1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

28 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 784,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài số 10:

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA

TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ

ĐẠIGVHD : TS Bùi Văn MưaSVTH : Huỳnh Thị Quỳnh Tuyên

TP Hồ Chí Minh, tháng 5/2011

Trang 2

MỤC LỤC



Lời mở đầu 01

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI I Khái quát triết học Hy Lạp cổ đại 02

1 Điều kiện lịch sử ra đời 02

2 Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại 02

3 Những đặc điểm cơ bản 02

4 Những tư tưởng, trường phái triết học 03

II Khái quát triết học Ấn Độ cồ đại 05

1 Điều kiện lịch sử ra đời 05

2 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại 05

Trang 3

3 Những đặc điểm cơ bản 05

4 Những tư tưởng, trường phái triết học 06

Chương 2

SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

I Sự tương đồng của triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Ấn Độ cồ đại 08

II Sự khác biệt giữa triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Ấn Độ cồ đại 13

Kết luận 25

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



1 “Triết học phần I: Đại cương về lịch sữ triết học”, TS Bùi Văn Mưa,

Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh- Khoa Lý Luận Chính Trị- Tiểu ban Triếthọc, năm 2010

2 “Giáo trình triết học”, PGS TS Đoàn Quang Thọ, nhà xuất bản Chính

trị- Hành chính Hà Nội, năm 2010

3 Các website:

hoc-an-do-co-trung-dai.html

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loạichúng ta không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đóchính là triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại Có thể nói Hy Lạp cổđại và Ấn Độ cổ đại là những cái nôi của triết học thế giới, là khúc dạođầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học, làm nềntảng cho toàn bộ hệ thống triết học thế giới sau này Nét nổi bật của triếthọc Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học màsau này các học thuyết triết học khác từng bước giải quyết theo nội dungcủa thời đại mình Trong khi đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra và giảiquyết những vấn đề của tư duy triết học Việc tìm hiểu sự tương đồng vàkhác nhau của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta cókhái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết họcphương Đông, những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng, từ đó chúng ta biết cách vận dụng những tinh hoa của hainền triết học này, nâng cao khả năng tư duy, nhận thức thế giới, con người

và xã hội

2 Mục đích nghiên cứu::

Trang 6

Bài viết không chỉ nêu lên hoàn cảnh ra đời, đặc điểm, những tưtưởng cùng những trường phái của hai nền triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn

Độ cổ đại, mà mục đích chính của bài viết là làm rõ nét được những tươngđồng và khác biệt giữa hai nền triết học cổ đại này

3 Phương pháp nghiên cứu:

Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phươngpháp phân tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau

để có được kết quả chính xác nhất, tránh cách nhìn phiếm diện

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

I KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Điều kiện lịch sử ra đời

Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâudài và sâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiêntrong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo ra cơ sởcho sự phân hóa lao động và đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chântay Điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớp trí thức biết xây dựng và sử dụnghiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học và khoa học Như vậy, có thể thấyrằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu - đó là kết quả nội sinhcủa cả một dân tộc, một thời đại

2 Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại trải qua 3 giai đọan: Giai đoạn hình thành, giaiđọan cực thịnh và giai đọan suy tàn Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynhhướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã

Trang 7

để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.

3 Những đặc điểm cơ bản

- Thứ nhất: thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai

cấp chủ nô thống trị

- Thứ hai: Có sự phân chia và sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường

phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính

trị - tư tưởng

- Thứ ba: đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác.Các nhà triết học

Hy Lạp cổ là “những nhà biện chứng bẩm sinh” Họ nghiên cứu và sử dụng phépbiện chứng để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý

- Thứ tư: gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết

về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như mộthình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó

- Thứ năm: coi trọng vấn đề về con người Dù còn có nhiều bất đồng, song

nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất củatạo hóa

4 Các tư tưởng, trường phái triết học

4.1 Chủ nghĩa duy vật:

4.1.1 Trường phái Milét: Đóng góp chính quan trọng nhất của trường

phái Milét này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó nhưkhái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phúthêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa cácmặt đối lập

4.1.2 Trường phái Héraclite: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các

phán đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà

Trang 8

sau này Marx đã đề cập và đi sâu

4.1.3 Trường phái đa nguyên Empêđốc – Anaxago: Để giải thích tính

đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empêđốc và Anaxago

cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các trường phái Milet,trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giớivật chất đa dạng Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, cònhạn chế

4.1.4 Trường phái nguyên tử luận Lơxíp- Đêmôcrít: là một hệ thống

quan điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử làm cho chủ nghĩaduy vật đạt được đỉnh cao Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy tâm của XôcrátPlatông sau này

4.2 Chủ nghĩa duy tâm:

4.2.1 Trường phái Pytago: Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng

“con số” là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật Chính trường pháiPytago đã đặc nền móng ban đầu cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học

Hy Lạp

4.2.2 Trường phái Êlê: Do Xênôphan thành lập trên tinh thần duy vật,

nhưng sau đó được Pácmênít phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm

4.2.3 Trường phái duy tâm khách quan của Xôcrát – Platông: do

Xôcrát đặt nền móng và Platông, học trò của ông hoàn thiện:

+ Xôcrát: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ

sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ sởcủa đạo đức, tiêu chuẩn của đức hạnh

+ Platông: xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là

“thuyết ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều

tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội.Quan điểm chính trị - xã hội

Trang 9

của Platông đầy mâu thuẫn và bảo thủ

4.2.4 Triết học nhị nguyên của Arixtốt: Arixtốt là người tổng kết Triết

học Hy Lạp cổ đại, người đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa duy lý, gópphần thúc đẩy lý trí Hy Lạp nẩy nở, khoa học, văn minh phương Tây phát triển

Quan niệm về sinh thể, con người, linh hồn & nhận thức:

+ Sinh thể (cả con người) đều có thể xác & linh hồn

+ Con người là sinh thể có lý trí, luôn khát vọng nhận thức, bản chất conngười sinh ra là để nhận thức

+ Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nhưng khi con người mớisinh ra, linh hồn như một tấm bảng trắng

Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:

+ XH tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô trung lưulãnh đạo

+ Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng XH &bình đẳng giữa các cá nhân…

+ Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh

II KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

1 Điều kiện ra đời

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội:

Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắcnghiệt Xã hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), Đẳng cấp quý tộc, Đẳngcấp bình dân tự do, Đẳng cấp nô lệ Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: Đạo Ấn(Thờ bò) (HinDu), Đạo Hồi (không ăn thịt heo), Đạo Thiên chúa, Đạo Cơ Đốc

Trang 10

1.2.Điều kiện về khoa học và văn hóa:

- Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm vàphong phú về nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nôngnghiệp, kiến trúc…

- Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có phatrộn sự thần bí

2 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại

- Triết học thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN): thời kỳ nàytập trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gióhòa, mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật

và đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học Tuy nhiên qua các tập Vêđa

đã thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhậnmột nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trongtinh thần và các nghi lễ

- Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế

kỷ VI TCN đến thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thốngVêđa nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại xung đột lẫn nhau

3 Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại

Thứ nhất, triết học ấn độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không

mang tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thốngtriết học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thốngtriết học mới Điều đó phản ánh sự trì trệ của xã hội ấn độ cổ đại

Thứ hai, triết học ấn độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín

ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo

Thứ ba, các hệ thống triết học - tôn giáo ở ấn độ cổ đại đều quan tâm tới

vấn đề nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo

Trang 11

4 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại

4.1 Tư tưởng triết học trong Upanisát: Sự xuất hiện của Upanishad

đánh dấu bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triếthọc Tư tưởng đó được thể hiện trong các vấn đề chủ yếu sau: Brátman (đại ngã),Átman (tiểu ngã), Giải thoát và thực trạng giải thoát

4.2 Trường phái triết học chính thống: Trường phái Vêđanta Samkhya, Yôga, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika

Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệtnơi mỗi người thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơivào vòng ám muội của thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, khônggiữ được bản lai thanh tịnh của mình

Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổhạnh hay tin tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao Đối với họ, phương pháp đưađến sự giải thoát là phải chế dục theo pháp Yôga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấutriệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cábiệt mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn

4.3 Hệ thống triết học không chính thống

- Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): Trường phái này mang đượm màu sắc

tôn giáo, ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên

- Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): Triết học Lokayata

mang tính duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trongmột thời gian tương đối ngắn Nó được trình bày trong chính kinh Vêđa, trongcác sử thi và cả trong kinh sách của Phật giáo Thuyết ấy tuyên bố rằng chỉ có thểbiết là hiện hữu những gì ta tri giác được Không có thế giới bên kia: chết là hết.Niềm tin vào những cái như thế bị xem là tưởng tượng kỳ quái Không có bằngchứng hợp lý luận cho tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy

ra như một nguồn có giá trị của tri thức mới vì không thể chứng minh nó một

Trang 12

cách vô điều kiện.

- Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo

lớn của Ấn Độ cố đại Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổđại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù : vô ngã, vô thường,duyên khởi ) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu ( 4 chân lý tuyệt diệu): khổ

đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế

CHƯƠNG 2

SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI & ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

I SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA TH ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TH HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Cả hai tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử,

xã hội

Sự hình thành, phát triển của triết học nói chung và triết học Hy Lạp, Ấn

Độ nói riêng đều có tính quy luật của nó Trong đó, các tính quy luật chung là: sựhình thành, phát triển của triết học gắn liền với điều kiện kinh tế- xã hội, với cuộcđấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội, với các thành tựu khoa học tựnhiên và khoa học xã hội, với sự thâm nhập và đấu tranh giữa các trường pháitriết học với nhau

Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên nhữngthành tựu rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên, gắn bó mật thiếtvới khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằmxây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất Tuy

Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhaunhưng tất cả điều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học

Trang 13

Tại Ấn, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triếthọc độc nhất; đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triếthọc Ấn Ðộ cũng như Ấn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng được bảolưu một cách rộng rãi, trong đó một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý tưởngkhác tới cả ngàn năm.

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học với khoahọc tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hướng tớiviệc xây dựng thế giới quan tổng thể, biến triết học thành "khoa học của các khoahọc"

Bên cạnh đó, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã hội có

sự phân chia giai cấp rất khắc nghiệt, đặc biệt là sự đàn áp tàn khốc đối với tầnglớp nô lệ

Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không cóquốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô

lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp và

đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”

Trong khi Ấn độ cũng trải qua rất nhiều thời kỳ bị xâm lăng bởi nhiềuquốc gia và các dân tộc, tạo nên sự da dạng của đủ loại hình tôn giáo, từ mê tínsâu sắc, với những lý thuyết trái ngược nhau và các vị thánh, khất sĩ, ẩn sĩ, hiềngiả và người vô tín ngưỡng Theo thống kê năm 2001, người Ấn theo Ấn giáo80.5%, Hồi giáo 13.4 %, Kitô giáo 2.3%, Sikh 1.9%, các tôn giáo khác 1.8%,không xác định 0.1%

2 Tương đồng trong xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên, sự ra đời của vạn vật

Hai nền triết học đều có những trường phái chịu ảnh hưởng của thầnthánh, tôn giáo Quan điểm là linh hồn con người tồn tại và trải qua luân hồi Thếgiới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần bí

Trang 14

Ấn Độ: Upanishad đã đưa ra cách giải thích duy tâm về nguồn gốc của thếgiới, coi Brahman - "Tinh thần vũ trụ tối cao" - là thực thể duy nhất, có trướcnhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới này đều nảy sinh ra vànhập về với nó sau khi chết Atman - Linh hồn con người chỉ là sự biểu hiện, làmột bộ phận của "Tinh thần vũ trụ tối cao" Cơ thể con người chỉ là vỏ bọc củalinh hồn, là nơi trú ngụ của linh hồn, là hiện thân của "Tinh thần vũ trụ tối cao"tuyệt đối, bất tử Brahman Vì toàn bộ vũ trụ là Brahman nên về bản chất linh hồn

là đồng nhất với "Linh hồn tối cao"

Hy Lạp: Trường phái duy tâm của Pytago ủng hộ quan điểm duy tâm – tôngiáo của phương đông, coi linh hồn tồn tại bất tử, độc lập với thể xác và chịuluân hồi Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do thần thánhsáng tạo và an bài Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời, chân thực tuyệtđối Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý niệm, do thần Tạo hóa

mô phỏng từ ý niệm Hai nền triết học đều có những trường phái cho rằng thếgiới tạo thành từ vật chất, không tồn tại thần thánh

Trường phái duy vật cho rằng khởi nguyên vũ trụ hình thành bởi các yếu

tố vật chất Talet cho rằng nước là khởi nguyên của sự vật Heraclit cho rằng lửatạo ra van vật Êmpêđốc nhận định vạn vật tạo bởi đất nước, không khí, kết hợpvới lực tình yêu và hận thù

Thuyết nguyên tử luận của Lơxíp – Đêmôcrit nhận định vũ trụ được cấuthành từ nguyên tử và chân không Nguyên tử tụ lại hình thành sự vật, tan rã thì

sự vật mất Không có thần thánh sáng tạo ra sự vật

Ngày đăng: 20/11/2014, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w