm
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm qua dù theo xu thế tích cực nhưng với quy mônền kinh tế nước ta còn quá nhỏ bé thì tốc độ tăng trưởng như vậy là còn chậm để có thể rút ngắnkhoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và thế giới
Những năm tiếp theo, GDP Việt Nam đã được dự báo là sẽ tăng cao, có thể khẳng định rằng nềnkinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng xét dưới góc độ số lượng Xétmột cách tổng quát, triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam là khá sáng sủa, sự tăng trưởng kinh tếgiai đoạn 2006 – 2011 tạo tiền đề quan trọng để thực hiện các mục tiêu cao hơn trong các năm tiếptheo
3.2.2 Những hạn chế của tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua tuy có nhiều chuyển biến tích cực, song mô hìnhtăng trưởng còn chủ yếu dựa vào yếu tố vốn Trong mười năm 1991 – 2000, tổng số vốn đầu tư là802,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,5% GDP, nhưng trong mười năm 2001 – 2010 thì tổng vốn đầu tư đã
Trang 26tăng lên 4336,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,6% GDP, cao hơn nhiều so với giai đoạn trước và kể cả cácnước trong khu vực và trên thế giới.
Ngân sách nhà nước luôn ở trong tình trạng bội chi và tỷ lệ bội chi đang có xu hướng gia tăng Tỷ
lệ bội chi ngân sách giai đoạn 2001 – 2005 là 4,85% GDP thì giai đoạn 2006 – 2010 tỷ lệ này đã tănglên 5,58% GDP Cán cân thương mại luôn trong tình trạng nhập siêu và ít có dấu hiệu cải thiện, trongnhững năm 2001 – 2010, tốc độ tăng nhập siêu của nước ta mỗi năm gần 26,8%
Cơ cấu ngành kinh tế của nền kinh tế nước ta chậm đổi mới, còn lạc hậu, chưa ra khỏi cơ cấungành truyền thống với đặc trưng tỷ trọng cao của khu vực sản xuất vật chất nói chung và khu vựcnông, lâm nghiệp và thủy sản nói riêng, khu vực sản xuất phi vật chất mang lại giá trị gia tăng cao cònchưa phải là ngành kinh tế chủ chốt Bên cạnh đó, trình độ công nghệ ở nhiều doanh nghiệp, nhất làdoanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp, chi phí năng lượng, nguyên nhiên liệu cho một đơn vị sản phẩmtrong quy trình sản xuất khá lớn, nhưng sản phẩm làm ra lại đơn điệu, chất lượng thấp, giá thành cao Trình độ phát triển giữa các vùng kinh tế cũng còn khoảng cách quá xa Các vùng kinh tế trọng điểmchưa tạo được sức lan tỏa thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển Các thành phần kinh tế chưa đượckhuyến khích phát triển trên cùng một mặt bằng về cơ chế chính sách
3.3 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
3.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu nhóm ngành tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước
ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trởthành một quốc gia văn minh, hiện đại Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởnước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của cácngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP củacác ngànhnông nghiệp
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2006 – 2011, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chưa thực sự rõ nét
so với giai đoạn trước
Bảng 2 Tỷ trọng các ngành trong GDP, 2006 – 2011 (% theo giá so sánh).
Công nghiệp
Trang 27Dịch vụ 40,3 40,4 40,8 41,4 41,6 42,1
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tỷ trọng ngành nông nghiệp có giảm đi qua các năm Năm 2006 tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấuGDP là 18,7% đến cuối năm 2011 giảm xuống còn 16,1%, trong đó sự giảm tỷ trọng của ngành này từnăm 2006 đến 2007 là rõ ràng nhất, từ năm 2007 – 2009, tỷ trong nông nghiệp giảm khá là chậm Cácngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu GDP, nhưng chỉbiến động tăng nhẹ qua các năm Mặc dù vậy, ngành dịch vụ vẫn đang có xu hướng tăng tỷ trọng liêntục qua các năm, và đến năm 2011 thì ngành này đã chiếm tỷ trọng cao nhất trong nền kinh tế Mặc dùchên lệch so với ngành công nghiệp - xây dựng là không đáng kể, tuy nhiên đây là dấu hiệu đángmừng khi nền kinh tế năm 2011 gặp nhiều khó khăn mà ngành dịch vụ vẫn có những bước tiến khá tốt
Hình 2 Thay đổi tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP, 2006 – 2011.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành cũng thể hiện qua tốc độ tăng trưởng của các khu vựctrong thời gian qua Có thể thấy, trước năm 2007 thì công nghiệp là ngành tăng trưởng nhanh nhất, tuynhiên từ năm 2008 trở về sau, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ đã thay thế vị trí dẫn đầu, ngànhcông nghiệp tăng trưởng chậm lại và có nhiều biến động mạnh, điều này cho thấy sản xuất công nghiệpcủa nước ta đang chậm lại, nhất là sau cú sốc đối với nền kinh tế năm 2008 Tuy nhiên, sự tiến bộ trongtăng trưởng của ngành dịch vụ cho thấy, ngành này đang dần dần tiến đến vị trí ngành chủ chốt của nềnkinh tế nước ta, khi mà liên tục tăng trưởng cao, đồng thời dần chiểm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấuGDP
Trang 28Hình 3 Tăng trưởng của các ngành kinh tế, 2006 – 2011.
Có thể thấy, mặc dù tỷ trọng sản lượng ngành nông nghiệp trong GDP của cả nước chiếm ít nhất,nhưng lao động của nhóm ngành này lại chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu lao động của nước tatrong giai đoạn 2006 – 2011 Trong khi đó, ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng khá cao trong
cơ cấu GDP nhưng lại chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu lao động, trong đó thấp nhất là ngành côngnghiệp Điều này cho thấy, chuyển dịch cơ cấu lao đông theo ngành chưa tương xứng với chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế
Bảng 3 Cơ cấu lao động Việt Nam phân theo nhóm ngành kinh tế (%)
2006 tăng lên 30,3% trong năm 2011 Dịch vụ - ngành công nghiệp không khói này đang tạo ra ngàycàng nhiều công ăn việc làm cho nền kinh tế Như vậy, chuyển dịch cơ cấu lao động về cơ bản đã cónhững tín hiệu tích cực
Trang 29Nhìn chung, trong giai đoạn 2006 – 2011, cơ cấu ngành kinh tế tuy có sự chuyển dịch theo xuhướng tiến bộ, nhưng tốc độ chuyển dịch diễn ra còn chậm, đồng thời, tỷ trọng sản lượng cũng như laođộng trong ngành nông nghiệp vẫn còn tương đối cao.
3.3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế đã có những chuyển biến khá tích cực, thể hiện sự tham gia ngày càngsâu rộng của khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào các hoạtđộng kinh tế Theo xu hướng này, tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế nhà nước đang có xu hướnggiảm dần, còn tỷ trọng trong GDP của khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoàidần dần tăng lên tương ứng
Bảng 4 Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP Việt Nam (% theo giá so sánh năm 1994)
Hình 4 Tăng trưởng các thành phần kinh tế, 2006 – 2011.
Trang 30Như vậy, sự chuyển dịch trong cơ cấu thành phần kinh tế đã đi theo hướng khá tích cực, tuy tốc độchuyển dịch còn diễn ra khá là chậm
3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu
3.3.2.1 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động - Năng suất lao động
Việt Nam có lợi thế là một quốc gia có dân số đông, cơ cấu dân số trẻ Do đó, số người trong độtuổi lao đông lớn Tuy nhiên, lực lượng lao động của Việt Nam lại chủ yếu là lao động có tay nghềthấp, lao động chưa qua đào tạo Do đó, năng suất lao động của đất nước còn rất thấp so với các quốcgia khác trong khu vực
Bảng 5 Năng suất lao động xã hội của Việt Nam, 2007 – 2009.
Năm Năng suất lao động
(triệu đồng- giá thựctế)
Bình quângiai đoạn Tốc độ tăng năngsuất lao động
(%/năm) (giá sosánh)
Tốc độ tăngtrưởng GDP(%/năm)
Trang 312009), cùng với sự giảm sút của tốc độ tăng năng suất lao động là sự giảm sút của tốc độ tăng trưởngGDP
Bảng 6 Năng suất lao động một số nước năm 2010.
Quốc gia Năng suất lao động( USD/ người)
và 4,5% trong giai đoạn 2000-2010 Với mức tăng trưởng này, Việt Nam nằm ở top dưới trong số cácquốc gia được so sánh Số liệu này phù hợp với thành tích về tăng trưởng GPD của nước ta trongnhững năm qua
Đánh giá về chất lượng lao động Việt Nam thông qua năng suất lao động, TS Hồ Đức Hùng (Đạihọc Kinh tế TPHCM) so sánh: năng suất lao động của lao động Việt Nam hiện thấp hơn Indonesia 10lần, Malaysia 20 lần, Thái Lan 30 lần, và Nhật Bản tới 135 lần! Ông cũng bày tỏ quan điểm: “Nếu coilao động giá rẻ (chất lượng thấp) như một lợi thế thì sai lầm, bởi yếu tố quyết định đến doanh thu lợinhuận của doanh nghiệp chính là năng suất lao động”
Dựa trên chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2009-2010, Việt Nam xếpthứ 75/133 quốc gia về năng suất lao động, trong khi đó vị trí của Singapore là 3, Malaysia là 24 vàThái Lan là 36
Lao động và năng suất lao động có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập và sức mua có khả năngthanh toán, làm tăng tiêu thụ ở trong nước - động lực của tăng trưởng kinh tế, là “cứu cánh” của tăngtrưởng kinh tế trước những bất ổn ở bên ngoài Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong
Trang 32giải quyết việc làm cũng như cải thiện đáng kể năng suất lao động Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế
mà chúng ta cần khắc phục để lao động và năng suất lao động không trở thành điểm “nghẽn” của tăngtrưởng
3.3.2.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn - Hệ số ICOR
Hiệu quả sử dụng vốn của một quốc gia được đánh giá qua chỉ số ICOR toàn nền kinh tế của quốcgia đó trong từng thời kỳ Hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) thể hiện để tăng một đồngGDP cần đầu tư bao nhiêu đồng Hệ số ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại
Ở Việt Nam, chỉ số ICOR tăng mạnh từ năm 2007 đến 2009 Nếu như trong giai đoạn 1991 - 1995,
hệ số ICOR là 3,5 thì đến giai đoạn năm 2007 - 2008, hệ số này là 6,15; năm 2009, hệ số ICOR tăngvọt lên 8 cùng với sự tăng lên trong chỉ số ICOR là sự suy giảm của tốc độ tăng trưởng GDP( từ 8.46%năm 2007 xuống 5.32% năm 2009) Mặc dù năm 2010, ICOR giảm xuống 6.2 và đến năm 2011 lạitiếp tục giảm còn 5.9 nhưng nó vẫn còn hơn nhiều so với khuyến cáo của WB: “Đối với một nước đangphát triển, hệ số ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững”
So với các nước trong khu vực, chỉ số ICOR của Việt Nam gấp đôi, có nghĩa là hiệu quả sử dụng vốnđầu tư chỉ bằng một nửa so với các nước khác Đây là một điều đáng báo động đối với chất lượng tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam
Bảng 7. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2007- 2011
Bảng 8 Hệ số ICOR từ vốn đầu tư và tích lũy tài sản
Từ vốn đầu tư Từ tích lũy tài sản
Nguồn: http://cafef.vn
Trang 33Một trong những nguyên nhân khiến chỉ số ICOR cao như vậy là do lượng tiền bỏ ra nhằm mụcđích đầu tư ngày càng ít tham gia vào quá trình sản xuất Qua tính toán từ số liệu của tổng cục thống kêcho thấy: Hiệu quả đầu tư giai đoạn 2006- 2010 giảm sút rõ rệt so với giai đoạn 2000- 2005 Nếu giaiđoạn 2000- 2005, bỏ ra 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP thì đến giai đoạn 2006- 2010phải bỏ ra 7 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP Nếu lượng tiền bỏ ra đến được với sản xuấtthì hiệu quả đầu tư của chúng ta cũng không phải là quá thấp so với các nước trong khu vực.
Một câu hỏi đặt ra: Khu vực nào đầu tư kém hiệu quả nhất?
Bảng 9 ICOR theo khu vực sở hữu theo giai đoạn.
Tính toán từ vốn đầu tư Tính toán từ tích lũy tài sản Tổng Nhà
Một điều đáng nói ở đây là dù được khai thác dầu khí, được hưởng nhiều ưu đãi về chính sáchnhưng hiệu quả đầu tư của khu vực FDI vẫn thấp Nguyên nhân là do các báo cáo lỗ, do việc chuyểngiao giữa công ty mẹ với các công ty con diễn ra khá phổ biến trong những năm vừa qua Chính tìnhtrạng này đã đẩy chi phí sản xuất lên cao và tất yếu là lợi nhuận sẽ giảm
Theo tính toán, khu vực FDI sử dụng vốn không hiệu quả ngay cả khi lượng tiền đầu tư đến đượcvới sản xuất( ICOR tính toán từ tích lũy tài sản bằng 9.7 giai đoạn 2006- 2010) Như vậy có thể nhậnthấy khu vực tư nhân sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất Khu vực này cũng là khu vực đóng góp nhiềunhất vào GDP trong khi không nhận được một ưu đãi nào, chưa kể còn có những bất cập về chính sáchgây khó khăn cho không ít doanh nghiệp
Hiệu quả đầu tư không chỉ tác động đến tăng trưởng kinh tế về mặt số lượng mà còn ảnh hưởng lớnđến chất lượng tăng trưởng của một nền kinh tế Chỉ số ICOR cao, tăng hiệu quả đầu tư giảm sút là mộttrong những nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát cao, lặp đi lặp lại, là nguyên nhân quan trọnggây bội chi ngân sách nhà nước, tăng nợ công, tăng nhập siêu… trong thời gian qua
Bảng 10 So sánh mức thu nhập từ vốn và vốn đầu tư ( Đơn vị: tỷ đồng/ giá thực tế), 2006 – 2010