TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
***
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài 01:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG GIÁ
TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
NTH: Lê Huỳnh Lan Anh STT: 04
Nhóm: 01 Lớp: CHKT - K21 – Đ.5 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
TP Hồ Chí Minh, 2012
Trang 2Mục lục
A Phần mở đầu 3
B Nội dung 4
Lịch sử ra đời và nguồn gốc của triết học Phật giáo 4
1 Những tư tưởng triết học cơ bản 6
1.1 Thế giới quan 6
1.1.1 Vô thường, vô ngã 6
1.1.2 Duyên khởi 10
1.1.3 Duy thức 11
1.1.4 Trung đạo 12
1.2 Nhân sinh quan 12
1.2.1 Tứ diệu đế 12
1.2.2 Nhân quả 13
1.2.3 Nghiệp báo và luân hồi 15
1.2.4 Giải thoát và phương pháp để giải thoát 16
2 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo 19
2.1 Những giá trị của Phật giáo 19
2.1.1 Giá trị giáo dục của Phật giáo 19
2.1.2 Giá trị khoa học của Phật giáo 19
2.1.3 Giá trị thiết thực nhân bản của Phật giáo 20
2.1.4 Phật giáo và văn hóa, con người Việt Nam 21
2.1.5 Các giá trị khác (về chính trị, chiến tranh, hòa bình VN….) 21
2.2 Những hạn chế của Phật giáo 22
2.2.1 Duy vật biện chứng nhưng còn chất phác 22
2.2.2 Phật giáo không mang nội dung chính trị 22
2.2.3 Phật giáo chú trọng phát triển tinh thần mà không chú trọng phát triển vật chất 23
C KẾT LUẬN 24
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - một trong ba tôn giáo lớn nhấttrên thế giới hiện nay và tồn tại từ rất lâu đời Hệ thống giáo lý rất đồ sộ và số lượngPhật tử đông đảo được phân bố trên nhiều nước Tại Việt Nam, đạo Phật cũng có nhiềuảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân
Lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo hiện nay được mở rộng, ngoài việc nghiên cứugiáo lý, kinh điển, lịch sử… Phật giáo ra còn đề cập đến các lĩnh vực Triết học, Tâm líhọc, Khảo cổ học, Xã hội học… Phật học đã trở thành một khoa học tương đối quantrọng trong khoa học xã hội Mặc dù Phật giáo có những giá trị sâu sắc như vậy nhưngcũng có những mặt hạn chế, không phù hợp cần hoàn thiện
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác –Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúcthượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ítnhiều ăn sâu vào tư tưởng tình cảm của một bộ phận lớn dân cư Việt Nam Vì vậy,nghiên cứu lịch sử, giáo lý và của đạo Phật để hiểu thêm về thế giới quan, nhân sinhquan trong Phật giáo, làm sáng rõ những giá trị và hạn chế là rất cần thiết
Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỉ II sau công nguyên và đãnhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần củacon người Việt Nam, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên Chúa Vậy nên có thể nóiquá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành,phát triển tư tưởng, đạo đức của con người
Do đó, nghiên cứu: “Tư tưởng triết học Phật giáo và những giá trị, hạn chế của Phật giáo” là rất cần thiết và quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của
đại bộ phận người Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước Nghiên cứu để chúng tacó thể hiểu rõ và phát huy những giá trị, khắc phục những hạn chế và những mặt khôngphù hợp của Phật giáo tại Việt Nam, đồng thời đưa đất nước tiến lên và phát triển hộinhập thế giới trong thời đại mới
Trang 4Phật giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên ở bắc Ấn
Độ và phát triển rực rỡ khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên Xã hội chia thành bốnđẳng cấp chính: tăng lữ, quý tộc, bình dân và nô lệ
Nô lệ bị ba tầng đè nén, áp bức, bóc lột , tận cùng của sự đau khổ dẫn đến sự bấtcông xã hội lên tới đỉnh điểm từ đó xuất hiện các trường phái triết học để giải quyếtđơn đặt hàng của lịch sử
Từ thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, cuộc đấu tranh giữa ba tôn giáo lớn ở Ấn Độ :Balamon, Hồi giáo và Phật giáo trở nên gay gắt, Phật giáo bắt đầu suy tàn
Tại Trung Quốc:
Từ nguồn cội Ấn Độ, Phật giáo đã theo dòng thời gian truyền đi khắp nơi Cách đâyhơn 2000 năm, Phật giáo đã có mặt tại Trung Quốc (phái Đại thừa)
Tại Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia nằm ở ngã tư của lưu lộ quốc tế thuộc Đông Nam Châu Á,
và là nơi dừng chân của các thương buôn của vùng Địa Trung Hải Các mối quan hệkinh tế, thương mại, văn hóa , tôn giáo… được thiết lập Vì vậy các tôn giáo lớn, trongđó có Phật giáo gặp nhiều thuận lợi du nhập vào nước ta
Sự du nhập của Phật giáo (phái tiểu thừa) vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiênthật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang trực tiếp từ
Ấn Độ Du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã phát triểnphù hợp với truyền thống Việt Nam Từ đó hình thành nhiều phái Phật giáo Việt Namnhư: phái Tini Daluchi, phái Thảo Đường, phái Trúc Lâm Ảnh hưởng của nó khá toàndiện và Phật giáo đã trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, góp phầnkiến lập và bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền vững mạnh, giữ vững nền độc lập dântộc
Phật giáo truyền vào nước ta là Phật đại thừa với cả ba tông phái: Thiền tông, Mật tông,Tinh độ tông
Thiền tông với các quan niệm: Phật tại tâm, Phật có ở mọi nơi, ai cũng có thể trở thànhPhật, có thể trở thành Phật ngay tức khắc đã nâng con người lên trong ách kìm kẹpnặng nề của trật tự phong kiến và Nho giáo Nhưng Thiền tông không đề cập đếnnhững nhu cầu thực tế, hàng ngày nên chỉ được thịnh hành trong một giai đoạn lịch sử
Trang 5Mật tông với thuật phù chí, bùa phép, với phương pháp hàng long phục hổ, trấn tà yểmhuyệt, tuy thô thiển về mặt cách thức nhưng hứa hẹn thoả mãn một điều gì đó trong tâm
lý con người, nên được nhiều người tin theo nhất là quần chúng người nghèo khổ.Nhưng nổi hơn cả, có sức hấp dẫn hơn cả phải tính đến Tinh độ tông
Tinh độ tông với chủ trương niệm Phật A-di-đà, với sự tôn thờ Phật Quan thế âm, vớiquan niệm sống từ bi hỉ xả, thì khi chết sẽ được về nơi tịnh thổ, được lên cõi niết bàn,được thoát khỏi cảnh trầm luân khổ ải ở kiếp sau, đã đánh đúng vào yêu cầu thoát khổthoát nạn của con người trần gian, nên đã có sức lôi cuốn đặc biệt Người ta dốc lòngtin theo Phật Quan thế âm Người ta còn tạo nên Phật Bà Quan âm nghìn mắt, nghìn tay
để chứng tổ rằng có một vị Phật có thể thấy được hết khổ ải của chúng sinh, có thể cứuvớt được hết mọi người khổ đau Chính do chủ trương cứu khổ, cứu nạn, đổi đời ngườinhư thế nên Tịnh độ tông trở thành tông phái chủ đạo của Phật giáo Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.
1.1Thế giới quan:
1.1.1 Vô thường, vô ngã (bao gồm cả Ngũ uẩn)
Thời xưa, khi giảng về Thế giới vật chất; về con người, về các quy luật Tựnhiên, quy luật vũ trụ, quy luật phát triển của con người đức Phật đã mô tả bằng nhữngcông cụ đơn giản nhất và khái quát nhất
Với Thế giới vật chất, gọi là Sắc, được cấu tạo từ bốn thành phần, đó là: Đất,Nước, Gió và Lửa (bốn đại) Với Con người có thân xác và Tâm thức Thân xác conngười, phần vật chất này cũng là Sắc Sắc này về hình thức có năm dạng thể hiện, đó là:màu sắc, thanh âm, mùi hương, vị và tiếp xúc Con người cảm nhận về Thế giới vậtchất, tương ứng qua năm giác quan, đó là mắt, tai, mũi, lưỡi và cơ thể Tư tưởng vàTâm thức cùng với năm hình thức của vật chất và năm giác quan, gọi chung là sáu căn,sáu thức
Quá trình vận hành Tâm thức con người, được Ngài mô tả bằng bốn thành phần,đó là: Thọ, Tưởng, Hành và Thức Bốn cái này cùng với Sắc gọi là Năm uẩn để mô tảtoàn bộ con người, gồm cả thân xác và Tâm thức Thọ uẩn chỉ nhóm cảm giác Tưởnguẩn chỉ nhóm tư duy Hành uẩn chỉ nhóm ý chí Thức uẩn chỉ nhóm trí giác Sắc, Tâmhoà hợp tạo nên con người, nên gọi là thân năm uẩn
Quy luật của tự nhiên, quy luật của vũ trụ, quy luật phát triển của con người, gọi
là Pháp Mô tả các quy luật này, đức Phật đưa ra giáo lý ba pháp ấn, là: vô thường, vôngã và khổ Dạy về sự khổ của cuộc đời con người, Ngài giảng về bốn diệu đế, đó là:khổ, tập, diệt và đạo
Mô tả quy luật hình thành, phát triển, lụi tàn, rồi chuyển hoá, của con người,Ngài đưa ra giáo lý mười hai Nhân duyên, Duyên khởi nghiệp quả, Tất cả, tất cả mọithứ, bao gồm: thế giới vật chất, con người (thân xác và Tâm thức) và quy luật tự nhiên,quy luật vũ trụ, quy luật phát triển của con người (gọi là Pháp), Ngài biết, và Ngài đãthiện xảo giảng cho chúng sinh, cho nhân loại theo ngôn ngữ của loài người, theo trithức của thời đại khi đó
Trong hệ thống các giáo lý của Phật giáo, Ba Pháp ấn là nguyên lý cơ bản nhất
Vô ngã là điều duy nhất chỉ có trong giáo lý của Phật giáo, đó cũng là một trong nhữngđiều tuyệt vời nhất của trí tuệ nhân loại
Thế giới quan Phật giáo là một thế giới quan có tính duy vật và vô thần, đồng thời cóchứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sâu sắc
Trang 7Tính duy vật và vô thần thể hiện rõ nét nhất ở quan niệm về tính tự thân sinhthành, biến đổi của vạn vật, không do sự chi phối quyết định của một lực lượng thầnlinh hay thượng đế tối cao nào Trái lại vạn vật đều tuân theo tính tất định và phổ biếncủa luật nhân – quả
Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo đặc biệt thể hiện rõ qua
việc luận chứng về tính chất “vô ngã” và “vô thường” của vạn vật
Cái mà Đức Phật đã dẫn giải là nếu có ngã (thực sự) thì con người phải có toànquyền kiểm soát nó; buộc nó phải vận hành theo ý của con người Nó phải thuộc sự sởhữu của con người Con người phải có quyền lực trọn vẹn với nó Con người sẽ khôngcòn bệnh tật Con người sẽ không còn Khổ Con người sẽ trường tồn Tôi phải là cáithuộc về của Tôi Vận mệnh của chính bản thân tôi phải thuộc về tôi Những cảm xúcphúc lạc phải thuộc về tôi Nhưng rõ ràng điều đó là không tưởng Bệnh tật, sự già nua
và cái chết đe dọa thân xác, đe doạ con người Con người không thể trường tồn được.Sinh, lão, bệnh, tử và Khổ là quy luật của tự nhiên đối với con người Thiên tai, mấtcân bằng về sinh thái, rồi chiến tranh đang là những sản phẩm do chính con người tạora; đang đe dọa con người Nhân loại đã không thể làm chủ được vận mệnh của mình.Mỗi con người không thể có quyền sở hữu được cái Tôi của mình
Con người không thể sở hữu được cái Ngã của mình Cái Ngã không thuộcquyền sở hữu của con người Đây là chiều thứ nhất của Ngã Đấy cũng là chiều thứnhất của Vô Ngã
- Vô ngã: không có cái bất biến, không có đại ngã, tiểu ngã
Vạn vật do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hội hợp lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác),tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức)
Vạn vật sự “hội hợp” của vật chất “sắc” ( địa, thuỷ, hoá, phong ) và tinh thần
“danh” ( thụ, tưởng, hành, thức)
Con người không làm chủ sở hữu được cái Ngã, vì cũng như mọi vật và sự vật,con người là vô thường, cái ngã là vô thường Vô thường, hay sự biến đổi là quy luậtcủa cuộc sống Không có vô thường, không có sự sống và không thể có sự phát triển.Hạt thóc giống thường tại, sẽ không bao giờ trở thành cây lúa, không bao giờ trổ bông,không cho ra những hạt gạo trắng ngần Sự vật không vô thường thì lịch sử tiến hóa củanhân loại sẽ không phát triển; nền văn minh nhân loại mãi mãi ở thời kỳ đồ đá Giáo lý
vô thường là niềm tin cho sự nỗ lực sáng tạo và phát triển của con người Vô thường làđặc tính thực của sự sống
Chư hành vô thường là tất cả các sự vật không có gì hiện hữu trong một hìnhthái cố định, tất cả các sự vật đều luôn luôn biến đổi Các sự vật không tự nhiên sinh ra,không tự nhiên mất đi (vô thuỷ, vô chung); mà luôn vận động, biến đổi từ hình thái nàysang hình thái khác Tất cả sự vật đều hình thành, phát triển, suy thoái và triệt tiêu, triệt
Trang 8tiêu để chuyển hoá sang một giai đoạn mới, một trạng thái mới Vô thường là đặc tính thực của sự vật.
Cái Tôi của con người cũng đang biến đổi, cũng vô thường Cái tôi ngày hômnay, khác với cái tôi trước đây hai chục năm trước và sẽ khác với cái tôi hai chục nămsau này Những tư tưởng, những tình cảm, những suy nghĩ, những thói quen và cả trítuệ là không bao giờ đứng yên, nó phải biến đổi, nó phải phát triển Đến cả cỏ cây cũngphát triển, cũng thay đổi Một cái cây đang xanh tươi, người ta xây một bức tường cạnhnó, nó sẽ vươn ra hướng khác để đón ánh mặt trời Làm sao mà con người không biếnđổi được Một con người không biến đổi là con người chết Nhưng sẽ có biến đổi tíchcực và có biến đổi tiêu cực Biến đổi tích cực là phát triển Biến đổi tiêu cực là phá hủy
Sự biến đổi thông thường của cái tôi, là sự chuyển biến từ cái tôi sinh lý (vật lý),qua cái tôi tâm lý và tới cái tôi tâm linh Đó là sự biến đổi tích cực hay là sự biến đổitiêu cực? Đó là biến đổi phát triển hay là biến đổi phá huỷ? Lẽ thông thường thì dườngnhư là tích cực, đó là phát triển Tư duy logic là vậy Nhưng Tôn giáo là phi logic Tôngiáo có chiều sâu riêng Theo chiều sâu này, tư duy logic khoa học nhiều khi là ngượcchiều
Cái tôi tâm linh dường như cao siêu hơn thế rất nhiều Có những bậc Đại sư, cốtcách trang nghiêm, tu tập một đời nỗ lực, cái tham cái sân cái si dường như đã thoát bỏ,
uy tín rất cao, và rồi Đại sư đó thiết lập lên một Tông phái mới Đại sư đó thiết lậpnhiều đạo tràng để phát triển Tông phái do mình lập ra Đại sư đó thu được nhiều mônđồ Đại sư đó đã hoằng dương đạo pháp! Nhưng ơ kìa Tại sao phải lập ra Tông pháimới, tại sao phải đặt tên cho Tông phái mới, tại sao phải đưa ra một số pháp mới chảkhác gì pháp cũ, với tên mới được đặt? Tại sao phải làm thế? Lòng Từ bi không phảinhư vậy Tính Không và Vô ngã không phải như vậy Đại sư đó đã làm như vậy, đểthấy rằng ta đã làm như vậy! Và Tông phái đó là Tông phái của Tôi Đó chính là cái tôitâm linh Nó cao siêu lắm Nó càng cao siêu thì nó càng mạnh mẽ, nó càng thâm trầm.Nó cao siêu như vậy, nó thâm trầm như vậy thì làm sao mà dễ buông bỏ được? ĐạoPhật trên thế giới có chín chục ngàn Tông phái, đáng nhẽ phải có chín chục ngàn vịPhật rồi Nhiều, nhiều và rất nhiều người trong số họ, không thể thành Phật phải chăng
vì cái tôi tâm linh cao siêu này
Biến đổi, phát triển, bước nhảy đó là chiều thứ hai của Ngã và Vô Ngã
Cuộc sống của con người thuộc về nhiều mối quan hệ hữu cơ trong thực tại vũ trụ,không có bất kể cái gì tách biệt Con người không thể tách biệt với tự nhiên Con ngườikhông thể tách biệt với dòng sông, cây cỏ và ánh mặt trời Con người đang sống trênTrái đất, sống từ những tài nguyên tự nhiên của Trái đất, từ hàng triệu triệu năm nay
Và rồi cũng chính Con người đang tàn phá những tài nguyên thiên nhiên này Thiên tai,động đất, sóng thần, băng tan, đang liên tiếp xảy ra, vì sự tác động phá hoại của conngười Nguyên nhân nào kết quả nấy Con người cũng không thể tách biệt với những
Trang 9người xung quanh Có mối quan hệ xây dựng, có mối quan hệ phá huỷ Cuộc sống hiệntại của con người quyết định tính chất của mối quan hệ, dẫn đến cái hậu quả sẽ nhậnđược trong thực tại và trong tương lai Đây chính là điều nhân bản nhất về Ngã và VôNgã Con người không độc lập và cũng không phụ thuộc Con người với con người, vàvới thực tại Vũ trụ có những quan hệ hữu cơ với nhau.
Vô thường: không có cái trường tồn
Sự xuất hiện của vạn vật là kết quả hội tụ tạm thời giữa sắc và danh và biến đổi theochu trình bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt (hay: Sinh – Trụ – Hoại – Không) theo quy luật nhânquả Khi nói đến Vô thường liền hiểu ngay đó là luật tuần hoàn của vũ trụ Nơi nào có
sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có Vô thường Vì vậy Vô thường là một địnhluật phổ biến, bao gồm cả vũ trụ và nhân sinh
Vì mang tính phổ biến nên Vô thường là một cuộc đại hóa, sự biến hóa cùngkhắp, bất cứ ở đâu và lúc nào Dù đức Phật có xuất hiện hay không thì ngọn lửa Vôthường vẫn cứ điềm nhiên âm ĩ thiêu đốt cả thế gian, không một phút tạm ngừng Vìthế, đứng về mặt tục đế hữu hình hữu hoại thì hẳn nhiên Vô thường là chân lý bất didịch
Thân, tâm và cảnh giới là một dòng chảy (quá, hiện, vị lai) Chánh báo và y baócủa một chúng sinh tạo thành dòng sông sinh mệnh, lực đẩy tạo thành dòng sông sinhmệnh chính là sự khát ái vào những sở thuộc như sự nghiệp tài sản, danh vọng nhằmcủng cố cái Tôi (giả ngã) trong vòng luân hồi vô tận Khi nào cái Tôi còn bén rễ, khinào ý thức chấp ngã còn bén rễ, khi nào ý thức chấp ngã còn xen vào cuộc sống thìvòng luân hồi vẫn thường xoay chuyển
Vô thường có ba:
- Nhất kỳ Vô thường - Tương tục Vô thường - Sát na sinh diệt Vô thường
Nhất kỳ là thô tướng nhất của Vô thường, chỉ cho sự kết thúc của một tiến trình,như sự chết của một người, nhưng chết không có nghĩa là mất hẳn, mà chỉ là tạm vắng
ở nơi này, để chuẩn bị biểu hiện thành sự sống ở nơi khác
Tương tục là sự sinh diệt, băng hoại thường xuyên trong lòng sự vật, là sựchuyển biến không ngừng, nên sự tương tục ấy là tể tướng của Vô thường
Sát na sinh diệt là sự vô thường ma mãnh nhất, nhỏ nhiệm nhất Sát na là thuậtngữ nhà Phật hay sử dụng, chỉ cho đơn vị ngắn nhất của thời gian Một niệm thoángqua trong tâm thức có đến 90 sát na Mỗi sát na là một tiểu niệm Sự sinh diệt nhỏnhiệm của mỗi sát na chỉ có Phật trí mới thấy được Ba phạm trù thuộc ba phân loại Vôthường ở trên không chỉ có nơi các hiện tượng vật lý, mà thâu gồm luôn trong các hiệntượng sinh lý và tâm lý nữa
Trang 10Vô thường thuộc yếu tố thời gian, là một diễn trình đi từ nhân đến quả Diễntrình đó nơi chúng sanh hữu tình thì biểu hiện thành sinh, già, bệnh, chết; nơi các phápthì có sinh, trụ, dị, diệt; nơi thế giới thì có thành, trụ, hoại, không Sự thay đổi của bốnmùa, sự di chuyển của các hành tinh, vệ tinh cũng không ra ngoài quy luật của diễntrình đó Thế giới vĩ mô, thế giới vi mô và thế giới trung bình cũng cùng một loại Hễcó thành ắt có hoại, có hợp ắt có tan Người quán thông lý Vô thường thì liền dừng, ấy
là người tỉnh, người giác Cái thực vĩnh cửu vốn vô hình vô tướng, còn cái hữu hìnhhữu tướng chỉ là giả tạm Nhưng sự sống vĩnh hằng cũng không thể tìm ngoài cái Vôthường ảo mộng
Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học một cáchbiện chứng và duy vật
1.1.2 Duyên khởi (quan trọng nhất là "Thập nhị nhân duyên")
Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới ( vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi làPháp giới, đều do nhân và duyên tạo thành Phật giáo trong quá trình giải thích sự biếnhoá vô thường của vạn vật, đã xây dựng nên thuyết “ nhân duyên”, có ba khái niệm chủyếu là Nhân, Quả và Duyên
Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” (Vô minh-> hành->thức->danh sắc-> lục xứ hay lục nhập-> xúc-> thụ-> ái-> thủ-> hữu-> sinh-> lão tử)được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, giải thích nguyên nhân củanỗi khổ là do nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân tinh thần Trong 12 nhân duyên ấythì “Vô minh” là nguyên nhân thâu tóm tất cả
Ý nghĩa tôn giáo của giáo lý Duyên khởi nhấn mạnh giáo lý về học thuyết của nghiệp, giải thích căn bản của sự đau khổ trong sự tồn tại của con người và thế giới
Với ngày giác ngộ của Đức Phật và năm mới sắp đến, suy nghĩ của chúng tađược phát khởi từ khái niệm chủ yếu của Phật giáo và sự đóng góp của Phật giáo cho tưtưởng thế giới Khái niệm chính của Phật giáo thường được gọi chung là Duyên khởihoặc Duyên sinh Hầu hết người ta cho rằng Phật giáo như một tôn giáo.Tuy nhiên,Phật giáo có một truyền thống phát triển cao của tư tưởng triết học dựa trên các nguyêntắc của nhân và quả và được biểu hiện trong nguyên lý Duyên khởi
Những mắc xích làm nhân duyên là: 1) Vô minh-ngu dốt: là sự mù lòa căn bảnđối với sự thật của tự thân và tình trạng cuộc sống Đó là một sự thiếu hiểu biết mà hômnay chúng ta gọi là “sự từ chối” 2) Hành: hành động ý chí bao gồm các sự thúc đẩy vàđộng cơ phát sinh của chúng ta từ sự ngu dốt của chúng ta trong các hình thái hận thù,tham lam, thành kiến 3) Thức: nhận thức, bao gồm cả vô thức hoặc tổng thể của sựnhận thức về các sự vật Xuyên qua nhiều sự ảnh hưởng hay những hạt giống được lưutrữ ở đây mà chúng ta phát triển các xu hướng tốt hoặc xấu 4) Danh và Sắc: Tên và hình thể là các khía cạnh tinh thần và thể chất của chúng ta Đó là, cơ thể vật lý và tínhcách hoặc tính đồng nhất 5) Lục nhập: sáu năng lực của giác quan: tâm và năm giác
Trang 11quan vật lý 6) Xúc: Sự liên hệ xuyên qua các giác quan với các đối tượng 7) Thọ:Cảm giác hoặc nhận thức và kinh nghiệm đối với mọi điều 8) Ái: là tham muốn, bắtnguồn từ cảm giác của chúng ta, vì kinh nghiệm lặp đi lặp lại chẳng hạn như chúng takhông có thể chỉ ăn một khoanh mỏng của khoai tây 9) Thủ: bám hoặc nắm bắt vàdính chặt Chúng ta không thể buông bỏ 10) Hữu:Trở thành là ước muốn sâu xa chocuộc sống, phản chiếu trong những sự phấn đấu của chúng ta bằng việc tự bảo tồn 11)Sinh: Sự sinh ra hoặc tái sinh 12) Lão tử: Tuổi già (Decay) và cái chết, quá trình bắtđầu lúc mới sinh và trở nên rõ ràng hơn như thời gian-vô thường-sự tiếp tục.
Theo tiến trình này, chúng ta bị ảnh hưởng bởi những ảo giác và sự thiếu hiểu biết cơbản và do vậy chúng ta mù lòa đối với thực tại đích thực Đó là chúng ta không thểnhìn thấy sự vật như chúng thực sự là Chúng ta biết rằng các giác quan của chúng ta cóthể bị lừa gạt như trong ảo giác quang học Kết quả là, chúng ta phát triển những cảmgiác sâu sắc của tham lam, hận thù và thành kiến, bản chất ích kỷ căn bản của chúng ta.Xuyên qua ý thức nằm dưới và các hoạt động của tâm chúng ta và các giác quan củachúng ta, chúng ta thể hiện hành động trên thế giới, tạo ra khổ đau hay tốt đẹp Chúng
ta bám vào những điều mà chúng ta nghĩ rằng có lợi ích cho cái tôi của chúng ta hoặcbảo vệ nó Do đó, chúng ta khởi tưởng một sự tham muốn sâu xa để tiếp tục cuộc sốngcủa chúng ta (trở thành) Nghiệp được tạo ra thông qua quá trình này dẫn đến sự táisinh kế tiếp và chu kỳ của sinh-lão và tử Tất cả chúng sinh trải qua tiến trình này chođến khi họ tìm đường ra khỏi bánh xe luân chuyển hoặc con sông của sinh và tử, đượcgọi là vòng luân hồi trong giáo lý Phật giáo
Giáo lý về Mười hai nhân duyên thúc đẩy sự nỗ lực tìm kiếm cho sự giác ngộ
để nhận ra sự giải phóng từ tiến trình này Việc phân chia thành ba đời sống: quá khứ,hiện tại và tương lai biểu lộ rằng sự nô lệ tinh thần của chúng ta tiếp tục tái sinh trongquan điểm của Phật giáo về luân hồi Trong sự giảng dạy truyền thống, vòng luânchuyển không kết thúc với ba chu kỳ Thay vào đó, nếu tình dục và sự thiếu hiểu biếtcủa chúng ta chi phối tính chất của chúng ta trong cuộc sống thì tiến trình đau khổ tiếptục Sự đa dạng của các truyền thống Phật giáo đã cung cấp các đạo lộ để giúp chúng tavượt qua tiến trình này và trở thành giác ngộ, đạt được niết bàn hay Phật tánh
Mối quan hệ Nhân – Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không gian và thờigian
1.1.3 Duy thức (vạn pháp duy tâm)
“Vạn Pháp Duy Tâm Tạo”:*Vạn: là mười ngàn, nhưng không chỉ có 10 ngàn,
mà ở đây phải hiểu là nhiều, rất rất nhiều *Pháp: Pháp ở đây không chỉ có nghĩa làPháp Phật, mà phải được hiểu là tất cả các Pháp Hữu Vi, Pháp Vô Vi, Pháp Thiện,Pháp Ác, Pháp Hành Nói chung là tất cả những gì do hành động, ý thức, suy nghĩ, lờinói… tạo thành đều là Pháp Pháp ở đây cũng có nghĩa là Pháp Giới *Duy: ở đâyđược hiểu là duy nhất, hay là đầu tiên *Tâm Tạo: nghĩa là từ Tâm mà tạo nên Hiểunguyên câu này sơ bộ như sau “Tất cả mọi thứ (Pháp) đều do Tâm tạo thành”
Trang 12Hãy xem qua ví dụ dưới đây để hiểu rỏ hơn ý nghĩa này Ví dụ: Chúng ta muốnxây một cái nhà, thì trước tiên trong Tâm của Ta phải hình thành nên cái Nhà trướctiên, rồi từ đó mới hình thành nên nhà có mấy phòng, nhà có mấy tầng, làm sao để cóTiền mua nhà,….Từ cái Tâm ban đầu khởi lên ý niệm muốn có cái Nhà, thì hình ảnhcái Nhà mới xuất hiện, rồi từ đó sẽ sinh ra Hành, nghĩa là Hành Động, tìm mọi cách đểlàm sao có được cái nhà như ý muốn mà cái Tâm ban đầu phát khởi, như làm nhiềuviệc hơn, kiếm tiền nhiều hơn để có được cái nhà đó…
Ví dụ trên nếu ai chưa hiểu rỏ mọi vật (Pháp) đều do Tâm tạo nên thì xin xemtiếp ví dụ dưới đây: Ngày xưa con người đâu có biết bay(trước khi phát minh ra máybay), nhưng cũng bắt đầu từ Tâm mong cầu được bay như chim nên con người mớinghiên cứu, sáng tạo ra nhiều công cụ để góp phần tạo nên chiếc máy bay như ngàynay Việc tạo nên chiếc máy bay không phải là do nhôm, thép, máy tính hợp lại mà tạo
ra, mà là do chính cái Tâm ban đầu phát khởi mà tạo ra mọi thứ để phục vụ cho việc rađời những sản phẩm, công cụ hình thành nên chiếc máy bay
1.1.4 Trung đạo (Bình đẳng quan)
Tinh tấn theo nội dung kinh điển Phật giáo là trung đạo, không thái quá, không bất cập,lìa mọi cực đoan, làm cho hành giả phấn chấn tu tập thêm lên
Sa môn học đạo giải thoát tâm điều tiết hài hòa mới có thể đạt được đạo Đối với đạo
mà bạo phát, bạo phát thì thân thể mệt, thân thể mệt thì ý phiền não, ý phiền não sẽ dẫn đến thối thất, thối thất đạo hạnh thì tội gia tăng Do đó, chỉ nên giữ trạng thái trung đạo,thanh tịnh an lạc thì đạo sẽ không thối thất
Người hành đạo giải thoát muốn thành tựu đạo quả phải thực hành trung
đạo, xa lìa hai cực đoan ép xác và thọ hưởng: “Có hai cực đoan người xuất gia
không được hành Một là say đắm dục lạc đối với các dục hạ liệt, phàm phu
không phải thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích tu tập Hai là tự hành hạ tự
thân khổ đau, không phải thánh hạnh, không hướng đến mục đích giải thoát Từ
bỏ hai cực đoan này là con đường Trung đạo.”
1.2 Nhân sinh quan:
1.2.1 Tứ diệu đế
Tứ diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Phật
Ngài đã tìm ra sự thật đen tối nhất của cõi đời là bệnh, già, chết và sự phiền nãothường trực trong lòng mỗi người, ngài gọi là Khổ (Khổ đế)
Sự thật thứ hai ngài tìm ra là nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập (Tập đế)