Hiện nay có một số định nghĩa sau về hệ thống nông nghiệp: HTNN Agricultural systems trước hết là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
VŨ THỊ BÍCH LIÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT GÓP PHẦN
PHÁT TRIẾN HỆ THỐNG CÂY TRỒNG TẠI
HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM TIẾN DŨNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Vũ Thị Bích Liên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Tiến Dũng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Viện Đào tạo sau Đại học; Bộ môn
Hệ thống nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện
để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn, Sở Nông nghiệp PTNT tỉnh Phú Thọ;Cục thống
kê tỉnh Phú Thọ; Trung tâm Giống cây trồng Phú Thọ UBND huyện Tân Sơn; Phòng Kinh tế; Phòng Lao động Thương binh Xã hội; Phòng Tài nguyên Môi trường; Trạm Khuyến nông huyện đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Tôi xin chân thành cám ơn các đồng chí lãnh đạo UBND, các cán
bộ khuyến nông cơ sở và các hộ nông dân các xã Văn Luông, Thu Cúc, Xuân Đài đã nhiệt tình cộng tác giúp đỡ tôi thực hiện các nội dung nghiên cứu tại
cơ sở Cuối cùng tôi xin biết ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập nghiên cứu
Tác giả
Vũ Thị Bích Liên
Trang 42 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ
2.2 Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài 26
3.2 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 35
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn 41 4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường 41
4.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Tân Sơn 55 4.2 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Tân Sơn 56
Trang 54.2.2 Những lợi thế về thị trường tiêu thụ nông sản 63 4.3 Hiện trạng cơ cấu cây trồng huyện Tân Sơn 64 4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại các tiểu vùng 64 4.3.2 Hiện trạng cơ cấu các loại cây trồng trên các tiểu vùng sinh thái
4.3.3 Hiện trạng cơ cấu giống và thời vụ cây trồng ở các tiểu vùng sinh
4.3.4 Hiện trạng sử dụng phân bón cho cây đậu tương tại huyện Tân Sơn 77 4.3.5 Hiện trạng và hiệu quả kinh tế các công thức luân canh cây hàng
4.3.6 Đánh giá tổng quát về cơ cấu cây trồng hàng năm tại huyệnTân Sơn 84 4.4 Kết quả các thí nghiệm trên đất trồng lúa tại huyện Tân Sơn 85 4.4.1 Thí nghiệm so sánh một số giống lúa lai vụ mùa năm 2011 85 4.4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân lân đến sinh trưởng và
năng suất của 2 giống đậu tương ĐT84 và D140 trong vụ đông
4.5 Đề xuất một số biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây hàng năm tại
4.5.1 Cơ cấu luân canh trên các chân đất tại các tiểu vùng 106
4.5.3 Cơ cấu các loại cây trồng hàng năm đến 2015 109
Trang 6IRRI Viện lúa Quốc tế KHKT Khoa học kĩ thuật LĐTBXH Lao động thương binh xã hội LAI Chỉ số diện tích lá
LĐNN Lao động nông nghiệp NNBV Nông nghiệp bền vững
NSLT Năng suất lý thuyết NSTT Năng suất thực thu NSTB Năng suất trung bình PTNT Phát triển nông thôn SXNN Sản xuất nông nghiệp
TBKT Tiến bộ kĩ thuật TGST Thêi gian sinh tr−ëng
Trang 74.7 Năng suất bình quân một số cây lương thực huyện Tân Sơn và
4.8 Diện tích và năng suất một số cây công nghiệp, cây ăn quả chủ
4.9 Tình hình chăn nuôi của huyện Tân Sơn năm 2010 63 4.10 Hiện trạng sử dụng đất SXNN của các tiểu vùng huyện Tân Sơn
4.11 Cơ cấu các loại cây trồng hàng năm huyện Tân Sơn năm 2010 69 4.12a Cơ cấu giống lúa gieo trồng vụ xuân tại Tân Sơn năm 2010 71 4.12b Cơ cấu giống lúa gieo trồng vụ mùa tại Tân Sơn năm 2010 73 4.13 Cơ cấu cây rau màu huyện Tân Sơn năm 2010 75 4.14 Hiện trạng sử dụng phân bón cho đậu tương tại Tân Sơn vụ đông
4.15 Công thức luân canh cây trồng hàng năm chủ yếu huyện Tân Sơn 80 4.16 Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh cây hàng năm chủ yếu
Trang 84.17 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa
4.18 Chỉ số diện tích lá (LAI) qua các giai đoạn của 6 giống lúa thí
nghiệm vụ mùa năm 2011 tại Tân Sơn (m2 lá/m2 đất) 88 4.19 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống lúa thí
4.20 Hạch toán hiệu quả kinh tế thí nghiệm so sánh một số giống lúa
lai vụ mùa năm 2011 tại Tân Sơn (tính cho 1 ha) 92 4.21 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến thời gian mọc và tỷ lệ
4.22 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến thời gian sinh trưởng
4.23 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến chiều cao thân chính,
chiều cao đóng quả, số đốt hữu hiệu của các giống đậu tương 97 4.24 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến số lượng và hối lượng
nốt sần của các giống đậu tương thời kỳ quả mẩy 97 4.25 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến thời gian ra hoa của
4.26 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến các yếu tố cấu thành
4.27 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến năng suất của các
4.28 Kết quả phân tích đất trồng đậu tương trước và sau khi trồng 103 4.29 Ảnh hưởng của một số mức phân bón đến hiệu quả kinh tế của
4.30 Dự kiến cơ cấu diện tích các công thức luân canh tại các tiểu
vùng sinh thái huyện Tân Sơn đến năm 2015 107
Trang 94.31 Đề xuất cơ cấu một số giống cây trồng hàng năm huyện Tân Sơn
4.32 Đề xuất cơ cấu các loại cây trồng hàng năm chính tại huyện Tân
Trang 10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.1 Nhiệt độ trung bình và tổng số giờ nắng các tháng trong năm tại
4.2 Diện tích đất trồng cây hàng năm tiểu vùng 1 68 4.3 Diện tích đất trồng cây hàng năm tiểu vùng 2 68 4.4 Diện tích đất trồng cây hàng năm tiểu vùng 3 68 4.5 Cơ cấu giống lúa gieo trồng vụ xuân 2010 huyện Tân Sơn 72 4.6 Cơ cấu giống lúa gieo trồng vụ mùa 2010 huyện Tân Sơn 74 4.7 Năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ mùa năm 2011 tại Tân Sơn 91 4.8 Ảnh hưởng của một số mức bón phân đến năng suất thực thu của
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Tân Sơn là huyện miền núi mới được thiết lập, kinh tế địa phương cũng như điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn Các hoạt động kinh tế chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực (Nông - Lâm - Thuỷ sản gồm 15.544 hộ (chiếm 91,6%); Công nghiệp và dịch vụ là 297 hộ (chiếm 1,8%); Thương nghiệp và sửa chữa là 529 chiếm 3%), các ngành khác chiếm 3,5% Những năm gần đây điều kiện kinh tế của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người 4,8 triệu đồng /người /năm
Trong huyện có 4 dân tộc anh em sinh sống bao gồm: Kinh, Mường,
H′Mông và Dao Cả huyện có 17.893 hộ với trên 76582 nhân khẩu Số người trong độ tuổi lao động là 45.554 người (chiếm 59,4%), lao động trong lĩnh vực Nông - Lâm - Thuỷ sản là 44.592 người (chiếm 58,1%) Qua đây cho thấy nguồn nhân lực tại chỗ khá dồi dào đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất Nông
- Lâm nghiệp
Địa hình huyện có dạng lòng chảo và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 150 - 200m, độ dốc trung bình từ 20 - 30o Địa hình chính của khu vực là các dải núi thấp, các gò đồi bát úp xen lẫn các thung lũng nhỏ hẹp thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, có
2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa đông lạnh bởi gió mùa Đông Bắc, mùa hè có gió mùa Tây Nam khô nóng Tổng lượng mưa trung bình năm của khu vực là 1879mm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều Mùa mưa từ tháng 5 - tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô lạnh từ tháng 11 - tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình 22,3oc, nhiệt độ tối cao
Trang 1236,5oc (tháng 6, tháng 7), nhiệt độ tối thấp là 6oc (tháng 1) độ ẩm không khí bình quân 86,8%, độ ẩm thấp nhất xảy ra vào thời điểm gió Tây Nam khô nóng hoành hành Ngoài ra khu vực còn xuất hiện các hiện tượng khí hậu cực đoan như gió bão, sương muối, lốc xoáy, mưa đá,
Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện cho thấy kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nhưng hiện nay tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện chưa được phát triển, vẫn còn hiện tượng bỏ hoang đất nông nghiệp nhất là vụ đông Bên cạnh đó do trình độ dân trí còn thấp nên việc tiếp cận các thành tựu khoa học kĩ thuật còn nhiều hạn chế Hơn thế nữa hệ thống cây trồng chưa được quan tâm đúng mức, thiếu tính đa dạng về các loại giống cây trồng Các giống cây trồng hiện nay của huyện chủ yếu là các giống cây trồng địa phương năng suất thấp chất lượng không cao Các biện pháp kĩ thuật chưa được áp dụng nhiều nên hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp còn thấp
Đứng trước thực trạng trên, để nâng cao thu nhập cho người dân, nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở huyện Tân Sơn thì việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý cho vùng là hết sức quan trọng Nhận thức được điều này chúng tôi thấy cần
thiết phải nghiên cứu đề tài ″Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật góp phần
phát triển hệ thống cây trồng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ″
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
Trang 13- Đề xuất một số biện pháp để hoàn thiện hệ thống cây trồng làm tăng hiệu quả sản xuất trên đất trồng cây hàng năm của huyện Tân Sơn
- Thử nghiệm một số thử nghiệm về biện pháp kĩ thuật: So sánh một số giống lúa và liều lượng bón phân cho cây đậu tương
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống được thực hiện lần đầu tại Tân Sơn nhằm đánh giá hiện trạng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành cơ cấu của hệ thống cây trồng Phân tích những
ưu điểm, và chỉ ra những yếu tố hạn chế trong hệ thống cây trồng Từ đó xác định được hướng nghiên cứu, định hướng cho việc xây dựng các mô hình luân canh cây trồng phù hợp điều kiện sinh thái nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế,
xã hội, môi trường
Đánh giá khả năng thích ứng và tính ưu việt của các giống lúa mới, biện pháp canh tác thích hợp làm căn cứ khoa học cho việc áp dụng rộng rãi vào sản xuất
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống cây trồng ở địa phương đề ra các giải pháp phát triển hệ thống cây trồng có hiệu quả cao trên địa bàn huyện, góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở định hướng cải tiến và hoàn thiện cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện địa phương Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ để đảm bảo năng suất và hệ số an toàn, né tránh thiên tai và tạo điều kiện tăng
vụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống cây trồng trên địa bàn có điều kiện tự nhiên đa dạng như Tân Sơn là một lĩnh vực nghiên cứu rộng và tổng hợp, đòi hỏi phải
Trang 14tiến hành thường xuyên, liên tục trong từng giai đoạn cụ thể Trong khuôn khổ thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển hệ thống cây trồng hàng năm nhằm nâng cao thu nhập cho người dân huyện Tân Sơn Nghiên cứu thử nghiệm một số giống lúa lai và nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống đậu tương tại huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu hệ thống nông nghiệp
2.1.1.1 Nông nghiệp
Nông nghiệp là sự kết hợp lôgic giữa các quy luật sinh học, quy luật kinh tế, quy luật xã hội cùng vận động trong môi trường tự nhiên Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác trên bình diện một vùng nông nghiệp nhỏ hay trang trại nông hộ cũng không nằm ngoài những quy luật trên Như vậy những vấn đề đặt ra nghiên cứu phải căn cứ vào các quy luật sinh học, kinh tế và xã
hội (Đào Thế Tuấn 1989, [55]; Phạm Chí Thành và cộng sự, 1993 [43])
2.1.1.2 Hệ thống nông nghiệp (HTNN)
Khái niệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) được các nhà khoa học dùng từ lâu để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự phát triển của chúng Hiện nay có một số định nghĩa sau về hệ thống nông nghiệp:
HTNN (Agricultural systems) trước hết là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy Nhìn chung, HTNN là một hệ thống hữu hạn trong đó con người đóng vai trò là trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống nhỏ theo những quy luật nhất định nhằm mang lại một hiệu quả cao nhất cho hệ thống đó (Spedding và cộng sự, 1977, [76]; Mozoyer, 1986, dẫn theo Phạm Chí Thành và cộng sự, 1993 [43]) HTNN là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất
và các kĩ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãn các nhu cầu Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống văn hóa - xã hội qua các hoạt
Trang 16động xuất phát từ những thành quả kĩ thuật
HTNN là một phạm trù bao gồm: Hệ thống sinh học hoạt động theo các quy luật sinh học và hệ thống kinh tế hoạt động theo các quy luật kinh tế Nói một cách khác HTNN là sự thống nhất biện chứng giữa 2 hệ thống mà trước đây thường nghiên cứu riêng lẻ
HTNN là một chỉnh thể bao gồm Nông - Lâm - Ngư nghiệp, thu hoạch, bảo quản chế biến, lấy nông nghiệp làm cơ bản trên địa bàn nông thôn
HTNN bao gồm các thành tố sau đây:
- Đất đai và các nguồn lực tự nhiên
- Các hoạt động giáo dục, chính trị, văn hoá và xã hội của dân cư
- Các hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, chế biến nông, lâm thuỷ sản, các hoạt động công nghiệp và thủ công nghiệp
2.1.1.3 Hệ thống canh tác (HTCT)
Hệ thống canh tác (Farming systems) luôn nằm trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, nó luôn bị chi phối và có quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp Một nông trại với các hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề và tiêu thụ sản phẩm, được điều hành bởi nông hộ, hình thành trên một hệ thống sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được gọi là hệ thống canh tác Theo Zandastra và các cộng sự (1981), hầu hết các nông trại nhỏ của các nước đang phát triển vùng nhiệt đới là sự kết hợp các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở mức nông hộ
Theo cách tiếp cận từ dưới lên thì hệ thống canh tác là cơ sở quan trọng của hệ thống nông nghiệp Bởi vì người nông dân luôn được coi là chủ nhân của mọi quyết định trong phát triển nông trại của họ, một thành phần không thể thiếu được trong các hệ thống nông nghiệp ở mức độ cao hơn, cho nên hệ thống canh tác được định nghĩa như sau: Hệ thống canh tác là một hệ thống độc lập/ổn định của những bố trí sản xuất giữa các hoạt động sản xuất của nông hộ
Trang 17do người nông dân quản lý, trong mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội phù hợp với mục đích, nhu cầu và tiềm năng của nông dân (Nguyễn Tất Cảnh và cộng sự, 2008) [2]
Theo Cao Liêm - Trần Đức Viên (1990) [30], HTCT bao gồm nhiều hệ thống phụ: Hệ thống phụ trồng trọt, hệ thống phụ chăn nuôi, hệ thống phụ chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế… được bố trí một cách hệ thống và ổn định phù hợp với mục tiêu của từng nông trại hay tiểu vùng
Theo IRRI thì: HTCT là tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở một môi trường nhất định, bằng những phương pháp công nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến vốn thường vượt quá hình thức phổ biến của nông trại cho các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi riêng biệt Nhưng nó bao gồm những nguồn lực của nông trại được sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó (dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995) [46]
2.1.1.4 Hệ thống trồng trọt (HTTT)
Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong một trang trại,
nó bao gồm các hợp phần cần thiết để sản xuất, bao gồm các tổ hợp cây trồng trong nông trại, các hệ thống biện pháp kĩ thuật cùng mối quan hệ của chúng với môi trường Sản xuất trồng trọt là một hoạt động quan trọng nhất trong hệ thống nông nghiệp, bởi vì nó có vai trò quyết định đến các hoạt động khác của
hệ thống
HTTT là một bộ phận của HTNN, hệ thống trồng trọt bao gồm các thành tố sau đây:
- Đất trồng và nguồn năng lượng tự nhiên (nhiệt độ, ánh sáng, mưa )
- Cây trồng và giống cây trồng
- Các điều kiện sản xuất (khả năng cung cấp nước, phân bón, cung cứng giống) và hệ thống kỹ thuật (Võ Minh Kha, 2003) [23]
2.1.1.5 Hệ thống cây trồng (HTCTr)
Trang 18Nghiên cứu HTCTr là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan đến môi trường: Đất đai, khí hậu, sâu bệnh hại, vấn đề đầu tư, trình độ KHKT trong sản xuất nông nghiệp
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về HTCTr:
+ Theo Đào Thế Tuấn, (1978) [51]: HTCTr là thành phần các giống và loài được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội sẵn có
+ Theo Zandstra và ctv, (1981) [78]: HTCTr là hoạt động sản xuất cây trồng của nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để tạo ra tổ hợp các cây trồng, mối quan hệ của chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý, sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý
+ Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [46], chuyển đổi hay hoàn thiện hệ thống cây trồng là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải tiến hệ thống cây trồng cũ hoặc mới, phát triển hệ thống cây trồng mới bằng tăng vụ, tăng cây hoặc thay thế cây trồng để khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, con người và lợi thế so sánh trên vùng sinh thái Quá trình nghiên cứu thực hiện hoàn thiện hệ thống cây trồng cần chỉ rõ những yếu tố, nguyên nhân
cơ bản gây cản trở sự phát triển sản xuất, tìm ra giải pháp khắc phục thông qua đó dự báo những vấn đề tác động kèm theo khi thực hiện về môi trường
tự nhiên, kinh tế - xã hội Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, hiệu quả bền vững, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho nông dân Thực hiện nông thôn mới, giàu đẹp, văn minh, phù hợp với quá trình đô thị hóa
Từ các khái niệm trên có thể tổng quát lại: HTCTr là một thể thống
nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian, tức là mối quan hệ giữa các loại cây trồng và giống cây trồng trong từng vụ, giữa các vụ khác nhau trên cùng một mảnh đất, trong mọi hệ sinh thái
Trang 19chuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng đất, sử dụng đất có hiệu quả hơn, tận dụng lợi thế của mỗi vùng sinh thái nông nghiệp cũng như sử dụng có hiệu quả tiền vốn, lao động và kĩ thuật để nâng cao giá trị sản xuất cũng như lợi nhuận trên đơn vị diện tích canh tác để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Duy Tính, 1995) [46]
Để xây dựng hệ thống cây trồng hợp lý, trước hết phải tìm hiểu mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa cây trồng và môi trường tự nhiên của nó:
Khí hậu ↔ Đất đai
Cây Trồng
Từ đó sắp xếp cây trồng theo không gian và thời gian, cũng như các biện pháp kĩ thuật chăm sóc cho phù hợp với môi trường tự nhiên của nó Đồng thời phải tìm hiểu kĩ môi trường kinh tế, xã hội của sản xuất như: khả năng đầu tư, chi phí, thị trường tiêu thụ và giá cả để xây dựng hệ thống cây trồng phù hợp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững
Một hệ thống cây trồng được coi là hợp lý nếu đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Đạt sản lượng cao và bền vững Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hệ thống cây trồng hợp lý
- Khai thác được triệt để và có hiệu quả các điều kiện kinh tế, xã hội sẵn có để phát triển bền vững
- Khai thác triệt để và có hiệu quả các điều kiện khí hậu, đất đai trong vùng và hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do khí hậu và đất đai gây
Trang 202.1.1.6 Cơ cấu cây trồng (CCCTr)
Cơ cấu cây trồng là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống biện pháp kĩ thuật gọi là chế độ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế
độ canh tác bao gồm chế độ luân canh, làm đất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại Cơ cấu cây trồng là yếu tố chủ đạo, nằm ở vị trí trung tâm và có ảnh hưởng quyết định đến nội dung của các biện pháp khác Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác
sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (Đào Thế Tuấn, 1978) [51]
Bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái Một CCCTr hợp lý chỉ khi nó lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh thiên tai, lợi dụng các đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh, cỏ dại, đảm bảo sản lượng cao và tỷ lệ hàng hoá lớn, đảm bảo phát triển tốt chăn nuôi và các ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng hợp lý lao động, vật tư, phương tiện (Đào Thế Tuấn, 1984) [53]
Theo Đào Thế Tuấn, (1989) [55], Lý Nhạc và CTV, (1987) [32] cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quân
hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho ngành sản xuất trồng trọt phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hang hóa và có hiệu quả kinh tế cao
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dụa trên phương hướng sản xuất của vùng Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất (Đào Thế Tuấn, 1984) [53]
Trang 212.1.1.7 Nông nghiệp bền vững (NNBV)
Theo tổ chức nông lương thế giới, FAO (1989, 1994) [69, 70] Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công các nguồn lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thỏa mãn những nhu cầu của con người, trong khi duy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên Hệ thống đó phải đảm bảo duy trì và thỏa mãn liên tục những nhu cầu của con người ở hiện tại và trong tương lai Sự phát triển bền vững như vậy phải gắn với việc bảo vệ đất, nước, các nguồn gen cây trồng vật nuôi và đảm bảo lợi ích kinh tế và sự chấp nhận xã hội
Nông nghiệp bền vững là sự quản lý và sử dụng hệ sinh thái nông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh
và hoạt động của nó, để nó có thể hoàn thành các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái ở hiện tại và trong tương lai trên phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu, mà không làm tổn hại đến các hệ sinh thái khác (Eckert và Breitchuh (1994), dẫn theoVõ Minh Kha)
Theo Nguyễn Văn Mấn, Trịnh Văn Thịnh, 2002: NNBV còn gọi là nông nghiệp hiện đại Bền vững là mục tiêu, mục tiêu đó gần như tất cả các trường phái đều chấp nhận và theo đuổi Vì vậy, có một số tác giả nước ta xem NNBV
và nông nghiệp sinh thái là một (dẫn theo Võ Minh Kha, 2003) [23]
Mục đích của NNBV là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, ô nhiềm môi trường
2.1.2 Quan điểm tiếp cận phương pháp nghiên cứu
2.1.2.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Một cách khái quát, có thể hiểu hệ thống là một tổ hợp các thành phần hợp thành, có quan hệ chặt chẽ với nhau, tổ hợp lại với nhau một cách phức tạp và cấu thành một chỉnh thể có ý nghĩa nhất định (Ota; Tanaka và cộng sự, 1972) Như vậy khi nói đến hệ thống tức là nói đến thành phần của hệ thống
Trang 22và sự sắp xếp các thành phần đó trong hệ thống
Tiếp cận hệ thống (System approach): Đây là phương pháp nghiên cứu dùng để xét các vấn đề trên quan điểm hệ thống nó giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật hiện tượng
Tiếp cận theo quá trình phát triển lịch sử từ thấp đến cao, phương pháp này coi trọng phân tích động thái của sự phát triển cơ cấu cây trồng trong lịch
sử Qua đó, sẽ xác định được sự phát triển của hệ thống trong tương lai, đồng thời giúp cho việc giải quyết các trở ngại phù hợp với hướng phát triển đó (dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1989) [55]
FAO (1994) [70] đưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác và cho đây là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các HTNN và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững, việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống canh tác tiến bộ phải bắt đầu từ phân tích hệ thống canh tác truyền thống Những nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác của FAO là một nỗ lực nhằm bổ sung và hoàn thiện cho các tiếp cận đơn lẻ Xuất phát điểm của hệ thống canh tác là nhìn nhận cả nông trại như một hệ thống; Phân tích toàn bộ hạn chế và tiềm năng; Xác định các nghiên cứu thích hợp theo thứ tự ưu tiên
và những thay đổi cần thiết được thể chế vào chính sách; Thử nghiệm trên thực tế đồng ruộng, hoặc mô phỏng các hiệu ứng của nó bằng các mô hình hóa trong trường hợp chính sách thay đổi Sau đó tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả hiện tại trên quy mô toàn nông trại và đề xuất hướng cải tiến phát triển của nông trại trong thời gian tới
Zandstra H.G và cộng sự, (1981) [78] đề xuất một phương pháp nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên nông trại Các tác giả chỉ rõ: Sản lượng hàng năm trên một đơn vị diện tích đất có thể tăng lên bằng cách cải thiện năng suất cây trồng hoặc trồng tăng thêm các cây trồng khác trong năm Nghiên cứu cơ cấu cây trồng là tìm kiếm những giải pháp để tăng sản lượng bằng cả hai cách Phương pháp nghiên cứu này về sau được viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI)
Trang 23và các công trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong mạng lưới hệ thống cây trồng Châu Á (Asian Croping System Network - ACSN) sử dụng phát triển (Bùi Huy Hiền và Nguyễn Trọng Thi, 2001) [68]
Spedding, C.R.W (1975) [75], đã đưa ra 2 phương pháp cơ bản trong nghiên cứu hệ thống
- Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến hệ thống đã có sẵn, tức là dùng phương pháp phân tích hệ thống để tìm ra "điểm hẹp" hay chỗ "thắt lại" của
hệ thống, đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần tác động cải tiến, sửa chữa khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới, phương pháp này đòi hỏi phải có đầu tư, tính toán và cân nhắc kĩ lưỡng, cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn để tổ chức, sắp đặt các bộ phận trong hệ thống dự kiến đúng vị trí, trong các mối quan hệ giữa các phần tử để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất
Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mối tương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật Muốn chinh phục thiên nhiên phải tuân theo những quy luật của nó
Về mặt khoa học và thực tiễn cho thấy: Việc tác động một cách riêng lẻ từng mặt, từng bộ phận của sự vật thường dẫn đến sự phiến diện và ít hiệu quả Áp dụng lý thuyết hệ thống để tác động vào sự vật một cách toàn diện, tổng hợp mang lại hiệu quả cao và sự vật bền vững hơn Lý thuyết hệ thống là
cơ sở phương pháp luật vững chắc cho nhiều ngành khoa học phát triển Ngành khoa học nông nghiệp gần đây phát triển mạnh góp phần đảm bảo an toàn lương thực, đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho nhân loại Quá trình nghiên cứu thực hiện hoàn thiện HTCTr và xác định CCCTr cần chỉ rõ những yếu tố nguyên nhân cản trở sự phát triển sản xuất và tìm ra các giải pháp khắc phục
Trang 24Đồng thời dự báo những vấn đề tác động kèm theo khi thực hiện về môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội (dẫn theo Phạm Chí Thành và cộng sự, 1993) [43]
2.1.2.2.Quan điểm nghiên cứu xuất phát từ hộ nông dân
Quan điểm “lấy dân làm gốc”, học từ dân, dựa vào dân để cùng học tìm
ra trở ngại và giải pháp tháo gỡ Đó chính là quan điểm tiếp cận hệ thống từ dưới lên và dễ thành công trong phát triển nông thôn (FAO, 1994) [70]
Người nông dân là người hiểu hơn ai hết về nguồn tài nguyên, nhân lực cũng như những khó khăn, rủi ro thường xảy ra trên mảnh ruộng của họ Vì vậy khi nghiên cứu và phát triển nông thôn cần phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn của hộ nông dân, tìm ra những trở ngại và đề ra cách giải quyết phù hợp được nông dân chấp nhận
Theo Đào Thế Tuấn, (1997) [57] thì hộ nông dân có các đặc điểm sau: + Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn
vị tiêu dùng
+ Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ nông dân từ tự cung tự cấp hoàn thành đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn, trình độ này quyết định quan hệ của hộ nông dân với thị trường
+ Các hộ nông dân ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp còn tham gia các hoạt động phi nông dân với các mức độ khác nhau
Trong thực tế chúng ta không thể nghiên cứu ở từng hộ nông dân mà phải phân kiểu hộ nông dân Tuỳ theo mục đích nghiên cứu cụ thể mà chọn các cách phân kiểu hộ khác nhau:
+ Phân kiểu hộ theo nhân tố sản xuất (quy mô đất đai, lao động, vốn…) + Cách phân kiểu theo cơ cấu (chiến lược) sản xuất: Cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, chăn nuôi, chế biến, dịch vụ…
+ Phân kiểu theo mục tiêu sản xuất: Để tiêu dùng là chính hay làm hàng
Trang 25Thông qua phân kiểu hộ, phân tích tìm ra các giải pháp phù hợp giúp cho từng kiểu hộ phát triển sản xuất
2.1.2.3 Quan điểm phát triển nền nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, hội nhập quốc tế
Để phát huy các động lực, thúc đẩy phát triển sản xuất, chúng ta cần thực hiện đổi mới cơ chế chính sách về công tác quản lý và tổ chức sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế có cơ hội thuận lợi tham gia phát triển nông nghiệp nông thôn Khẳng định vai trò và
vị trí của kinh tế nông hộ trong thực hiện phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích tập trung hóa ruộng đất, nâng cao chuyên môn sản xuất, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá, xây dựng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước
Phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, thực hiện đa dạng hoá cây trồng, khắc phục những mặt còn hạn chế, khó khăn của điều kiện tự nhiên, lựa chọn và xây dựng phát triển sản phẩm đặc sản, hàng hoá của từng vùng, nâng cao quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ khoa học kĩ thuật tiên tiến tạo thành vùng có nông sản thực phẩm hàng hoá tập trung trọng điểm
Phát triển công nghệ thông tin, thị trường, nghiên cứu khoa học kĩ thuật, mở rộng quan hệ quốc tế, liên kết sản xuất kinh doanh, khuyến khích đầu tư, phát triển công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến, phát huy lợi thế về lực lượng lao động, xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập quốc tế, phục vụ xuất khẩu
Bên cạnh đó cần phát huy đặc điểm lợi thế của từng vùng, xây dựng một số
mô hình nông nghiệp mới đa năng với sự tham gia hỗ trợ gắn kết của các ngành kinh tế khác như: Du lịch sinh thái, thương mại, dịch vụ, vui chơi, giải trí
Khuyến khích và bảo hộ phát triển kinh tế trang trại, kinh tế HTX, định hướng và hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển, đề cao tính chuyên môn
Trang 26hoá, tính chuyên nghiệp cao, thực hiện liên kết sản xuất kinh doanh giữa các trang trại, xây dựng các hiệp hội câu lạc bộ trang trại Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp, xây dựng đa dạng mô hình HTX mới hoạt động phù hợp với nền kinh tế thị trường Mặt khác khuyến khích các công ty sản xuất kinh doanh, chế biến tiêu thụ nông sản thực phẩm ký hợp đồng kinh tế nông hộ Xây dựng và hoàn thiện mối liên kết giữa bốn nhà: Nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và nhà nông trong phát triển kinh tế nông nghiệp
2.1.3 Mối quan hệ giữa môi trường và HTCTr
Theo (Bùi Huy Đáp, 1997) [12]; (Lâm Công Định, 1989) [13]; (Đào Thế Tuấn, 1997), [57] Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất để đảm bảo hiệu quả kinh tế thì ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh tác… cần có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, miền, khu vực đó Một mặt phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng nhưng đồng thời cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý nhất để xác định phương hướng sản xuất ở vùng miền hoặc khu vực đó
Vì vậy nghiên cứu bố trí hệ thống cây trồng có cơ sở khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà quản lý xác định được phương hướng sản xuất một cách đúng đắn (Lý Nhạc, và cộng sự 1987) [32]; (Phạm Chí Thành
và cộng sự, 1992), [41]
Các yếu tố tự nhiên (đất, nước, khí hậu…) có liên hệ với nhau và tác động đồng thời đến hệ sinh vật Trong đó, tác động của con người là các điều kiện kinh tế xã hội có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố tài nguyên và các
hệ thống sử dụng chúng
Mối quan hệ giữa hệ thống xã hội và hệ sinh thái là mối quan hệ 2 chiều Trong đó, mỗi một thay đổi của hệ thống này liên tục ảnh hưởng đến cấu trúc
Trang 27Sơ đồ 2.2: Quan hệ giữa môi trường và cây trồng
Nguồn: Đào Thế Tuấn (1962) [50]
2.1.3.1 Các yếu tố tự nhiên
+ Các yếu tố khí hậu: Các yếu tố khí hậu có vai trò rất quan trọng và khó
khống chế trong quá trình sản xuất Các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa, các hiện tượng thiên tai (hạn hán, bão, lụt, úng ) Các yếu tố này luôn tác động đến cây trồng, chi phối đến sản xuất, sản lượng và hiệu quả kinh tế của HTCTr
Các tác giả: Trần Đức Hạnh và cộng sự, (1997) [16] và Lê Quang Huỳnh, (1982) [21] cho rằng: Cần nắm chắc diễn biến các yếu tố thời tiết trong năm, những quy lụât chung nhất, xác định tiềm năng, lợi thế riêng biệt của từng vùng… để xác định khả năng thích hợp của nhóm cây trồng và từng loại cây trồng riêng biệt
Trang 28Bố trí cơ cấu cây trồng và thời vụ thích hợp cho từng cây trồng để tận dụng tối đa các mặt thuận lợi của thời tiết, né tránh những điều kiện bất lợi Nếu bố trí sai sẽ gây nên những tác hại không thể lường
• Nhiệt độ không khí
Để phân vùng bố trí các vụ gieo trồng trong năm cần căn cứ vào 2 chỉ tiêu tổng số nhiệt độ và thời gian có nhiệt độ bình quân ngày dưới 200c Ở các huyện vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc có tổng nhiệt độ/năm dưới
8000oC, số ngày có nhiệt độ bình quân dưới 20oC trên 120 ngày/năm, có ưu thế phát triển các cây có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới như: Chè, cà phê, dâu tằm, các loại cây ăn quả có múi, mận, mơ, lúa mì, mạch, đậu tương, ngô,
vụ lúa mùa và các cây đặc sản, cây thuốc bắc (ĐàoThế Tuấn, 1987) [54]
Theo Đào Thế Tuấn, (1984) [53] thì việc bố trí thời vụ cần quan tâm đến thời gian xuất hiện nhiệt độ tối cao và tối thấp có khả năng gây hại cho cây (sương muối) nhất là thời kỳ ra hoa, cây trồng rất mẫn cảm với nhiệt độ không khí
• Ẩm độ và năng lượng bức xạ
Ẩm độ khí quyển đóng vai trò giữ cân bằng cho các hoạt động sinh lý, sinh hoá của cây trồng Mức độ ẩm độ ảnh hưởng đến cây trồng được đánh giá qua 2 chỉ tiêu: Chỉ số ẩm trong mùa mưa và chỉ số hạn trong mùa khô (Theo phương pháp IVANOP):
Trang 29bị ảnh hưởng và thường trong các trường hợp này do lượng mưa nhiều gây úng ngập, trời âm u ít nắng, gián tiếp ảnh hưởng đến quang hợp, sâu bệnh Vì vậy cần có các biện pháp chăm sóc giữ ẩm, tưới cho cây khi gặp khô hạn và
[38], Bùi Quang Toản (1993) [49]
+ Địa hình đất đai gắn với độ cao thấp của từng vùng, từng tiểu vùng, từng chân ruộng Do địa hình cao thấp khác nhau, HTCTr cũng khác nhau Địa hình thuần nhất, thì HTCTr cũng tương đối thuần nhất, địa hình đa dạng phức tạp thì các HTCTr cũng đa dạng
Dinh dưỡng của đất phụ thuộc vào độ phì của đất, đặc tính lý, hoá của đất Mỗi loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau vì vậy ta phải dựa vào đặc điểm này để bố trí loại cây trồng và CCCTr thích hợp Sự phù hợp của từng loại cây trồng với những loại đất đặc biệt mang đặc trưng của đơn vị đất, tiểu vùng, vùng sinh thái biểu hiện quan hệ thuận Chính vì vậy khi bố trí HTCTr cần cân nhắc tính bền vững môi trường, tránh huỷ hoại đất đai, chú ý bồi dưỡng đất và cân đối dinh dưỡng của nhóm cây trồng trong công thức luân canh nhằm sử dụng hợp lý nguồn phân bón và dinh dưỡng trong đất
2.1.3.2 Các yếu tố kỹ thuật
• Giống cây trồng: Là yếu tố định tính trong việc xác lập HTCTr, chính
từ yếu tố này kết hợp với các yếu tố liên quan tìm ra yếu tố định lượng cho
Trang 30một HTCTr cụ thể Do vậy, việc tìm ra được giống cây nào thích hợp có khả năng cho năng suất và giá trị kinh tế cao cũng chính là trực tiếp làm tăng tính hợp lý của HTCTr, tận dụng tốt nhất các điều kiện của tự nhiên kinh tế và các TBKT sẵn có
Từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp ngàn đời, ông cha ta đã tổng kết được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu truyền lại cho đời sau Về vai trò của giống đối với sản xuất nông nghiệp, ông cha ta đã xác định được: Giống là tiền đề Ông cha ta còn nói "cố công không bằng giống tốt”, điều đó càng thấy
rõ vai trò quan trọng của giống so với các biện pháp kĩ thuật khác Giống không chỉ góp phần gia tăng năng suất mà còn tạo ra nhiều thay đổi đáng kể
về chất lượng, ngoài ra giống còn là phương tiện để thâm canh tăng vụ Nhờ việc đưa các giống mới ngắn ngày vào sản xuất, nhiều vùng trước đây trồng một vụ hay hai vụ nay đã trồng ba vụ thậm chí có nơi 4 vụ Sự gia tăng mùa
vụ gieo trồng cũng đồng thời với việc gia tăng sản lượng trên đơn vị diện tích, tăng việc làm cho nhà nông và gia tăng thu nhập
Hiện nay các TBKT về chọn tạo giống cây trồng và nhập nội giống mới mang nhiều đặc tính quý cả về năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng rộng
đã thực sự làm thay đổi một số HTCTr truyền thống Việc tạo ra một loạt các giống lúa mỳ, lúa nước thấp cây, cao sản trong những thập kỷ 60 - 80 của thế
kỷ XX đã làm nên cuộc "cách mạng xanh" trên thế giới, mà thực chất là việc xác lập cơ cấu giống cây trồng mới
Xu thế thâm canh, tăng vụ đòi hỏi có những giống cây trồng vừa có khả năng chịu được thâm canh để cho năng suất cao, vừa có thời gian sinh trưởng ngắn để đáp ứng cho các cơ cấu gieo trồng đã được xác lập Trên những vùng sinh thái có điều kiện địa hình và đất đai khó khăn đòi hỏi các giống cây trồng phải có được các đặc điểm thích ứng và chống chịu với các điều kiện đặc thù
đó Cùng với sự phát triển của kỹ thuật chọn tạo giống mới, giống cây trồng
Trang 31thể sẽ luôn thay đổi bằng việc bổ sung các giống ưu việt hơn để tạo nên thế cân bằng mới, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường cao hơn hệ thống trước nó
Các giống cây trồng mới trước khi đưa ra sản xuất đại trà phải qua các bước khảo nghiệm cơ bản theo từng thời vụ gieo trồng để kiểm tra, đánh giá về: năng suất, tính chống chịu với sâu bệnh và khu vực hoá để xác định tính thích hợp trong các điều kiện sinh thái khác nhau trước khi được công nhận
sử dụng trong các công thức luân canh cụ thể (Trần Đình Long, 1997) [29]
• Thời vụ: Thời vụ là yếu tố vừa có tính chất định tính, vừa có tính chất
định lượng để xác lập HTCTr Yếu tố thời vụ luôn gắn liền với đặc điểm của giống và điều kiện thời tiết, khí hậu, nhằm bố trí mỗi loại cây trồng sinh trưởng, phát triển trong những điều kiện tối ưu, trong mối liên hệ với các cây trồng trước và sau để đạt năng suất, hiệu quả và độ an toàn cao nhất Cùng với tiến bộ về giống cây trồng, thời vụ gieo trồng cũng phải chuyển đổi cho phù hợp (Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền (1987) [32]; Bùi Huy Đáp (1972) [6]; Phạm Chí Thành (1993) [43] và Võ Tòng Xuân (1993) [65]
• Kỹ thuật canh tác: Kỹ thuật làm đất, bón phân, điều tiết nước, chăm
sóc, quản lý dịch hại có vai trò rất quan trọng, thậm chí quyết định tới năng suất cây trồng và hiệu quả sản xuất (Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền (1987) [32]; Võ Tòng Xuân, 1993, [65])
2.1.3.3 Các yếu tố kinh tế - xã hội
Các yếu tố kinh tế - xã hội chủ yếu ảnh hưởng đến xây dựng HTCTr hợp lý là cơ sở vật chất kĩ thuật, nguồn lao động, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế, tập quán và kinh nghiệm truyền thống (theo Phạm Chí Thành và
cộng sự (1993) [43], Đào Thế Tuấn (1987), (1989) [54,55]
• Cơ sở vật chất: Là một trong những điều kiện rất quan trọng, trong
đó thuỷ lợi là yếu tố hàng đầu cho thâm canh tăng vụ, đặc biệt là đa dạng hoá cây trồng Ở đâu có hệ thống thuỷ lợi tốt, giải quyết tưới tiêu chủ động thì ở
Trang 32đó cho phép phát triển HTCTr tăng vụ có hiệu quả (tác động thuận)
• Vốn: Nguồn vốn là yếu tố quan trọng xác định tính khả thi kinh tế
cho giải pháp kĩ thuật Không có vốn và tín dụng thì không thể có đầu tư phát triển sản xuất được, đặc biệt đối với việc chuyển đổi HTCTr mới đòi hỏi chi phí cao hơn
• Sử dụng lao động: Sử dụng lao động đầy đủ và hợp lý cũng như
nâng cao trình độ dân trí cho người lao động là những yêu cầu của phát triển HTCTr sao cho vừa tạo thêm việc làm cho người lao động, vừa rải vụ để giảm căng thẳng lao động trong những thời điểm nhất định
• Phân bón: Sử dụng phân bón hợp lý có tác dụng nâng cao năng
suất cây trồng và phát triển HTCTr Tập quán canh tác và kinh nghiệm truyền thống tốt của người nông dân sẽ là cơ sở nghiên cứu chuyển đổi HTCTr Những tập quán canh tác lạc hậu sẽ hạn chế, kìm hãm việc áp dụng TBKT vào sản xuất cũng như cải tiến HTCTr cũ
• Yêu cầu của thị trường: Nhu cầu thực tế trên thị trường sẽ đòi hỏi
nên lựa chọn HTCTr nào, quy trình công nghiệp nào và sản xuất ở đâu, bao nhiêu để có hiệu quả và lợi nhuận cao Đây là nhân tố đầu tiên nông dân quan tâm khi sản xuất hàng hoá để họ lựa chọn phương án sản xuất có lợi nhất
• Các chính sách kinh tế: Chính sách là môi trường để các hộ nông
dân đổi mới HTCTr, đổi mới hệ thống canh tác Các chính sách về thuế, giá
cả đầu vào và đầu ra, chính sách đầu tư, chính sách đất đai đều ảnh hưởng đến sản xuất, nếu chính sách đúng thì có tác dụng tích cực thúc đẩy sản xuất, phát triển HTCTr mới và ngược lại Một HTCTr mang tính chất tự cấp, tự túc muốn trở thành HTCTr mang tính chất sản xuất hàng hoá cần phải phá vỡ tính chất khép kín của từng hộ
Như vậy chúng ta có thể thấy các nhân tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển HTCTr Ở từng vùng, những nhân tố
Trang 33thuận lợi, khó khăn cũng khác nhau Việc nghiên cứu phát triển HTCTr cần chú ý khai thác yếu tố thuận lợi, với những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp khắc phục trên cơ sở nghiên cứu có kế hoạch và thực tiễn Vấn đề mấu chốt của nghiên cứu phát triển HTCTr là tìm ra yếu tố hạn chế cản trở hay con gọi là "điểm thắt" của hệ thống đó
2.1.4 Đặc điểm và những vấn đề cần quan tâm của nông nghiệp nhiệt đới
2.1.4.1.Ưu thế tiềm năng quang hợp cao
Nguyên lý cơ bản của sản xuất nông nghiệp là biến năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng chứa trong thực phẩm và các sản phẩm khác có ích cho con người Năng lượng ánh sáng mặt trời nhận được/ha càng nhiều thì tiềm năng nông nghiệp càng lớn Khí hậu ôn đới nhận 80 - 120 Kcal năng lượng mặt trời/cm2/năm Khí hậu á nhiệt đới 140 - 190 Kcal/cm2/năm, còn ở nhiệt đới là
130 - 220 Kcal/cm2/năm Như vậy ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nhận được năng lượng mặt trời nhiều hơn gần gấp đôi so với vùng ôn đới nên tiềm năng sản xuất nông nghiệp ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới cao hơn Mặt khác ở vùng nhiệt đới có thể trồng trọt quanh năm, trong khi đó ở vùng ôn đới về mùa đông hầu hết cây trồng ngừng sinh trưởng vì không giữ được bộ lá
Ở vùng nhiệt đới cho phép trồng trọt các cây trồng quang hợp theo chu trình C4 (ngô, mía, cao lương, kê, cỏ voi ), các cây trồng này có khả năng đồng hoá năng lượng ánh sáng mặt trời cao hơn các cây trồng có chu trình quang hợp C3 như lúa mỳ, đậu tương và hầu hết các cây có củ
Theo Duckham, AN Masefeld (1976) [67] đưa ra khả năng sản xuất chất khô của thảm thực vật tự nhiên ở các vùng khí hậu như sau:
- Nhiệt đới ẩm: 146 tấn/ha
- Nhiệt đới bán ẩm có 2 mùa mưa: 104 tấn/ha
- Nhiệt đới bán khô hạn: 37 - 72 tấn/ha
- Ôn đới: 50 tấn/ha
Năng suất cỏ được bón phân tưới nước ở ôn đới tối đa là 20 - 25 tấn chất khô/ha/năm, ở nhiệt đới tối đa đạt 40 - 50 tấn chất khô/ha/năm
Trang 342.1.4.2 Những khó khăn trong canh tác nông nghiệp ở vùng nhiệt đới
• Hiệu suất sử dụng năng lượng mặt trời thấp: Tiềm năng to lớn của
nhiệt đới không được phản ánh đầy đủ trong thực tiễn sản xuất Canh tác thâm canh ở ôn đới đạt được hệ số sử dụng khoảng 2% của năng lượng ánh sáng hoạt tính nhận được, trong khi đó ở đại bộ phận canh tác nhiệt đới không vượt quá 0,2% Hệ số kinh tế cũng thấp, ở canh tác ôn đới thâm canh và các vùng phát triển của á nhiệt đới sử dụng các giống mới hệ số kinh tế đạt 30 - 56% trong khi đó ở canh tác truyền thống nhiệt đới, hệ số kinh tế chỉ đạt 5,0 - 35,0% Trên thực tế canh tác ở vùng ôn đới tạo ra nhiều chất khô hơn và hệ số kinh tế cao hơn Theo Duckham (1976) [67], Mandac A.M (1986) [73] thì sản phẩm lương thực thu được/ha trồng trọt ở những nước thu nhập thấp ở nhiệt đới bằng 1/2 ở ôn đới (các nước có thu nhập cao)
• Diễn biến thất thường của các yếu tố khí hậu
+ Mưa: Để tận dụng năng lượng ánh sáng mặt trời, cây trồng cần độ ẩm
đất đầy đủ Diện tích đất đủ ẩm ở nhiệt đới có mưa hoặc có tưới để sản xuất cây trồng quanh năm là rất hạn chế, vì phân bố mưa không đều theo các mùa trong năm, giữa các năm và giữa các vùng, đặc biệt ở những nơi có lượng mưa thấp Theo Duckham, (1976) [67] thì hệ số biến động của lượng mưa ở nhiệt đới là 30%, trong khi đó ở ôn đới con số này chỉ có 15% Khả năng giữ
ẩm của đất thấp, tỉ lệ bốc hơi cao Mưa thường đi kèm với các trận bão lớn, mưa lớn trong thời gian ngắn và nước mưa mất đi do chảy tràn Mưa lớn có thể gây lũ lụt và xói mòn đất
+ Chế độ gió: Gió là đặc điểm đáng chú ý của khí hậu nhiệt đới Gió
cùng với mưa lớn gây áp thất nhiệt đới và bão Gió nóng làm tăng khô hạn, ở nhiều vùng nhiệt đới mùa khô là mùa có gió nhiều làm giảm khả năng sinh trưởng của cây trồng và gây bào mòn đất
Khí hậu ảnh hưởng đến nông nghiệp không chỉ đến thời gian và mức
Trang 35sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến cả sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi Quá nóng, quá ẩm có thể ảnh hưởng đến sinh lý gia súc, hạn chế về năng suất Nhiệt độ và ẩm độ cao gây khó khăn cho việc cung cấp thức ăn trong mùa khô, giảm sản lượng trong thời gian bảo quản
• Những khó khăn về đất đai:
Đất nhiệt đới cũng giống như các loại đất khác là sản phẩm của khí hậu, đá
mẹ, sinh vật, thời gian và địa hình Do điều kiện khác nhau nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau Mặc dù vậy đất nhiệt đới cũng có những nét chung: Một đặc điểm nổi bật nhất là tính thấm, khi có mưa lớn, nước mưa hòa tan các chất dinh dưỡng và thấm xuống tầng đất phía dưới tầng rễ cây Nhiều loại đất, đặc biệt là ở vùng ẩm có độ phì tự nhiên thấp thường thiếu lân và đạm Phần lớn các chất ding dưỡng có giá trị nằm ở vùng rễ cây dưới dạng hữu cơ
Một đặc tính chung nữa của đất nhiệt đới là cấu trúc của đất kém Khả năng giữ nước kém nên khi có mưa lớn kèm theo giông bão làm tăng xói mòn
bề mặt Đất ở vùng nhiệt đới bị phong hoá mạnh, rửa trôi các cation kiềm, tích luỹ sắt, nhôm di động cao làm cho pH thấp, các chất dinh dưỡng, nhất là lân bị kết tủa hoặc giữ chặt trong đất, cây trồng không sử dụng được
Như vậy có thể thấy sản xuất nông nghiệp ở vùng nhiệt đới phức tạp hơn rất nhiều so với vùng ôn đới Ở vùng nhiệt đới sự phân giải chất hữu cơ mạnh hơn, chất dinh dưỡng rửa trôi nhiều hơn và tiêu hao độ phì đất nhanh hơn vì vậy người nông dân càng phải cố gắng cao hơn để duy trì độ phì đất
Để vượt qua rủi ro, bảo đảm cung cấp lương thực, người nông dân cần thiết phải sử dụng nhiều tài nguyên hơn mức bình thường
Hầu hết nông dân vùng nhiệt đới đều coi việc bảo vệ độ phì đất là vấn
đề quan trọng và hầu hết các hệ thống canh tác đều phải có các biện pháp để duy trì và nâng cao độ phì đất Vấn đề là làm thế nào để đất canh tác có đủ
chất dinh dưỡng và đủ điều kiện để cây trồng hút chất dinh dưỡng
Trang 36• Những khó khăn về mặt sinh học:
Thành phần các loại cây ở nhiệt đới rất phong phú kể cả các giống tự nhiên cũng như các giống nhân tạo, ấm và đủ ẩm là điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng nhưng cũng là mối đe dọa của dịch sâu, bệnh đối với cây trồng, gia súc và gây hại cho quá trình chế biến, bảo quản nông sản Cỏ dại sinh trưởng mạnh khó tiêu diệt là nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất ở nhiều vùng Có nhiều loài côn trùng, nấm, vi khuẩn phát triển nhanh trong thời gian ngắn gây nên dịch hại và dẫn đến mất mùa
2.2 Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.2.1 Những kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu các biện pháp nhằm hoàn thiện HTCTr luôn là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất Nghiên cứu đặc tính sinh học, giống, thời vụ, công thức luân canh, cơ cấu diện tích… là những mục tiêu được các nhà khoa học quan tâm nhằm tìm ra những ưu điểm, hạn chế và đưa ra các giải pháp, phát huy các tiềm năng, ưu thế và khắc phục những nhược điểm
Bùi Huy Đáp (1974) [7]: Việc thay đổi hệ thống cây trồng đã làm thay đổi cơ cấu cây trồng, cây thức ăn gia súc, cây họ đậu và công thức luân canh Nhờ đó năng suất cây trồng tăng lên đáng kể, đất đai được bồi dưỡng cải tạo Chế độ luân canh này bắt đầu được áp dụng rộng rãi trên cả đất bằng và đất dốc, đem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh, sau đó lan dần sang Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp…
Từ những năm 60 của Thế kỷ 20, các viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới hàng năm đã tuyển chọn ra nhiều loại giống cây trồng mới, đưa ra nhiều công thức luân canh, nhiều quy trình kỹ thuật tiến bộ, đề xuất cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng vùng sinh thái, nhằm tăng năng suất và sản lượng và giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích canh tác Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã đóng góp nhiều thành tựu về cơ cấu giống lúa cho sản
Trang 37Long, 1997) [29]
Những năm 70 của Thế kỷ 20, các nhà khoa học của các nước Châu Á
đã đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng theo hướng lấy lúa làm nên tảng, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, chế độ xen canh gối vụ ngày càng được chú ý nghiên cứu Ở Châu Á hình thành “Mạng lưới canh tác Châu Á” một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) với nhiều quốc gia trong vùng, nhằm giải quyết 3 vấn đề: (1) Tăng vụ bằng trồng cây ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ; (2) Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh tăng vụ; (3) Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm ra và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao (Lý Nhạc, Phùng Đăng Chinh, 1987) [32]
Chế độ luân canh 4 năm và 4 khu (Nordfolk) với HTCTr gồm một số cây chăm sóc giữa hàng như khoai tây, cây củ qủa, ngũ cốc mùa xuân, cây cỏ
ba lá và ngũ cốc mùa đông, đồng thời tăng cường các biện pháp kỹ thuật như làm đất, bón phân và cây cỏ ba lá có tác dụng bồi dưỡng cải tạo đất tốt (Kuan C.Y, 1982) [71] Chính vĩ lẽ đó đã làm cho năng suất ngũ cốc tăng gấp 2 lần (đạt 16 - 17 tạ/ha) và sản phẩm lương thực, thực phẩm trên 1 ha đất canh tác tăng lên gấp 4 lần so với chế độ luận canh cũ (do khoai tây, củ, quả được đưa thêm vào HTCTr và do năng suất ngũ cốc tăng) Chế độ Nordfolk bắt đầu được áp dụng rộng rãi và đem lại nhiều thắng lợi ở Anh và sau đó đã lan tràn sang các nước khác ở Tây Âu Vùng Bắc nước Pháp áp dụng hệ thống 5 năm hay 5 khu: Củ quả, ngũ cốc mùa xuân, cây phân xanh, ngũ cốc mùa đông, đậu
Hà Lan, yến mạch Đan Mạch thực hiện hệ thống 8 khu: Củ quả, ngũ cốc mùa xuân, cây phân xanh, ngũ cốc mùa đông, khoai tây để nghỉ mùa đông (Bùi Huy Đáp, 1974, 1983) [7,10]; FAO, 1989,1994 [69,70])
Châu Á là khu vực trồng lúa chủ yếu, khoảng 90% sản lượng lúa trên thế
Trang 38giới được sản xuất ở Châu Á Đất trồng lúa của Châu Á chỉ có 1 phần nhỏ được tưới, còn 70% diện tích là trồng lúa nhờ nước trời Trước đây trên đất lúa có tưới thường được trồng 2 vụ lúa trong năm và trên đất lúa nước trời, thường được trồng 1 vụ lúa trong mùa mưa (dẫn theo Bùi Huy Đáp, 1978 [9])
Vào những năm 1960, các nhà sinh lý thực vật phát hiện rằng không một cây nào có khả năng sử dụng toàn thể tài nguyên thiên nhiên ở một vùng và cũng thời gian này các nhà nghiên cứu Viện lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, đứng lá, tiềm năng sản lượng cao chỉ có thể thích ứng trong một phạm vi hạn chế Do đó từ những năm đầu của thập kỷ
70 các nhà khoa học của các nước Châu Á đã đi sâu nghiên cứu toàn bộ HTCTr theo hướng lấy lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu trồng cạn Các chế độ trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng được chú ý nghiên cứu Theo hướng này, đã hình thành "Mạng lưới hệ canh tác Châu Á", một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng Từ ngày 21 - 24/9/1976, IRRI đã tổ chức cuộc hội thảo về nghiên cứu và phát triển hệ canh tác cho nông dân trồng lúa Châu Á với gần 70 nhà khoa học, nghiên cứu viên đã tham gia thảo luận (dẫn theo Hoàng Văn Đức, 1982) [14]
+ Ở Trung Quốc, đã xác định được HTCTr hợp lý trên các đất 2 vụ lúa
với HTCTr chủ yếu là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mỳ hoặc khoai tây, cải, đậu Hà Lan… Trên các vùng đất lúa 1 vụ HTCTr thường là 1 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn (Kumar.MSM, 1987 [72])
+ Ở Đài Loan, hệ thống canh tác được thực hiện trên cơ sở hệ thống
canh tác thâm canh ngắn, xen giữa lúa và sau lúa, với công thức luân canh: Lúa - Lúa - Rau hoặc đậu tương; Lúa - Rau - Lúa hoặc đậu tương; Lúa - Dưa gang - Lanh hoặc Cải dầu Một nghiên cứu khác về giống cây hoa màu chịu rợp trồng xen trong mía (cây công nghiệp chiếm diện tích lớn nhất ở Đài
Trang 39Loan), hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đưa vào trồng sau khi thu hoạch lúa mùa đã mang lại kết quả khả quan
+ Ở Thái Lan đã thử nghiệm thành công việc tăng vụ lúa ngắn ngày ngay
trước mùa lũ, phát triển diện tích cây màu xen canh, tăng vụ Trong điều kiện thiếu nước, từ công thức luân canh: Lúa xuân + Lúa mùa cho hiệu quả thấp vì chi phí nước tưới quá lớn và sản xuất độc canh đã chuyển sang cơ cấu: Đậu tương xuân + Lúa mùa cho hiệu quả kinh tế gần gấp đôi và tăng độ phì cho đất (dẫn theo Bùi Quang Toản, 1989) [47] Ở những vùng có thể trồng lúa nước, mô hình Lúa - Cá phỏng từ tự nhiên là bước khởi đầu cho nông dân học tập và phát triển kiểu canh tác tổng hợp (Integrated Farming) Theo Sectian.M (1987) [36]
và Suan.A, 1988 [77], mô hình Lúa - Cá tuỳ thuộc chân đất, trên chân đất vàn, dùng giống mới năng suất cao còn trên đất trũng là giống lúa cổ truyền với cá
+ Ở Ấn Độ, chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn Ấn Độ
1960 - 1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ 1 năm 2 vụ cốc (2 vụ lúa nước, hoặc 1 vụ lúa nước và 1 vụ lúa mì), đưa thêm vào 1 vụ đậu đỗ đã đáp ứng được ba mục tiêu: (1) Khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai, (2) Ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng, (3) Đảm bảo lợi ích của người nông dân Ở Orissia (Ấn Độ) thí nghiệm trồng xen 3 giống Pigeorepas và 2 giống lúa, kết quả thu được giống lúa Anmala và giống đậu T7 trồng xen với nhau cho năng suất cao nhất (Bùi Huy Đáp, 1985) [11]
+ Các nghiên cứu ở Indonesia 1975 - 1976 đã thí nghiệm thành công
các mô hình tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng ở đất có tưới 10 tháng, 7 tháng
và 5 tháng Các mô hình chọn thử nghiệm như: 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 1 vụ lúa - 1
vụ màu, 2 vụ lúa - 1 vụ màu (màu chủ yếu là đậu đỗ, rau và ngô)
+ Ở Philippin với tổng lượng nhiệt 98000C không có tháng nào dưới
200C thuộc nhiệt đới, trước đây người dân vẫn có tập quán trồng 2 vụ ở đất có
Trang 40tưới, nay nhờ có giống cây ngắn ngày đã xác định có thể trồng 3 - 4 vụ/năm Đưa cây trồng cạn vào hệ thống luân canh như: Lúa - Lúa - Đậu tương hoặc Lúa - Khoai tây - Đậu tương - Ngô đường, đều cho kết quả tốt (dẫn theo Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, 1992 [40])
Cũng tại Philippin, mô hình Lúa - Vịt - Cá với mật độ 20 con vịt/ha đã mang lại hiệu quả cao, mô hình này giảm được công làm đất, làm cỏ và nâng cao năng suất lúa, cá (Mandac, 1986 [73]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp từ lâu đời, có nhiều chứng tích của nền văn minh nông nghiệp Sông Hồng thuở sơ khai mà chủ đạo là cây lúa nước, hiện còn 1 số giống lúa, đậu, lạc, cây ăn quả quý đã được sử dụng từ lâu Cùng với cuộc "Cách mạng xanh" diễn ra ở một số nước nhiệt đới, công tác nghiên cứu về HTCTr ở nước ta mới được thực sự chú ý và cũng bắt đầu trên đất trồng lúa ở vùng châu thổ Vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ XX, Đào Thế Tuấn (1987) [54] đã nghiên cứu và đưa ra một số kết quả quan trọng như đưa cơ cấu vụ lúa xuân với các giống lúa ngắn ngày vào sản xuất, hình thành cơ cấu lúa xuân và mùa sớm, nhờ đó đã để lại một khoảng thời gian trống giữa 2 vụ lúa (từ sau thu hoạch lúa mùa sớm và mùa chính vụ đến khi cấy lúa xuân), tạo điều kiện để xây dựng một HTCTr 3 vụ (2 vụ Lúa + 1 vụ đông) có hiệu quả cao Bắt đầu là tăng thêm 1 vụ bèo hoa dâu (dùng làm phân bón), tiếp đó là đưa rau màu vụ đông để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm và tăng thu nhập trên 1 đơn vị diện tích Kết quả nghiên cứu trên được
áp dụng vào sản xuất đã làm thay đổi HTCTr trên đất 2 lúa từ HTCTr Lúa mùa - Lúa chiêm, sang các HTCTr đa dạng như:
+ Lúa xuân - Lúa mùa - Bèo dâu
+ Lúa xuân - Điền thanh - Lúa mùa - Bèo dâu
+ Lúa mùa - Màu vụ đông - Lúa xuân (màu vụ đông gồm khoai tây,