TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Trang 1KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
GV : TS BÙI VĂN MƯA
TPHCM, Tháng 5/2011
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Bài viết không chỉ nêu lên hoàn cảnh ra đời, đặc điểm, những tư tưởng cùng những trường phái của hai nền triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại, mà mục đích chính của bài viết là làm rõ nét được những tương đồng và khác biệt giữa hai nền triết học cổ đại này
3 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có được kết quả chính xác nhất, tránh cách nhìn phiến diện
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 1
I.KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 1
1.Điều kiện ra đời 1
2.Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ 1
3.Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại 2
4.Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại 2
II.KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 3
1.Điều kiện lịch sử ra đời 3
2.Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại 4
3.Những đặc điểm cơ bản 4
4.Các tư tưởng, trường phái triết học 4
CHƯƠNG 2 - SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 7
I.SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI 7
1.Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội 7
2.Tương đồng trong xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên, sự ra đời của vạn vật 8
3.Tương đồng trong tồn tại nhận thức, thế giới quan duy vật và vô thần có tính biện chứng sâu sắc 9
4.Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại cho con người cuộc sống hạnh phúc 10
5.Tương đồng trong việc bảo vệ giai cấp thống trị 10
6.Tương đồng trong việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của triết học 11
7.Tương đồng trong việc xem triết học là con đường dẫn dắt đến chân lí 11
II.SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI 11
1.Khác biệt ở các nhân tố cụ thể tác động đến triết học 11
2.Khác biệt ở sự phân chia giữa các trường phái 12
3.Khác biệt ở trình tự xem xét giữa nhân sinh quan và thế giới quan 14
Trang 44.Khác biệt ở phương thức xem xét mối quan hệ con người và vũ trụ 16
5.Khác biệt ở phương thức nhận thức 17
6.Khác biệt ở khuynh hướng phát triển 18
III.NHẬN XÉT 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 5CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
I KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1 Điều kiện ra đời
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc nghiệt Xã hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), đẳng cấp quý tộc, đẳng cấp bình dân tự do, đẳng cấp nô lệ Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: đạo Ấn (thờ bò) (HinDu), đạo Hồi (không ăn thịt heo), đạo Thiên chúa, đạo Cơ Đốc
1.2 Điều kiện về khoa học và văn hóa
Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong phú về nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp, kiến trúc
Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha trộn sự thần bí
2 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ
Triết học thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN): thời kỳ này tập trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và
đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học Tuy nhiên tác phẩm Vêđa đã thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và các nghi lễ
Trang 6Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế kỷ
VI TCN đến thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thống Vêđa nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại xung đột lẫn nhau
3 Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại
Thứ nhất, triết học Ấn Độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không mang tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới Điều đó phản ánh sự trì trệ của xã hội Ấn Độ cổ đại
Thứ hai, triết học Ấn Độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo
Thứ ba, các hệ thống triết học - tôn giáo ở Ấn Độ cổ đại đều quan tâm tới vấn đề nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo
4 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại
4.1 Tư tưởng triết học trong Upanisát: Sự xuất hiện của Upanisat đánh dấu
bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học Tư tưởng đó được thể hiện trong các vấn đề chủ yếu sau: Brátman (đại ngã), Átman (tiểu ngã), Giải thoát và thực trạng giải thoát
4.2 Trường phái triết học chính thống: Trường phái Vêđanta Samkhya, Yoga, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika
Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệt nơi mỗi người thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơi vào vòng ám muội của thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, không giữ được bản lai thanh tịnh của mình
Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổ hạnh hay tin tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao Đối với họ, phương pháp đưa đến sự giải thoát là phải chế dục theo pháp Yoga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấu triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cá biệt mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn
Trang 74.3 Hệ thống triết học không chính thống
a Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): Trường phái này mang đượm màu sắc tôn
giáo, ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên
b Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): Triết học Lokayata mang
tính duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian tương đối ngắn Nó được trình bày trong chính kinh Veda, trong các sử thi và cả trong kinh sách của Phật giáo Thuyết ấy tuyên bố rằng chỉ có thể biết là hiện hữu những gì ta tri giác được Không có thế giới bên kia, chết là hết Niềm tin vào những điều như thế được xem là tưởng tượng kỳ quái Không có bằng chứng hợp lý luận cho tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy
ra như một nguồn có giá trị của tri thức mới vì không thể chứng minh nó một cách vô điều kiện
c Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo
lớn của Ấn Độ cố đại Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ đại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù: vô ngã, vô thường, duyên khởi ) và nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu (4 chân lý tuyệt diệu): khổ
đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế
II KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Điều kiện lịch sử ra đời
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo ra cơ sở cho sự phân hóa lao động và đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chân tay Điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớp trí thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học và khoa học Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu - đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại
Trang 82 Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn hình thành, giai đọan cực thịnh và giai đọan suy tàn Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã
để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại
Thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác Các nhà triết học Hy Lạp cổ là “những nhà biện chứng bẩm sinh” Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để bảo vệ quan điểm triết học của mình,
Thứ năm, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề về con người Dù còn
có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa
4 Các tư tưởng, trường phái triết học
4.1 Chủ nghĩa duy vật:
a Trường phái Milê: Đóng góp chính quan trọng nhất của trường phái
Milet này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó như khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trang 9b Trường phái Hêraclit: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các phán
đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sau này Marx đã đề cập và đi sâu Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Héraclite vào tư tưởng của nhân loại
c Trường phái đa nguyên Empêđôc – Anaxago: Để giải thích tính đa
dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empédocle và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các trường phái Milet, trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất
đa dạng Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, còn hạn chế
d Trường phái nguyên tử luận Lơxip – Đêmôcrit: là một hệ thống quan
điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử làm cho chủ nghĩa duy vật đạt được đỉnh cao Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy tâm của Xocrat Platông sau này
• Quan điểm về nhận thức- đạo đức:
+ Quy nạp là phương pháp nhận thức đúng đắn
+ Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức Sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn hoà, không hại mình, không hại người
• Quan điểm về chính trị - xã hội:
+ XH tốt nhất được cai trị bởi nhà nước dân chủ chủ nô
+ Quản lý nhà nước là một nghệ thuật mang lại hạnh phúc, vinh quang, tự do và dân chủ cho con người
4.2 Chủ nghĩa duy tâm:
a Trường phái Pytago: Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số”
là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật Chính trường phái Pytago đã đặc nền móng ban đầu cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học Hy Lạp
b Trường phái Êle: Do Xenophan thành lập trên tinh thần duy vật, nhưng
sau đó được Pacmenit phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm
c Trường phái duy tâm khách quan của Xôcrat – Platông: do Xôcrat đặt
Trang 10nền móng và Platông, học trò của ông hoàn thiện.
+ Xôcrat: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết
là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ
sở của đạo đức, tiêu chuẩn của đức hạnh
+ Platông: xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm
và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội Quan điểm chính trị
- xã hội của Platông đầy mâu thuẫn và bảo thủ Ông vừa đòi hỏi xóa bỏ tư hữu, lại vừa đòi bảo vệ chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi xây dựng nhà nước cộng hòa lý tưởng, lại vừa bảo vệ địa vị và lợi ích của chủ nô quý tộc
d Triết học nhị nguyên của Arixtốt: Arixtốt là người tổng kết Triết học Hy
Lạp cổ đại, người đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa duy lý, góp phần thúc đẩy lý trí Hy Lạp nẩy nở, khoa học, văn minh phương Tây phát triển
• Quan niệm về sinh thể, con người, linh hồn và nhận thức:
+ Sinh thể (cả con người) đều có thể xác và linh hồn+ Con người là sinh thể có lý trí, luôn khát vọng nhận thức, bản chất con người sinh ra là để nhận thức
+ Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nhưng khi con người mới sinh ra, linh hồn như một tấm bảng trắng
• Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:
+ Xã hội tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô trung lưu lãnh đạo
+ Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng
XH và bình đẳng giữa các cá nhân
+ Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh
Trang 11CHƯƠNG 2 - SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
I SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội
Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại cùng ra đời dựa trên những thành tựu rực rỡ của các lĩnh vực văn hóa và khoa học tự nhiên, gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất Tuy
Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau nhưng tất cả điều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học
• Tại Ấn Độ, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc nhất; đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triết học Ấn Ðộ cũng như Ấn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng được bảo lưu một cách rộng rãi, trong đó một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý tưởng khác tới cả ngàn năm
• Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hướng tới việc xây dựng thế giới quan tổng thể, biến triết học thành "khoa học của các khoa học"
Bên cạnh đó, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong bối cảnh xã hội có
sự phân chia giai cấp rất khắc nghiệt, đặc biệt là sự đàn áp tàn khốc đối với tầng lớp nô lệ
• Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không
có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ
Trang 12nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp
và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”
• Trong khi Ấn độ cũng trải qua rất nhiều thời kỳ bị xâm lăng bởi nhiều quốc gia và các dân tộc, tạo nên sự da dạng của đủ loại hình tôn giáo, từ
mê tín sâu sắc, với những lý thuyết trái ngược nhau và các vị thánh, khất sĩ, ẩn sĩ, hiền giả và người vô tín ngưỡng Theo thống kê năm 2001, người Ấn theo Ấn giáo 80.5%, Hồi giáo 13.4 %, Kitô giáo 2.3%, Sikh 1.9%, các tôn giáo khác 1.8%, không xác định 0.1%
2 Tương đồng trong xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên, sự ra đời của vạn vật
Hai nền triết học đều nghiên cứu về con người, đạo đức, nhân sinh quan, đặt vai trò của con người lên hàng đầu Tuy nhiên, triết học vẫn chưa tách rời được yếu tố thần linh ra khỏi ý thức của con người
Hai nền triết học đều có những trường phái chịu ảnh hưởng của thần thánh, tôn giáo Quan điểm là linh hồn con người tồn tại và trải qua luân hồi Thế giới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần bí
• Ấn Độ: Trường phái Upanisat với khái niệm đại ngã, tiểu ngã dựa
trên ý niệm thần thánh hóa căn nguyên vạn vật, xem đại ngã là linh hồn vũ trụ, sinh ra vạn vật, tiểu ngã là linh hồn con người, biểu hiện cụ thể của đại ngã, chịu luân hồi báo ứng Đến trường phái Vêđanta tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của đại ngã và tiểu ngã, khuyến khích giải thoát tiểu ngã khỏi vây hãm thể xác, quay về với đại ngã
• Hy Lạp: Trường phái duy tâm của Pytago ủng hộ quan điểm duy
tâm – tôn giáo của phương đông, coi linh hồn tồn tại bất tử, độc lập với thể xác
và chịu luân hồi Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do thần thánh sáng tạo và an bài Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời, chân thực tuyệt đối Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý niệm,