TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC NHO GIA & GIÁ TRỊ & HẠN CHẾ
Trang 1TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC NHO GIA
GIÁ TRỊ & HẠN CHẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH KHÓA 21 – ĐÊM 5 – NHÓM 2
Thực hiện: Lộc Hồng Chánh
THÁNG 2 / 2012
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu Trang 3
1.Lý do chọn đề tài Trang 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài Trang 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Trang 3
4 Phương pháp nghiên cứu Trang 3
Chương 1: Khái quát về triết học Nho gia Trang 5-7
Mục 1.1: Quá trình phát triển của triết học Nho gia Trang 5Mục 1.2: Các trường phái của triết học Nho Gia
& những tư tưởng của những trường phái này Trang 5 -7
Chương 2: Giá trị và hạn chế của triết học Nho Gia Trang 8 - 19
Mục 2.1: Những giá trị của triết học Nho Gia Trang 8 - 15
Mục 2.1.1: Quan điểm về giáo dục Trang 8 -10Mục 2.1.2: Quan điểm về chính trị Trang 10 -11Mục 2.1.3: Quan điểm về quản lý xã hội Trang 11 -13Mục 2.1.4: Nho giáo có ảnh hưởng tích cực đến văn hóa Trang 13 -15
Mục 2.2: Những hạn chế của triết học Nho Gia Trang 15 -19
Mục 2.2.1: Mối quan hệ tam cương ngũ thường hà khắc Trang 15 - 16Mục 2.2.2: Quá xem trọng tính Thiên mệnh, Trang 16- 17 & mang tính duy tâm tôn giáo
Mục 2.2.3: Bất bình đẳng nam nữ Trang 17 -19
Kết luận Trang 20
Trang 3Tài liệu tham khảo Trang 21
LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua hơn một ngàn năm phong kiến, Việt Nam là đất nước chịu nhiều ảnh hưởng của các tư tưởng Phật giáo, Lão giáo , trong đó chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của tư tưởng Nho giáo mà người sáng lập nên là Khổng Tử Tư tưởng triết học của ông, đặc biệt là tư tưởng chính trị - đạo đức có dấu ấn rất lớn trong nhiều mặt của đời sống từ xưa đến nay
1 Lý do chọn đề tài
Như trên đã đề cập, tư tưởng Khổng Tử có một sức ảnh hưởng rất lớn đến nền văn hóa phương Đông qua nhiều thế kỷ Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn được hiểu sâu hơn về học thuyết Nho gia Trên cơ sở đó, có thể đưa ra những giá trị và hạn chế của học thuyết và
từ đó xem xét để có thể ứng dụng cho bản thân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về vấn đề này, từ trước đến nay đã có nhiều tác phẩm, tác giả Dựa trên những tài liệu tham khảo được, tôi xin phép báo cáo một cách khái quát và ngắn gọn nhất về Nho gia
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của báo cáo là tìm ra mặt tích cực, hạn chế trong tư tưởng triết học về chính trị - đạo đức của Khổng Tử và những ảnh hưởng tích cực của tư tưởng ấy trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo được tiến hành trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, đồng thời với sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau: phương pháp lịch sử – lôgíc, phương pháp quy nạp – diễn dịch
Trang 4CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NHO GIA
1.1 Quá trình phát triển của triết học Nho gia
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một trường phái triết học lớn, bao gồm một
hệ thống triết lý sâu sắc về đạo đức, chính trị, xã hội, tôn giáo… do Đức Khổng Tử phát triển vào cuối thời Xuân Thu để xây dựng một xã hội thịnh trị
Thời đại của Khổng Tử là thời đại “Vương đạo suy vi”, “Bá đạo” đang nổi lên lấn át
“Vương đạo” của nhà Chu; trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn Đứng trên lập trường bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông chủ trương lập lại pháp chế của nhà Chu với một nội dung mới cho phù hợp
Thời nhà Chu, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu Tình hình kinh tế, xã hội cũng có nhiều biến động, kết quả là đã dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai tầng của xã hội Chiến tranh giành quyền lợi giữa các chư hầu xảy ra liên miên, xã hội nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tầng lớp dân tự do xuất hiện Lịch sử gọi là thời kì “bách gia chư tử” , “bách gia tranh minh”
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo
Khổng Tử xem hoạt động đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự
xã hội và hoàn thiện nhân cá nhân con người từ đó hướng đến xây dựng một xã hội đại đồng (là xã hội có trật tự trên – dưới, mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến dân đều biết dựa trên địa vị của mình mà làm tròn bổn phận xã hội giao cho, xã hội có vua sáng tôi hiền, cha
từ con thảo, trong ấm ngoài êm…)
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có
Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc
bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau
Trang 5đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến
thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách
Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng-Mạnh“ Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của
nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiếnTrung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng
“lễ trị” để che đậy “pháp trị”
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ
và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị
Nho giáo tiếp tục chi phối đời sống tư tưởng xã hội Trung Quốc qua các triều đại tiếp theo, nhưng nói chung, Nho Giáo trong thời Minh – Thanh không có phát triển mới nổi bật
mà ngày càng khắt khe và bảo thủ Sang thế kỷ 19, Nho giáo đã thật sự trở nên già cỗi, không còn sức sống Với tính cách là hệ tư tưởng chỉ đạo đường lối chính trị nước ở Trung Quốc trên 2000 năm, Nho giáo đã đóng góp lớn vào sự nghiệp tổ chức và quản lý xã hội, vào sự phát triển văn hoá và giáo dục, vào quá trình rèn luyện đạo đức cá nhân, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nhưng đến cuối thời đại phong kiến, do tính phục cổ, bảo thủ của nó mà Nho giáo đã tạo ra tình trạng trì trệ kéo dài của xã hội Trung Quốc, làm cho Trung Quốc không bắt kịp trào lưu văn minh thế giới
1.2 Các trường phái của triết học Nho gia và những tư tưởng của các trường phái này
Đến thời Chiến Quốc, do bất đồng về bản tính con người mà Nho gia bị chia thành 8 phái, trong đó phái của Tuân Tử và Mạnh Tử là mạnh nhất
Tuân Tử (315-213 TCN) phát triển Nho gia theo xu hướng duy vật Tuân tử là một nhân vật rất độc đáo trong các đại hiền của Trung Hoa cổ đại Độc đáo ở tính cách “hiện đại” – tư tưởng của ông có những điểm rất giống tư tưởng của con người trong xã hội hiện đại Chẳng hạn, trong khi hầu hết các tôn giáo đều khuyên con người phải chế dục thì ông
lại chống đối thuyết quả dục và khử dục Theo ông, “tình và dục là tự nhiên ai cũng có,
Trang 6không thể bớt đi hay bỏ đi mà không hại Hữu dục mà hợp đạo cũng không hại, khử dục mà trái đạo cũng vô ích” Điều này cho thấy Tuân tử là một người rất thực tế, thậm chí thực
dụng Tính cách này tạo nên cái độc đáo thứ hai – tính cách độc lập, không nô lệ vào các bậc tiền bối
Theo Tuân Tử, bản tính đầu tiên của con người là ác Chính vì vậy mà cần phải học tập tu dưỡng, cần phải có Nhân, Nghĩa, Lễ để dẫn dắt làm cho con người trở thành thiện
Ông cho rằng : “Nay cái tính của người ta sinh ra là hám lợi, thuận cái tính ấy thì dẫn đến
sự tranh đoạt mà sự nhường nhịn không có; sinh ra là có ghen ghét, thuận cái tính ấy thì dẫn đến sự làm hại lẫn nhau mà lòng trung tín không có; sinh ra là muốn thỏa mãn tai mắt, thích thân sắc, thuận cái tính của người ta thì sẽ sinh ra sự tranh giành , hợp với việc xâm phạm loạn li mà thành ra tàn bạo Cho nên phải có thầy, có phép để giáo hóa, có lễ nghĩa
để dẫn dắt sau đố mới có nhường nhịn với đạo lý mà thành ra trị Qua đó thì cái chính của người ta rõ ràng là ác, còn cái thiện của tính là người ta tạo nên”.
Tuân Tử cho rằng: theo đuổi tìm kiếm sự thỏa mãn những nhu cầu dục vọng, sinh lý
là bản tính của con người Ông nói: “đói muốn no, rét muốn ấm, mệt muốn nghỉ ngơi” Đó
là tính của con người Ông lại nói: “người ta sinh ra vốn đã có dục vọng: mắt thích đẹp, tai
thích tiếng hay” (Tuân Tử - Tính ác) Theo ông nếu ai cũng cứ theo cái bản tính ấy mà hành
động thì xã hội tất sẽ diễn ra sự tranh giành, cưỡng đoạt, và sẽ đi đến “bao loạn” Vì vậy bản tính con người là “ác” coi những nhu cầu về sinh lý như “ăn no, mặc ấm” là “cội
nguồn và biểu hiện của tính ác của con người”
Ông cho rằng, hành vi đạo đức của người ta không bắt nguồn từ bản tính của con người, mà do công phu rèn luyện mà có Phẩm chất của con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và là kết quả của sự giáo dục rèn luyện, cải hóa từ ác thành thiện Do vậy ông
đề cao lễ trị Ông cho rằng Lễ Nghĩa và đẳng cấp trong xã hội là cần thiết để duy trì trật tự
xã hội Những luận điểm này, về cơ bản là có tính duy vật Vì vậy ông coi trọng, đề cao tinh thần tự tu thân
Mạnh tử tên thật là Mạnh Kha, tự là Dư, sinh tại nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông – Trung Quốc Ông là người kế thừa phát triển tư tưởng của trường phái Nho gia theo hướng duy tâm Mạnh Tử là đại diện xuất sắc nhất của phái Nho học chính thống thời Chiến quốc
và ông được tôn là “Á thánh” (bậc thánh nhân thứ hai sau Khổng Tử) Về mặt tư tưởng triết
học, luân lý, đạo đức, những luận thuyết của Mạnh Tử xoay quanh các vấn đề tâm tính, thiên, mệnh và tính thiện
Mạnh tử phát triển tư tưởng “thiên mệnh” của Khổng Tử và đẩy thế giới quan ấy tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Ông cho rằng không có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời, mình nên tùy phận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy Từ đó, Mạnh Tử đưa ra học thuyết “Vạn vật đều có đủ ở trong ta, nên chỉ cần tự tĩnh nội tâm là biết được tất cả”, nghĩa
là không phải tìm cái gì ở thế giới khách quan mà chỉ cần tu dưỡng nội tâm là biết được tất
cả Ông đã chuyển từ quan điểm duy tâm khách quan sang quan điểm duy tâm chủ quan
Trang 7Mạnh Tử cho rằng bản chất con người vốn là thiện, tính thiện đó là do thiên phú chứ không phải là do con người lựa chọn Nếu con người biết giữ gìn thì làm cho tính thiện ngày càng mạnh thêm; nếu không biết giữ gìn sẽ làm cho nó ngày càng mai mọt đi thì con người trở nên nhỏ nhen, ti tiện không khác gì loài cầm thú.
Trong quan điểm về chính trị xã hội, Mạnh Tử có nhiều tiến bộ đặc biệt là tư tưởng của ông về dân quyền, tức đề cao vai trò của quần chúng nhân dân Ông cho rằng trong một
xã hội thì quý nhất là dân rồi mới đến vua, đến của cải xã tắc “dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi”
Quan niệm của Mạnh Tử được xem là gần nhất với Nho gia nguyên thuỷ Ông đã
đóng góp rất nhiều quan trọng cho Nho gia nguyên thuỷ Do đó, Nho gia Khổng – Mạnh còn được gọi là Nho gia nguyên thuỷ hay Nho gia tiên Tần
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ & HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA
2.1 Những giá trị của triết học Nho gia
Trang 82.1.1 Quan điểm về giáo dục
Khổng Tử chú trọng giáo dục và hướng con người về tính bản thiện
Ông cho rằng giáo dục cần thiết cho mọi đối tượng, không phân biệt các hạng người trong xã hội Học tập là phương tiện cần thiết duy nhất để mở mang sự hiểu biết, trau dồi đạo đức làm người
Đối với Nhà nước, những người làm công tác quản lý phải chăm lo sự nghiệp giáo dục, phải coi nó là một trong những điều kiện đem lại nền thịnh trị cho đất nước
Đối với mỗi cá nhân, mục đích giáo dục là đào tạo họ thành những người quân tử Tuy nhiên việc học tập đối với từng người phải dựa vào hai yếu tố: óc thông minh và ý chí học tập
Nội dung giáo dục do Khổng Tử xác định được xây dựng trên thế giới quan duy tâm, tin rằng trời là chúa tể của vũ trụ có thể sắp đặt mọi sự vật hiện tượng theo quy luật nhất định gọi là mệnh trời Trên thế giới còn có một lực lượng siêu nhân khác, đó là quỷ thần cũng chi phối hoạt động của con người và xã hội
Muốn sống phù hợp với đạo trời, với quỷ thần thì phải có: nhân, lễ, nghĩa, trung, tín,
đó mới là người quân tử
Nhân là tính bản thể của con người, các tổng quan của chữ nhân là phải yêu thương con người và làm cho người khác có lợi, tập trung ở nội dung sau:
Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người;
Cái gì mình muốn lập thì lập cho người;
Cái gì mình muốn đạt thì đạt cho người
Lễ là tích tụ của cái đẹp Trước hết lễ là chỉ cách thờ cúng thần linh để được phúc tế, sau đó được hiểu rộng ra là những phong tục tập quán được xã hội thừa nhận Lễ là hành vi,
là hình thức bộc lộ của nhân: “sửa mình theo lễ là nhân”
Lễ dùng để cấm sự loạn khi nó chưa xảy ra, còn pháp luật chỉ để trị việc xảy ra
Trí là óc xét đoán sự vật, là sự sáng suốt minh mẫn để hiểu được đạo lý Muốn có trí quá trình nhận thức phải qua các giai đoạn: quan sát sự vật hiện tượng để biết các thuộc tính của nó, trên cơ sở đó giúp ta hiểu biết một cách thấu đáo các thuộc tính bản chất, từ đó rút
ra kết luận đúng đắn, sau cùng phải làm cho mình tin tưởng vào kết luận đó
Trang 9Để trở thành người có trí phải kiên trì nhẫn nại, không tự kiêu, không dấu dốt, học ở mọi người mọi nơi mọi lúc Học phải suy nghĩ Học phải rộng nhưng suy nghĩ phải thiết thực, gần gũi với cuộc sống.
Chữ tín chủ yếu có hai nội dung: đó là sự tin tưởng của người khác đối với mình và
sự trung thực của mình đối với người khác
Chữ tín là mối quan hệ tương hỗ giữa người với người, lấy sự tin tưởng lẫn nhau làm dây liên kết con người trong xã hội Muốn giữ được chữ tín con người phải làm trước nói sau, làm nhiều nói ít, phải biết tự vấn xấu hổ khi nói quá những gì mình làm được
Khổng Tử khẳng định: "Người không có tín như xe lớn không có đòn thẳng, xe nhỏ không có đòn ngang thì lăn thế nào được"
Về phương pháp giáo dục, Khổng Tử quan niệm: Phải lấy bản thân mình làm gương sáng để cảm hoá học sinh Để thực hiện nó, trong cuộc sống hàng ngày Khổng Tử rất chú trọng từ hành xử đến việc nghiên cứu học tập của bản thân nhằm tác động đến môn đệ Khổng Tử nắm bắt rất cụ thể đặc điểm của từng học sinh, vì thế trong quá trình dạy học Khổng Tử có thể cùng một vấn đề nhưng giảng giải mỗi người mỗi khác
Mục đích của Khổng Tử khi dạy là giúp học trò vận dụng những hiểu biết để vận dụng trong cuộc sống, trở thành người quân tử, người quản lý xã hội Ông cho rằng kết quả của việc học phải được thể hiện qua hành động của họ Phương pháp này được ông thể hiện bằng cách: Thường nêu ra những câu hỏi gợi mở để giúp học sinh nắm bắt được đầu mối của vấn đề, từ đó kích thích sự ham hiểu biết đến cao độ, khi đó mới giảng dạy
Theo ông con người ít có kẻ sinh ra tự biết Ông cũng tự nhận mình là: "Học nhi tri chi" (Do học mà biết) do đó trong sách Luận ngữ ông nói: "Ta 15 tuổi chí thú ở việc học, 30 tuổi lập thân, 40 tuổi không sai " Do đó lứa tuổi để học vấn là từ 30 trở xuống cống hiến cho đời
Phương pháp học của Khổng Tử là nghe rồi nghĩ, nghĩ rồi làm
Đã coi trọng việc học như vậy nên người học phải biết phương pháp học
Theo Khổng Tử, người học phải: Nghe - Nghĩ - Làm Ông nói: "Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi" (Học mà không nghĩ thì mất hết, nghĩ mà không học thì mỏi mệt) Đã nghe, nghĩ việc đang học phải: "Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?" (học mà thực hành theo điều mình học há chẳng vui sao?)
Trang 10Người học phải: "Ôn cố nhi tri tân, khả vi sư hỹ" (Ôn cũ biết mới, đáng làm thầy vậy) Theo ông người học phải học nữa, học mãi, nhà bác học không ngừng học Học điều xưa để
áp dụng cho thời nay, đó là người khéo vận dụng tri thức Đạo lý của việc học là: không phải chỉ đọc sách chết mà phải chú trọng trong hiện thực xử thế con người
Học cả người dưới mình Đối với người học phải học tất cả các tầng lớp người trong
xã hội, ai cũng có điều hay điều dở, vậy ta hãy học điều hay của họ thậm chí phải học kể cả
kẻ dưới mình: "Học bất xỉ hạ vấn" (Không thẹn học người dưới)
Theo Khổng Tử, người lãnh đạo đất nước phải coi trọng 3 vấn đề: "Thứ - Phú- Giáo", nghĩa là phải làm cho dân đông lên Dân đã đông phải làm cho giầu, khi đã giầu phải dạy cho có giáo dục Điều này tương đồng với tinh thần Phật dạy trong kinh Dược Sư là: Khi người ta đói thì cho cơm ăn áo mặc Đã no đủ thì mới cho giáo pháp
Theo ông, học không phân biệt đẳng cấp Ông chủ trương "Hữu giáo vô loại" (việc giáo dục không phân biệt đẳng cấp) Ông chủ trương việc học còn phải đi xuống tư nhân (Học hạ tư nhân) Nghĩa là việc giáo dục phải từng bước, từ gia đình là mái trường đầu tiên của con người rồi mới phân ra các cấp học cơ sở Điều này rất phù hợp với xã hội ngày nay.Cái chủ đích của Khổng giáo là để dạy cho người ta thành người nhân nghĩa trung chính, tức là trở thành người quân tử Song có dạy mà không có học thì dẫu sự dạy hay thế nào cũng không sao thành công được Chính vì vậy Khổng Tử luôn lấy cả sự dạy và sự học
làm điều trọng yếu “Học để sau đó biết là không bao giờ đủ, dạy để sau đó biết là còn
nhiều khó khăn Biết không đủ để sau đó tự mình cố gắng Biết khó khăn để sau đó tự mình kiên cường lên Do đó nói rằng : Dạy và học là việc suốt đời” ( Lễ kí ,học kí biên) Giáo
dục của thế kỷ XXI với 4 trụ cột : Học để biết ; Học để làm; Học để làm người; Học để
cùng chung sống Phải chăng đây cũng là sự gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại ; giữa
phương Đông và phương Tây cho thấy tầm nhìn thật vĩ mô trong tư tưởng của Khổng Tử
2.1.2 Quan điểm về chính trị
Tư tưởng chính trị Khổng Tử dựa trên tư tưởng đạo đức của ông Ông cho rằng chính phủ tốt nhất là chính phủ cai trị bằng "lễ nghĩa" và đạo đức tự nhiên của con người, chứ không phải bằng vũ lực và mua chuộc
Ông đã giải thích điều đó tại một trong những đoạn quan trọng nhất ở cuốn Luận Ngữ:
"Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vây tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng." (Tứ Thư - Luận Ngữ, NXB Quân đội Nhân dân 2003) Sự "biết sỉ nhục" là sự mở rộng của trách nhiệm, nơi mà hành động trừng phạt đi