TIỂU LUẬN TRIẾT TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
Người thực hiện: Cao Thị Bình An
Số thứ tự : 01 Lớp: Đêm 5- Khóa 21 Giảng viên hướng dẫn: Bùi Văn Mưa
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU………01
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Những tư tưởng triết học Phật giáo……… 02
1.1 Thế giới quan……… 02
1.2 Nhân sinh quan………04
Chương 2: Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo……… 09
2.1 Những giá trị của tư tưởng triết học Phật giáo……… 09
2.2 Những hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo……… 11
KẾT LUẬN………13
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Phật giáo từ lâu đã được biết đến như một trong những tôn giáo có thể đem so sánh với Thiên chúa giáo và Hồi giáo về mức độ ảnh hưởng và phổ cập đối với các dân tộc khác nhau trên thế giới Triết học Phật giáo là một hệ thống tư tưởng đồ sộ với những luận điểm thâm trầm, sâu sắc, có phần không tưởng Đó là những tư tưởng đầy tính nhân văn, luôn hướng đến con người, vì con người
Tuy nhiên hiện nay vẫn tồn tại những ý kiến trái chiều đối với dòng tư tưởng triết học này, kẻ yêu, người ghét, người nghi ngờ Sở dĩ có tình trạng đánh giá khác nhau như vậy vì văn bản Phật giáo và bản chất hệ thống triết học của Phật giáo còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và khách quan như các hệ thống triết học tôn giáo khác Chỉ khi nào Phật giáo được nghiên cứu đầy đủ như một thế giới quan triết học tôn giáo, bao gồm cả những giá trị và hạn chế của nó thì khi đó Phật giáo mới có thể giành được vị trí của mình bên cạnh những hệ thống tư tưởng khác trong lịch sử tôn giáo và triết học
Vì những lẽ đó, bài tiểu luận này được thực hiện với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc làm sáng tỏ những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo, qua đó đưa ra những nhận định, kiến giải của bản thân người viết về những giá trị và hạn chế đó Đề tài hoàn thành dựa trên một số tài liệu tham khảo đáng tin cậy như “Giáo trình Triết học Mác-Lênin” (dùng trong các trường đại học, cao đẳng) của Nhà xuất bản chính trị quốc gia-Hà Nội, 2003, “Phật học tinh hoa” của tác giả Nguyễn Duy Cần, nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1997 và một số thông tin được lấy từ trang web http://www.quangduc.com
Trang 5Chương 1
Những tư tưởng triết học Phật giáo
Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn ở Ấn Độ cổ đại Phật giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, trong bối cảnh xã hội Ấn Độ chia thành bốn đẳng cấp chính: tăng lữ, quý tộc, bình dân và nô lệ Trong đó, nô lệ là những người cùng cực nhất, chịu ba tầng áp bức, bóc lột, bị đè nén xuống tận cùng đau khổ Trước thực trạng đó, con người tìm đến tôn giáo với hi vọng được giải thoát khỏi sự đau khổ dẫu chỉ là trong tâm tưởng và Phật giáo là một trong những tư tưởng triết học đã đáp ứng được đơn đặt hàng này của lịch sử Người sáng lập ra Phật giáo là Buddha (Phật) còn có nghĩa giác ngộ Tư tưởng của ông được phát triển thành một hệ thống tôn giáo - triết học lớn ở Ấn Độ, có ảnh hưởng rộng rãi, sâu sắc trong đời sống tinh thần và tâm linh của nhân loại
1.1 Thế giới quan
Thế giới quan của Phật giáo mang tính vô thần, nhị nguyên luận ngả về tính duy tâm chủ quan, có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác
1.1.1 Vô ngã, vô thường
a/ Vô ngã
Phật giáo là tôn giáo vô thần, nghĩa là không có thực thể tối thượng vĩnh
hằng “Phạm trù vô ngã bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ, vốn không
có tính thường hằng, nó chỉ là sự giả hợp do sự hội đủ nhân duyên nên thành ra có (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua cũng là do ngũ uẩn (năm yếu tố) hội tụ lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức)” [2, 36]
Trang 6Nói một cách tổng quát thì vạn vật chỉ là sự hội hợp của hai loại yếu tố là vật chất “sắc” (đất, nước, gió, lửa) và tinh thần “danh” (thụ, tưởng, hành, thức) Như vậy thì không có cái gọi là “tôi” (vô ngã) Tinh thần vô ngã trong đạo Phật là kim chỉ nam trong cuộc sống hàng ngày để giúp ta cư xử hài hòa với mọi người, biết tôn trọng người khác cho dù mình đang đứng ở vị thế nào trong tập thể loài người
b/ Vô thường
Phạm trù vô thường gắn liền với phạm trù vô ngã “Khi sắc và danh hội tụ thì vạn vật và con người xuất hiện, khi sắc và danh tan thì chúng cũng sẽ mất đi Nói cách khác vô thường nghĩa là vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt (hay: Sinh – Trụ – Hoại – Không) Sinh là nảy sinh ra, trụ là tồn tại phát triển trong một thời gian, dị là biến đổi, diệt là tiêu mất Tất cả mọi sự mọi vật trên đời đều lưu chuyển biến dịch, không có gì là thường trụ bất biến cả Sinh, trụ, dị, diệt, đó là luật vô thường.” [5, 93]
1.1.2 Duyên khởi
Trong hệ thống giáo lý của Đức Phật, duyên khởi là giáo lý cơ bản Tư tưởng triết học của Phật giáo dựa trên các nguyên tắc của nhân, quả và được biểu hiện trong nguyên lý duyên khởi “Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ) và đều là do đầy đủ nhân duyên mà sinh ra” [6]
“Nhân là nhân tố cơ bản để hình thành một hiện hữu, duyên là những điều kiện ắt có và đủ tác động làm cho nhân sinh khởi, tạo thành một vòng tròn nhân duyên, gọi là thập nhị nhân duyên (1/Vô minh, 2/Hành, 3/Thức, 4/Danh sắc, 5/Lục nhập, 6/Xúc, 7/Thụ, 8/Ái, 9/Thủ, 10/Hữu, 11/Sinh, 12/Lãotử) Cái dây nhân duyên này, khởi đầu là vô minh Vô minh là nguồn gốc của đau khổ, của sinh, lão và tử.” [5, 147]
“Hiểu rõ duyên khởi là hiểu rõ sự thật về sinh diệt của các pháp, nhận thức đúng các vấn đề liên quan như nhân quả, nghiệp báo luân hồi, có một cái nhìn trong
Trang 7sáng và tích cực trên con đường truy tìm chân lý, gợi mở một hướng sống đầy tính năng động, loại trừ tính tiêu cực thần quyền” [6]
1.1.3 Duy thức (Vạn pháp duy tâm)
“Duy thức nghĩa là chỉ có thức, các pháp đều từ thức mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức Giáo lí này chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, và vì vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Duy thức tông” [7]
1.1.4 Trung đạo (Bình đẳng quan)
Trung đạo là hệ tư tưởng rất quan trọng trong Phật giáo Chúng ta được biết đến tư tưởng này qua Phật giáo Đại thừa Qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau, vấn
đề khác nhau, yêu cầu của con người cũng khác nhau, cho nên ý nghĩa Trung đạo cũng có sự dị biệt
“Nếu như Phật giáo Nguyên thủy đề cập đến giáo lý Trung đạo là đề cập đến
sự xa lìa hai lối sống truy hoan của sự hưởng thụ dục vọng, và thực hành ép xác khổ hạnh, hay tránh hai cực đoan cho rằng thế giới là thường còn hay đoạn diệt, thì Phật giáo Đại thừa lại đề cập đến góc độ cố chấp về mặt nhận thức, quan điểm thuộc về tâm lý Vì để phá vỡ sự cố chấp của hạng người mê muội cho nên Phật nói: Bất thiện
là một cực đoan mà thiện cũng là một cực đoan, lìa hai cực đoan này là Trung đạo Đây là ý nghĩa Trung đạo của Phật giáo Đại thừa.” [8]
1.2 Nhân sinh quan
Nhân sinh quan của Phật giáo dù mang tính duy tâm chủ quan, thần bí, không tưởng nhưng lại chứa tính nhân bản, nhân đạo sâu sắc
Trang 81.2.1 Tứ diệu đế
a/ Khổ đế (Dukkha):
Khi bàn về nhân sinh quan, Phật giáo thâu tóm toàn bộ vào “Khổ” Triết học Phật giáo ra đời từ thực tại xã hội Ấn Độ là xã hội đầy rẫy bất công, áp bức nô lệ, nỗi thống khổ cùng cực của con người lúc bấy giờ là đơn đặt hàng của lịch sử buộc Phật giáo Ấn Độ phải phân tích để tìm ra cội nguồn và tìm cách diệt khổ Phật giáo lý luận về nỗi khổ bất tận của con người được thể hiện trong thuyết bát khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, sở cầu bất đắc, oán tăng hội, ngũ uẩn)
b/ Tập đế hay nhân đế (Samudaya):
Là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ “Để cắt nghĩa nỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết thập nhi nhân duyên- đó là mười hai nguyên nhân và kết quả nối theo nhau, cuối cùng dẫn đến các đau khổ của con người
”[2, 37] Trong đó nguyên nhân căn bản của đau khổ là vô minh, tức là si mê không
thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú, tưởng rằng cái tôi là quan trọng nhất Có thể nói do những cố chấp
đó mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời
Ngoài ra nguyên nhân của nỗi khổ còn được thể hiện trong thuyết tam độc (tham, sân, si) “Tham là tham lam, bao gồm công danh quyền uy và cả tiền tài vật dụng, không biết khi nào là đủ Sân là sân hận, giận hờn Si là si mê tham đắm, là phiền não, si mê đối với mọi chân lí tương đối và tuyệt đối Đây cũng là những yếu
tố dẫn đến vô minh, là cội nguồn sâu xa của bể khổ” [9]
c/ Diệt đế (Nirodha):
Là sự kết thúc hay sự chấm dứt khổ đau, phiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ Sự chấm dứt khổ đau cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc và đạt tới trạng thái Niết bàn Để làm được điều đó con người phải khắc phục được vô minh, tam độc biến mất, luân hồi chấm dứt…, tâm thanh thản, thần minh mẫn Niết bàn trong tư
Trang 9tưởng của Phật giáo Đại thừa là miền cực lạc, không có sinh tử hủy diệt, đối với phái Tiểu thừa thì đó là diệt khổ
d/ Đạo đế (Magga):
Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau, nghĩa là phải diệt vô minh và ái dục Đạo đế lý luận về con đường diệt khổ, giải thoát, thể hiện trong thuyết bát chính đạo: 1/ Chính kiến (hiểu biết đúng tứ đế); 2/ Chính tư (suy nghĩ đúng đắn); 3/ Chính ngữ (nói lời đúng đắn); 4/ Chính nghiệp (giữ ngăn dục vọng); 6/ Chính tinh tiến (rèn luyện tu tập không mệt mỏi); 7/ Chính niệm (có niềm tin bền vững vào giải thoát); 8/ Chính định (tập trung tư tưởng cao độ) “Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào tam học” (giới, định, tuệ) Giới là giữ cho được 5 giới, 10 thiện Định là thu tâm, nhiếp tâm để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại cảnh làm xao động Tuệ là trí tuệ Phật giáo coi trọng khai mở trí tuệ để thấy rõ thực tướng các pháp thì mới giải thoát sinh tử ra
khỏi ba giới” [2, 38]
1.2.2 Thuyết nhân quả
Thuyết nhân quả là tư tưởng đặc sắc của triết học Phật giáo, là một triết lý mang tính khoa học, qui luật tự nhiên của vũ trụ Khi đề cập đến nghiệp nhân và nghiệp quả, cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã viết: “Nhân quả nơi con người không phải do bên ngoài sắp đặt mà chính do tự con người chủ động Con người tự tạo ra nhân, ấy là tạo nghiệp nhân, rồi chính con người thu lấy kết quả, ấy là thọ nghiệp quả” [4, 9] Gieo nhân nào thì gặt quả ấy Đưa ra thuyết nhân quả, Phật giáo khuyên chúng sinh phải thực hành ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không
tà dâm, không nói dối, không ẩm tửu), rèn luyện tứ đẳng (từ, bi, hỉ, xả) và luôn hướng thiện
Sự hình thành từ nhân đến quả còn có nhiều yếu tố duyên xen vào Tuy nói duyên là nguyên nhân phụ, nguyên nhân xa, nhưng nó có thể chi phối, hoán đổi cái quả theo một chiều hướng khác
Trang 101.2.3 Nghiệp báo và luân hồi
Nghiệp báo nói đủ là nghiệp quả báo ứng Bởi vì nghiệp nhân chúng ta đã gây thì nghiệp quả phải đến Luân là bánh xe, hồi là trở lại Vì bánh xe quay, nên các điểm trên bánh xe sẽ phải dời đi chỗ khác, nhưng rồi sẽ có lúc phải trở về vị trí cũ,
cứ đi rồi lại trở về như vậy hoài Như vậy, luân hồi cũng có nghĩa như chu kỳ Hiện hữu của con người là một chuỗi vô tận những kiếp sống, mỗi kiếp đều khởi đầu bằng việc sinh ra và kết thúc bằng việc chết đi Sinh tử, tử sinh liên tục nối tiếp nhau như cái bánh xe cứ quay hoài quay mãi không ngừng
Thuyết luân hồi của nhà Phật lấy luật nhân quả làm nền tảng Mỗi kiếp tương
tự như một mắt xích trong một dây xích dài vô tận Kiếp này sướng hay khổ, có những tài năng hay khuynh hướng bẩm sinh nào đều có nguyên nhân từ trong kiếp trước, và chính kiếp này lại là nguyên nhân quyết định những yếu tố cấu tạo nên kiếp sau
1.2.4 Giải thoát và phương pháp để giải thoát
“Giải thoát tức là trạng thái đời sống tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự diệt hết mọi dục vọng hay dập tắt ngọn lửa dục vọng và đạt tới cảnh trí Niết bàn với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh, không vọng động, an lạc, bất sinh, bất diệt và tự do, tự tại” [10]
Phương pháp để giải thoát đó là con đường tu luyện đạo đức, giữ nghiêm giới luật và tu luyện tri thức, thiền định, thực nghiệm tâm linh để đạt tới giác ngộ theo tam học (Giới – Định – Tuệ)
1.2.5 Từ bi
Từ bi nói lên lòng thương yêu bao trùm tất cả, đó là thương yêu mình, thương yêu người, và thương yêu tất cả chúng sanh Từ bi trừ được sân hận, gian tham, phiền não Người từ bi xa lìa được ba độc (tham, sân, si) cho nên dù gặp những điều
Trang 11Từ bi không có nghĩa đơn giản là xót thương kẻ khác một cách thụ động và tiêu cực, mà ngược lại, từ bi là một sức mạnh tích cực đưa ta thẳng vào hành động Phật giáo Tây Tạng thường đưa ra hình ảnh sau đây để giải thích thế nào là lòng từ bi
và thế nào là một cái nhìn đúng đắn Nếu có một người cầm gậy đánh ta, ta không kết tội chiếc gậy đã làm cho ta phải đau đớn, ta cũng không kết tội kẻ đã cầm gậy đánh ta,…mà ta phải kết tội sự nóng giận đang chi phối, thúc đẩy và hành hạ người đang cầm gậy đánh ta Nếu ta biết mà kết tội sự nóng giận đang giày vò người cầm gậy, tức là ta đã có lòng từ bi đối với họ Chính hận thù và giận dữ đang tàn phá họ
và làm cho họ khổ đau Từ bi nghĩa là ta phải giúp họ trút bỏ sự giận dữ và hận thù trong lòng họ và quên đi những đau đớn của ta Vì lẽ đó, chúng ta nên phát huy tinh thần từ bi, cứu khổ một cách mạnh mẽ, thực tế và chân thật để cùng nhau được an vui hạnh phúc
Trang 12Chương 2
Những giá trị và hạn chế của tư tưởng
triết học Phật giáo
2.1 Những giá trị của tư tưởng triết học Phật giáo
2.1.1 Giá trị thiết thực, nhân bản
Kinh điển đạo Phật có tư tưởng giáo dục nhân bản rất cao: “Khi sự trung thực hướng về con người, mô tả, phát hiện, soi sáng tình cảm, khát vọng chính đáng của con người, giúp con người hiểu thêm về con người, về cuộc sống để mà mến yêu, trân trọng thì chính đó là nhân bản” [1, 41] Giá trị nhân bản luôn luôn phản ánh hiện thực một cách khách quan, đánh giá con người ở góc độ mà con người đang hiện hữu rất cụ thể Giáo dục nhân bản là giúp con người giao tiếp với thực tại Theo Phật giáo, quá khứ và tương lai đều phi thực, đều ảo giác, càng truy tìm quá khứ lại càng rối rắm thêm, càng suy nghĩ vọng tưởng tương lai càng đau đầu uổng công mà vẫn không có giải pháp nào đúng cả Vạn pháp duyên sinh trùng trùng, điệp điệp, không
có điểm bắt đầu cũng không có điểm kết thúc
Giá trị thiết thực của tư tưởng Phật giáo thể hiện ở chỗ những tư tưởng này không nhằm để giải quyết những câu hỏi hay những việc làm không cần thiết thay cho con người, mà là nhằm giúp chúng ta nhận ra và hiểu tường tận cội rễ của sự khổ đau cũng như con đường đoạn tận khổ đau, tiếp nhận sự thật để tự giải cứu mình ra khỏi bể khổ ấy “Hãy tự là ngọn đèn cho chính mình, không nương tựa một cái gì khác Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác” [3, 101] Sống trong thế giới đầy biến động này, khi nhiều giá trị trong cơ chế kinh tế thị
Trang 13môi trường sinh thái và tâm linh, các giá trị đạo đức truyền thống bị lung lay Lúc này con người mới ý thức hơn bao giờ hết giá trị thiết thực của tư tưởng triết học Phật giáo Hạnh phúc chỉ có ngay ở hiện tại và trong tự thân mỗi người Vấn đề cuối cùng là chúng ta cần phải tự mình suy tư, tự mình chiêm nghiệm và tự mình đi ra khỏi khổ đau Giá trị lớn lao của tư tưởng này là hướng con người đến chỗ an lạc, chỉ
có con người xác quyết một niềm tin chân chính, tin tưởng chính mình, để không bị chìm đắm trong đại dương phiền muộn của dục vọng, không bị chôn vùi trong hiện tại khổ đau
2.1.2 Giá trị giáo dục
Giá trị giáo dục của tư tưởng triết học Phật giáo trong xã hội ngày nay là một giá trị nhân bản sâu sắc Phật Giáo kêu gọi chúng sinh từ bỏ những việc làm
ác, tích cực hành thiện, khuyên con người dang rộng vòng tay ôm vũ trụ vào lòng và đừng bao giờ khép kín tâm tư lại trước những mảnh đời nhọc nhằn nơi góc tối của xã hội
Tư tưởng nổi bật của Phật giáo là tinh thần khoan dung, kêu gọi mọi người nhường cơm xẻ áo, nhìn nhau bằng ánh mắt từ hòa, từ bỏ chấp ngã, xa lìa tam độc (tham, sân, si), góp phần hình thành nên nền đạo đức xã hội, để hòa điệu với cái ta rộng lớn của toàn thể vũ trụ vô biên
Vì vậy nội dung giáo dục của triết lý Phật giáo có thể hiểu như một lời kêu gọi hòa bình Đây là tài sản quý báu nhất mà nhân loại luôn khao khát và trân trọng Giá trị giáo dục là giá trị nhân đạo nhất và khác với mọi tôn giáo khác, luôn xuất hiện và thâm nhập vào các dân tộc như sứ giả của hòa bình, đem đến an lạc cho mọi người, mọi nhà trên thế giới
2.1.3 Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại
Công cuộc đổi mới ở đất nước ta hiện đang tạo ra những biến đổi quan trọng trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…Do đó, Phật giáo Việt Nam cũng đã