1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên nam phong tạp chí (1917 đến 1934)

100 786 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 749,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của thể tài du kí trên Nam Phong tạp chí sẽ giúp chúng ta thấy được dấu ấn ngôn ngữ của giai đoạn văn học giao thời, có một cái nhìn cụ thể hơn v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ HƯƠNG GIANG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ DU KÍ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ (1917 – 1934 )

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Cao Thị Hảo

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tập thể lớp Cao học K19 - Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện để tôi có cơ hội học tập và nghiên cứu khoa học

Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Cao Thị Hảo

- người thầy rất nghiêm khắc, tận tình trong công việc đã truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, thầy cô và bè bạn đã luôn động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Thái Nguyên, ngày 29 tháng 03 năm 2013

Tác giả luận văn

Vũ Hương Giang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công

bố trong một công trình khoa học nào khác

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2013

Tác giả luận văn

Vũ Hương Giang

Xác nhận của trưởng khoa chuyên môn

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học

TS Cao Thị Hảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp mới của luận văn 9

7 Cấu trúc luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 THỂ DU KÍ VÀ NAM PHONG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX 11

1.1 Bối cảnh lịch sử văn hoá, văn học những năm đầu thế kỷ XX tác động tới sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và thể loại du kí 11

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa 11

1.1.2 Bối cảnh văn học 14

1.2 Nam Phong tạp chí trong dòng chảy giao lưu văn hoá những năm đầu thế kỷ XX 17

1.3 Đặc điểm thể loại du kí và diện mạo thể du kí trên Nam Phong tạp chí 19

1.3.1 Đặc điểm của thể du kí 19

1.3.2 Thể du kí trên Nam Phong tạp chí 21

1.4 Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật 24

1.4.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 24

1.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí 26

Chương 2 PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ DU KÍ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ 29

2.1 Kết hợp ngôn ngữ nghệ thuật với ngôn ngữ khoa học 29

Trang 6

2.1.1 Lối văn bóng bẩy, giầu tính biểu cảm của ngôn ngữ nghệ thuật 29

2.1.2 Ngôn ngữ khoa học, chính xác, kết hợp nhiều lĩnh vực liên ngành 38

2.2 Phương thức miêu tả cụ thể hóa, chi tiết đối tượng phản ánh 45

2.2.1 Trên cấp độ cấu trúc của ngôn ngữ 45

2.2.2 Trên các phương thức biểu đạt của ngôn ngữ 49

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA THỂ DU KÍ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ 57

3.1 Hệ thống từ Hán Việt và lối diễn đạt biền văn 57

3.1.1 Hệ thống từ Hán Việt 57

3.1.2 Lối diễn đạt biền văn 61

3.2 Hệ thống từ cổ và phong cách diễn ngôn lệ cổ 65

3.2.1 Hệ thống từ cổ 65

3.2.2 Phong cách diễn ngôn lệ cổ 66

3.3 Hệ thống từ ngữ mang tính khẩu ngữ, đời thường 71

3.4 Hệ thống từ ngữ và lối diễn đạt du nhập từ Phương Tây 77

3.4.1 Hệ thống từ ngữ ngoại lai 78

3.4.2 Câu văn khúc triết mạch lạc, ngắn gọn ảnh hưởng lối diễn đạt phương Tây 82

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Bước sang đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chuyển mình từ quỹ đạo trung đại sang thời kì hiện đại, thoát khỏi tầm ảnh hưởng hàng nghìn năm của văn hóa khu vực, hội nhập với văn hóa phương Tây đặc biệt là văn hóa Pháp Quá trình hiện đại hóa đã mang đến cho văn học một diện mạo hoàn toàn mới với sự xuất hiện của hàng loạt các trào lưu văn học, tư tưởng nghệ thuật, chủ đề, đề tài mới, đáng chú ý nhất là sự thay đổi của hệ thống thể loại

Cơ cấu của những thể loại cũ có xu hướng bị phá vỡ, đồng thời xuất hiện nhiều thể loại mới làm cho đời sống văn học thêm phong phú và sinh động Thể loại du kí xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học Ngay từ thời kì trung đại nó đã manh nha xuất hiện trong một số tác phẩm ghi chép những sự

kiện, những danh lam thắng cảnh của quê hương như: Thƣợng kinh kí sự của

Lê Hữu Trác, Tây hành nhật kí của Phạm Phú Thứ… Tuy nhiên phải đến

đầu thế kỷ XX, du kí mới thực sự trở thành một dòng chảy mạnh mẽ góp phần quan trọng vào đời sống văn học giai đoạn này Du kí là một thể tài đặc biệt của văn học Việt Nam Trong mỗi tác phẩm, các tác giả không chỉ giới thiệu những danh lam thắng cảnh, những sự kiện, những miền xứ sở mình đã đi qua

mà còn thể hiện khá rõ tình yêu với non sông đất nước, trân trọng những tập tục, truyền thống văn hóa khác nhau Chính vì vậy, du kí trở thành nguồn tư liệu quý báu cho những thế hệ sau Đọc du kí, người ta có thể thấy được cả lịch sử, địa lí, văn hóa phong tục, tập quán… ở trong đó, cung cấp những vốn kiến thức phong phú, phản ánh những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của con người, bồi đắp tình yêu với quê hương cho độc giả

1.2 Ngôn ngữ là phương tiện rất quan trọng trong tác phẩm văn học Nó

là hình thức vật chất duy nhất cho sự tồn tại của nội dung tác phẩm, là phương diện bộc lộ tài năng của nhà văn, không có ngôn ngữ nhà văn không thể sáng tạo ra tác phẩm Mặt khác, mỗi thể loại văn học đều mang dấu ấn lịch sử, thời

Trang 8

đại Tính lịch sử của thể loại biểu hiện trên tất cả các phương diện Ngôn ngữ

là một trong những yếu tố quan trọng biểu hiện tính thời đại của văn học Thông qua nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của thể tài du kí trên Nam Phong tạp chí sẽ giúp chúng ta thấy được dấu ấn ngôn ngữ của giai đoạn văn học giao thời, có một cái nhìn cụ thể hơn về quá trình hiện đại hóa văn học Hơn nữa, chúng ta cũng thấy được diện mạo riêng, những nét khác biệt của ngôn ngữ du kí so với các thể loại văn học khác

1.3 Đầu thế kỉ XX, sự du nhập của văn hóa phương Tây đã làm thay đổi toàn bộ đời sống của dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục đặc biệt

là làm cho giao thông từng bước phát triển, giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng, với sự hỗ trợ của các phương tiện hiện đại, việc đi lại được thuận tiện hơn Đây là điều kiện khách quan tạo cơ hội cho những nhà văn, nhà nghệ sĩ yêu thích Đi và Xem khám phá mọi miền đất nước Chính vì vậy mà hàng loạt tác phẩm du kí đã ra đời Trên Nam Phong tạp chí, có hẳn một mục dành riêng cho du kí với sự góp mặt của hàng loạt những cây bút tiêu biểu như: Nguyễn Bá Trác, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Tùng Vân, Trần Trọng Kim… Trải qua 17 năm, Nam Phong tạp chí đã cho ra đời 62 tác phẩm của hơn 40 tác giả Sự nở rộ của thể loại du kí trong những năm đầu thế kỉ XX đã khẳng định

vị trí quan trọng của thể loại này trong nền văn học dân tộc ở chặng đường đầu của quá trình hiện đại hóa văn học Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu

về ngôn ngữ của thể tài du kí trên Nam Phong tạp chí vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Với mong muốn tìm hiểu và làm sáng rõ hơn những đặc trưng ngôn ngữ của thể tài du kí trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng hiện đại hóa văn

học, chúng tôi đã chọn đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934)” Thông qua việc thực hiện đề tài này chúng tôi

hi vọng sẽ khẳng định được phần nào những đóng góp của du kí trên Nam Phong tạp chí trong buổi đầu hình thành nền văn xuôi Quốc ngữ

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về du kí trên Nam Phong tạp chí

Du kí là một thể tài tuy xuất hiện khá sớm trong đời sống văn học, nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức trong giới nghiên cứu phê bình, phần lớn mới chỉ dừng lại ở những bài viết nhỏ, những nghiên cứu sơ lược, chỉ nhắc tới

du kí khi bàn về thể kí nói chung

Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm xuất bản

năm 1950 có nhắc tới thể tài du kí một cách sơ lược Đến năm 1965, Phạm

Thế Ngũ với cuốn Việt Nam văn học sử giản ƣớc tân biên có bàn tới du kí

trong sáng tác của Phạm Quỳnh Ông đưa ra nhận xét “Du kí Phạm Quỳnh

thiên về biên khảo, văn nghị luận nhiều hơn văn cảm giác… Phạm Quỳnh đã biết thuật chuyện có duyên, biết điểm vào những đoạn tả cảnh xinh tươi, nhất

là khéo biết sử dụng một lời văn thanh thoát trang nhã” [26.196] Ở đây, nhà

nghiên cứu đã đánh giá cao tài năng viết du kí của học giả Phạm Quỳnh Lối viết văn của ông chủ bút báo Nam Phong không chỉ đơn thuần là những khảo cứu, ghi chép mà còn mang đậm chất văn chương ở cách tả cảnh, cách kết

hợp từ ngữ khéo léo Ông khẳng định “Phạm Quỳnh là người tranh đấu cho

câu văn Quốc ngữ” [26 196]

Năm 1967, Tạp chí văn học (số 2) có bài Về thể kí của tác giả Tầm Dương

Trong bài viết của mình, tác giả phân loại thể kí, và du kí được xem là một phần

của kí sự “du kí là kí lại những sự (những điều mắt thấy tai nghe) trong lúc du”

[8] Tạp chí văn học (số 6), tác giả Nam Mộc trong bài viết Thể kí và vấn đề về

người thật, việc thật nhận định “có thứ bút kí phản ánh người, việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn đó là du kí” [23]

Năm 1968, trong công trình Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí

(1917 – 1934), Nguyễn Khắc Xuyên đưa ra nhận xét “Nhiều khi chúng ta tự

cảm thấy sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn thì đây theo tờ Nam Phong chúng ta có thể phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả các phong cảnh hùng vĩ nhất,

Trang 10

đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian những tài liệu này hẳn sẽ

trở nên quý hóa đối với chúng ta Trong mục Du kí này phải kể bài Hạn mạn

du kí của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần Kinh của Nguyễn Tiến Lãng, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kì và nhất là Pháp du hành trình nhật kí của

Phạm Quỳnh” [42.34] Du kí trên Nam Phong tạp chí mang lại những giá trị

rất lớn, nó không chỉ đơn thuần thể hiện tình yêu quê hương, ngợi ca khung cảnh tuyệt đẹp của đất nước được thể hiện trên mỗi trang giấy mà còn là kho

tư liệu có giá trị trong mọi thời đại

Năm 1942, trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nói một

cách sơ lược về thể loại du kí khi nói tới nhóm nhà văn của Nam Phong tạp

chí Đặc biệt tác giả đã nhắc tới tác phẩm du kí: Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi

của Trương Vĩnh Ký

Trong cuốn Quá trình hiện đại hóa văn học do nhà nghiên cứu Mã

Giang Lân chủ biên cũng đề cập tới thể tài du kí:“Thể loại văn học đầu tiên

viết bằng chữ Quốc ngữ phải kể đến thể tài du kí Đây là một hình thức bút kí văn học được ghi lại bằng văn xuôi, thuật lại chuyến đi của tác giả đến những vùng đất khác nhau…nguồn gốc của du kí cần tìm trong hình thức tùy bút, kí

Điểm lại các công trình trên, ta thấy thể du kí mới chỉ được các tác giả nghiên cứu một cách sơ lược, chưa thành hệ thống, chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào về thể du kí trên Nam Phong tạp chí

Đáng chú ý nhất khi nghiên cứu về du kí nói chung và du kí trên Nam Phong tạp chí nói riêng phải kể đến Nguyễn Hữu Sơn với hàng loạt các bài

nghiên cứu: Báo văn nghệ quân đội, số 10, năm 2000 có bài Thể tài du kí về

Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX; báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6,

năm 2000 xuất hiện bài Phác thảo du kí Hà Nội trước cách mạng tháng Tám;

báo Văn nghệ Hạ Long, số tết, năm 2012 đăng bài Du kí Quảng Ninh nửa

Trang 11

đầu thế kỷ XX; Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 570, năm 2006 có bài Thể tài

du kí và các tác giả Nam bộ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1945; Tạp chí

Nghiên cứu văn học, số 4, năm 2007 với Thể tài du kí trên Tạp chí Nam

Phong (1917 – 1934); Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 619 có bài Du kí về vùng văn hóa Sài Gòn – Nam bộ Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt

Nam học lần thứ ba (5 – 7/12/2008) xuất hiện bài viết Du kí của người Việt

Nam viết về nước Pháp và mối quan hệ Việt – Pháp giai đoạn cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX

Đặc biệt vào năm 2007, tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã dày công biên soạn,

sưu tầm và giới thiệu bộ Du kí Việt Nam, Tạp chí Nam phong (1917 – 1934) gồm 3 tập Trong bộ sách tác giả đã giới thiệu đầy đủ 62 tác phẩm du kí

đăng trên Nam Phong tạp chí Sau khi bộ du kí ra đời trên diễn đàn nghiên cứu văn học đã xuất hiện hàng loạt các bài viết về thể du kí, mở ra một bước phát triển mới của việc nghiên cứu thể tài này

Báo Doanh nghiệp ra ngày 13.05.2007 có bài viết của Trung Sơn Viết

cho sự đi nêu lên một số đặc trưng của thể du kí như điều kiện ra đời, đặc

trưng về không gian, thời gian…

Báo Tuổi trẻ ngày 23.03.2007, Phạm Xuân Nguyên viết bài Đọc sách để

đi chơi có nhận định “Đọc du kí để hiểu biết, có thêm thông tin tri thức là một

lẽ Đọc những tác phẩm du kí này còn để hiểu thêm suy nghĩ, cảm xúc của những con người đứng ở buổi đầu nền văn học hiện đại, muốn chuyển tải và gửi gắm tới quốc dân đang tìm cách thoát lạc hậu đến văn minh”.[25]

Báo Văn nghệ thể thao ngày 27.04.2007 xuất hiện bài Du kí như một

thể tài của tác giả Linh Lê Trong đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn khi

trả lời tác giả Linh Lê khẳng định “Du kí cần quan niệm như một thể tài Thể

tài du kí cần hiểu là nhấn về phía đề tài, nội dung và cảm hứng nghệ thuật của người viết chứ không phải về phía thể loại”

Báo điện tử Người đại biểu nhân dân ra ngày 01.04.2007, tác giả

Phong Lê có bài Du kí Việt Nam trên Tạp chí Nam Phong Trong bài viết của

Trang 12

mình tác giả đã khẳng định du kí không chỉ cung cấp khối lượng tri thức

phong phú cho bạn đọc mà “với người nghiên cứu văn học, đây là một minh

chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử văn học dân tộc – giai đoạn bản lề, giao thời trên tất cả các phương diện của ngôn ngữ và thể loại, của tác giả và công chúng, của nội dung học thuật và tư duy nghệ thuật… Sau thời giao chuyển được phản ánh và kết đọng rất rõ qua Tạp chí Nam Phong,

mà 62 du kí là một bộ phận, đến thời kì hoàn thiện diện mạo hiện đại của nó,

từ 1930 – 1945”.[18]

Ngoài ra còn một số bài viết khác như: Du kí Việt Nam – một bộ sách

quý của Trần Hữu Tá, Nguyễn Anh với bài Du kí Việt Nam, ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm…

Gần đây, cuốn giáo trình Văn xuôi hiện đại Việt Nam giai đoạn

1900-1932 (2010) của Cao Thị Hảo cũng đề cập đến thể loại du kí khi phân tích về

văn xuôi Quốc ngữ Bắc kì với sự định hình xu hướng “tả thực” và các thể

loại: kí, truyện ngắn, tiểu thuyết Trong đó nhà nghiên cứu khẳng định “mặc

dù bám sát hiện thực, lấy gốc rễ từ những vấn đề có thực nhưng thể loại kí giai đoạn đầu thế kỉ XX ở Bắc kì không thể hiện một cách tiếp cận đời sống thông qua điều tra, khám phá, nhận thức thực tại như kiểu phóng sự ở giai đoạn sau mà mang đặc điểm của một thể văn xuôi trữ tình chủ yếu mô tả cảnh vật, sự việc, con người, hoặc ghi chép những xúc cảm, suy nghĩ trước thiên nhiên… Kí còn có mối giao thoa với tiểu thuyết.”[10.120]

Những công trình, bài viết trên đã phần nào đi sâu vào tìm hiểu những đặc trưng về mặt nội dung và nghệ thuật, vai trò của thể tài du kí, khẳng định những thành tựu của thể loại này trong lịch sử phát triển văn học

2.2 Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí

Như đã nói ở trên, ngôn ngữ có vai trò quan trọng không chỉ đối với tác phẩm văn học mà còn với cả công chúng độc giả Nó là phương tiện, là cầu

Trang 13

nối giữa tác giả với tác phẩm, giữa độc giả với tác phẩm Tuy nhiên, ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí mới chỉ bước đầu được các tác giả quan tâm trong một số công trình nghiên cứu

Khi nghiên cứu về ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật buổi đầu tiếp xúc Á –

Âu, các tác giả trong cuốn Văn học Việt Nam (1900 – 1945) đã nhắc đến

ngôn ngữ của Phạm Quỳnh và đưa ra nhận xét: “Do không nắm được quy luật

của ngôn ngữ Việt Nam, câu văn xuôi Phạm Quỳnh dở Tây dở Tàu, khệnh khạng, lủng củng, dài lòng thòng.”[6.214] Tuy nhiên, cùng với những hạn chế

đó, chúng ta cần thấy được những đóng góp của Phạm Quỳnh cũng như các tác giả du kí trên Nam Phong tạp chí đối với việc định hình văn học Quốc ngữ đầu thế kỉ XX

Trong Du kí Việt Nam, Tạp chí Nam Phong (1917 – 1934), khi giới

thiệu về cuốn sách, Nhà xuất bản Trẻ cũng đề cập đến vấn đề ngôn ngữ của

thể du kí trên Nam Phong tạp chí và đưa ra nhận định: “Vẫn có những câu văn

biền ngẫu, đăng đối, nặng từ Hán Việt… Bên cạnh những ghi chép sinh động, hấp dẫn đôi khi pha chút hóm hỉnh và chêm vào cả những câu tiếng Pháp, rất gần gũi với cách hành văn của những nhà văn Pháp Nhưng đa phần các bài

du kí đã thể hiện một lối viết tiếng Việt trong sáng, nhuần nhị…” [33.8]

Bên cạnh đó, Đặng Hoàng Oanh trong bài viết Ngôn ngữ du kí Phạm

Quỳnh đăng trên báo điện tử PhongDiep.net đã nêu lên những đặc điểm cơ

bản của ngôn ngữ du kí Phạm Quỳnh về mặt từ vựng và ngữ pháp Tác giả bài

viết khẳng định “Có thể xem việc hăng hái viết du kí của Phạm Quỳnh là một

sự thể nghiệm tiếng Việt Quốc ngữ trong lĩnh vực văn xuôi Bên cạnh từ Hán trong du kí Phạm Quỳnh còn xuất hiện không ít từ tiếng Pháp…”[29]

Tiêu biểu là bài viết Nghệ thuật ngôn từ du kí Quốc ngữ Việt Nam giai

đoạn giao thời của tác giả Trần Thị Tú Nhi đăng trên Cổng thông tin điện tử

trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh - www.hcmup.edu.vn Bài viết đã chỉ ra sự kết hợp giữa ngôn từ khoa học và ngôn từ nghệ thuật, mặt

Trang 14

khác cũng chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trong giai

đoạn giao thời Tác giả khẳng đinh “Từ Hán Việt và lối diễn đạt biền văn, từ

cổ và phong cách diễn ngôn cũ, hệ thống từ ngữ và cách diễn đạt du nhập từ phương Tây… một mặt, chúng mang lại những giá trị nghệ thuật quan trọng cho du kí nhưng mặt khác, đó cũng là biểu hiện của sự chập chững của văn phong Quốc ngữ trong những ngày đầu.” [27.26]

Nhìn nhận một cách tổng thể những công trình nghiên cứu, những bài viết nói trên, chúng tôi nhận thấy:

1 Thể tài du kí trên Nam Phong tạp chí đã bước đầu được các tác giả tập trung nghiên cứu trên nhiều khía cạnh: điều kiện ra đời, mục đích, chủ đề, đề tài, cảm hứng nghệ thuật, nội dung, đặc trưng nghệ thuật…

2 Ngôn ngữ của thể du kí trên Nam Phong tạp chí mới chỉ được đề cập đến trong một số bài viết, chưa có một công trình độc lập nào nghiên cứu, khảo sát, hệ thống hóa để có một cái nhìn đầy đủ và sâu sắc nhất

Những khoảng trống trong lịch sử vấn đề đã khẳng định hướng nghiên cứu của chúng tôi là có ý nghĩa khoa học Nó cũng mở ra rất nhiều những khó khăn thách thức cho người nghiên cứu Tuy nhiên để bổ sung một cái nhìn toàn diện đối với thể du kí trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi quyết định chọn hướng nghiên

cứu Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934)

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Trong văn học trung đại, thể kí đã xuất hiện với một số tên tuổi, nhưng phải đến những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn văn học giao thời thể du kí mới thực sự phát triển mạnh mẽ đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đối với luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu toàn bộ

62 tác phẩm du kí được in trên Nam Phong tạp chí giai đoạn 1917 – 1934 của gần 40 tác giả Trong đó tập chung chủ yếu vào ba tác giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục Ngoài ra kết hợp so sánh với một số tác phẩm du kí khác

Trang 15

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Thực hiện luận văn, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ nội dung, đặc trưng nghệ thuật của thể du kí mà chỉ tập trung vào nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu ngôn ngữ của thể du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934) thể hiện qua: phương thức tổ chức ngôn ngữ, các đặc điểm phương tiện ngôn ngữ như: từ ngữ, văn phong, cú pháp… để từ đó thấy được những đặc trưng ngôn ngữ của thể du kí, sự khác biệt của ngôn ngữ du kí với các thể loại khác Đồng thời thấy được dấu ấn ngôn ngữ của văn học giai đoạn giao thời

in đậm qua các tác phẩm du kí, có một cái nhìn cụ thể hơn về quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ mô hình trung đại sang hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu văn học

- Phương pháp tổng hợp, khái quát vấn đề

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp mới của luận văn

- Cung cấp một cái nhìn đầy đủ về đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của thể loại du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934)

- Khẳng định những đóng góp cụ thể và những hạn chế nhất định về phương diện ngôn ngữ của thể du kí trên Nam Phong tạp chí Qua đó góp phần đánh giá những đóng góp của Nam Phong tạp chí cho tiến trình hiện đại hoá của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời

Trang 16

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Thể du kí và Nam Phong tạp chí trong quá trình hiện đại hoá

văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

Chương 2: Phương thức tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên

Nam Phong tạp chí

Chương 3: Đặc điểm phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên

Nam Phong tạp chí

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1 THỂ DU KÍ VÀ NAM PHONG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN

ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX

1.1 Bối cảnh lịch sử văn hoá, văn học những năm đầu thế kỷ XX tác động tới sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và thể loại du kí

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa

Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành chương trình khai thác thuộc địa Để phục vụ lâu dài cho quá trình vơ vét bóc lột nước ta chúng xây dựng lên một bộ máy cai trị mới làm xã hội Việt Nam thay đổi sâu sắc và toàn diện, chuyển từ chế độ phong kiến sang thực dân nửa phong kiến, bộ mặt xã hội, thiết chế xã hội thay đổi nhanh chóng

Nếu giai đoạn trước, nước ta chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp thô

sơ, thủ công, lạc hậu, nghèo nàn thì giờ đây với sự du nhập của các yếu tố khoa học kĩ thuật phương Tây một nền sản xuất mới, tiên tiến bắt đầu hình thành với sự xuất hiện của các đô thị hiện đại như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn…, hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, hầm mỏ ra đời làm cho toàn bộ đời sống kinh tế xã hội thay đổi Đặc biệt là sự xuất hiện của các giai tầng mới trong xã hội Trong xã hội phong kiến chỉ có hai giai cấp chủ yếu là địa chủ và nông dân đến giai đoạn này cơ cấu giai cấp xã hội chuyển biến nhanh chóng với sự có mặt của nhiều giai tầng mới nhất là giai cấp tư sản, tiểu tư sản và công nhân, dân nghèo thành thị Những giai cấp này có vị trí xã hội, đời sống kinh tế và thái độ chính trị khác nhau

Mặt khác, để phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa được thuận tiện, thực dân Pháp đã cho xây dựng một hệ thống cơ sở giao thông liên lạc hiện đại, làm cho nhu cầu hiểu biết và giao lưu văn hóa giữa các vùng miền ngược miền xuôi, nông thôn thành thị… ngày càng được mở rộng Giao thông thuận lợi, việc đi lại được dễ dàng hơn chính là một trong những tiền đề kích thích

Trang 18

mạnh mẽ sự ra đời và phát triển của thể loại du kí Muốn sáng tác được những tác phẩm chân thực buộc các nhà du hành phải đi, quan sát và khám phá, dù chuyến đi đó ngắn hay dài Trong xã hội cũ việc đi lại vô cùng khó khăn, con người hầu như chỉ quanh quẩn bên giếng nước, gốc đa, sân đình Đến thời kì hiện đại, giao thông thuận tiện, nhu cầu đi và xem được đáp ứng, nhiều tác phẩm du kí có cơ hội nảy sinh

Đặc biệt, thời kỳ này chữ Nho văn tự chính thức của các triều đại phong kiến sử dụng qua nhiều thế kỷ sắp bị thay thế bằng chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ từ một sản phẩm của cộng đồng thiên chúa giáo bị tẩy chay kịch liệt suốt nhiều thế kỷ đến đầu thế kỷ XX trở thành ngôn ngữ chính thống được đông

đảo người Việt chấp nhận Và “khi công dụng của chữ Quốc ngữ đã thoát ra

khỏi giới hạn chật hẹp đó để trở thành một công cụ thuận tiện và lợi hại cho việc chuyên chở tri thức, phổ cập khoa học, phát triển văn chương học thuật… thì chữ Quốc ngữ, trong không đầy hai chục năm đã nhanh chóng thay thế chữ Hán, thâm nhập dần vào mọi hoạt động của giao tế xã hội”

[20.80] Những tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên cũng đã xuất hiện trên văn đàn Nhiệm vụ của văn học lúc này là phải xây dựng được một nền quốc văn mới Ngay trong số báo đầu tiên của tạp chí Nam Phong ra ngày 1 tháng 7 năm1917, chủ bút Phạm Quỳnh đã xác định một trong những mục

tiêu của tờ báo: “Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta lúc này là vấn đề văn

Quốc ngữ, vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong đợi được Đến ngày chữ Quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu thái các khoa học mới… Đến ngày ấy thì người dân ta mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình… Nói tóm lại chữ Quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quân dân ta mới không đến nỗi chung kiếp

đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay.” Với những ưu thế trong khả năng

biểu hiện, chữ Quốc ngữ đã góp phần làm cho công chúng độc giả trở nên phong phú và giúp cho quá trình sáng tác dễ dàng hơn

Trang 19

Bên cạnh sự phát triển của chữ Quốc ngữ, báo chí cũng trở thành môi trường thuận lợi cho sự hiện diện và thăng hoa của nền văn học mới Báo chí

ra đời trong quá trình thực dân hóa Đông Dương của người Pháp Với mục đích “chinh phục tinh thần người bản xứ” người Pháp đã dùng báo chí như một công cụ hữu hiệu, là cây cầu nối giữa kẻ đi chinh phục và người bị chinh phục Vì thế ngay từ năm 1865 Pháp đã cho xuất bản tờ Gia Định báo, in bằng chữ Quốc ngữ đặt dưới sự điều hành của một người Pháp tên là Ernest Potteaux Đến đầu thế kỉ XX, với sự phổ biến của chữ Quốc ngữ, báo chí phát triển nở rộ Đội ngũ nhà làm báo Việt Nam ngày càng trưởng thành làm cho hoạt động báo chí càng sôi động hơn bao giờ hết Báo chí từ chỗ là sản phẩm phục vụ cho nền hành chính thuộc địa đã thâm nhập và trở thành thành tố

quan trọng của văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ Có thể nói “quan hệ giữa báo

chí và văn chương ngày càng trở nên khăng khít trong sự tương hỗ Báo chí nhờ thêm sức mạnh của văn chương để lôi cuốn người đọc, còn văn chương cũng nhờ báo chí mà thêm điều kiện phát triển, nhất là ở buổi đầu hình thành nền văn học Việt Nam hiện đại” [5.49] Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, báo chí

giữ vai trò “là chiếc nôi, là bà đỡ của văn học hiện đại” Nó là môi trường

tồn tại lí tưởng của tác phẩm văn học nói chung và thể du kí nói riêng, là cầu nối nhanh nhất đưa tác phẩm đến với người đọc

Đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của báo chí là những tiến bộ vượt bậc về khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực in ấn Các phương tiện in ấn hiện đại được nhập từ Tây phương đã thay thế cho lối in thô sơ truyền thống Có thể nói, thời kỳ này kỹ nghệ in ấn, xuất bản rất hiện đại và phát triển nhanh chóng

hỗ trợ đắc lực cho nhiều tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm du kí nói riêng phổ biến trong đời sống xã hội, thúc đẩy các tác giả đi và viết

Như vậy, sự thay đổi sâu sắc và toàn diện của các yếu tố lịch sử văn hóa

xã hội đầu thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến sự ra đời của Nam Phong tạp chí và thể du kí nói riêng cũng như các thể loại văn học khác nói chung

Trang 20

1.1.2 Bối cảnh văn học

Sự xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp không chỉ làm thay đổi toàn diện đời sống văn hóa xã hội nước ta mà đời sống văn học cũng đang chịu tác động của một cơn báo táp lớn Cùng với lịch sử, văn học kết thúc quá trình ảnh hưởng khu vực của văn hóa phương Đông, tiếp cận với nền văn hóa tiên tiến phương Tây Bối cảnh văn học mới đã tác động không nhỏ tới sự xuất hiện của Nam Phong tạp chí và thể du kí

Trước tiên, không thể không nói tới sự thay đổi của lực lượng sáng tác Nền văn học Việt Nam, thời kì trung đại là nền văn học Nho giáo bởi lực lượng sáng tác chủ yếu là các nho sĩ Họ là những người đã qua “cửa Khổng sân trình”, tiến thân bằng con đường khoa cử Thời kì này, các nho sĩ sáng tác văn chương chủ yếu để nói chí, luận đạo “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, người ta chủ yếu làm thơ sáng tác văn chương theo lệnh vua chúa, hoặc những khi “trà dư tửu hậu”

Bước sang đầu thế kỷ XX, đội ngũ sáng tác của nền văn học Việt Nam

có nhiều biến đổi sâu sắc Đặc biệt do tính chất của giai đoạn giao thời nên giai đoạn này có sự trung chuyển của nhiều loại hình tác giả Lớp nhà văn cũ

dù thất thế những vẫn còn tồn tại, những thế hệ nhà văn mới đang bắt đầu hình thành Trong bước đầu của quá trình hiện đại hóa văn học, với những đòi hỏi mới của độc giả, các tác giả đã không ngừng nỗ lực cách tân tác phẩm của mình Những nhà văn mới là những người đầu tiên xông pha trên mảnh đất văn học mới Văn chương lúc này không còn để thể hiện Tâm - Đạo - Chí của người cầm bút mà thể hiện một bức tranh hiện thức phong phú rộng lớn, thể hiện cái tôi cá nhân đầy cảm xúc chân thành trước thiên nhiên tạo vật Đặc biệt thời kỳ này đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp bắt đầu hình thành Văn chương bắt đầu trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt, sáng tác văn chương là một nghề để kiếm sống

Cùng với thế hệ nhà văn mới là những quan niệm mới về sáng tác văn chương nghệ thuật Thời kì văn học trung đại, theo quan niệm Nho giáo, văn chương là phương tiện chủ yếu để giáo hóa chính tâm, là công cụ chính trị

Trang 21

động viên tổ chức xã hội phục vụ cho chính quyền chuyên chế Các tác giả

thường “chưa quan tâm đúng mức đến bản chất của văn chương nghệ thuật

mà hướng sự chú ý của mình đến đạo đức xã hội”.[10.107]

Đối tượng chủ yếu mà các nhà Nho quan tâm đến không phải là những chuyện đời thường của cuộc sống thực tại mà chủ yếu hướng về những chuyện đời xưa, những hình ảnh cao quý của một cõi tiên cảnh nào đó hay những chuyện kì bí, phi thường Hiện thực đời sống rất hiếm khi được tái hiện

trên trang văn Bởi với họ “chuyện đời thường là phàm tục không đáng quan

tâm” [10.93]

Đến thời kì hiện đại, trước những đòi hỏi của đời sống mới, văn chương không còn đơn thuần nhằm vào mục đích giáo huấn nữa mà nó hướng tới phản ánh hiện thực đời sống với xu hướng “tả thực” Dưới con mắt của nhà nghệ sĩ mảnh đất hiện thực hiện lên vô cùng phong phú Họ thưởng thức, chiêm nghiệm và ghi chép lại sự thực đó một cách đầy đủ nhất

Bên cạnh những yếu tố trên thì nhu cầu của công chúng độc giả cũng rất quan trọng Thời kỳ này văn chương không còn là món ăn tinh thần cao quý của tầng lớp trí thức quý tộc nữa mà trở thành “món ăn bình dân” của mọi tầng lớp trong xã hội Bởi vậy để đáp ứng nhu cầu của công chúng độc giả, rất nhiều tờ báo ra đời, trong đó có Nam Phong tạp chí Và để cung ứng cho nhu cầu hiểu biết mở rộng tầm mắt của người đọc những người cầm bút yêu thích

đi và xem đã cho ra đời các tác phẩm du kí tái hiện chân thực những phong tục tập quán, phong cảnh của những vùng đất khác nhau

Đặc biệt, vào đầu thế kỉ XX văn học Việt Nam có sự chuyển biến mạnh

mẽ về mặt thể loại Thời kì trung đại ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng rất đề cao thơ ca Văn, thơ, phú lục được coi là những thể chính trong sáng tác văn học.Vì vậy thời kì này thơ ca phát triển mạnh mẽ với nhiều kiệt tác có giá trị Trong khi đó văn xuôi dường như chưa khẳng định được chỗ đứng của nó Chủ yếu chỉ dừng lại ở những truyện u linh, chích quái, truyền kì thường ghi chép những chuyện thần kì, hoang đường Song trên con

Trang 22

đường phát triển hiện đại hóa văn học cùng với xu hướng “tả thức” bắt đầu được định hình, thể văn xuôi ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của nó trong cơ cấu thể loại văn học mới Bên cạnh sự nở rộ của thể loại kí, truyện ngắn và tiểu thuyết tuy chưa đạt được giá trị đỉnh cao như những giai đoạn sau nhưng đã bắt đầu có sự khởi sắc nhất định

Truyện ngắn hiện đại có bước tiến rõ rệt so với thời kì trung đại Đó không phải là những chuyện thần tiên, dị thường, kì quái mang đậm chất hoang đường hàm chứa một bài học nào đó mà là những đề tài phong phú được rút ra từ cuộc sống hàng ngày Đáng chú ý phải kể đến mảng đề tài về bi

kịch gia đình và sự xuống cấp của đạo đức: Trằn trọc đêm xuân (Mân Châu), Câu chuyện gia tình, câu chuyện nhà sư, Chuyện cô Chiêu Nhì (Nguyễn Bá Học), Có mới nới cũ (Đoàn Nhữ Nam)… Đề tài phê phán tố cáo

xã hội xuất hiện trong một số tác phẩm: Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn), Câu chuyện một tối của người tân hôn, Một nhà bác học (Nguyễn Bá

Học)… Đặc biệt nói đến truyện ngắn giai đoạn này không thể không nói đến

Nguyễn Công Hoan với hàng loạt các tác phẩm độc đáo: Răng con chó của nhà tư sản (1929), Oẳn tà roằn (1930), Ngựa người và người ngựa

(1931)… Có thể nói thời kì này “truyện ngắn hiện đại Việt Nam đã tiến

những bước chững chạc về mặt nghệ thuật và dự báo một xu thế cơ bản sẽ đạt được nhiều thành tựu ở giai đoạn sau…”[10.130]

Cùng với các thể loại văn xuôi khác, tiểu thuyết cũng có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn xuôi nước nhà, với nhiều tác phẩm thể hiện

sự cách tân của người cầm bút như: Cành hoa điểm tuyết (Đặng Trần Phất), Quả dưa đỏ (Nguyễn Trọng thuật), Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách)…Đặc biệt là

sự nở rộ của tiểu thuyết ở Nam kì: Tiền bạc bạc tiền, Cay đắng mùi đời (Hồ Biểu Chánh), Nghĩa hiệp kì duyên (Nguyễn Chánh sắt), Mạng nhà nghèo

(Nguyễn Bửu Mọc)… Tuy vẫn còn ảnh hưởng của phương pháp sáng tác truyền thống nhưng các tác phẩm chứa đựng không ít những yếu tố mới mẻ, tiến bộ thể hiện một tư tưởng mới, một cá tính sáng tác mới

Trang 23

Qua đây có thể thấy, văn xuôi với khả năng phong phú vốn có đã diễn tả

được đầy đủ tất cả các mặt đa dạng của đời sống “kể cả cái “chất văn xuôi”

tức là cái chất phàm tục của cuộc sống đương thời” (Vương Trí Nhàn) Chính

vì khả năng bao quát hiện thực rộng lớn như vậy nên các thể loại văn xuôi ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của nó trong đời sống văn chương hiện đại

Bối cảnh văn học đầu thế kỉ XX chính là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thể du kí Du kí ra đời và phát triển mạnh mẽ là hoàn toàn phù hợp với nhu cầu và thị hiếu thẩm mĩ của thời đại Nó đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong dòng chảy văn học Việt Nam

1.2 Nam Phong tạp chí trong dòng chảy giao lưu văn hoá những năm đầu thế kỷ XX

Thời kỳ phong kiến, Việt Nam chủ yếu giao lưu và chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của văn hóa Trung Hoa, nền văn hóa mang tính chất giao lưu khu vực Tất

cả các yếu tố văn hóa xã hội đều chịu chi phối của hệ tư tưởng phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo thống trị hàng thế kỷ Văn hóa Trung Quốc đã phủ lên đời sống chính trị, kinh tế văn hóa xã hội Việt Nam một bộ mặt Nho giáo đậm đặc Con người luôn phải sống trong vòng khuôn khổ kìm kẹp của rất nhiều tư tưởng lễ giáo hà khắc Văn học nước ta chịu tác động của văn học Trung Hoa rất nặng nề, từ thể loại, cốt truyện cho đến tư tưởng, thi pháp Những khuôn mẫu chuẩn mực trói buộc khả năng sáng tạo của văn chương làm cho nhiều tác phẩm mất đi cá tính riêng của tác giả

Đến đầu thế kỉ XX, trước những biến cố của lịch sử, tiếng súng pháo thuyền của thực dân Pháp với bao đau thương chết chóc bắn vào thành trì phong kiến lạc hậu của nước Nam đã mở màn cho một giai đoạn lịch sử mới

“Sau 2000 năm chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa… Việt Nam chuyển

sang một cuộc hội nhập lần thứ hai với văn minh phương Tây” [19] Một nền

văn hóa mới – văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam dấy lên một cuộc

Trang 24

cách mạng văn hóa, văn học sâu sắc chưa từng có trong lịch sử văn hóa nước nhà Nó chi phối đến đời sống tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là tầng lớp trí thức Lần đầu tiên người dân đất Việt biết đến những tư tưởng hoàn toàn mới, biết đến một thế giới khác tiên tiến, hiện đại

Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam mang theo một luồng gió mới tạo nên một quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa Đông – Tây làm xuất hiện nhiều yếu tố mới trong đời sống văn học như ngôn ngữ, tư tưởng, bút pháp, cảm hứng sáng tạo, đội ngũ nhà văn, công chúng độc giả… đời sống văn chương trở nên vô cùng sôi động Tuy nhiên bên cạnh sự xâm lấn dần của những yếu tố mới thì những yếu tố cũ cũng đang tồn tại song song và nó vẫn được một bộ phận đông đảo người dân ủng hộ Có thể nói đây là thời kì có sự hòa trộn của hai yếu tố văn hóa cũ – mới Khi gốc rễ của cái cũ đã bắt đầu lung lay thì cái mới xâm lấn tạo nên một làn sóng mới nhưng chưa trở thành một cơn bão mạnh mẽ để thay thế hoàn toàn cái cũ Cái cũ vẫn tồn tại trong

sự chèn ép của cái mới Có lẽ chính vì vậy mà người ta gọi thời kì này là

“mưa Âu gió Mĩ”, “cũ mới tranh nhau”, “Á Âu xáo trộn”…

Tầng lớp tri thức là những người nhận thấy sự biến đổi này rõ nhất Họ tiếp xúc với những tư tưởng mới như dân chủ, duy tân, giải phóng cá tính từ khá sớm qua các tác phẩm dịch thuật Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa phong kiến lâu đời nên trong con người họ tồn tại cả hai luồng tư tưởng đan xen Họ sáng tác những đứa con tinh thần của mình trên nền tảng của văn hóa phương Đông nhưng lại được khoác một bộ áo mới phương Tây Công chúng độc giả tiếp nhận văn học cũng vậy, mặc dù rất hứng thú với cuộc cách mạng văn hóa mới nhưng một bộ phận công chúng vẫn chưa thoát khỏi sự ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa cũ

Trong dòng chảy giao lưu văn hóa đó, tạp chí Nam Phong ra đời Để phù hợp với tình hình mới, tạp chí xuất bản bằng hai thứ chữ, chữ Nho và chữ Quốc Ngữ, dung hòa người Việt trên con đường hòa nhập văn hóa Á – Âu Bên cạnh những luồng tư tưởng mới thì các tác giả Nam Phong vẫn chịu sự chi phối khá rõ

Trang 25

nét của nền văn học cổ điển Do đó, trong mỗi tác phẩm sẽ có sự đan xen cả yếu

tố cũ lẫn yếu tố mới trên tất cả các phương diện đặc biệt là về mặt ngôn ngữ Đây cũng là đặc trưng chung của giai đoạn mở đầu cho cuộc cách mạng hiện đại

hóa văn chương Nói như G.s Phong Lê trong bài viết Trên quá trình hiện đại

hóa văn học Việt Nam vào nửa đầu thế kỉ XX , đây có thể coi là “Một thời kì

giao thoa giữa hai nền văn học cũ – mới diễn ra vừa êm thấm vừa gay gắt, vừa

có mặt cưỡng chế vừa có phần tự nguyện” [21]

Tóm lại, Nam Phong tạp chí ra đời khi tư tưởng Nho giáo thống trị trong đời sống xã hội Việt Nam suốt thời kỳ trung đại bắt đầu tan vỡ, không còn chiếm vị trí độc tôn trong đời sống tinh thần và cái mới, văn minh của nền văn hóa phương Tây hiện đại đang dần khẳng định chỗ đứng của nó trong đời sống xã hội và văn chương

1.3 Đặc điểm thể loại du kí và diện mạo thể du kí trên Nam Phong tạp chí 1.3.1 Đặc điểm của thể du kí

Kí là một thể loại ra đời từ khá sớm, là loại hình trung gian giữa văn học

và báo chí Đúng như nhận xét của Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Kí Việt

Nam từ đầu thế kỉ đến năm 1945: “Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn

có sự ổn định tương đối về đặc trưng thể loại, các tác phẩm kí tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài

có tính giao thoa giữa báo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật sự kiện ) với văn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M Gorki) và thường có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc…” [32] Kí

bao gồm nhiều thể: bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự… kí về cơ bản khác với truyện ở chỗ trong tác phẩm kí không có một xung đột thống nhất Kí cũng không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh Một trong những đặc trưng lớn nhất của kí là ghi chép, phản ánh trung thực những con người, những mảnh đất,

những hiện thực cuộc sống khác nhau hay nói cách khác “kí chính là một hình

thức văn xuôi ghi chép sự thực một cách trung thành nhất” [10.112] Mỗi giai

Trang 26

đoạn kí có những hình thức khác nhau Thời kì trung đại kí phát triển với các thể tài kí sự, tùy bút, tạp lục… sang đầu thế kỉ XX, kí trở thành một thể loại quan trọng trong đời sống văn học Đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của thể tài du kí

Du kí là một thể loại đặc biệt của văn học Bởi trong mỗi trang du kí không đơn giản chỉ bao gồm những yếu tố nghệ thuật của một tác phẩm văn chương mà còn chứa đựng trong đó một kho kiến thức phong phú về lịch sử, địa lí, phong tục, chính trị, xã hội học… Du kí thường là những ghi chép, miêu tả những điều mắt thấy tai nghe của người đi trên một hành trình Bàn

về du kí có rất nhiều ý kiến khác nhau

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các nhà nghiên cứu xác định:

“Du kí là “Một loại hình văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép

của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến Hình thức của du kí rất đa dạng, có thể là ghi chép, kí sự, nhật kí, thư tín, hồi tưởng, miễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở ít người biết đến… Dạng đặc biệt của du

kí phát huy cái chất ghi chép về miền xa lạ của nó là du kí về các xứ sở tưởng tượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học… Dạng du kí khác đậm đà phong vị phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơi danh lam thắng cảnh đất nước…” [13.108]

Định nghĩa trên đã nêu khá đầy đủ và khái quát về đặc điểm nội dung cũng như hình thức của thể tài du kí Nhấn mạnh du kí là những ghi chép chân thực về những vùng đất xa lạ của những người “đi du lịch ngoạn cảnh”

và hình thức của du kí thì rất đa dạng và phong phú

Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí, 1917 – 1934, tác giả Nguyễn Khắc Xuyên xác định du kí là một trong 14 bộ môn và

du kí còn được ông gọi là du hành

Trang 27

Qua cách hiểu trên về thể du kí có thể thấy, trong nền văn học trung đại Việt Nam đã xuất hiện một số sáng tác thuộc thể tài này Đó là các tác phẩm

để vịnh phong cảnh, những nơi danh thắng của đất nước như: Bài kí tháp Linh Tế núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu, Bài kí chơi núi Phật Tích của

Nguyễn An… Đến đầu thế kỷ XX, thể du kí có bước phát triển mạnh mẽ, xuất hiện hàng loạt tác phẩm mở ra trước mắt người đọc biết bao phong cảnh kỳ thú của giang sơn gấm vóc

1.3.2 Thể du kí trên Nam Phong tạp chí

Việc thành lập Nam Phong tạp chí là chủ trương của chính phủ Liên bang Đông Dương do toàn quyền Albert Saraut đề xướng ra đời từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản Trong suốt 17 năm tồn tại tạp chí đã đăng 210 số gắn liền với vai trò quan trọng của ông chủ bút Phạm Quỳnh cùng sự góp mặt của nhiều cây bút nổi tiếng như: Nguyễn Bá Trác, Đông Hồ, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật…

Nam Phong tạp chí ra đời nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước bảo hộ, áp đặt tuyên truyền tư tưởng “Pháp- Việt đề huề” giảm bớt sự căng thẳng trong đời sống xã hội sau hàng loạt các phong trào đấu tranh đòi cải cách của nhân dân ta Tuy nhiên, dần dần Nam Phong tạp chí đã có tác động mạnh mẽ đến đời sống văn chương nước nhà Nó trở thành nơi đăng tải các sáng tác mới, nơi dạy sáng tác văn chương, cổ vũ cho văn chương Quốc

ngữ phát triển Có thể nói “Đầu thế kỉ XX, Nam Phong tạp chí không chỉ trở

thành trường học Quốc ngữ cho nhiều đối tượng trong xã hội mà quan trọng hơn đó là nơi rèn tập cách viết văn, nơi đăng tải các sáng tác” [10.54] Hầu

hết các tác phẩm văn xuôi miền Bắc xuất hiện trong giai đoạn này đều ra mắt công chúng lần đầu tiên trên tạp chí Nam Phong Chính vì thế nó đã góp phần quan trọng thúc đẩy du kí phát triển nở rộ

Do đây là tờ báo nhận trợ cấp và chịu sự điều hành của chính phủ Pháp nên trong những trang du kí vẫn có những dòng chữ ca ngợi Nam triều, ca ngợi nước Pháp và người Pháp là những người có công đi khai phá văn minh Nhưng qua

Trang 28

mỗi bài du kí, người đọc vẫn thấy một cảm tình chứa chan với tổ quốc, theo mỗi bước chân của nhà du hành là một miền đất mới, phong tục mới, nhưng di tích lịch sử đã đi vào hồn thiêng sông núi… tất cả đều thể hiện niềm tự hào, tình cảm

gắn bó thiết tha với quê hương đất nước Trong bài kí Cảnh vật Hà Tiên do

Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm sao lục đã mở đầu bằng một niềm tự hào: “Tỉnh

Hà Tiên có nhiều cảnh đẹp, có bãi biển rộng, hồ trong núi biếc, mỗi cảnh đều có

vẻ đẹp thiên nhiên của tạo hóa Cảnh bãi biển thì kiêm cả màu trời sắc nước, bãi cát mênh mông, gió nam mát mẻ.” [33.519 – 520]

Trong suốt 17 năm tồn tại, báo đã tập hợp được 62 tác phẩm du kí của gần

40 tác giả Những tác giả ở đây có cả những người cầm bút chuyên nghiệp, có cả những người là cây bút nghiệp dư Họ có thể là nhà nho, tri thức Tây học, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu khoa học Có người đi là vì sự vụ công việc, nhưng cũng có người đi để thỏa khát khao hiểu biết, khám phá những miền đất mới lạ Tất cả những con người ấy đều mong muốn mang đến một lượng tri thức phong phú và một cái nhìn mới lạ về thế giới cho người đọc

Chính sự phức tạp trên là một trong những yếu tố làm cho thể tài du kí có một nội dung hiện thực vô cùng phong phú và đa dạng, dung nạp nhiều phong cách thể loại, bao quát nhiều điểm nhìn chủ thể tác giả Mỗi tác phẩm là một bức tranh hiện thực phong phú còn đong đày biết bao tình cảm của người xê dịch Vì thế việc phân loại thể du kí trên Nam Phong tạp chí có nhiều cách

khác nhau Ở đây, chúng tôi phân loại dựa trên cuốn Du ký Việt Nam, Tạp chí Nam Phong, 1917 – 1934 của Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu

Thể du kí trên Nam Phong tạp chí được chia thành 5 loại:

+ Dòng du kí mang tính quan phương, sự vụ, công vụ Kiểu du kí này thường do các trí thức, kí giả quan lại ghi chép Mặc dù chịu sự chỉ đạo và quản lí trực tiếp của chính quyền đương thời buộc phải phát ngôn tiếng nói quan phương nhưng những trang du kí này vẫn thể hiện niềm tự hào dân tộc

và cảm xúc trước vẻ đẹp non sông đất nước như: Một tháng ở Nam kỳ, Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật kí (Phạm Quỳnh)… Hơn nữa,

Trang 29

đánh giá từ quan điểm lịch sử nhiều trang du kí thuộc kiểu loại này lại “thực

sự có giá trị sử liệu để xem xét nhiều sự kiện văn hóa – xã hội và định vị hoạt động tổ chức hành chính của giai tầng công chức thượng lưu dưới thời thực dân phong kiến.” [33.19]

+ Dòng du kí viễn du – những chuyến du hành vượt biên giới, đòi hỏi cả nguồn kinh phí, yêu cầu công việc và ý chí của người ham hoạt động, ham xê

dịch “Đặt trong bối cảnh văn hóa xã hội đương thời thì các du kí này quả đã

mở ra những chân trời nhận thức mới, đưa lại niềm phấn khích bởi những trang ghi chép, miêu tả sống động của người trong cuộc, người trải nghiệm, chứng nghiệm” [33.20] Đó là những trang du kí dài, phong phú, hấp dẫn:

Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác) kể lại hành trình qua nhiều nơi nhiều quốc gia Bangkok – Hương cảng – Nhật Bản – Thượng Hải…, Pháp du hành trình nhật kí (Phạm Quỳnh) kể về chuyến đi kéo dài sáu tháng thăm thú trên

đất Pháp văn minh hoa lệ…

+ Dòng du kí thiên về khảo cứu danh nhân lịch sử, truyền thuyết và sự

tích liên quan đến một địa điểm cụ thể như: Ba Bể du ký (Nhạc Anh Hoàng Văn Trung), Du Tử Trầm Sơn ký, Bài ký chơi Cổ Loa, Cuộc đi chơi năm tầng núi, cuộc đi chơi Sài Sơn (Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục)…

+ Dòng du kí hướng tới khảo sát, giới thiệu một vùng văn hóa rộng lớn

như: Cuộc đi xem miền Đông bắc tỉnh Hải Dương (Nguyễn Đôn Phục), Cảnh vật Hà Tiên (Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm), Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng (Phạm Quỳnh)…

+ Dòng du kí mà yếu tố vị nghệ thuật chiếm phần quan trọng, ở đó người viết chấm phá một vài nét phong cảnh thiên nhiên, cuộc sống đời thường,

bình dị hay thoáng qua niềm vui văn hóa lễ hội đình đám như: Trẩy chùa Hương (Thượng Chi), Một buổi đi xem đền Lý Bát Đế (Phạm Văn Thư)…

Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối Có những tác phẩm du

kí vừa thuộc kiểu loại này lại vừa thuộc kiểu loại khác như: Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ của Phạm Quỳnh, vừa có thể xếp vào loại du kí

mang tính quan phương, sự vụ, công vụ vừa thuộc dòng du kí hướng tới khảo sát, giới thiệu cả một vùng văn hóa rộng lớn

Trang 30

Du kí trên Nam Phong tạp chí có một số lượng phong phú, đa dạng cả về nội dung và hình thức Nó không chỉ có sức lôi cuốn đối với độc giả đương thời mà còn để lại những giá trị tư liệu quý báu cho thế hệ sau nối tiếp và học tập Đặc biệt những trang du kí luôn có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, Đông và Tây Nó vừa có giá trị về mặt văn học vừa chứa đựng một hệ thống giá trị trên nhiều phương diện như khảo sát địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán… phản ánh tâm tư nguyện vọng của con người, phần nào khắc họa chân dung xã hội của một thời đại Đến nay, khi đọc lại du kí của

gần một thế kỉ trước rất nhiều nhà nghiên cứu vẫn đầy hứng thú và say mê “Ở

tư cách là một bạn đọc bây giờ, sau 80 năm tôi vẫn rất hứng thú với khối tri thức được đem lại bởi Nam Phong Ngay cả trong các du kí tôi cũng tiếp nhận được rất nhiều điều mới mà thời gian vẫn không làm cho cũ đi, hoặc chính cái “cũ” đó lại là cái “mới” đối với các thế hệ sau.” [18]

1.4 Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật

1.4.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng trong đời sống con người

Nó được dùng để trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người với nhau Đặc biệt trong sáng tác văn học, ngôn ngữ trở thành phương tiện có vai trò số một để nhà văn xây dựng hình tượng và phản ánh đời sống

Theo F Sausure – một nhà ngôn ngữ học lớn của thế kỉ XX, hoạt động ngôn ngữ bao hàm nhiều mặt, nhiều nhân tố không thể tách rời nhau: âm và nghĩa; nhân tố vật lý, sinh lý, tâm lý, nhân tố cá nhân và xã hội, truyền thống, thói quen… và theo F Sausure: ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, mỗi kí hiệu

có hai mặt như hai mặt của một tờ giấy, không thể tách rời nhau gồm cái biểu đạt (âm thanh ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (khái niệm) Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp xã hội và là phương tiện để tư duy

Trong công trình nghiên cứu Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng, Lê Hồng My dẫn ra khái niệm ngôn ngữ trong cuốn Từ điển biểu tƣợng văn

hóa thế giới: “ngôn ngữ là hệ thống ngữ âm, những từ và quy tắc kết hợp

Trang 31

chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau” [24.6] Nhà nghiên cứu khẳng định “Từ ngôn ngữ đến lời văn nghệ thuật là cả một quá trình lao động công phu, gian khổ của nhà văn

Có thể ví ngôn ngữ như tấm vải còn lời văn nghệ thuật là bộ y phục nhà thiết

kế đã hoàn thành.” [24.6] Như vậy ngôn ngữ đời sống nói chung khác với

ngôn ngữ dùng trong tác phẩm văn học Ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương xuất phát từ đời sống nhưng đã được chọn lọc tỉ mỉ, kĩ lưỡng, trau chuốt nhằm phục vụ cho dụng ý nghệ thuật của tác giả

Qua đây có thể thấy ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất trong đời sống con người, không có ngôn ngữ sẽ không có tư duy, sẽ không

có xã hội con người, càng không thể có tác phẩm văn học Ngôn ngữ nghệ thuật có điểm khác so với ngôn ngữ đời sống nói chung

Trong văn chương nghệ thuật, ngôn ngữ được dùng làm công cụ để nhà văn sáng tạo, thể hiện tư tưởng của mình Ngôn ngữ đời sống khi đi vào tác phẩm văn học, qua trí tuệ của người nghệ sĩ sẽ không còn là ngôn ngữ chung nữa mà trở thành ngôn ngữ có phong cách riêng nhằm thể hiện dụng ý nghệ thuật Vậy ngôn ngữ nghệ thuật có thể được hiểu như thế nào?

Hiện nay có rất nhiều cách hiểu rộng hẹp khác nhau về ngôn ngữ nghệ

thuật Theo Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu theo nghĩa

rộng “là một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ

thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành một sáng tác nghệ thuật Người ta có thể nói đến ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của sáng tác văn học theo nghĩa đó.” [24.6]

Theo cuốn Ngữ văn 10, ngôn ngữ nghệ thuật “là ngôn ngữ chủ yếu

dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật thẩm mĩ.”[3.98]

Trang 32

Theo cuốn Phong cách học tiếng Việt, ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu

là “ngôn ngữ được dùng trong thơ ca và trong văn xuôi nghệ thuật (bao gồm

các loại là: bút kí, kí sự, phóng sự, tùy bút, hồi kí…, truyện: truyện kí, truyện ngắn, truyện dài…, kịch: hài kịch, bi kịch, chính kịch) và các thể loại trung gian như tục ngữ, câu đối, ca dao, thơ văn xuôi, văn xuôi thơ” [15.90]

Theo cách hiểu trên ngôn ngữ nghệ thuật còn có các khái niệm mang ý nghĩa tương đồng:

Lời văn nghệ thuật là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ

thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học.” [13.187]

Ngôn ngữ văn học là “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong

văn học.”[13.215]

Như vậy, có thể nói, ngôn ngữ nghệ thuật hay ngôn ngữ văn học là “ngôn

ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học” [13 215], nó là sản

phẩm do nhà văn sáng tạo trên cơ sở kho tàng ngôn ngữ chung và được tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tương, tình cảm

Theo M Gorki “Ngữ ngôn là do nhân dân sáng tạo ra Chia ngữ ngôn ra làm

ngữ ngôn văn học và ngữ ngôn nhân dân chỉ có nghĩa là chúng ta có một thứ ngữ ngôn “nguyên liệu” và một ngữ ngôn đã được các nghệ sĩ gọt rũa thêm

mà thôi” (Dẫn theo Giáo trình Việt ngữ học, tr43) Như vậy ngôn ngữ nghệ

thuật chính là phương tiện đã được gọt rũa để người nghệ sĩ thể hiện thế giới nghệ thuật riêng của mình

1.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí

Mỗi thể loại văn học có một đặc trưng riêng của nó Những đặc trưng này chi phối việc tác giả lựa chọn ngôn ngữ để xây dựng lên thế giới nghệ thuật của mình Ngôn ngữ tự sự khác với ngôn ngữ trữ tình và kịch Do thiên

về phản ánh hiện thực đời sống nên ngôn ngữ của tác phẩm tự sự thường nghiêng về tính chính xác, cá thể hóa nhằm tái tạo sự vật trong hình thái cụ thể, độc đáo, còn tác phẩm trữ tình bộc lộ trực tiếp thế giới chủ quan của chủ

Trang 33

thể nên ngôn ngữ giàu màu sắc biểu cảm, nhạc tính, trong khi đó ngôn ngữ của kịch bản văn học lại rất giàu kịch tính…

Đặc biệt, kí là “loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn

học” [13.162] nên ngôn ngữ nghệ thuật của kí có những đặc trưng riêng Bên

cạnh những ngôn từ mềm mại uyển chuyển, đầy màu sắc tạo hình của ngôn ngữ văn chương, kí còn dung nạp thứ ngôn ngữ thông tin, ngắn gọn, chính xác chú trọng tới tính chân thực và tính thời sự của ngôn ngữ báo chí Là một tiểu loại của kí, ngôn ngữ du kí cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của tính giao thoa này, nhất là du kí trên Nam Phong tạp chí Do ra đời gắn liền với báo chí nên các bài du kí trên tạp chí Nam Phong mang một văn phong báo chí rất rõ nét từ cách dùng từ ngữ cho đến việc lựa chọn câu văn…

Mặt khác, mục đích viết du kí của các tác giả chủ yếu là muốn ghi chép lại người thật, việc thật, tái hiện lại một cách cụ thể nhất những miền xứ sở đã đi qua, cung cấp một lượng thông tin, tư liệu phong phú cho người đọc nên ngôn ngữ du kí còn là sự kết hợp của ngôn ngữ khoa học với ngôn ngữ văn chương Đặc biệt, ngôn ngữ du kí có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình Nhằm ghi chép lại một cách chân thực nhất những điều mắt thấy tai nghe, những sự kiện, những danh lam thắng cảnh của những vùng đất khác nhau nên ngôn ngữ du kí rất giàu “chất sống” hiện thực, miêu tả, trần thuật lại sự vật hiện tượng Tuy nhiên khác với nhiều tác phẩm tự sự khác như truyện ngắn, tiểu thuyết… ngôn ngữ du kí còn mang đậm chất trữ tình, bộc lộ thế giới chủ quan của nhà du hành với những cảm xúc, suy tư về con người, cảnh vật Do vậy, nhiều khi trong trang văn du kí, người đọc bắt gặp một thứ ngôn ngữ vô cùng uyển chuyển, mềm mại với những từ ngữ tinh tế, giàu màu sắc tạo hình

Có lẽ chính vì sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ tự sự và trữ tình mà qua mỗi trang du kí, người đọc không chỉ cảm nhận được một thế giới chân thực, sống động mà còn thấy được sự gợi cảm, đầy màu sắc tạo hình của đối tượng được đề cập đến

Trang 34

Ra đời trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, bên cạnh những đặc điểm chung, ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm lại mang một dấu ấn riêng

Tìm hiểu Ngôn ngữ nghệ thuật của thể du kí trên Nam Phong tạp chí (1917 –

1934) chúng ta sẽ thấy rõ điều này

Tiểu kết chương 1

Có thể thấy đầu thế kỉ XX, sự xâm lược của thực dân Pháp đã làm thay đổi toàn bộ đời sống văn hóa xã hội của nước ta, đặc biệt là diễn ra quá trình ảnh hưởng, tiếp xúc giao lưu văn hóa Đông – Tây Quá trình đó làm thay đổi nhiều thành tố trong đời sống văn học, tác động đến sự hình thành và phát triển của nhiều thể loại mới Du kí là một thể loại đặc biệt của văn học dân tộc Nó ra đời là để đáp ứng nhu cầu của thời đại, của lịch sử xã hội Du kí trên Nam Phong tạp chí có những nét riêng mang dấu ấn đậm nét của văn học giai đoạn giao thời Thông qua mỗi tác phẩm, người đọc không chỉ khám phá những vùng đất mới lạ, trang bị những tri thức phong phú mà còn thấy được niềm tự hào, tình yêu tha thiết với non sông đất nước của các nhà du kí Đồng thời thấy được những đóng góp to lớn của du kí trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX

Trang 35

Chương 2 PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

CỦA THỂ DU KÍ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

Phương thức tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật là cách tổ chức, sắp xếp ngôn ngữ của tác giả trong tác phẩm để thể hiện nội dung tư tưởng và tạo hiệu quả thẩm mĩ Phương thức tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học phụ thuộc vào quan niệm thẩm mĩ của nhà văn và của thời đại, và ý đồ sáng tác của tác giả Do ra đời trong những điều kiện lịch sử văn hóa xã hội đặc biệt đầu thế

kỷ XX nên phương thức tổ chức ngôn ngữ của thể du kí trên Nam Phong tạp chí

có những đặc điểm riêng khác với các tác phẩm du kí trước và sau nó

2.1 Kết hợp ngôn ngữ nghệ thuật với ngôn ngữ khoa học

Du kí là một tiểu loại của kí “ trong thể loại này vừa có những yếu tố của

truyện vừa có sự tham gia trực tiếp của tư duy nghiên cứu Những yếu tố của truyện tựu trung là những hình ảnh có hồn (những truyện sinh động, những nhân vật sống, những bức tranh có không khí…) hoặc những hình ảnh thổi hồn vào đối tượng được miêu tả Còn tư duy nghiên cứu chủ yếu cung cấp những dữ kiện, những tri thức nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người” [27.3]

Sự hỗn dung của hai tư duy: truyện và nghiên cứu đã làm cho ngôn ngữ

du kí khác với ngôn ngữ của các thể loại văn học khác Du kí trên tạp chí Nam Phong có sự đan xen, kết hợp chặt chẽ giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ khoa học làm cho mỗi trang sách không chỉ giàu cảm xúc văn chương mà còn khoa học, logic, khách quan, chính xác

2.1.1 Lối văn bóng bẩy, giầu tính biểu cảm của ngôn ngữ nghệ thuật

Mặc dù ra đời vào giai đoạn đầu thế kỉ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn ngữ báo chí nhưng du kí trên Nam Phong tạp chí vẫn là một thể tài văn chương, yếu tố thẩm mĩ luôn là đích hướng tới của tác giả Đọc các trang du

kí ta luôn bắt gặp lối miêu tả bóng bảy, giàu tính biểu cảm khi miêu tả thiên nhiên, cảm xúc của tác giả trước hiện thực được phản ánh

Trang 36

Trong văn học trung đại, thiên nhiên được miêu tả chủ yếu qua biện pháp ước lệ tượng trưng hoặc tả cảnh ngụ tình, đó là những vẻ đẹp cao quý, thanh khiết như ở một cõi bồng lai xa xôi nào đấy Đọc mỗi trang văn, người đọc như đi vào một thế giới khác Đôi khi những hình ảnh thiên nhiên hoàn toàn

do tác giả tưởng tượng ra để thể hiện những tâm sự thầm kín:

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu, Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca

Nay Quyên đã giục oanh già,

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo

(Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm – Chinh phụ ngâm khúc)

Trong trang văn xuôi, hình ảnh thiên nhiên vẫn chỉ được miêu tả một cách chung chung chưa cụ thể, với những từ ngữ ước lệ, sử dụng điển tích, điển cố, đôi khi đối tượng được miêu tả chỉ xuất hiện trong tưởng tượng của tác giả:

“Tôi ở trong nhà U trai; trước sân vài ba cây trổ hoa, kết quả, ngậm hương mang tuyết, ánh mặt trời chiếu xiên ngang, tạo nên những bóng hình tựa như các bà Phi nơi sông Tương ngồi quỵ Những con rắn nối đuôi nhau chạy từng đàn Thỉnh thoảng mùi hương lạ bay qua Chốn tây viên, trong ao phẳng lặng, cá nhởn nhơ nhô lên lặn xuống mà hớp lấy bóng trăng hoặc nuốt lấy làn sóng Những con chim oanh hay hót, do chân tính của trời phú cho, thời thường tới những chỗ có bóng mát mà nhảy nhót tung tăng.”

(Lê Hữu Trác – Thượng Kinh kí sự)

Bước sang thế kỷ XX, thiên nhiên trong văn học được miêu tả gần gũi hơn, thực hơn Với du kí cũng vậy, theo bước chân của các nhà du hành, thiên

nhiên được miêu tả rất sống động qua nhiều từ ngữ giàu hình ảnh Đọc Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh người đọc như bị cuốn hút bởi những trang viết

tả cảnh vật đầy màu sắc:

“…Từ Ninh Bình giở vào mới thấy nhiều núi non, trước còn thấp rồi cao dần mãi lên Núi thường đột khởi ở giữa cánh đồng, đá trắng mọc rêu xanh, đen

Trang 37

đen đốm đốm, trông xa như những mảnh thành bị tàn phá đã lâu ngày, hay là những bức tường đổ nát của cái lâu đài khổng lồ từ thời thượng cổ Trông những núi đó không khiếp sợ mà chạnh thương, vì nó trơ vơ xơ xác giữa đồng,

có cái hình dạng tiêu điều như người đau đớn trong lòng: mộc thạch cũng có linh hồn chớ chẳng không! Nhưng từ vùng Thanh Nghệ giở vào thì núi đã thấy liên tiếp nhau mà thành từng rặng dài, đá thường lấn đất, cỏ cây rậm rạp, không

xơ xác như những núi trên kia Hình tròn sắc mượt như một đàn voi cực lớn theo nhau tự trong rừng Vạn Tượng ra đến bờ bể Đông…” [33.26]

Phong cảnh núi Ninh Bình hiện lên vừa chân thực lại vừa sống động Qua con mắt của nhà du kí những dãy núi nối tiếp nhau muôn hình muôn vẻ Đặc biệt, tác giả sử dụng nhiều từ ngữ độc đáo với những so sánh gợi hình, ngọn núi được ví như “mảnh thành bị tàn phá đã lâu ngày”, “những bức tường

đổ nát của cái lâu đài từ thời thượng cổ”, “hình tròn sắc mượt, như một đàn voi cực lớn”… khiến cho chúng hiện lên như có linh hồn, có sự sống

Cũng trong Mười ngày ở Huế, người đọc thấy vô cùng hấp dẫn bởi đoạn

văn tả cảnh sông Hương, núi Ngự:

“Cái phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là thứ nhất bởi con sông Hương Giang Con sông xinh thay! Hà Nội cũng có sông Nhị Hà, mà sông Nhị với sông Hương khác nhau biết chừng nào! Một đằng ví như cô con gái tươi cười, một đằng ví như bà lão già cay nghiệt Nhị Hà là cái thiên tai của xứ Bắc Hương Giang là cái châu báu của xứ Kinh Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ,

ít khi có tí sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ vậy… cái khí vị của phong cảnh Huế không phải là cái khí vị hùng tráng, mà là cái khí

vị mĩ diệu; cảnh huế xinh mà đẹp, không phải là hùng mà cường, đáng yêu

mà không phải là đáng sợ, có thi vị mà không phải là có khí tượng…” [33.38]

Mỗi từ ngữ đều gợi lên nét đẹp thơ mộng của sông Hương xứ Huế Cách

so sánh đầy ấn tượng khiến người đọc tưởng tượng một cách dễ dàng: “một đằng ví như cô con gái tươi cười, một đằng ví như bà lão già cay nghiệt” Lối

ví von so sánh của tác giả vừa gần gũi, vừa hóm hỉnh, không hề cầu kỳ ước lệ

Trang 38

như trong văn học cổ Vẻ đẹp của sông Hương được ngòi bút của tác giả tái hiện vừa dịu dàng vừa nên thơ với dòng nước trong vắt, sóng gợn lăn tăn Đọc mỗi câu văn người đọc như được tận mắt trông thấy vẻ đẹp “mĩ diệu”, xinh xắn của “kho báu” xứ Huế Thứ ngôn ngữ uyển chuyển tinh tế này khiến người đọc liên tưởng tới lời văn Nguyễn Tuân khi đặc tả nét dịu dàng nữ tính

của con sông Đà trong Tùy bút sông Đà:

“Thuyền tôi trôi trên sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh còn đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích cổ xưa…”

[Nguyễn Tuân – Người lái đò sông Đà]

Đã là người nghệ sĩ khi đứng trước cái đẹp của tạo vật không khỏi nảy sinh cảm xúc Và thiên nhiên luôn là người bạn muôn đời khiến cho những tâm hồn nghệ sĩ khát khao khám phá để bật ra thành những lời văn thiết tha, ngọt ngào như dòng suối mát, thanh lọc tâm hồn người đọc Phải chăng đó cũng chính là sự đồng điệu trong tâm hồn Phạm Quỳnh và Nguyễn Tuân khi đứng trước vẻ đẹp của hai con sông Tuy lời văn của Phạm Quỳnh chưa mượt

mà, sắc ngọt, thướt tha như lời văn Nguyễn Tuân nhưng ta vẫn thấy một tình yêu sâu sắc với vẻ đẹp của non sông xứ sở

Trải qua hơn nửa thế kỉ sau, trên trang văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc một lần nữa lại được thưởng thức vẻ đẹp tuyệt mĩ của sông Hương

xứ Huế qua những lời văn mượt mà đằm thắm:

“Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc trở nên dịu dàng và say đắm hơn những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại.”

(Hoàng Phủ Ngọc Tường – Ai đã đặt tên cho dòng sông)

Trang 39

Vẫn con sông Hương ấy, trải qua gần một thế kỉ nó vẫn tồn tại và làm say lòng biết bao tâm hồn người nghệ sĩ Nếu Phạm Quỳnh hình dung sông Hương như “một cô gái tươi cười” thì đến Hoàng Phủ Ngọc Tường cô gái ấy đã được

gọi tên một cách cụ thể hơn – “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”

Theo bước chân du hành của tác giả họ Phạm vào xứ Nam kỳ, người đọc bất ngờ với những từ ngữ biểu cảm khi miêu tả thiên nhiên sóng nước

“…Bấy giờ trăng vừa mọc…- trước còn ngậm nửa vành dưới nước, áng chiếu một góc trời, sau từ từ cao dần lên, tuy không được sáng tỏ lắm mà cũng không mờ, đủ biến mặt bể thành một áng thủy tinh lấp loáng…”[34 155]

Trăng là hình ảnh quen thuộc trong thi ca truyền thống, biết bao từ ngữ đầy xúc cảm khi tả trăng, trăng nồng ấm mặn mà, trăng ân tình thủy chung, trăng khuyết soi bóng người thương… Trong thơ xưa thiên nhiên trăng thường gắn với tâm tình con người:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

Với Phạm Quỳnh, “trăng vừa mọc” được miêu tả bằng những từ ngữ sinh động, cuốn hút khiến cho ánh trăng “ ngậm nửa vành” như có hồn, mang linh hồn của con người Ánh trắng “ngậm nửa vành” chuyển động lên xuống khiến cho mặt bể mênh mông hiện lên “lấp loáng như một áng thủy tinh” Mỗi từ ngữ của tác giả như vận động theo ánh trăng huyền ảo làm cho câu chữ chân thực mà lung linh lan tỏa

Nếu ánh trăng xứ Huế lung linh phản chiếu trên dòng sông thơ mộng thì ánh trăng của nơi đô hội phồn hoa đất Sài Gòn được Phạm Quỳnh đặc tả trong khung cảnh lộng lẫy ở Phủ toàn quyền:

“…Nhưng khi quan toàn quyền ở Sài Gòn, tối đến trong dinh đền điện

thắp sáng choang, trông xa tưởng tượng như một tòa lâu đài bằng ngọc có

trăng chiếu, chon von ở giữa khoảng rừng rậm tịch mịch u sầm, khác nào như trong truyện thần tiên vậy.” [33.161]

Trang 40

Phạm Quỳnh đã sử dụng hình ảnh so sánh vô cùng đẹp làm cho câu văn giàu hình ảnh và cảm xúc nhưng quan trọng hơn với hình ảnh so sánh này, tác giả giúp người đọc hình dung ra được khung cảnh về đêm của phủ toàn quyền với tất cả sự bề thế, uy nghi của nó

Không chỉ tả thiên nhiên bằng những từ ngữ gợi hình, mà tác giả còn vận dụng cả ngôn ngữ âm thanh độc đáo:

“…lẳng tai nghe như có tiếng rền rĩ âm thầm từ đâu dưới đáy bể đưa

lên, lại có lúc như tiếng diều sáo kêu từ đâu trên mấy từng mây vẳng xuống:

vo vo ve ve, hu hu hi hi, văng vẳng xa nghe như não như nùng, như ai như

oán, như mấy muôn ngàn cái oan hồn vừa than, vừa khóc trong khoảng trời nước mênh mông…” [34.156]

Âm thanh của biển đêm trên con tàu được miêu tả bằng những từ ngữ không chỉ gợi thanh, mà còn gợi hình Tiếng “rền rĩ âm thầm”, tiếng diều sáo kêu “vo vo ve ve, hu hu hi hi” văng vẳng gợi ra cả một đêm khuya thanh vắng khiến cảm xúc của con người cũng triền miên, da diết, não nùng

Từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam, người đọc lại ngỡ ngàng theo bước chân Phạm Quỳnh lên Lạng Sơn, Cao Bằng Cảnh thiên nhiên được gợi tả bằng một thứ ngôn ngữ gần gũi mà giản dị:

“Phong cảnh từ Thất Khê trông mới kỳ thú thay! Chỗ thời núi đá cao

hiểm trở, chồng chất nối tiếp nhau không dứt, cây lớn, cây nhỏ, cây dây leo

chằng chịt, quấn quýt như mớ bòng bong, thật không đâu có núi đá sầm uất

thế…” [34.499]

Với những từ láy liên tiếp tác giả đã vẽ lên một vùng núi rừng với núi non trùng điệp, hùng vĩ Những ngôn từ không chỉ giàu hình ảnh mà còn sinh động Câu văn ra đời cách đây gần thế kỷ nhưng tưởng chừng không xa chúng

ta hôm nay là mấy

Không chỉ với Phạm Quỳnh câu văn tả thiên nhiên mới giàu hình ảnh, trong du kí của Tùng Vân, lời văn cũng đầy bóng bẩy, quyến rũ:

Ngày đăng: 20/11/2014, 19:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Tú Anh (2012), Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn giao thời, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn giao thời
Tác giả: Lê Tú Anh
Năm: 2012
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Bộ Giáo dục và đào tạo, Ngữ văn 10, tập hai, cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Nguyễn Huệ Chi, (2002), Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam bộ trong bước buổi đầu, Tạp chí Văn học, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam bộ trong bước buổi đầu
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2002
5. Nguyễn Đình Chú, Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong tạp chí, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 2 – 2005, tr 49-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong tạp chí
6. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2006), Văn học Việt Nam (1900 – 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 – 1945)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Đức Dũng (1996, tái bản), Các thể ký báo chí, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể ký báo chí
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
8. Tầm Dương (1967), Về thể kí, Tạp chí văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thể kí
Tác giả: Tầm Dương
Năm: 1967
9. Bằng Giang (1992), Văn học Quốc ngữ ở Nam kì 1865 – 1930, Nxb trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc ngữ ở Nam kì 1865 – 1930
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 1992
10. Cao Thị Hảo (2010), Giáo trình văn xuôi hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900 – 1932, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn xuôi hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900 – 1932
Tác giả: Cao Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
11. Cao Thị Hảo (2012), Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn
Tác giả: Cao Thị Hảo
Năm: 2012
12. Cao Thị Hảo (2008), Vấn đề “tả thực” trong lí luận và sáng tác văn xuôi Quốc ngữ miền Bắc giai đoạn 1917 – 1932, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề “tả thực” trong lí luận và sáng tác văn xuôi Quốc ngữ miền Bắc giai đoạn 1917 – 1932
Tác giả: Cao Thị Hảo
Năm: 2008
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
15. Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1997), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Mã Giang Lân (chủ biên) (2000), Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 -1945, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 -1945
Tác giả: Mã Giang Lân (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
17. Phong Lê (2007), Những vấn đề về văn học và ngôn ngữ văn học, Văn học Việt Nam hiện đại và tiến trình hiện đại hóa, Viện thông tin KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về văn học và ngôn ngữ văn học
Tác giả: Phong Lê
Năm: 2007
18. Phong Lê, Du kí trên tạp chí Nam Phong, Báo điện tử Người đại biểu nhân dân, ra ngày 01/04/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du kí trên tạp chí Nam Phong
19. Phong Lê (2010), Hiện đại hóa văn học Việt Nam trong đối sánh khu vực Đông Á, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hóa văn học Việt Nam trong đối sánh khu vực Đông Á
Tác giả: Phong Lê
Năm: 2010
20. Phong Lê (1994), Văn học và công cuộc đổi mới, NXB hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và công cuộc đổi mới
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB hội nhà văn
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w