SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
GV : TS BÙI VĂN MƯA
HCM, Tháng 5/2011
Trang 2đã đặt ra và giải quyết những vấn đề của tư duy triết học Việc tìm hiểu sự tương đồng và khác nhau của triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại giúp chúng ta có khái niệm gần như hoàn chỉnh về triết học phương Tây và triết học phương Đông, những ảnh hưởng của nó đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ
đó chúng ta biết cách vận dụng những tinh hoa của hai nền triết học này, nâng cao khả năng tư duy, nhận thức thế giới, con người và xã hội
2 Mục đích nghiên cứu::
Bài viết không chỉ nêu lên hoàn cảnh ra đời, đặc điểm, những tư tưởng cùng những trường phái của hai nền triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại, mà mục đích chính của bài viết là làm rõ nét được những tương đồng và khác biệt giữa hai nền triết học cổ đại này
3 Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có được kết quả chính xác nhất, tránh cách nhìn phiến diện
Trang 3CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.1 Khái quát chung về triết học Hy Lạp cổ đại
1.1.1 Điều kiện lịch sử ra đời
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài
và sâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo ra cơ sở cho sự phân hóa lao động và đề cao lao động trí óc, coi thường lao động chân tay Điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớp trí thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học và khoa học Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu - đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại
1.1.2 Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại trải qua 3 giai đọan: Giai đoạn hình thành, giai đọan cực thịnh và giai đọan suy tàn Trong đó sự đấu tranh giữa hai khuynh hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm của giai đọan cực thịnh đã
để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản
Thứ nhất: thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai
cấp chủ nô thống trị
Thứ hai: Có sự phân chia và sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường
phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính
trị - tư tưởng
Thứ ba: đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác.Các nhà triết học Hy
Lạp cổ là “những nhà biện chứng bẩm sinh” Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý
Trang 4Thứ tư: gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về
các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó
Thứ năm: coi trọng vấn đề về con người Dù còn có nhiều bất đồng, song
nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa
1.1.4 Các tư tưởng, trường phái triết học
1.1.4.1 Chủ nghĩa duy vật:
Trường phái Milet: Đóng góp chính quan trọng nhất của trường phái Milet
này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái niệm đó như khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trường phái Héraclite: Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các phán đoán
thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sau này Marx đã đề cập và đi sâu Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Héraclite vào tư tưởng của nhân loại
Trường phái đa nguyên Empédocle – Anaxago: Để giải thích tính đa
dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empédocle và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các trường phái Milet, trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất
đa dạng Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, còn hạn chế
Trường phái nguyên tử luận Leucippe – Démocrite: là một hệ thống
quan điểm duy vật đầy đủ, nhất quán, trường phái nguyên tử làm cho chủ nghĩa duy vật đạt được đỉnh cao Nó xung đột mạnh với chủ nghĩa duy tâm của Xocrat Platong sau này
Quan điểm về nhận thức- đạo đức:
+ Quy nạp là phương pháp nhận thức đúng đắn
Trang 5+ Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức Sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn hoà, không hại mình, không hại người
Quan điểm về chính trị - xã hội:
+ XH tốt nhất được cai trị bởi nhà nước dân chủ chủ nô
+ Quản lý nhà nước là một nghệ thuật mang lại hạnh phúc, vinh quang, tự
do & dân chủ cho con người
1.1.4.2 Chủ nghĩa duy tâm:
Trường phái Pytago: Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số” là
bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật Chính trường phái Pytago đã đặc nền móng ban đầu cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học Hy Lạp
Trường phái Êle: Do Xenophan thành lập trên tinh thần duy vật, nhưng
sau đó được Pacmenit phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm
Trường phái duy tâm khách quan của Xocrat – Platong: do Xocrat đặt
nền móng và Platong, học trò của ông hoàn thiện
+ Xocrat: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ sở của đạo đức, tiêu chuẩn của đức hạnh
+ Platong: xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là
“thuyết ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều
tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội.Quan điểm chính trị - xã hội của Platong đầy mâu thuẫn và bảo thủ Ông vừa đòi hỏi xóa bỏ tư hữu, lại vừa đòi bảo vệ chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi xây dựng nhà nước cộng hòa lý tưởng, lại vừa bảo vệ địa vị và lợi ích của chủ nô quý tộc
Triết học nhị nguyên của Arixtốt: Arixtốt là người tổng kết Triết học Hy
Lạp cổ đại, người đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa duy lý, góp phần thúc đẩy lý trí Hy Lạp nẩy nở, khoa học, văn minh phương Tây phát triển
Trang 6Quan niệm về sinh thể, con người, linh hồn & nhận thức:
- Sinh thể (cả con người) đều có thể xác & linh hồn
- Con người là sinh thể có lý trí, luôn khát vọng nhận thức, bản chất con người sinh ra là để nhận thức
- Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nhưng khi con người mới sinh ra, linh hồn như một tấm bảng trắng
Quan điểm về đạo đức, chính trị - xã hội:
- XH tốt nhất phải dựa trên chế độ cộng hoà quý tộc, do chủ nô trung lưu lãnh đạo
- Công bằng trong trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng XH & bình đẳng giữa các cá nhân…
- Lý trí, lẽ phải là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của phẩm hạnh
1.2 Khái quát chung về triết học Ấn Độ cổ đại
1.2.1 Điều kiện ra đời
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông thôn, toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, sự phân chia đẳng cấp hết sức khắc nghiệt Xã hội có 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bà la môn), Đẳng cấp quý tộc, Đẳng cấp bình dân tự do, Đẳng cấp nô lệ Xã hội Ấn Độ có nhiều tôn giáo: Đạo Ấn (Thờ bò) (HinDu), Đạo Hồi (không ăn thịt heo), Đạo Thiên chúa, Đạo Cơ Đốc
Điều kiện về khoa học và văn hóa:
- Về tri thức khoa học, người Ấn Độ đã có những tri thức rất sớm và phong phú về nhiều lĩnh vực như: thiên văn, lịch pháp, toàn học, y học, nông nghiệp, kiến trúc…
- Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha trộn sự thần bí
Trang 71.2.2 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ
Triết học thời kỳ Véđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN): thời kỳ này tập trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và
đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học Tuy nhiên qua các tập Véđa đã thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và các nghi lễ
Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế kỷ
VI TCN đến thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thống Vêđa nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại sung đột lẫn nhau
1.2.3 Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại
Thứ nhất, triết học ấn độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không
mang tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới Điều đó phản ánh sự trì trệ của xã hội ấn độ cổ đại
Thứ hai, triết học ấn độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín
ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo
Thứ ba, các hệ thống triết học - tôn giáo ở ấn độ cổ đại đều quan tâm tới
vấn đề nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo
1.2.4 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại
1.2.4.1 Tư tưởng triết học trong Upanisát: Sự xuất hiện của Upanishad đánh
dấu bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học
Tư tưởng đó được thể hiện trong các vấn đề chủ yếu sau: Brátman (đại ngã), Átman (tiểu ngã), Giải thoát và thực trạng giải thoát
1.2.4.2 Hệ thống triết học chính thống
Trang 8Bao gồm trường phái Vêđanta Samkhya, Yoga, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika
- Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệt nơi mỗi người thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơi vào vòng ám muội của thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, không giữ được bản lai thanh tịnh của mình
- Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổ hạnh hay tin tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao Đối với họ, phương pháp đưa đến sự giải thoát là phải chế dục theo pháp Yoga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấu triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cá biệt mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn
1.2.4.3 Hệ thống triết học không chính thống
Bao gồm 3 trường phái là Jaina, Lokayata và Buddhsam
- Triết phái Jaina (Kỳ na giáo): Trường phái này mang đượm màu sắc tôn
giáo, ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên
- Triết phái Lokayata (hay còn gọi là Carvaka): Triết học Lokayata mang
tính duy vật chủ nghĩa và vô thần tương đối triệt để, nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian tương đối ngắn Nó được trình bày trong chính kinh Veda, trong các sử thi và cả trong kinh sách của Phật giáo Thuyết ấy tuyên bố rằng chỉ có thể biết là hiện hữu những gì ta tri giác được Không có thế giới bên kia: chết là hết Niềm tin vào những cái như thế bị xem là tưởng tượng kỳ quái Không có bằng chứng hợp lý luận cho tính khả thi của cái không thể thấy; không thể dùng sự suy ra như một nguồn có giá trị của tri thức mới vì không thể chứng minh nó một cách vô điều kiện
- Triết phái Budđhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo
lớn của Ấn Độ cố đại Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ đại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù : vô ngã, vô thường,
Trang 9duyên khởi ) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu ( 4 chân lý tuyệt diệu): khổ
đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế
CHƯƠNG 2: SO SÁNH TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
VÀ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2.1 Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Hy Lạp cổ đại
2.1.1 Đều chịu sự ảnh tác động của điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội
Triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn độ cổ đại ra đời dựa trên những nhận thức về
tự nhiên, con người, hoàn cảnh xã hội để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vựa khác nhau, nhằm xây dựng một bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thế thống nhất Tuy Ấn Độ và Hy Lạp cố đại có điền kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau nhưng điều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự phát triển của Triết học Ví dụ: do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đặc trưng sản xuất nông nghiệp
mà nhà nước Ấn Độ cổ phân chia đẳng cấp xã hội thành tầng lớp thống trị là những người sở hữu nhiều đất đai và tầng lớp bị bóc lột không có đất đai từ đó triết học Ấn Độ ra đời gắn với niềm tin tôn giáo, làm cơ sở để cai trị đất nước và một số trường phái triết học khác đại diện cho tầng lớp bị bóc lột cũng dựa trên thế giới tâm linh, thần thánh để giải thích nỗi khổ của con người và khát kháo giải phóng con người Ấn Độ cũng trải qua rất nhiều thời kỳ bị xâm lăng bởi nhiều quốc gia và các dân tộc, nên trong xã hội da dạng của đủ loại hình tôn giáo,
từ mê tín sâu sắc, với những lý thuyết trái ngược nhau và các vị thánh, khất sĩ, ẩn
sĩ, hiền giả và người vô tín ngưỡng
Do những điều kiện ưu đãi về tự nhiên Hy Lạp cổ đại phát triển rất mạnh về sản xuất nông, công, thương nghiệp, văn hóa tinh thần phong phú, người Hy Lạp cổ đại đi chinh phục khắp nơi vì thế triết học Hy lạp cổ đại phần lớn giải thích thế giới tự nhiên và để duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của chủ nô và
nô lệ trong xã hội
2.1.2 Tương đồng khi xem xét nguồn gốc thế giới tự nhiên và sự ra đời vạn vật
Trang 10- Nghiên cứu về con người, đạo đức nhân sinh quan, đặt vai trò của con người lên hàng đầu Tuy nhiên, triết học vẫn chưa tách rời được yếu tố thần linh
ra khỏi ý thức của con người Hai nền triết học đều có những trường phái chịu ảnh hưởng của thần thánh, tôn giáo, quan niệm con người có linh hồn tồn tại cùng thể xác vật chất Thế giới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần bí
+ Ấn Độ: Trường phái Upanisat với khái niệm đại ngã, tiểu ngã dựa trên ý niệm thần thánh hóa căn nguyên vạn vật, xem đại ngã là linh hồn vũ trụ, sinh ra vạn vật, tiểu ngã là linh hồn con người, biểu hiện cụ thể của đại ngã, chịu luân hồi báo ứng Đến trường phái Vêđanta tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của đại ngã
và tiểu ngã, khuyến khích giải thoát tiểu ngã khỏi vây hãm thể xác, quay về với đại ngã
+ Hy Lạp: Trường phái duy tâm của Pytago ủng hộ quan điểm duy tâm – tôn giáo của phương đông, coi linh hồn tồn tại bất tử, độc lập với thể xác và chịu luân hồi Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do thần thánh sáng tạo và an bài Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời, chân thực tuyệt đối Thế giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý niệm, do thần Tạo hóa
mô phỏng từ ý niệm Linh hồn vũ trụ là thần linh, tồn tại dưới dạng các tinh tú,
và chỉ được nhận thức bằng linh hồn vũ trụ của con người Con người bao gồm thể xác khả tử và linh hồn bất tử
- Hai nền triết học đều có những trường pháo cho rằng thế giới tạo thành từ vật chất, không tồn tại thần thánh Tại Ấn Độ, trương phái Nyaga, Vaisesika, và Lokayata thể hiện qua thuyết nguyên tử luận và sự cho rằng sự vật kết thành bởi
tứ đại bao gồm đất, nước, gió lửa Ở Hy Lạp thể hiện qua trường phái suy vật và trường phái Loxip-Đemôcrit
2.1.3 Tương đồng khi nhận thức thế giới quan duy vật và vô thần có tính biện chứng sâu sắc
Trang 11Tại Ấn Độ, nhận thức luận của Nyaga thừa nhận đối tượng nhận thức tồn tại khách quan cần phải tìm tòi thông qua bốn phương thức là cảm giác, kết luận, tương tự và bằng chứng Bên cạnh đó, phái Nyaga và Vaisesika đều xây dựng trên những phương thức logic học Đối với Hy Lạp, Đemocrit đề cao nhận thức
lý tính, xuất phát từ nhận thức cảm tính để tìm ra nhận thức lý tín và ông cũng tiến hành xây dựng những phương pháp nhận thức logic hịc như quy nạp, so sánh, giả thuyết, định nghĩa
2.1.4.Triết học Ấn Độ và Hy Lập có cả hai trường phái duy tâm và duy vật
Cả hai nền triết học đều có trường phái duy tâm và duy vật, cụ thể:
Tại Ấn Độ:
+ Duy vật: Gaimini, Gotama, Kanada,
+ Duy tâm: Upanisad
Tại Hy Lạp:
+ Duy vật: Thalet, Anaximen, Hecralit, Democrit,
+ Duy tâm: Pythago, Pacmeni, Xocrat, Platon,
2.1.5 Tương đồng trong mối quan tâm về con người và đều tìm cách đem lại cho con người cuộc sống hạnh phúc
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, tất cả đều nghiên cứu về vai trò của con người
và tự nhiên, mỗi thời kỳ có một sự quan tâm khác biệt nhưng cùng tô màu vẽ sắc cho các nền triết ấy Vì vậy, đây chính là nền tảng, tiền đề cho sự phát triển của 2 nền Triết học này trong các giai đoạn sau
- Ấn Độ: giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa cuộc sống, nguồn gốc nỗi khổ)
- Hy Lạp: tìm hiểu, lí giải quan hệ linh hồn – thể xác, đời sống đạo đức, chính trị, xã hội của con người
Trang 122.1.6 Một số điểm tương đồng khác đồng thời cũng là những điểm hạn chế của triết học Ấn Độ cổ đại và Hy Lạp cổ đại:
Hai nền triết học đều chưa rõ ràng, chưa hệ thống hóa và tạo thành cơ sở lý luận
về tính chất, vai trò của nhân thức và hoạt động thực tiễn
Cả hai nền triết học đều đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy hình thành tầng lớp tri thức, họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nền triết học và phát triển các môn khoa học đồ sộ và sâu sắc
Trong quá trình nhận thức, suy tư triết lý, các nhà triết học của hai nền triết học còn tư duy siêu hình và dựa vào các phán đoán hơn là trên cơ sở biện chứng của nghiên cứu khoa học
2.2.Sự khác biệt giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Hy Lạp cổ đại
1.Về đối tượng nghiên cứu
Lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm
điểm để nhìn xung quanh Do đó đối
tượng chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo
đức, tâm linh và do vậy xu hướng là
hướng nội, lấy trong để giải thích
ngoài
2.Triết học đan xen với tôn giáo: ……
-Tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới
dạng thuần túy mà thường đan xen với
các hình thái ý thức xã hội khác Cái nọ
lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để
tồn tại và phát triển cho nên ít có
những triết gia với những tác phẩm độc
lập
1.Về đối tượng nghiên cứu
Rất rộng bao gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật
2.Triết học gắn bó mật thiết với khoa học tư nhiên:
- Ngay từ thời kỳ đầu triết học Hy Lạp
đã là một khoa học độc lập với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau triết học
- Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng