Qua tiểu thuyết, người đọc cũng có thể hình dung, cảm nhận đầy đủ và sâu sắc hơn về cuộc sống, xã hội, con người…Giai đoạn 1975- 1985 với hiện thực cuộc sống bộn bề những khó khăn của mộ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
GIAI ĐOẠN 1975- 1985
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU THỦY
KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975- 1985
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Trọng Thưởng
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
- Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn Hà Nội
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư- Tiến
sĩ Phan Trọng Thưởng, người thầy đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận văn có thể hoàn thành
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Xuân Giang (Sóc Sơn, Hà Nội) đã động viên, khích lệ, tạo điều
kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 3 tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Cấu trúc của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ THẨM MỸ NẢY SINH KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ 10
1.1.Bối cảnh lịch sử xã hội 10
1.1.1 Tình hình đất nước sau chiến tranh 10
1.1.2 Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội 11
1.1.3 Đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Tổ quốc 13
1.2 Bối cảnh văn học 14
1.3 Nhu cầu nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực văn học 18
1.4 Bước chuyển của văn học 22
1.4.1 Chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực 22
1.4.2 Chuyển đổi quan niệm về con người 27
1.4.3 Dấu hiệu vận động của thể loại tiểu thuyết 33
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG DẠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ 38
2.1 Những đặc điểm của khuynh hướng thế sự 38
2.1.1 Đề tài hướng vào những vấn đề xã hội hậu chiến 38
2.1.2 Số phận con người cá nhân 44
2.1.3 Tình huống bi kịch, éo le 49
Trang 62.1.4 Những chuyện đời thường, vụn vặt 54
2.1.5 Cảm hứng nhân đạo 57
2.2 Các dạng thức nghệ thuật quen thuộc 61
2.2.1 Dạng thức các xung đột 61
2.2.2 Dạng thức tự chiêm nghiệm, triết lý 64
2.2.3 Dạng thức đời tư, đời thường, những mảnh đời bất hạnh 67
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 69
3.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu cốt truyện 69
3.2 Nghệ thuật trần thuật 73
3.2.1 Trần thuật từ nhiều điểm nhìn 73
3.2.2 Sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật 76
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 79
3.3.1 Sự xuất hiện kiểu nhân vật mới 79
3.3.2 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động 81
3.3.3 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật 83
3.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 85
3.4.1 Ngôn ngữ đậm chất hiện thực: 85
3.4.2 Ngôn ngữ mang đậm cá tính nhân vật và cá tính nhà văn 87
3.4.3 Yếu tố thông tin và tính triết luận 88
PHẦN KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đại thắng mùa xuân năm 1975 không chỉ mở ra một trang mới trong lịch
sử dân tộc ta mà còn đưa tới một chặng đường mới của nền văn học Trong bối cảnh ấy, giai đoạn 1975- 1985 chính là thời kì đầu của nền văn học Việt Nam độc lập thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là chặng đường chuyển tiếp từ văn học thời chiến sang văn học thời bình, từ văn học sử thi sang văn học thế sự Khác với sự nở rộ của thơ ca thời kì trước, ở giai đoạn này, văn xuôi, trong đó có tiểu thuyết chiếm một địa vị ưu trội
So với các thể loại văn xuôi khác, tiểu thuyết có những ưu thế đặc biệt Bởi tiểu thuyết có khả năng rộng lớn trong việc phản ánh hiện thực và những diễn biến phức tạp của tâm hồn con người Hơn thế, tiểu thuyết còn là thể văn cho phép nhà văn bộc lộ nhiều nhất khả năng sáng tạo của mình Qua tiểu thuyết, người đọc cũng có thể hình dung, cảm nhận đầy đủ và sâu sắc hơn về cuộc sống, xã hội, con người…Giai đoạn 1975- 1985 với hiện thực cuộc sống bộn bề những khó khăn của một đất nước vừa bước ra từ chiến tranh đang trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đầy chông gai, thử thách đã nảy sinh rất nhiều vấn đề mới về kinh tế chính trị, xã hội…Đây chính là mảnh đất màu
mỡ để tiểu thuyết phát huy ưu thế đó của mình Đồng thời, từ đây tiểu thuyết nói riêng, văn xuôi nói chung đã xuất hiện nhiều những vấn đề mới mà chúng
ta cần phải nghiên cứu thấu đáo
Tìm hiểu tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985, chúng tôi nhận thấy có những đổi mới cơ bản so với giai đoạn trước Bởi từ trước 1975, đất nước ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh ác liệt Vì thế, nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Nhưng sau 1975, bên cạnh sự nối tiếp dòng mạch của giai đoạn trước, thể văn này đã nổi lên những khuynh hướng mới trong một bối cảnh lịch sử mới, với những điều kiện mới, tiêu biểu
là khuynh hướng thế sự
Trang 8Ở khuynh hướng thế sự, nhiều tác phẩm đã dành sự quan tâm cho thời hậu chiến như quá trình hòa hợp dân tộc, từ bỏ các thói quen trong thời chiến để hòa nhịp với cuộc sống thời bình, những vấn đề đạo đức mới xuất hiện trong quan hệ thường nhật, phổ biến….Một số tác giả đã đề cập kịp thời những vấn
đề nảy sinh trong buổi giao thời đó của đất nước Góp phần tạo nên hướng mới
của văn học, chúng ta phải kể đến Nguyễn Minh Châu- với tiểu thuyết Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người từ trong rừng ra (1982), đặc biệt là với tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985)- Nguyễn Minh Châu xứng đáng là người “mở đường
tinh anh và tài năng” đã đi được xa nhất” ở chặng đầu này Ngoài ra, một loạt
các tác giả khác (Nguyễn Khải với tiểu thuyết Cha và con và…(1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985); Nguyễn Mạnh Tuấn với Những khoảng cách còn lại (1980), Đứng trước biển (1982), Cù lao tràm (1985); Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn
(1985)…) đã cùng đem đến một diện mạo mới mẻ cho văn học nước nhà Nhìn chung, văn học thời kì này đã bứt ra khỏi những mô típ đề tài quen thuộc từ giai đoạn trước, mở ra hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, nhất là cái hiện thực đời thường với nhiều vấn đề thế sự nổi cộm, nhức nhối Thậm chí, có những vùng phản ánh bị coi là cấm kị trong chiến tranh cũng được đưa vào trong văn học Những tác phẩm có ý nghĩa tiên phong ấy đã giúp văn học xích lại gần hơn với đời sống Đặc biệt khi chú ý mối quan tâm tới “cái thường ngày”, các nhà văn tỏ ra rất nhạy cảm trước những chuyển động sâu xa trong đời sống tâm lí thời bình Những điều như trên cho thấy, khuynh hướng thế sự là một vùng khám phá đầy bí ẩn và hấp dẫn của tiểu thuyết thời kì hậu chiến
Tuy vậy, quan sát tình hình nghiên cứu văn xuôi giai đoạn 1975- 1985 nói chung và tình hình nghiên cứu tiểu thuyết chặng đường này nói riêng, chúng tôi nhận thấy tuy đã được nghiên cứu nhưng còn có những vấn đề cần được tiếp tục sâu hơn Vì thế, với sự yêu mến tiểu thuyết Việt Nam của mình,
Trang 9qua đề tài, tác giả luận văn hy vọng sẽ có cơ hội đi sâu tìm hiểu để thấy được diện mạo phong phú, mới mẻ của tiểu thuyết giai đoạn này Từ đó thấy được quá trình đổi mới và ý nghĩa nhân văn tích cực của nền văn học nước nhà Trên cơ sở vận dụng những hiểu biết về văn học Việt Nam, bằng việc khảo sát, phân loại, so sánh, phân tích,tổng hợp, đánh giá tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985, chủ yếu là tiểu thuyết của những nhà văn tiêu biểu một cách có
hệ thống, chúng tôi mong rằng luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm một phương diện và khẳng định thêm những thành tựu, giá trị của văn học 1975- 1985 nói chung và của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng
Hơn nữa, hiện nay, học sinh trung học phổ thông đã tiếp xúc với tác phẩm chứa đựng những vấn đề thế sự trong văn xuôi thời kì hậu chiến Việc nghiên cứu khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985 chính
là cơ hội để tác giả luận văn mở rộng diện tư liệu tham khảo, bổ sung kiến thức làm giàu vốn văn học của bản thân và rèn luyện các thao tác nghiên cứu khoa học cũng như một số kĩ năng phân tích, thẩm bình tác phẩm…Đó là những công việc hết sức quan trọng và cần thiết đối với một giáo viên dạy Văn sống trong xã hội hiện đại, học sinh luôn được tiếp cận với kiến thức từ nhiều nguồn phương tiện thông tin đại chúng và nhất là trong cơ chế đổi mới phương pháp dạy- học văn trong nhà trường như hiện nay
Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975- 1985” để nghiên
cứu Tác giả luận văn không kì vọng nhiều chỉ mong muốn góp một phần nhỏ
bé vào công việc nghiên cứu một phương diện trong một giai đoạn văn học quan trọng của nền văn học nước nhà
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những bài nghiên cứu, những ý kiến có đề cập đến khuynh hướng thế
sự trong văn xuôi sau 1975 nói chung và tiểu thuyết 1975- 1985 nói riêng
Mười năm sau chiến tranh, văn xuôi được đánh giá là loại hình văn học phát triển và có những thành tựu đáng kể ở cả thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn
Trang 10và ký Chính vì thế, giai đoạn này đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học Chúng tôi nhận thấy có khá nhiều ý kiến, bài viết nghiên cứu về văn xuôi sau 1975 nói chung, về tiểu thuyết 1975- 1985 nói riêng trong đó có đề cập đến khuynh hướng thế sự Những bài viết đó tập
trung ở các công trình như: Văn học 1975- 1985, tác phẩm và dư luận (Nxb Hội nhà văn, 1997), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, những vấn đề lịch sử và lí luận (Nxb Giáo dục, 2004), Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (Nxb Giáo dục, 2009)
Trong bài “Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1975”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã phân loại văn xuôi
thành các khuynh hướng chính là khuynh hướng sử thi, khuynh hướng nhận thức lại, khuynh hướng thế sự đời tư và khuynh hướng triết luận
Đồng thời, tác giả cũng phác họa những nét lớn của sự đổi mới biểu hiện qua
sự mở rộng quan niệm về hiện thực, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ, giọng điệu Từ đó, nhà
nghiên cứu đã đặt ra vấn đề rất có ý nghĩa là muốn hình dung chính xác và
đầy đủ về diện mạo và đặc điểm của văn xuôi thì còn cần làm rõ hơn các khuynh hướng, các thể tài, các mảng đề tài lớn với cái mới mà nó đem lại cho văn xuôi ba mươi năm qua [48\22] Đây là bài viết có ý nghĩa khái quát toàn
cảnh văn học Việt Nam sau 1975, trong đó có tiểu thuyết Đặc biệt, tác giả bài viết đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu các khuynh hướng cụ thể để thấy được diện mạo phong phú của văn học sau 75 Bài viết này chính
là một gợi ý quan trọng để chúng tôi đi đến lựa chọn đề tài này
Riêng đối với tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985, tác giả Nguyễn Thị Bình
cho rằng giai đoạn 1975- 1985, tiểu thuyết vừa mở rộng đề tài vừa cố cưỡng
lại từ trường của tiểu thuyết sử thi để gia tăng chất đời tư và thế sự [10\50]
Vì thế, bên cạnh cảm hứng ngợi ca, tiểu thuyết giai đoạn này đã xuất hiện cảm hứng phê phán, góc độ quan sát, đánh giá con người cũng dịch chuyển dần về phía đạo đức sinh hoạt
Trang 11Tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985 khá nhiều Ở đây, chúng tôi chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu một số tiểu thuyết viết theo khuynh hướng thế sự của một số tác giả tiêu biểu Các tác giả được chọn nghiên cứu nhiều nhất của giai đoạn này là: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng…Bởi họ là những người đã đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học Sáng tác của họ đã thể hiện sự bứt phá ngoạn mục trong hoàn cảnh đất nước có vô vàn những khó khăn chồng chất, trong giai đoạn văn học cũng đang tìm hướng khám phá cho phù hợp với thời đại mới Với sự sôi nổi, xông xáo, không né tránh, không ngại sợ, những cây bút này đã gây được những tiếng vang trong dư luận và làm sôi nổi đời sống văn học Vì thế, họ đã góp phần đáng kể cho việc chuẩn bị công cuộc đổi mới văn học sẽ diễn ra chính thức vào nửa sau những năm 80
Tuy nhiên,với Nguyễn Minh Châu- người mở đường tinh anh và tài hoa, khuynh hướng thế sự đã nhen nhóm trong tiểu thuyết giai đoạn này song lại thể hiện nổi bật hơn cả ở hai tập truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” và “Bến quê” Với các tác giả như Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng,…khuynh hướng thế sự biểu hiện rõ rệt trong tiểu thuyết của họ Chúng tôi nhận thấy những bài viết, những ý kiến đánh giá về các tác giả này rất nhiều Đặc biệt đáng chú ý là ý kiến của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu, các nhà văn như Phong Lê, Vân Thanh, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Thiếu Mai, Hoàng Như Mai, Lã Nguyên, Tôn Phương Lan, Lê Kim Vinh, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Tri Nguyên, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Suyền, Trần Cương, Ngọc Trai, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Nguyên Ngọc, Vương Trí Nhàn, Đỗ Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Long, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Bích Thu… Sự tiếp cận, đánh giá của các nhà nghiên cứu cũng rất đa dạng Có ý kiến khen ở mặt này nhưng chê ở mặt khác Nhưng các ý kiến đều thừa nhận sáng tác của những nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma
Văn Kháng… đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lí, báo trước khả năng tự đổi
Trang 12mới của nền văn học Việt Nam khi nó dám sòng phẳng với quá khứ, bất chấp trở lực ngăn cản [29\343]
Qủa thực, là những người đi tiên phong trong hành trình đổi mới, các tác giả trên đã có nhiều đóng góp tích cực tạo nên những chuyển biến rõ rệt của văn học nhưng cũng khó có thể tránh khỏi những hạn chế nhất định Mặc dù vậy, những nỗ lực của họ đã được ghi nhận và không ai có thể phủ nhận công lao khai phá, mở đường của họ trong một chặng đường mới của văn học nước nhà Như vậy, qua các bài nghiên cứu, bài báo, chúng ta có thể thấy văn xuôi sau 1975 nói chung, tiểu thuyết 1975- 1985 nói riêng có sự xuất hiện khá nổi bật của khuynh hướng thế sự Vấn đề là phải đi sâu nghiên cứu làm rõ những biểu hiện của khuynh hướng này để có một cái nhìn thấu đáo, toàn diện hơn
về văn học chặng đường tiền trạm của thời kì đổi mới
2.2 Những luận án, luận văn có đề cập đến khuynh hướng thế sự trong văn xuôi sau 1975 nói chung và tiểu thuyết 1975- 1985 nói riêng
Bên cạnh các cuốn sách, bài báo, có một số luận án, luận văn, công trình khoa học khi nghiên cứu về văn xuôi sau 75 hoặc một số tác giả tiêu biểu của giai đoạn này đã đề cập đến khuynh hướng thế sự Tiêu biểu là: Luận án
“Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975- Khảo sát trên nét lớn” (tác giả Nguyễn Thị Bình, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1996), luận văn
“Bước đầu tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tuấn” (tác giả Nguyễn Quốc Khánh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 198?), công trình khoa học “Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Việt Nam thời kì hậu chiến 1975- 1985” (tác giả Ngô Thu Thuỷ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2011)…
Tìm hiểu luận án “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975- Khảo sát trên nét lớn” của tác giả Nguyễn Thị Bình (Đại học Sư phạm
Hà Nội, 1996), chúng tôi nhận thấy tác giả đã chỉ ra những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật trên các phương diện Theo tác giả, văn xuôi sau 75 đã chuyển từ quan niệm con người theo kiểu sử thi sang quan niệm về con người
Trang 13kiểu thế sự, đời tư, con người cá nhân phức tạp và bí ẩn Thể loại văn học thời
kì này có xu hướng nhạt dần chất sử thi, tăng dần chất tiểu thuyết, ngôn ngữ gần với hiện thực đời thường Có thể nói, luận án đã góp một tiếng nói có căn cứ thực tiễn vào cuộc đối thoại dân chủ về văn học sau 1975, bổ sung thêm vốn tư liệu quý báu về văn học giai đoạn này và góp phần tìm hiểu để đi tới xác lập những tiêu chí phù hợp với sự phát triển của văn học trong giai đoạn cách mạng mới
Ở phạm vi hẹp hơn, trong luận văn “Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tuấn” (Đại học Sư phạm Hà Nội, 198?), tác giả Nguyễn Quốc Khánh đã giúp chúng ta nhận thấy những đổi mới cơ bản của tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tuấn so với tiểu thuyết giai đoạn trước Đó là tác giả đã đi thẳng vào những vấn đề thời sự nóng bỏng của đời sống Ngôn ngữ tiểu thuyết của ông thì đơn giản, dễ hiểu nhưng cũng giàu tính chất triết luận…Đây chính là những biểu hiện của tiểu thuyết sáng tác theo khuynh hướng thế sự Sự nghiên cứu về một tác giả như thế chính là một minh chứng
cụ thể nhất cho thấy rõ sự chuyển biến sâu sắc của văn học giai đoạn này
Có thể nói, những luận án, luận văn, công trình khoa học của những người đi trước bước đầu đã hé mở cho thấy sự chuyển biến của văn học từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng thế sự Những nghiên cứu này chính
là nguồn tư liệu quý giá để chúng tôi đi sâu nghiên cứu làm rõ hơn những biểu hiện và những thành tựu của khuynh hướng thế sự trong chặng đường đầu của văn học thời kì đổi mới qua một thể loại tiêu biểu
Như vậy, qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu bao gồm các cuốn sách, các bài báo, các ý kiến trong cuộc trao đổi, thảo luận, các cuộc hội thảo
và một số luận văn, luận án đã có, chúng tôi nhận thấy nhìn chung việc nghiên cứu tiểu thuyết 1975- 1985 đã lật xới lên được nhiều vấn đề, đặc biệt các bài viết đã có đề cập đến sự xuất hiện của vấn đề thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985 nói chung và trong các tác phẩm cụ thể của một số tác giả
Trang 14tiêu biểu nói riêng Tuy nhiên, các ý kiến khi nhắc đến khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết mới chỉ dừng lại ở mức điểm báo hoặc những phác thảo sơ
bộ Có thể nói, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, sâu sắc khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985
Chính vì vậy, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi
trước, chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài Khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 Trong luận văn này, chúng tôi
đặt trọng tâm nghiên cứu những đặc điểm, các dạng thức nghệ thuật cũng như những thành tựu nghệ thuật của tiểu thuyết sáng tác theo khuynh hướng thế sự qua một số tác giả tiêu biểu Bên cạnh đó, chúng tôi có so sánh với giai đoạn trước để làm nổi bật hơn những biểu hiện đổi mới của tiểu thuyết giai đoạn này trong tiến trình phát triển của văn xuôi hiện đại
3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu các đặc điểm, những dạng thức nghệ thuật cũng như những thành tựu nghệ thuật của tiểu thuyết thuộc khuynh hướng thế sự giai đoạn 1975- 1985 Từ đó thấy được sự vận động của tiểu thuyết sau chiến
tranh trong bức tranh chung của tiểu thuyết hiện đại
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát các tiểu thuyết trong giai đoạn từ 1975- 1985 Nhưng số lượng tiểu thuyết trong khoảng mười năm này khá nhiều, luận văn sẽ không thể bao quát hết được Để khoanh vùng phạm vi khảo sát, luận văn thống kê, nghiên cứu những tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985 của một số tác giả đã định hình và có thể xem là tiêu biểu cho văn xuôi cũng như tiểu thuyết sáng tác theo khuynh hướng thế sự như: Nguyễn Minh Châu, nhất là Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng…Tuy nhiên đó cũng chỉ là sự khoanh vùng có tính chất tương đối để luận văn có thể tập trung hơn vào một đặc điểm của tiểu thuyết trong giai đoạn khá phong phú và phức tạp này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 15Trong quá trình thực hiện, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Với những phát hiện, nghiên cứu này, người viết hy vọng kết quả của đề tài sẽ góp phần thuận lợi cho việc tìm hiểu khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985 đối với giới giáo viên phổ thông, sinh viên, học sinh và phần nào gợi ý cho người đọc yêu thích tiểu thuyết Việt Nam hiểu hơn một giai đoạn của tiểu thuyết nước nhà Hy vọng rằng, luận văn này sẽ trở thành một tư liệu hữu ích cho tất cả những ai quan tâm đến tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 nói riêng, tiểu thuyết Việt Nam nói chung
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm ba chương: Chương 1: Tiền đề lịch sử thẩm mĩ nảy sinh khuynh hướng thế sự
Chương 2: Đặc điểm và những dạng thức nghệ thuật của khuynh hướng
thế sự
Chương 3: Những thành tựu nghệ thuật tiêu biểu
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ THẨM MỸ NẢY SINH KHUYNH HƯỚNG
THẾ SỰ 1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội
1.1.1 Tình hình đất nước sau chiến tranh
Với đại thắng mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước oanh liệt của dân tộc ta đã giành được thắng lợi rực rỡ Từ đây, đất nước thống nhất, bắt đầu bước vào thời kì khôi phục và phát triển Nhưng ngay sau niềm vui chiến thắng, dân tộc ta đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách do hai cuộc chiến tranh ác liệt và kéo dài trong lịch sử dân tộc để lại
Ở cả hai miền Nam- Bắc, hậu quả của chiến tranh để lại rất nặng nề và kéo dài Chiến tranh đã tàn phá hầu như tất cả các thành phố, đô thị và hàng nghìn làng xóm, các tuyến đường giao thông, bến cảng ở miền Bắc Nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, nhất là những nơi diễn ra các chiến dịch quân sự cũng bị hủy hoại nghiêm trọng trở thành những miền đất cháy, đất chết Hơn nữa, quân xâm lược tàn ác còn thả xuống hàng triệu tấn bom đạn và những chất khai quang, diệt cỏ có chứa một lượng lớn chất độc điôxin xuống đất nước ta Điều đó đã để lại di chứng nặng nề cho các thế hệ sau
Bên cạnh đó, chiến tranh kéo dài làm cho nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu, thấp kém lại càng kiệt quệ và tụt hậu trong khu vực Nước ta rơi vào tình trạng những nước có bình quân thu nhập theo đầu người thấp nhất thế giới
Cơ chế quản lý kinh tế thì ngày càng bộc lộ rõ hơn những bất cập Quan hệ sản xuất ngày càng khủng hoảng Thêm vào đó là hậu quả của những chính sách kinh tế nặng nề về duy ý chí, chủ quan nóng vội
Mặt khác, chúng ta còn phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn khác như thiên tai, dịch bệnh, các tệ nạn xã hội do chế độ thức dân mới của Mĩ để lại… Ngoài ra, tình trạng mù chữ và nạn thất nghiệp đã trở thành vấn nạn
Trang 17trong xã hội Ở Sài Gòn, số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong cư dân, đội ngũ thất nghiệp có lúc lên đến 1.500.000 người Cùng với những khó khăn của thời kì hậu chiến, chúng ta lại phải đối mặt với chính sách cấm vận, cô lập Việt Nam và sự chống phá cách mạng của các thế lực thù địch Đặc biệt, cuộc chiến tranh giải phóng đã kết thúc nhưng tiếng súng vẫn nổ ra ở biên giới phía Bắc và Tây Nam của Tổ quốc Chiến trường Campuchia vẫn còn những cuộc tàn sát đẫm máu
Những khó khăn chồng chất đó đã đẩy nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội nặng nề, nhất là ở nửa đầu những năm 80 Đến giữa thập kỉ đó thì sự khủng hoảng ngày càng trở nên trầm trọng Nhà văn Nguyễn
Khải nhận xét hiện trạng xã hội lúc này là: ngổn ngang, bề bộn bóng tối và
ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động bất ngờ [38/70]
Có thể nói, cuộc chiến tranh đã khép lại nhưng một chiến trường mới lập
tức mở ra trên chiến trường cũ Nhiệm vụ của dân tộc ta lúc này là hết sức nặng nề như nhà văn Nguyễn Minh Châu phát biểu: Bước ra khỏi một cuộc
chiến tranh cũng cần thiết phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh [13\120] Toàn Đảng, toàn dân ta đã xác định cần phải
nỗ lực chung sức chung lòng đưa đất nước vượt qua khó khăn, thử thách để xây dựng, gìn giữ và bảo vệ đất nước
1.1.2 Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
Chiến tranh đã đi qua nhưng mất mát, đau thương thì vẫn còn ở lại Việc khắc phục hậu quả của hai cuộc chiến tranh, khôi phục kinh tế, hơn nữa cần hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn như nước ta không phải là một công việc đơn giản Nhưng đó là yêu cầu cấp bách để nhân dân ta gìn giữ nền độc lập và xây dựng, phát triển đất nước của mình
Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách của thời hậu chiến và những yếu tố khác như thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập…nhưng miền
Trang 18Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng: nhiều xí nghiệp, công trình, nhà máy được xây dựng và mở rộng thêm, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng nhanh qua các năm, diện tích trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp được mở rộng, đội ngũ cán bộ và công nhân kĩ thuật ngày càng đông đảo…
Ở miền Nam, công việc tiếp quản các vùng mới giải phóng được tiến hành khẩn trương và đạt kết quả tốt Đồng thời,chính quyền đã làm tốt công tác ổn định cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, khôi phục sản xuất…để đáp ứng nhu cầu cấp bách trước mắt và lâu dài của nhân dân Các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội cũng được tiến hành khẩn trương Những biểu hiện của văn hóa phản động, đồi trụy, những tệ nạn xã hội…bị nghiêm cấm
và bị bài trừ Các hoạt động văn hóa lành mạnh được đẩy mạnh và lan rộng Việc xóa nạn mù chữ được chú trọng Các công tác vệ sinh phòng bệnh và hoạt động thể dục thể thao được phát động rộng rãi trong quần chúng
Ngoài việc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, nhiệm vụ quan trọng của đất nước ta lúc này là cần hoàn thành việc thống nhất đất nước
về mặt nhà nước Chúng ta đã giành lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chấm dứt tình trạng đất nước bị chia cắt Nhưng về mặt thể chế chính trị, chúng ta vẫn chưa có một nhà nước chung Nhận thức được điều đó, vào tháng 9- 1975, Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã nhấn mạnh thống nhất đất nước là nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước, đồng thời hợp với quy luật khách quan của sự phát triển
cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam Vì thế, ngày 25-4-1976,
cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trong cả nước Cuối tháng 6 đầu tháng 7-1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất được gọi
là Quốc hội khóa VI đã họp kì đầu tiên tại Hà Nội Quốc hội đã quyết định nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước trong thời kì đổi mới Với kết quả của
kì họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, công việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã hoàn thành Từ đây việc tiếp tục hoàn thành thống nhất đất nước trên
Trang 19các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội sẽ gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước Tiếp đó, các Đại hội toàn quốc lần thứ IV, lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các năm 1976, 1982 đã vạch ra những đường lối để đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua việc thực hiện các kế hoạch Nhà nước 5 năm 1976- 1980 và 1981- 1985 Việc thực hiện những kế hoạch này đã đạt được những thành tựu nhất định ở nhiều mặt tuy nhiên vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, bất cập Vì thế, cuộc sống sau chiến tranh vẫn vận hành một cách khó nhọc, đầy khó khăn, phức tạp Kinh tế vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng Đời sống của nhân dân vẫn còn bộn bề những khó khăn Nhiều lao động chưa có việc làm Mặt khác, trong xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực Một số cán bộ có hành vi lộng quyền, tham nhũng nhưng chưa bị trừng trị nghiêm khắc, kịp thời Công bằng xã hội bị vi phạm Tất cả những điều ấy đã tác động sâu sắc và làm lay động dữ dội suy nghĩ và và niềm tin của mọi tầng lớp nhân
dân Quả thực, Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của
nó Hòa bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành được tự do
và độc lập [53/14]
Tất cả những thực tế gian nan của thời hậu chiến đã đè nặng lên cuộc sống của nhân dân ta Nhưng với sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của một dân tộc đã có mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta vẫn kiên trì và từng bước đưa đất nước vượt qua khó khăn thử thách để phát triển
1.1.3 Đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Tổ quốc
Ba mươi năm chìm trong khói lửa chiến tranh ác liệt, đất nước vừa được độc lập tự do, nhân dân ta chưa được tận hưởng niềm vui chiến thắng lại phải đối mặt với những cuộc xâm lược mới
Trang 20Do có âm mưu từ trước, từ tháng 5-1975 đến 1977, tập đoàn Pôn Pốt- Iêng Xari, đại diện cho phái “Khơ me đỏ” ở Campuchia đã đổ bộ xâm lược nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam Từ những cuộc xung đột vũ trang lẻ tẻ, chúng dần thành cuộc chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây- Nam nước ta Với thiện chí hòa bình, chúng ta đã chủ động đưa ra những đề nghị để thương lượng nhưng chúng vẫn tiếp tục tiến sâu vào lãnh thổ nước ta Thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, quân và dân ta đã tổ chức những cuộc phản công và tiến công mạnh, tiêu diệt toàn bộ quân xâm lược Cuộc tiến công quy mô lớn của tập đoàn Pôn Pốt hoàn toàn bị đập tan Đến năm 1978, hòa bình đã lập lại trên biên giới Tây- Nam của Tổ quốc Không những thế, chiến thắng của quân và dân ta còn tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng Campuchia giành thắng lợi ròn rã
Tiếp đó, ở biên giới phía Bắc, chúng ta lại phải đối mặt với những hành động phá vỡ quan hệ giữa hai nước của Trung Quốc như: cho quân khiêu khích quân sự dọc biên giới nước ta, cắt viện trợ, rút chuyên gia Nghiêm trọng hơn, vào ngày 17-2-1979, Trung Quốc đã đã mở cuộc tiến công nước ta dọc biên giới phía Bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) Để bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ, quân dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc đã chiến đấu quyết liệt buộc Trung Quốc phải rút quân về nước
Kết thúc hai cuộc chiến tranh biên giới, nước ta đã được bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Nhưng chúng ta vẫn phải luôn cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn và những hành động chống phá cách mạng của kẻ thù
Có thể nói, bối cảnh lịch sử xã hội đất nước mười năm sau chiến tranh chứa đựng rất nhiều những phức tạp Sự phức tạp ấy đã tác động sâu sắc tới đời sống của văn học nước nhà, đòi hỏi văn học phải có sự vận động, thay đổi cho phù hợp với thời đại mới
1.2 Bối cảnh văn học
Dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử đất nước ta Rời bỏ cuộc sống bất bình thường của chiến tranh, chúng ta trở lại cuộc sống bình
Trang 21thường của thời bình với bao mới mẻ, bỡ ngỡ Hòa chung vào không khí của
cả dân tộc, văn học cũng đã có sự vận động, biến đổi để theo sát những vấn đề nóng bỏng của đời sống
Thời chiến tranh, do yêu cầu của lịch sử, văn học chủ yếu mang khuynh
hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Bởi lẽ, là con đẻ của cách mạng và
những cuộc chiến tranh lớn, văn học trước 1975 không thể không mang những đặc điểm của văn học thời chiến Chiến tranh và cách mạng bao giờ cũng có nhu cầu đặt lên trên hết vấn đề chúng ta và chúng nó, vấn đề cộng đồng dân tộc và lịch sử [29/340]
Khuynh hướng sử thi đã chi phối hầu hết các sáng tác thuộc đủ mọi thể loại văn học Nó không chỉ thể hiện trong tiểu thuyết mà còn ở truyện ngắn và
kí Nó cũng thấm sâu vào thơ trữ tình, vào kịch bản sân khấu Khuynh hướng
sử thi chi phối tới việc lựa chọn đề tài, chủ đề, xây dựng hình tượng nhân vật
và thậm chí chi phối cả đặc điểm kết cấu tác phẩm, nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi và cái tôi trữ tình trong thơ
Đấy là thời kì văn học của những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng Vận mệnh của Tổ quốc đang đứng trước những thử thách gay gắt Cả dân tộc muôn người như một sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu vì lí tưởng chung của cả dân tộc Vì thế, nền văn học của giai đoạn lịch sử ấy không thể là tiếng nói của những số phận cá nhân
mà phải là tiếng nói của cả cộng đồng dân tộc và nhân dân Những chủ đề bao trùm trong văn học thời kì ấy phải là những vấn đề về vận mệnh của cộng đồng Hiện thực mà văn học phản ánh phải là hiện thực lịch sử của cả dân tộc
Sau 1975, đất nước bước sang một thời kì mới Nhưng nền văn học về
cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật , những cảm hứng chủ đạo trong chiến tranh Sự chạy theo quán tính này của văn học đã dẫn đến tình trạng người đọc quay lưng lại với sáng tác hiện tại Mối quan hệ máu thịt vốn rất thắm thiết giữa văn học và công chúng lạnh nhạt và hụt hẫng hẳn Nhà văn
Trang 22Nguyên Ngọc có lúc đã thừa nhận rằng, càng viết tay nghề càng cao nhưng những trang văn của ông thì ngày càng mất độc giả Quả thực, đúng như nhà
văn Nguyên Ngọc đánh giá, đây chính là khoảng chân không trong văn học
Đến những năm đầu thập kỉ 80, tình hình kinh tế xã hội đất nước đứng trước những khó khăn chồng chất và ngày càng khủng hoảng trầm trọng Điều
đó đã tác động sâu sắc tới đời sống văn học Lúc này, nền văn học chững lại
và không ít người rơi vào tình trạng bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác Nguyên nhân dần dần được làm sáng tỏ: Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa chuyển biến kịp thời so với sự thay đổi lớn lao của thực tiễn đất nước Những cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Bởi trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, con người tạm quên đi cuộc sống cá nhân, riêng tư của mình để chiến đấu cho lí tưởng chung của cả dân tộc thì hòa bình lại khác Con người trở về với cuộc sống đời thường với biết bao phồn tạp, muôn vẻ lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài…Ý thức cá nhân với mọi nhu cầu của con người như một cá thể, một thực thể sống đã được thức tỉnh trở lại Cuộc sống, con người đã đổi thay nhưng văn học lại vẫn giữ nguyên trên mình bộ quần áo cũ Vì thế, văn học cần có một sự đổi mới để phù hợp với xu hướng mới của thời đại
Trong bối cảnh ấy, văn học đã trải qua những trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng cho một cuộc chuyển mình Sự chuyển đổi ấy còn xuất phát từ yêu cầu nội tại của chính nền văn học Đó là sự phát triển của tư duy nghệ thuật ở một trình độ mới để tạo cho văn học một diện mạo mới
Sự vận động của văn học giai đoạn này thể hiện trên nhiều phương diện nhưng trước tiên phải kể đến là sự chuyển đổi về khuynh hướng sáng tác Khuynh hướng sử thi tiếp tục mạch chảy của nó trong một số sáng tác, tuy nhiên càng về sau, khuynh hướng này càng có xu hướng thu hẹp lại nhường chỗ cho sự phát triển của khuynh hướng thế sự Đến đầu những năm 80, khuynh hướng thế sự dần trở thành khuynh hướng chính trong văn học
Trang 23Ngay sau ngày giải phóng, một số nhà văn, nhà thơ đã quan tâm đến
các vấn đề thế sự Nhà văn Thái Bá Lợi là một ví dụ Với Hai người trở lại trung đoàn (1976), Thái Bá Lợi chính là người mở đường báo hiệu cuộc đấu
tranh phức tạp chống lại sự xói mòn đạo đức của con người Nhà văn Nguyên
Ngọc nhận xét tác phẩm này đã báo hiệu tuy còn mơ hồ về một cái gì như là
mầm mống, một thứ tiền thân của một kiểu người cơ hội chủ nghĩa, một trong những kiểu người vừa khó nhận dạng vừa rất nguy hiểm, và cũng có ý nghĩa báo hiệu cuộc đấu tranh phức tạp chống các loại tiêu cực đó Đây không phải
là sự thất tín trừu tượng mà là sự khô chết của tâm hồn trước cám dỗ của quyền lực và vật chất, là sự thờ ơ trước số phận của bạn hữu [52] Nhưng
người “mở đường tinh anh và tài năng” đã đi được xa nhất ở chặng đầu này
phải kể đến là Nguyễn Minh Châu Hai cuốn tiểu thuyết Miền cháy và Lửa từ những ngôi nhà cùng xuất bản năm 1977 của Nguyễn Minh Châu đã mang
đến một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn Hai cuốn tiểu thuyết này có thể coi là những cố gắng đầu tiên của Nguyễn Minh Châu để chuyển hướng ngòi bút của mình và tạo một bước đà quan trọng để nhà văn có những bứt phá ngoạn mục qua một loạt những truyện ngắn hướng vào các vấn đề thế sự- đạo đức trong những năm sau đó Ngoài ra, góp phần tạo nên chuyển động theo hướng mới của văn học những năm này còn phải kể đến những sáng tác văn xuôi của các tác giả như Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Dương Thu Hương; thơ của Nguyễn Duy, Ý Nhi; trường ca của Thanh Thảo; kịch của Lưu Quang Vũ, Xuân Trình…Những tác giả này đã có
sự tìm tòi, đổi mới và gặt hái được những thành tựu quan trọng Thành công bước đầu ấy đã mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, nhất là cái hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức- thế sự đang nổi cộm đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá
Có thể nói, những cây bút trên với bản lĩnh và trách nhiệm của mình đã
đi tiên phong trong quá trình đổi mới văn học Sáng tác của họ đã rút dần
Trang 24khoảng cách khá xa giữa văn học và đời sống, giữa tác phẩm và công chúng, đồng thời chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến của văn học khi bước vào thời kì đổi mới
1.3 Nhu cầu nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực văn học
Văn học Việt Nam từ 1945- 1975 đã hoàn thành sứ mệnh của một nền văn học cách mạng hướng về đại chúng nhân dân, cổ vũ chiến đấu Đó là nền văn học theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Nền văn học sử thi của ba mươi năm ấy là một giai đoạn có tính đặc thù và đã đóng góp được những thành tựu to lớn cho sự phát triển nền văn học dân tộc
Nhưng từ sau 1975, cuộc sống mới đặt ra nhiều vấn đề phức tạp của thời hậu chiến đòi hỏi nhà văn nói riêng và người nghệ sỹ nói riêng phải nhạy bén, nắm bắt, khám phá và phản ánh kịp thời Vấn đề cấp bách đặt ra lúc này là văn học phải vận động, chuyển mình để phù hợp với thời đại
Vào cuối những năm 70 đã xuất hiện nhu cầu nhìn lại giai đoạn văn học trước đó, chỉ ra những giới hạn của nó và đã manh nha hình thành những bước đi mới Trước hết, đề tài chiến tranh vẫn thu hút sự chú ý của giới cầm bút và công chúng bạn đọc nhưng các tác giả đã có những tìm tòi hướng khai
thác mới Chẳng hạn, trong bộ tiểu thuyết hai tập Đất trắng (1979), Nguyễn
Trọng Oánh đã gây được sự chú ý trong dư luận khi một mặt tái hiện được một giai đoạn đầy khó khăn, gian khổ của thời kì sau cuộc Tổng tiến công năm Mậu Thân (1968), mặt khác, quan trọng hơn, tác giả đã chú ý diễn tả những tác động nhiều mặt của hoàn cảnh chiến tranh đến tính cách và con đường đi của các nhân vật, kể cả những tác động tiêu cực Quan sát văn học viết về đề tài chiến tranh sau 75 chúng tôi nhận thấy, nhu cầu nhìn lại nền văn học thời chiến tranh để đánh giá đúng những thành công và nhất là chỉ ra những hạn chế của nó để vượt qua đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà văn, nhà lí luận phê bình văn học Nhu cầu đổi mới văn học đã dần trở thành đòi hỏi chung của cả giới sáng tác, lí luận và cả công chúng yêu văn học
Trang 25Bằng những tìm tòi, thể nghiệm trên cả sáng tác và hoạt động lí luận, phê bình, văn học đã hình thành từng bước một tư duy nghệ thuật mới, trên cơ sở đổi mới toàn diện các quan niệm về văn chương, về công chúng văn học Nhiều vấn đề cốt lõi cơ bản của quan niệm văn học trước đó vốn xem là những chân lí hiển nhiên thì bây giờ cũng đòi hỏi phải được xem xét lại Nhiều vấn đề đã trở thành đề tài tranh cãi, bàn thảo khá sôi nổi cả trong và ngoài giới văn học như: Văn học và hiện thực, văn nghệ và chính trị, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…
Mặt khác, tình hình đất nước sau chiến tranh đã thay đổi Vì thế, nhu cầu khám phá, phản ánh hiện thực đời sống xã hội sau 1975 đòi hỏi văn học cần phải có sự thay đổi cách nhìn nhận, khám phá và phản ánh hiện thực phù hợp với yêu cầu mới của đời sống và công chúng tiếp nhận Bởi lẽ, mỗi nền văn học, mỗi giai đoạn văn học đều có những hiện thực lớn, bao trùm, thu hút sự quan tâm của xã hội nói chung và của nhà văn nói riêng
Trước 1975, hiện thực lớn nhất, bao trùm văn học chính là đời sống chính trị- xã hội Trong đó, cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội là những mảng hiện thực tập hợp những sự kiện, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống xã hội, thể hiện những nét bản chất nhất của thời kì lịch sử đó Trong hiện thực bao trùm đó, mỗi nhà văn tùy theo vốn sống
và sở trường của mình lại xây dựng cho mình một “vùng hiện thực”, một mảnh đất riêng để khai thác, phản ánh Nguyễn Khải, Chu Văn, Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Vũ Thị Thường…gắn bó với đề tài cuộc sống lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (đặc biệt là ở nông thôn) Nguyễn Thi, Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu…lại say mê khai thác đề tài chiến tranh cách mạng Đó được coi là nguồn hiện thực phong phú, những „mảnh đất hứa hẹn”
“dâng sẵn, đón chờ” mỗi người nghệ sĩ Dù ở đề tài nào, người đọc cũng đều thấy tầm vóc vĩ đại của con người Việt Nam, đều thấy vẻ đẹp của một dân tộc anh hùng, kiên cường, bất khuất Như vậy, có thể thấy, trước 1975, hiện thực
Trang 26được giới hạn trong sự chi phối của đề tài Đảng ta đã khẳng định: Tổ quốc và
chủ nghĩa xã hội là đề tài cao đẹp nhất trong văn học nghệ thuật nước ta thời
kì đó Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận việc giới hạn đề tài khó tránh khỏi những hạn chế của nó Bởi lẽ, khi bị bó hẹp phạm vi hiện thực, nhà văn khó có thể phát huy được hết khả năng của mình và càng khó có thể phản ánh chân thực, toàn vẹn hiện thực vốn phong phú, đa dạng của đời sống
Nhưng sau những năm chiến tranh liên miên, con người trở về với cuộc sống đời thường, hàng ngày với biết bao xô bồ, phức tạp Mỗi người dường như phải gồng mình lên trước hàng loạt khó khăn chồng chất của đất nước
thời hậu chiến Đương nhiên hướng về những nhu cầu thiết yếu (ăn, mặc, ở…)
con người phát triển chưa thể cân bằng Những khó khăn về đời sống ấy dễ gợi mở về một nhu cầu phiến diện Chủ nghĩa thực dụng và văn hóa tiêu dùng hiện đại đã trở thành đối tượng có sức hấp dẫn đặc biệt [47/88] trong sinh
hoạt hàng ngày Những vòng xoáy của cơn lốc thời đại đã khiến không ít người cuốn vào những toan tính thấp hèn, bon chen, đố kị…để mưu sinh và tồn tại Hiện thực mới với rất nhiều vấn đề chông gai đã đặt lên vai người cầm bút trách nhiệm nặng nề Vấn đề đặt ra lúc này là nhà văn, nhà thơ không thể tráng lên cuộc sống một lớp men trữ tình, lãng mạn như trước mà cần phải thấy được mọi diễn biến phức tạp của cuộc sống và cần phải nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về hiện thực để phản ánh được đúng bản chất của nó trong văn học Điều đó đồng nghĩa với việc văn học phải mở rộng phạm vi hiện thực phản ánh: Từ một hiện thực được giới hạn trong sự chi phối của hệ thống đề tài có định hướng đến một hiện thực toàn vẹn hơn với sự phong phú, đa dạng của đời sống nhân sinh thế sự Từ mảng đề tài về hiện thực chính trị xã hội với sinh mệnh lớn lao của cả cộng đồng đến mảng đề tài về cuộc sống đời tư với những
số phận cá nhân đầy bộn bề, phức tạp…Người cầm bút cần tìm cảm hứng sáng tạo trong tất cả các sự kiện của đời sống thường nhật, đi sâu vào ngõ ngách cuộc sống và tâm tư, tình cảm con người trong thời đại mới Chính vì thế, nhà
Trang 27văn sẽ không còn phải “dè chừng” với khái niệm “vùng cấm” để thỏa sức sáng tạo nghệ thuật Điều đặc biệt, mở rộng phạm vi phản ánh, văn học sẽ dần khắc phục được những hạn chế của văn học thời chiến tranh, đồng thời có được sự mới mẻ, chân thực, đậm chất nhân văn của thời đại mới
Ngoài mở rộng phạm vi hiện thực, người cầm bút còn phải đổi mới cách tiếp cận, phản ánh và lí giải hiện thực Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã chi phối cách tiếp cận hiện thực của nhà văn Đó là hiện thực lí tưởng và đã hoàn kết Cách tiếp cận hiện thực như vậy dẫn đến tình trạng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm đơn giản, xuôi chiều, hạn chế khả năng bao quát, phân tích và lí giải hiện thực của văn học Nhưng khi hiện thực văn học, đối tượng văn học được mở rộng thì cách tư duy áp đặt, cứng nhắc và xác định trước đây hoàn toàn không phù hợp Nhà văn cần đào sâu vào hiện thực, nghiền ngẫm hiện thực để hiểu và phản ánh sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về cuộc sống và con người Đó phải là hiện thực khách quan, đúng như nó có, không tô vẽ, không che giấu, không cắt xén Nhà văn phải nhìn thẳng vào sự thật, nói cho đúng, cho rõ sự thật Có như vậy, tác phẩm của họ mới có sự hấp dẫn và có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc thời đại mới
Sóng gió nhất thời kì này phải kể đến là khuynh hướng nhận thức lại một
số vấn đề của thời kì chiến tranh Cần phải hiểu rằng nhận thức lại không có
nghĩa là chối bỏ qua khứ hay bắn súng đại bác vào quá khứ mà bằng kinh
nghiệm, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của thời kì vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những tư tưởng, những thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên con đường phát triển xã hội Chiến tranh cũng được nhận thức lại từ sự tác động ghê ghớm của nó đến tính cách và số phận con người, với bao nỗi éo le, bi kịch, xót xa, nỗi buồn dai
dẳng Thời xa vắng của Lê Lựu, Những ngày tháng đã qua của Xuân Thiều, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam, Người đàn bà trên chuyến tàu
Trang 28tốc hành của Nguyễn Minh Châu…là những tác phẩm viết theo khuynh
hướng này và thực sự đã khiến người ta phải thừa nhận ý nghĩa to lớn của khuynh hướng nhận thức lại
Như vậy, nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực là nhu cầu bức thiết của cả nền văn học Bởi trong chiến tranh, nhà văn chỉ đề cập đến hiện thực một chiều, không phải hiện thực như nó đang có Những tác phẩm thời kì
này thường theo một thứ nghệ thuật ảo huyền, một hiện thực ảo Hiện thực ấy
chỉ thích hợp trong một giai đoạn lịch sử nhất định Hiện thực huyền ảo ấy đã không còn phù hợp với hoàn cảnh của đất nước thời hậu chiến Điều bao độc giả quan tâm lúc này là cuộc sống sau chiến tranh đang diễn ra như thế nào và văn học cần làm thỏa mãn mối quan tâm đó của độc giả để tiếp tục tồn tại và phát triển
1.4 Bước chuyển của văn học
Hoàn cảnh lịch sử, xã hội của đất nước đã tác động mạnh mẽ tới văn học
Từ sau 1975, văn học thực sự chuyển biến và ngày càng rõ rệt trên nhiều phương diện Ở đây, chúng tôi tập trung vào những bước chuyển của văn học trên lĩnh vực văn xuôi để thấy được những cơ sở của sự xuất hiện khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn này
1.4.1 Chuyển đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực
Sự chuyển đổi của văn học trước hết thể hiện ở sự chuyển đổi quan niệm nghệ thuật của người cầm bút Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, quan niệm
là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải,
tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả không chính xác về đời sống
[59/8] Quan niệm thuộc về chủ thể sáng tạo nên mỗi nhà văn có quan niệm riêng và quan niệm của họ có thể thay đổi theo thời đại
Trang 29Quan niệm nghệ thuật về hiện thực là sự nhận thức, đánh giá về hiện thực cuộc sống của nhà văn theo một quan điểm thẩm mĩ nhất định Đây không phải là sự nhận thức lí thuyết, trừu tượng, chung chung mà là cách nhìn, cách cảm nhận về đời sống xã hội mang hơi thở cuộc sống, hơn nữa gắn
bó máu thịt với cuộc đời nhưng đã được nâng lên tầm khái quát Quan niệm
về hiện thực thể hiện sự khám phá, lí giải, trình độ chiếm lĩnh hiện thực của người sáng tác Thực tế, mỗi nhà văn, nhà thơ có một vùng đối tượng thẩm mĩ riêng mà tự nó đã ghi đậm dấu ấn của họ
Về tính hiện thực, đây là thuộc tính cơ bản của văn chương Nó phản ánh mối liên hệ giữa tác phẩm và cuộc đời Nhưng quan niệm về hiện thực trong văn chương thì luôn vận động
Giai đoạn 1945- 1975, do yêu cầu của cách mạng nên văn học dồn trọng tâm cho nhiệm vụ tuyên truyền lí tưởng, cổ vũ chiến đấu Hiện thực được lựa chọn thường là hiện thực lớn lao phát triển theo hướng xuôi chiều và lạc quan
Đó là hiện thực của cuộc sống chiến đấu, sản xuất nhiều khi đã được tráng một
lớp men trữ tình hơi dày Văn học phát triển theo thiên hướng ca ngợi một chiều,
tô hồng Ai viết về người không tốt, việc không tốt thường bị quy kết vào tội bôi đen Đánh giá về hiện thực trong văn học thời kì này, nhà văn Nguyễn Minh
Châu cho rằng: Hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang
tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang mơ ước[45] Đó là cái hiện thực
trong cái nhìn lí tưởng hóa, nó đẹp nhưng có phần đơn giản, dễ dãi
Chiến tranh kết thúc, hiện thực cuộc sống thay đổi Tư duy nghệ thuật ngày càng dân chủ hơn Vì thế, biên độ của hiện thực ngày càng được mở rộng Văn học sau 75 ngày càng có sự nới rộng phạm vi hiện thực Đó có thể
là hiện thực chiến tranh được miêu tả dưới cái nhìn mới Đó cũng có thể là hiện thực về số phận của một cá nhân, một gia đình, một dòng họ…trong thời
kì khủng hoảng, bế tắc của xã hội Những mặt trái, những mặt khuất lấp, cái
tiêu cực, cái xấu, cái bất hợp lí đều được phát hiện Có thể nói, cuộc sống
Trang 30được phản ánh vào trong tác phẩm không chỉ là cái phần anh hùng cao cả mà còn thấm thía nỗi buồn của con người thời hậu chiến, là cuộc sống với tất cả cái sôi động, quyết liệt của cuộc đấu tranh cũng như cái đời thường vừa nhân hậu ấm áp, vừa nhếch nhác, lấm lem [32/12]
Sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực đã giúp nhà văn thoát ra khỏi
sự ràng buộc của chủ nghĩa đề tài để phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn,
chân thực hơn, đồng thời mở ra khả năng phong phú, vô tận trong việc khám phá và thể hiện đời sống Nhà văn cũng có thể khám phá những miền khuất lấp, những mặt trái của đời sống, đi sâu vào chiều sâu tư tưởng, tình cảm, tâm linh của con người Những nơi mà trước đây trong hoàn cảnh chiến tranh, họ
tỉnh táo sau 1975 Miền cháy là câu chuyện của đất nước vừa ra khỏi cuộc
chiến tranh nhưng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thử thách Nhiều những thử thách là hậu quả của chiến tranh để lại, nhiều những thử thách mới nảy sinh sau cuộc chiến và thậm chí ngay trong hàng ngũ những người chiến thắng Chọn Quảng Trị- miền đất gánh chịu sự tàn phá, hủy diệt khốc liệt nhất của cuộc chiến, Nguyễn Minh Châu đã giúp người đọc cảm nhận được những nỗi đau mất mát to lớn của bao gia đình, bao số phận ngay và cả sau khi cuộc chiến đã kết thúc khi đặt các nhân vật vào những hoàn cảnh trớ trêu, những tình huống éo le Ở đó vẫn sáng lên những phẩm chất tốt đẹp của những người lính, những bà mẹ có con, những cô gái có người yêu chiến đấu và hi sinh nơi chiến trường…Đồng thời, nhà văn cũng sớm cảnh báo về những ung
Trang 31nhọt hiểm họa của cái xấu, cái ác đang mọc ngay ra ngay trong hàng ngũ cách mạng sau ngày chiến thắng Một số cán bộ được nhân dân che chở nuôi dưỡng trong thời kì chiến tranh, nay có quyền lực có những biểu hiện xa rời
nhân dân, quan liêu, thờ ơ trước số phận của nhân dân Miền cháy cho thấy sự
mẫn cảm của nhà văn với thời cuộc, quan trọng hơn là sự đổi mới cách nhìn
về hiện thực và cách viết của tác giả
Song song với đề tài chiến tranh, nổi bật và nở rộ hơn cả là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống thường nhật sau cuộc chiến Nhiều tác phẩm dành sự quan tâm hơn cho thời hậu chiến như quá trình hòa hợp dân tộc, từ bỏ các thói quen thời chiến để bước vào thời bình, những vấn đề đạo đức mới nảy
sinh trong các quan hệ thường nhật, phổ biến…Tháng Ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Lửa từ những ngôi nhà của Nguyễn Minh Châu, Những khoảng cách còn lại của Nguyễn Mạnh Tuấn, Hai người trở lại trung đoàn
của Thái Bá Lợi…là những tác phẩm như vậy Cái mới của những tác phẩm này thể hiện qua những dự cảm, những trăn trở có sức ám ảnh sâu sắc, đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ nghiêm túc Đó có thể là nỗi ái ngại của nhà văn trước những người lính dày dặn kinh nghiệm trận mạc nhưng lại khá xa lạ với cái đời thường có vẻ như nhạt nhẽo tầm thường mà lại chính là máu thịt tự nhiên của
cuộc sống (Lửa từ những ngôi nhà) Đó có thể là mong muốn khước từ cái nhìn một chiều về người anh hùng (Hai người trở lại trung đoàn) Đó cũng có
thể là những lời phê phán sự lầm lạc trong đức tin của con người nhưng bằng
cái nhìn mềm dẻo, uyển chuyển khi xử lí đề tài tôn giáo (Cha và con và…)…
Dòng mạch mới này lúc đầu âm thầm, lặng lẽ nhưng càng về sau càng mạnh
mẽ và chứa đựng những nhận thức vừa đầy đủ, vừa khoa học hơn về hiện thực Chính sự nới rộng phạm vi hiện thực đã rút ngắn dần khoảng cách giữa văn học
và hiện thực, đồng thời giữa văn học và công chúng
Dần dần xu hướng chung là các nhà văn, nhà thơ không muốn trói mình vào một quan niệm đơn giản, cứng nhắc, nhất thành bất biến về hiện thực Họ
Trang 32muốn được phát huy tận độ trí tưởng tượng nghệ sĩ Họ muốn thuyết phục người khác bằng sự trải nghiệm của riêng mình Khi mỗi nhà văn muốn trình bày một cách nhìn riêng, một cách cắt nghĩa riêng về hiện thực thì hiện thực được phản ánh hoàn toàn có thể trở thành phương tiện của nghệ thuật chứ không chỉ là mục đích nghệ thuật Khi đó, nhà văn sẽ không bị gò bó vào “bút pháp tả thực” theo nguyên tắc duy nhất Có thể nói, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt nên văn học trước 1975 nổi bật
ở tính thống nhất một hướng Các nhà văn không nghĩ đến việc kiếm tìm tư tưởng riêng mà tự nguyện lựa chọn tư tưởng chỉ đạo chung, cùng soi vào hiện thực cái nhìn giống nhau, sử dụng nguyên tắc mô tả như nhau Đôi khi cũng
có người muốn khác đi nhưng kết cục thường là không thành công và bị phê phán nghiêm khắc Điều này cho thấy tâm lí thời đại tán thành sự thống nhất
về tư tưởng, tán thành những chuẩn mực chung ổn định Nhưng từ sau 1975, văn học dần dần xuất hiện tính nhiều khuynh hướng Tính chất này xuất phát
từ những tư tưởng khác nhau về hiện thực Cũng từ đây, cảm hứng minh họa lùi xuống nhường chỗ cho cảm hứng phân tích, đối thoại, khám phá Trong thời kì này, mặc dù cùng tìm kiếm ý nghĩa triết học về sự tồn tại của con người nhưng Nguyễn Minh Châu theo đuổi những “hạt ngọc” đạo đức, Ma Văn Kháng lại đề cao giá trị cội nguồn, Nguyễn Khải lại coi trọng khả năng
“chọn lựa” sáng suốt của mỗi cá nhân, mỗi thế hệ…
Tất nhiên chúng ta vẫn không thể phủ nhận những thành tựu mà văn học trước 1975 đạt được và cũng không thể khẳng định rằng cứ đổi mới, cứ khác trước là hay hơn, đúng hơn Bởi từ nhận thức đến tạo được giá trị là cả một chặng đường dài, gian nan đòi hỏi tài năng của người nghệ sĩ Nhưng xét ở bản chất văn chương, ở cơ chế sáng tạo nơi người nghệ sĩ, thì một quan hệ tự
do, không phụ thuộc với hiện thực miêu tả là hợp lý và ở thực tiễn văn học nước ta, nó cũng là một bước phát triển tự giác của ý thức nghệ thuật Và nhìn vào cuộc sống của đất nước sau cuộc chiến, chúng ta thấy Nguyễn Minh Châu
Trang 33thật có lí khi nói rằng: Trong bối cảnh đầy khó khăn của đời sống hậu chiến
không cho phép những người đã nếm trải chiến tranh, đã biết như thế nào là cái nghiêm khắc của chiến tranh, cầm bút một cách điệu đàng, ca ngợi vuốt
ve một cách dễ dãi [45/94]
1.4.2 Chuyển đổi quan niệm về con người
Văn học là “nhân học”, là khoa học đặc thù về con người Bất cứ nền văn học nào, con người cũng là đối tượng trung tâm của phản ánh hiện thực.Theo
nhà nghiên cứu Trần Đình Sử Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý
giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức để thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật thẩm mỹ cho các hiện tượng nhân vật trong đó [60/43]
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người tức là tìm hiểu cách nhìn, chiều sâu của sự khám phá, lý giải, trình độ chiếm lĩnh con người của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người chính là cơ sở chi phối những nguyên tắc chiếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nhà văn Nó đánh dấu sự thay đổi đáng kể của hệ hình tư duy trong sáng tác của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tinh thần, là phương diện quan trọng hàng đầu để xác định những đặc trưng cơ bản, xác định trình độ, tài năng và những cống hiến, đóng góp của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người liên quan đến toàn bộ quá trình sáng tạo của nhà văn, đến tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm
Tiến trình lịch sử văn học cho thấy, sự đổi mới văn học thường gắn liền với sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Bởi theo nhà nghiên cứu
Trần Đình Sử: chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về
con người, thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa
mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu [59]
Văn học giai đoạn 1945- 1975 phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt của hai cuộc chiến tranh vệ quốc với những biến cố cách mạng lớn lao Vì thế nó
Trang 34không thể không bị chi phối bởi những quy luật của thời chiến theo sát nhiệm
vụ chính trị, tự ý thức mình như một vũ khí tư tưởng, văn học đã tập trung vào nhiệm vụ giáo dục con người mới, con người cộng đồng Hình mẫu con người được gửi gắm vào các nhân vật lí tưởng Bằng con đường trưởng thành
và vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật đó mà khẳng định xu thế phát triển lạc quan của cách mạng Phát hiện “con người cộng đồng” trong mỗi cá nhân, con người vận động theo chiều hướng tích cực, lạc quan của quan điểm cách mạng là cống hiến quan trọng của văn học thời kì này
Một số nguyên tắc miêu tả con người của thời chiến đã trở thành quy phạm, “sự kiện lấn át con người” Con người được nhận thức đánh giá, khám phá chủ yếu và trước hết ở góc độ chính trị, trong quan hệ ta- địch Các nhân vật thường có khuynh hướng mô tả một chiều, chưa chân thực Niềm vui, nỗi buồn của con người hòa trong niềm vui, nỗi lo của dân tộc, giai cấp Nhà văn thường chú ý tới các biến cố lịch sử hơn là quan tâm đến con người, coi trọng con người tập thể, con người của sự nghiệp chung hơn là cá nhân cụ thể với những vấn đề riêng tư của nó Nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét văn học
thời kì này: Nhân vật chỉ đóng vai trò làm đường dây để xâu chuỗi các sự kiện
lại với nhau [45/46] Thực sự, chúng ta vẫn chưa làm được cái việc là biến ngòi bút trở thành một cái lưỡi cày để xới thật sâu vào cõi lòng người dân Việt Nam trong bốn mươi năm vừa qua của cách mạng và chiến tranh [45/93]
Sau 1975, chiến tranh kết thúc nhưng bao khó khăn thử thách đặt ra trong đời sống hòa bình Sự bề bộn và phức tạp của cuộc sống thời hậu chiến đã tác động sâu sắc không chỉ tới đời sống mà cả tâm tư, tình cảm, nguyện vọng…của con người Thực tế đó đòi hỏi văn học phải thay đổi cách viết về con người, phải đi sâu tìm hiểu khám phá để hiểu rõ hơn về con người, về cuộc sống Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học sau 75 bắt đầu với việc lấy con người làm tâm điểm soi chiếu lịch sử Con người từ điểm nhìn lý tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư Từ một nền
Trang 35văn học phản ánh con người trong mối quan hệ với cộng đồng, con người thường mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, có ý chí và sức mạnh phi thường, kết tinh cho những vẻ đẹp tinh thần và lí tưởng cao đẹp của dân tộc, văn học sau 1975 chuyển sang phản ánh con người cá nhân Con người trong văn học không còn đại diện cho cái chung nữa mà là con người cá nhân trong các mối quan hệ đa chiều của nó Từ đây, tất cả những biểu hiện của con người trong đời sống từ lĩnh vực chính trị đến kinh tế, từ đạo đức xã hội, phong tục tập quán đến tình yêu, hạnh phúc…đều được các nhà văn quan tâm thể hiện Sự tìm hiểu khám phá con người ở nhiều chiều, nhiều hướng trở thành xu thế chủ yếu của văn học thời kì này, trong đó có tiểu thuyết
Mười năm đầu sau khi chiến tranh chống Mĩ kết thúc, tiểu thuyết tuy vẫn theo quán tính cũ, lấy lịch sử làm điểm quy chiếu nhưng đã có sự quan tâm
hơn đến số phận con người Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra của Nguyễn Minh châu, Năm 1975 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh…gây được sự chú ý một phần vì
dung lượng hiện thực được mở rộng, phần quan trọng hơn là khả năng đào xới sâu hơn vào đời sống nội tâm con người với những cảm xúc, suy nghĩ riêng
tư, những trăn trở, dằn vặt và những mối quan hệ ít nhiều phức tạp…Vì thế, nhân vật trở nên sinh động hơn, chân thực hơn Còn người đọc có ấn tượng về một hiện thực ít bị tô vẽ, thi vị hóa và không hề đơn giản
Trong tiểu thuyết, con người vẫn được nhìn nhận theo sự phân tuyến chính- tà, tốt- xấu, có điều nó không đối lập đến mức siêu hình Sự tốt, xấu trong mỗi người được nhìn nhận mềm mại, uyển chuyển hơn Các nhân vật
“chính”, “tích cực” cũng không bị lý tưởng hóa Họ cũng sai lầm, cũng phải thường xuyên chiến đấu với phần bóng tối ở chính lòng mình Họ kiên trì lý tưởng nhưng quan tâm hơn đến các mối quan hệ đời thường Ba Đức trong
Đứng trước biển là nhân vật “tích cực” của Nguyễn Mạnh Tuấn Ông đã dám
nhìn thẳng vào thực trạng tồi tệ của xí nghiệp để từ đó bình tĩnh, sáng suốt tìm
Trang 36ra nguyên nhân căn bệnh của nó và quyết tâm cải cách xí nghiệp bằng những quyết định, hành động táo bạo, đúng đắn Xí nghiệp Sao Mai dưới sự lãnh đạo của Ba Đức đã dần trở thành một hình mẫu mới về một cơ cấu quản lý kinh tế công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa làm thước đo đánh giá giá trị của mỗi người Khi xây dựng nhân vật Ba Đức, Nguyễn Mạnh Tuấn một mặt tập trung khắc họa những phẩm chất cao đẹp của một người cộng sản tiên tiến Mặt khác, ông để cho nhân vật của mình hiện ra là con người của cuộc sống thường ngày với tất cả những lo toan và dục vọng bình thường trong bao mối quan hệ Giám đốc Ba Đức rất cương quyết trong cuộc đấu tranh với cái lạc hậu, tiêu cực nhưng cũng có lúc ông đã
tỏ ra nhân nhượng với nó Ông ngập ngừng không dám dứt bỏ Năm Miên- một con người ông đã quá rõ bản chất ích kỷ, chỉ vì nể tình y đã xin nhà cho mình Ông cũng là người không chấp nhận tình yêu đẹp đẽ, phóng khoáng của con trai với Liên vì ông có quan niệm về tình yêu quá khe khắt Và khi xí nghiệp trở nên tiên tiến, ông cũng lại ưa sự tuyên truyền phô trương, hình thức của báo chí…Những nhược điểm ấy của Ba Đức không phải là hạn chế của ngòi bút tác giả Trái lại, những mặt phải, mặt trái ấy của các nhân vật tích cực đã khiến họ gần gũi hơn với chúng ta Đặc biệt, với việc xây dựng tính cách nhân vật có bề dày và chiều sâu ấy, nhà văn đã thực sự thuyết phục được bạn đọc bởi sự chân thực của hình tượng nhân vật trong tác phẩm
Cũng với cách nhìn nhận con người ở nhiều phía, nhiều góc độ, nhưng ở một góc độ khác, ngòi bút của Ma Văn Kháng đã bước đầu hướng tới việc nghiên cứu, phát hiện con người đầy phức tạp và mâu thuẫn, con người lưỡng diện, con người không nhất quán với mình qua nhân Lý Chị Lý của những năm tháng hòa bình thích nhởn nhơ ăn diện, thích hưởng lạc và quay cuồng trong tiếng gọi của vật chất, mất vẻ đẹp vốn có của người phụ nữ, từ bỏ chồng
để sống buông thả cùng gã trưởng phòng bất lương, làm ăn bất chính, thậm chí có nguy cơ phải ra tòa… Nhưng trong những năm tháng chiến tranh, chị
Trang 37đã từng là tự vệ trực chiến, đã từng đẩy xe bánh tới trận địa pháo phục vụ chiến sĩ, từng đi nhặt xương thịt của bộ đội khi trận địa trúng bom Mỹ, từng thay chồng nuôi dạy con, đứng mũi chịu sào, gánh vác công việc gia đình chồng…Những hồi ức này được chị kể lại với sự xúc động chân thành, với niềm tự hào và niềm kiêu hãnh của con người thấy mình đã sống có ích Như vậy, con người vốn phức tạp, không thể dùng cái nhìn phân đôi con người một cách giản đơn, cứng nhắc Nhà văn cần phải đi sâu nghiên cứu, mổ xẻ phân tích những nỗi niềm, những uẩn khúc và bi kịch riêng của đời họ để có một cái nhìn bao dung, độ lượng trước những lầm lạc, vấp ngã của con người
trong xã hội Không nên quá khắt khe với sai lầm của con người, con người
đang ở trong tiến trình của nó, nó còn vật lộn dai dẳng với bản thân nó, hãy giúp nó [41/281]…Chỉ cần con người có khuynh hướng trở về với cái thiện là
ta phải giơ tay ra đón nó Nhất là người đó là của mình Cái xấu là ngẫu nhiên Con người chứ không phải cái gì trừu tượng [41/283]
Đối với “người mở đường” Nguyễn Minh Châu, ngay từ thời kỳ viết những tác phẩm đầy sắc màu lãng mạn, anh hùng để ngợi ca, cổ vũ cuộc kháng chiến chống Mĩ, ông đã sớm có những trăn trở, day dứt về một hướng tiếp cận khác Chính vì thế, sau 1975, trong bối cảnh mới của đất nước, Nguyễn Minh Châu đã chuyển ngòi bút từ thiên về sự kiện chiến tranh sang
số phận con người với tác động biện chứng của hoàn cảnh Ông quan niệm:
Niềm hạnh phúc lớn nhất và cũng đồng thời là cái điều khổ ải nhất trần đời của một người cầm bút xưa nay vẫn là công việc khám phá ra tất cả những cái gì khó nắm bắt nhất, xảy ra nơi cái thế giới bên trong con người [45/92]
Nguyễn Minh Châu đã trở thành một trong những người tiên phong trên con đường đổi mới văn học mà đổi mới trước tiên là cách nhìn, cách biểu hiện con người, hướng văn học quan tâm đến số phận của từng con người với tất cả chiều sâu của diễn biến tâm lý và tính cách đầy chân thực, khách quan Những chuyển đổi đó đã sớm thể hiện trong những tác phẩm viết về chiến tranh của
Trang 38ông Trong cách nhìn nhận của ông, chiến tranh không chỉ hun đúc nên những anh hùng mà còn là thử thách bộc lộ bản chất của những kẻ hèn nhát, phản bội…Con người thậm chí cả những anh hùng trong chiến tranh cũng không còn hoàn thiện, không tì vết như trước mà họ cũng có khuyết điểm, sai lầm,
thậm chí có người tha hóa như Bàng trong Miền cháy, Phong trong Lửa từ những ngôi nhà, Thuần trong Những người đi từ trong rừng ra…Chính
cách nhìn nhận đa chiều với cả hai phần sáng- tối đã khiến con người trong tác phẩm của ông trở nên gần gũi hơn, chân thực hơn, đúng với bản chất
“nhân vô thập toàn” của cuộc đời
Từ những con người của cộng đồng, Nguyễn Minh Châu đã hướng chú ý khai thác số phận riêng tư của con người trong chiến tranh, đặc biệt là nạn nhân của cuộc chiến với những trớ trêu, bất hạnh Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn bằng sự nhạy cảm, cũng như sự đa cảm của mình đã sớm cảm nhận và viết về những di chứng của chiến tranh, những nỗi nhức nhối, mất mát, éo le, những bi kịch của con người đi qua chiến tranh một cách
da diết và sâu sắc Với tiểu thuyết Miền cháy, chúng ta đã bắt đầu thấy một
Nguyễn Minh Châu khác với chính mình trước đó Một Nguyễn Minh Châu với những nỗi trăn trở, day dứt khôn nguôi về số phận riêng tư của con người qua cơn binh lửa ác liệt Từ đây, ngòi bút của ông đã bắt đầu đoạn tuyệt với lối văn chương chỉ ca ngợi một chiều có phần dễ dãi và dần dần lấy số phận
con người không những làm mảnh đất khám phá những quy luật vĩnh hằng
của các giá trị nhân bản, mà còn coi đó là hạt nhân của tư duy nghệ thuật, là
hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, sự phân tích, cắt nghĩa và lý giải về thế giới và đời sống con người Điểm nhìn nghệ thuật mới này về con người đã mở ra cho ngòi bút của Nguyễn Minh Châu nhiều hướng khác nhau trong cách xây dựng hình tượng nhân vật
Nếu thời kì trước 1975, văn học chủ yếu tiếp cận con người ở bình diện lập trường địch- ta và đạo đức cách mạng, xem xét, lý giải, đánh giá cuộc
Trang 39sống và con người theo những yêu cầu chuẩn mực của lập trường và đạo đức cách mạng thì sau 1975, các nhà văn đã có nhiều nỗ lực kiếm tìm, khơi sâu thêm, mở rộng tiếp tư duy nghệ thuật trên các phương diện khác nhau của tồn tại con người như không gian và thời gian, khả năng nhận thức và tự ý thức
của mỗi con người trước đời sống hiện thực Trong Thời gian của người,
Nguyễn Khải đã nghiên cứu, phân tích con người trong mối quan hệ với thời gian Cái mới của Nguyễn Khải là không phải nói đến thời gian lịch sử, thời gian vật lý có thể đo đếm một cách thông thường được mà là thời gian của một đời người, thời gian nằm trong bản thân mỗi con người, thời gian của chính mình Nguyễn Khải cũng dè dặt đề nghị một cách nhìn uyển chuyển
hơn, đa dạng hơn về con người và cuộc sống khi nói rằng: Phải đến cái tuổi
nào đó mới hiểu được rằng con người vốn đa sự và phiền nhiễu, nên cách phục vụ nó không nên và cũng không thể rút gọn trong cái đơn giản được.Vả lại, còn nên vui vì sự phong phú, phức tạp ấy Nó phong phú nên nó mở ra, nó phức tạp nên nó hứa hẹn những ảnh hưởng bất ngờ [39\253]
Như vậy, có thể thấy, văn học sau 1975 đã có những quan niệm mới mẻ
và với nhiều cách tiếp cận, thể hiện độc đáo về con người Các nhà văn đều tìm cách đi sâu vào tâm hồn của con người để thấy ở mỗi cá nhân những cung bậc cảm xúc, tình cảm với tất cả chất người của nó Cũng vì thế, văn học đã lật xới lên bao vấn đề nhức nhối, bức xúc của con người mang ý nghĩa nhân sinh thời đại Các chủ thể sáng tạo cũng không còn ở vị trí lấn át, chi phối mà bình đẳng, khách quan trước sự vận động tự thân của nhân vật Những đổi mới sâu sắc đó đã đem lại một diện mạo mới, cũng là sức hấp dẫn mới cho văn học giai đoạn này
1.4.3 Dấu hiệu vận động của thể loại tiểu thuyết
Theo từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có
khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời
gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức
Trang 40tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng [25\328] Tiểu thuyết có thể đưa người đọc đến
với những không gian rộng hẹp khác nhau, cảm nhận tính cách, số phận của các nhân vật ở nhiều thời điểm từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Tiểu thuyết- với khả năng bao quát chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian- trở thành sự lựa chọn tối ưu để các nhà văn mở rộng tầm vóc hiện thực của tác phẩm
Tiểu thuyết luôn biến đổi bởi bản chất của thể loại này rất năng động, linh hoạt Nó không chấp nhận một dạng cố định, bất biến “Tính tự phê” triệt
để khiến tiểu thuyết chưa bao giờ dừng chân trên hành trình tìm kiếm một hình thức thể loại hoàn kết Thậm chí, ngay cả khi không còn khẳng định vị trí thống ngự, tiểu thuyết vẫn hiện diện trong các thể loại khác với tư cách là một “siêu thể loại” Có thể nói, tiểu thuyết mang sức sống của một “sinh ngữ trẻ”, nó không ngừng làm mới mình trong quá trình tìm tòi, vượt qua những dạng thức đã kiến tạo trước đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển
Trong khoảng thời gian từ 1945- 1975, quá trình phát triển của tiểu thuyết được chia thành nhiều giai đoạn nhỏ, nhưng đề tài lại chủ yếu tập trung vào hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đó là kháng chiến chống thực dân Pháp
và kháng chiến chống Mỹ Chính vì thế, giai đoạn này, nền văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Trung tâm cảm hứng của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ là hướng tới nhân dân Cảm hứng ấy chi phối đến sự lựa chọn đề tài và việc xây dựng nhân vật trung tâm cho tác phẩm Những cái riêng tư cá thể bị xem là nhỏ bé, vô nghĩa, phiến diện cho nên nó bị chối từ Nhà văn dường như không có ý định xây dựng những nhân vật mang số phận cá nhân trọn vẹn mà họ tập trung vào việc khắc hoạ những chân dung tập thể Văn học cũng hiếm có những mâu thuẫn xung đột giữa các cá nhân với nhau mà chỉ thấy những mâu thuẫn xung đột giữa dân tộc, giai cấp với kẻ thù Cảm hứng hướng về những nhân vật tập thể