1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên

103 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 854,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước chính là xây dựng nước ta trở thành một một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản x

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

-      -

VŨ TRÍ BÌNH

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC SẢN PHẨM Ở ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HỮU ẢNH

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên của cá nhân tôi được thực hiện trên

cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Lê Hữu Ảnh Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận

Hà nội, ngày tháng năm 2011

Tác giả luận văn

Vũ Trí Bình

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Bộ môn Tài chính, các thầy cô trong Viện đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; cảm ơn các phòng, ban, ngành thuộc huyện Yên Mỹ; cảm ơn UBND

xã Giai Phạm và xã Thanh Long đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn và sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Hữu Ảnh, Người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh đề tài của mình

Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những tình cảm cao quý đó./

Hà nội, ngày tháng năm 2011

Tác giả luận văn

Vũ Trí Bình

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Danh mục viết tắt viii

Phần 1: MỞ ĐẦU 1 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4 2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về khu công nghiệp 4 2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến khu công nghiệp 4 2.1.2 Vai trò của khu công nghiệp 6 2.1.3 Phân loại khu công nghiệp 8 2.2 Sản phẩm và cấu trúc sản phẩm 10 2.2.1 Sản phẩm và cấu trúc 10 2.2.2 Cấu trúc sản phẩm và cơ cấu kinh tế 11

2.3 Lý luận về nghiên cứu tác động của khu công nghiệp 13

2.3.1 Tác động của khu công nghiệp tới vấn đề kinh tế 13

2.3.2 Tác động của khu công nghiệp tới vấn đề xã hội 16

2.3.3 Tác động của khu công nghiệp tới vấn đề môi trường 17

Trang 5

2.4 Một số kinh nghiệm thực tế về phát triển khu công nghiệp ở

2.4.1 Một số kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp ở một số nước 18

Phần III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

3.2.1 Phương pháp chọn địa điểm, chọn mẫu nghiên cứu 39

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở huyện Yên Mỹ - Hưng Yên 44

4.1.1 Đặc điểm các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Yên Mỹ 44

4.1.2 Tình hình phát triển khu công nghiệp trên địa bàn huyện Yên Mỹ 45

4.2 Tác động của khu công nghiệp đến cấu trúc sản phẩm 47

4.2.1 Tình hình biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện 47

4.2.2 Tác động của khu công nghiệp đến các yếu tố đầu vào của sản xuất 52

4.2.4 Tác động của của khu công nghiệp làm thay đổi giá trị và cơ

Trang 6

4.3 Phân tích ma trận SWOT của hộ sản xuất kinh doanh dưới tác

4.4 Giải pháp thúc đẩy những tác động tíc cực hạn chế những tác

4.4.1 Khuyến khích phát triển chăn nuôi, công nghiệp chế biến và

4.4.2 Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển nông thôn 80

4.4.4 Đảm bảo giữ vững diện tích đất nông nghiệp màu mỡ bằng rà

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình biến động cơ cấu đất đai của huyện 48

Bảng 4.2 Tình hình biến động cơ cấu lao động ở địa bàn huyện 49

Bảng 4.3 Tình hình cơ sở vật chất phục vụ sản xuất ở địa bàn huyện 50

Bảng 4.4 Tình hình cơ sở vật chất phục vụ sản xuất ở địa bàn huyện 51

Bảng 4.6 Số lượng và cơ cấu lao động của hộ tại hai xã trên địa bàn 54

Bảng 4.7 Tình hình đầu tư của hộ trên địa bàn huyện Yên Mỹ 57

Bảng 4.8 Tình hình áp dụng máy móc và công nghệ vào sản xuất 62

Bảng 4.9 Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành trồng trọt 64

Bảng 4.10 Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành chăn nuôi 67

Bảng 4.11 Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành CN chế biến, chế tạo 70

Bảng 4.12 Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành xây dựng 73

Bảng 4.13 Giá trị và cơ cấu sản phẩm sửa chữa buôn bán 75

Bảng 4.14 Giá trị và cơ cấu sản phẩm dịch vụ lưu trú ăn uống 77

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Đồ thị 4.2 Tác động của KCN đến khả năng quản lý sản xuất của hộ 59

Đồ thị 4.3 Tác động của KCN đến khả năng quản lý sản xuất của hộ 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CN – XD : Công nghiệp – Xây dựng

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

BQLĐNN : Bình quân lao động nông nghiệp

GTSX : Giá trị sản xuất

GTSXNN : Giá trị sản xuất nông nghiệp

SXNN : Sản xuất nông nghiệp

Trang 10

Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Để hội nhập với cộng đồng quốc tế, để theo kịp xu hướng phát triển chung của nhân loại chúng ta cần phải có những bước đột phá mới nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế đất nước ngày một lớn mạnh với phương thức sản xuất, phương hướng phát triển phù hợp Trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh đến chủ trương, chính sách công nghiệp hoá - hiện đại hoá, theo đó đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước chính là xây dựng nước ta trở thành một một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Để thực hiện mục tiêu trên từ năm 1991 các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCX, KCN) tập trung đã được phát triển nhiều tại các địa phương trên

cả nước và khi các KCN này hình thành và phát triển đã đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội KCN có tác động nhiều mặt đến địa bàn: Tác động về mặt kinh tế; Tác động về mặt xã hội; Tác động đến môi trường

Trong các tác động của KCN thì tác động về mặt kinh tế là quan trọng nhất, ảnh hưởng sâu rộng nhất và nó có liên quan đến các tác động khác về xã hội và môi trường Tác động về mặt kinh tế thể hiện trước hết là tác động đến

cơ cấu và cấu trúc sản phảm và kết quả là tăng thu nhập cho lao động, giải quyết việc làm, thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đất đai, cơ cấu lao động, Tại Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp

bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều

Trang 11

lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất" Tuy nhiên, việc quy hoạch, phát triển và xây dựng tràn lan các KCN đang diễn ra tại nhiều địa phương đã nảy sinh ra nhiều vấn đề tiêu cực tác động không nhỏ đến bộ phận dân cư trong khu vực

Nghiên cứu tác động của các KCN đến cơ cấu và cấu trúc sản phẩm đây là lĩnh vực mới chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ tại các tỉnh, thành phố, huyện thị trong cả nước Huyện Yên Mỹ nơi có hai KCN lớn là KCN Phố Nối A và KCN Phố Nối B đã được hình thành và phát triển trong những năm qua Xuất phát từ những thực tế trên, tôi đã tiến hành chọn và nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu tác động của các khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu tác động của các KCN đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp chính sách phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực do biến đổi cấu trúc sản phẩm góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân trên địa bàn nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa được cơ sở lý luận về tác động của KCN đến biến đổi cấu trúc sản phẩm trên địa bàn huyện

- Đánh giá được tác động của các khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở huyện Yên Mỹ - Hưng Yên

- Đề xuất được những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực từ tác động của KCN đến biến đổi cấu trúc sản phẩm tại địa bàn huyện

Trang 12

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn tác động của các KCN đến biến đổi cấu trúc sản phẩm trên địa bàn huyện trên các khía cạnh sau: Quá trình phát triển KCN trên địa bàn; Quá trình biến đổi cáu trúc sản phẩm của huyện; Tác động của các KCN đến biển đổi cấu trúc sản phẩm của huyện

b Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động về mặt kinh

tế và thay đổi cấu trúc sản phẩm

Phạm vi không gian: Thực hiện trên địa bàn huyện Yên Mỹ- tỉnh Hưng

Yên

Phạm vi về thời gian: Số liệu phân tích các năm 2008 – 2010 các giải

pháp đề ra cho đến năm 2015

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu là xem xét và lượng hóa tác động của KCN đến cấu trúc sản phẩm

Các câu hỏi cụ thể như sau

Sự phát triển các KCN trên địa bàn huyện trong thời gian qua như thế nào? Tác động của KCN đến biến đổi cấu trúc sản phẩm như thế nào?

Tác động tích cực?

Tác động tiêu cực?

Nên có những nhóm giải pháp nào nhằm phát huy tác động tích cực hạn chế tác động tiêu cực góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển góp phần nâng cao đời sống người dân?

Trang 13

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về khu công nghiệp

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến khu công nghiệp

Khu công nghiệp đã hình thành và phát triển hơn 100 năm nay, tuy nhiên khái niệm về khu công nghiệp chưa thực sự có sự thống nhất và còn có những quan niệm khác nhau Các quan niệm này được xây dựng để thực hiện mục tiêu nhất định như phát triển khu công nghiệp, quản lý Nhà nước về khu công nghiệp hoặc khai thác những tác động của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo quan niệm của các nhà quản lý Thái Lan và một số nhà kinh tế học các nước công nghiệp thế hệ thứ hai Đông Nam Á như Malaysia, Philippines cho rằng khu công nghiệp là thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh, được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư (Đặng Văn Thắng, 2006)

Theo Hiệp hội thế giới về KCN, KCX là tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như cảng tự do, khu mậu dịch

tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được

tổ chức này công nhận Như vậy, quan niệm của Hiệp hội thế giới về KCX là một quan niệm rất rộng và nó đòi hỏi các chính sách quản lý có độ linh hoạt cao và mức độ "tự do hoá" khá lớn Tuy nhiên, cũng có quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ (subregion) không nhất thiết phải có sự ngăn cách biệt lập và trên thực tế có nhiều tập đoàn và tổ hợp công nghiệp với một chuỗi

đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau trên một khu vực rộng lớn và việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô lớn như vậy hình thành một loại hình tổ chức mới của KCN mà không nhất thiết phải có một quy chế đặc thù (Nguyễn Thường Lạng, 2006)

Trang 14

Theo Nghị định số 36/1997/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 1997 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao, Chính phủ khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu

tư vào KCN, KCX và khu công nghệ cao (gọi chung và tắt là KCN, trừ trường hợp có quy định riêng cho từng loại khu) trên cơ sở Quy chế này và các quy định của pháp luật Việt Nam

Trong Quy chế này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1 "Khu công nghiệp" là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất

2 "Khu chế xuất" là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu

và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

3 "Khu công nghệ cao" là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan,

có ranh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất

4 "Doanh nghiệp chế xuất" là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo Quy chế này

5 "Doanh nghiệp khu công nghiệp" là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ

6 "Doanh nghiệp sản xuất khu công nghiệp" là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN

Trang 15

7 "Doanh nghiệp dịch vụ khu công nghiệp" là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu

hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp

8 "Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh" (trừ trường hợp có quy định riêng cho từng loại Ban quản lý) là cơ quan quản lý trực tiếp các KCN, KCX trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Ban quản lý KCN trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một KCN (trường hợp cá biệt) hoặc Ban quản lý khu công nghệ cao; do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

Tóm lại, cho dù KCN được hiểu theo cách nào, theo khía cạnh nào thì việc hình thành và phát triển KCN như là quá trình kinh tế khách quan, quá trình có tính quy luật gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá KCN chính là tổng hợp các quan hệ kinh tế: quan hệ giữa các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế, quan hệ đầu tư, nghiên cứu ứng dụng chuyển giao công nghệ Do Nhà nước thành lập, có quy chế riêng, quy định về ngành nghề, ranh giới địa lý, những điều kiện cơ sở hạ tầng với những chính sách, cơ chế, chế độ quản lý riêng nhằm mục đích chiến lược của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.1.2 Vai trò của khu công nghiệp

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá việc xây dựng các khu công nghiệp là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích Các KCN ra đời đã tạo nên một mảnh đất thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghiệp trong và ngoài nước có điều kiện đầu tư sản xuất kinh doanh, nó thúc đẩy việc ra đời của các khu đô thị mới, phát triển dịch vụ và các ngành phụ trợ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội Theo Vũ Anh Tuấn (2006) thì vai trò của KCN ngày càng trở lên quan trọng trong tiến trình phát triển, hội nhập kinh tế của đất nước và nó thể hiện rõ ở một số khía cạnh:

Trang 16

- Góp phần tăng trưởng GDP, thúc đẩy đầu tư và sản xuất công nghiệp

để xuất khẩu, phục vụ các ngành kinh tế và tiêu dùng trong nước

- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng, thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện, cấp nước và thải nước Xử lý môi trường bảo đảm có hiệu quả và phát triển bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học và công nghệ của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp của thế giới

- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận tiện, hoặc tốt hơn là trực tiếp với nguồn nguyên liệu Đôi khi do cự ly vận tải và yêu cầu bảo quản nguyên liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả

- Các KCN có khả năng giải quyết một lượng lớn lao động, đặc biệt

là khu vực nông thôn với chi phí tiền lương thích hợp, đáp ứng nhu cầu sinh kế của người dân

- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và ngoại tiêu

- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử dụng đất để xây dựng KCN

- Phát triển KCN tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền địa phương trong công tác quy hoạch, phân bố và quản lý nguồn lực Bên cạnh đó thì công tác quản lý môi trường cũng có nhiều thuận lợi trong tiết kiệm chi phí xử lý phế thải công nghiệp, đặc biệt là đảm bảo việc hình thành một đô thị hợp lý, bền vững

- Ngoài vai trò về kinh tế xã hội thì việc phát triển KCN còn có ý nghĩa

về an ninh quốc phòng

Tóm lại, KCN có vai trò và là ‘‘hạt nhân” rất quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đó chính là con đường ngắn nhất đưa đất nuớc cơ bản trở thành một nước công nghiệp Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển của KCN cần phải đi liền với các chính sách ưu đãi về thuế (thuế đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, ); hỗ trợ về vốn; lãi suất ưu đãi sao cho phù hợp với nhà đầu tư Ngoài ra cần từ bỏ quan điểm nới lỏng đầu vào quản lý chặt đầu ra, hậu

Trang 17

kiểm thay thế tiền kiểm như các nhà đầu tư nước ngoài từng nói Việt Nam chỉ khuyến khích đầu tư không khuyến khích sản xuất, tiền hậu bất nhất không nhất quán, không minh bạch Bài học Trung Quốc là trước cho, sau lấy có tính làm ăn lâu dài là những kinh nghiệm trong thu hút đầu tư FDI vào các KCN

2.1.3 Phân loại khu công nghiệp

Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu về khu công nghiệp thì có các tiếp cận phân loại khác nhau:

* Căn cứ vào tính chất ngành nghề: Khu công nghiệp được chia thành 3 loại: KCN chuyên ngành, KCN đa ngành và KCN sinh thái

+ KCN chuyên ngành: Đây là KCN hình thành do phân công chuyên môn hoá, bao gồm các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất ra một loại sản phẩm KCN chuyên ngành hoạt động trong một số ngành như cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng

+ KCN đa ngành: Đây là KCN bao gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau Loại hình này cho phép khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ

sở hạ tầng kĩ thuật, dịch vụ

+ KCN sinh thái: là một “cộng đồng” các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết trên cùng một lợi ích: hướng tới một hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự hợp tác trong việc quản lý các vấn đề về môi trường và nguồn tài nguyên Bằng các hoạt động hợp tác chặt chẽ với nhau, “cộng đồng” KCN sinh thái sẽ đạt được một hiệu quả tổng thể lớn hơn nhiều so với tổng các hiệu quả mà từng doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ gộp lại (Nguyễn Cao Lãnh, 2006)

* Căn cứ vào đặc thù của từng đối tượng quản lý: KCN được chia thành

3 loại: KCN tập trung, KCN chế xuất và khu nghiệp công nghệ cao

+ KCN tập trung: Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh khu vực đang dần chuyển biến sang một hướng khác Đó là việc hình thành nên các KCN tập

Trang 18

trung (mang tính tự phát), mà Michael E Porter gọi là những "clusters" Theo định nghĩa của Porter, "cluster" là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh vực cụ thể Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hoá các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ

sở hạ tầng KCN tập trung bao trùm lên cả các kênh phân phối và khách hàng,

và bên cạnh đó là những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ, các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng một loại đầu vào Các KCN tập trung còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội thương mại cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật (Trịnh Minh Giang, 2006)

+ KCN chế xuất: Theo hiệp hội KCX thế giới (WEPZA) KCX là khu vực tự do, do chính phủ xây dựng để xuác tiến các mục tiêu chính sách được áp dụng thí điểm đột phá Khác với chính sách áp dụng cho khu vực nội địa, phần lớn các chính sách áp dụng cho KCX là cởi mở hơn Tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (UNIDO) lại cho rằng khu công nghiệp chế xuất là khu vực sản xuất công nghiệp, giới hạn hành chính, về địa lý, được hưởng chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu, chế độ thuế quan được ban hành, cùng với những quy định về pháp luật ưu đãi, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, (Đặng Văn Thắng, 2006)

+ KCN công nghệ cao: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phat triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa học công nghệ, đào tạo các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ mỗi nước quyết định thành lập Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất (Hoàng Văn Dụ, 2008)

* Căn cứ theo cấp quản lý: Bao gồm KCN do chính phủ thành lập; KCN do tỉnh, thành phố thành lập và cụm công nghiệp do huyện thị thành lập

Trang 19

Tuy nhiên, cho dù phân loại theo tiêu chí nào đi chăng nữa thì ở Việt Nam hiện nay bao gồm những KCN sau:

+ KCN được thành lập dựa trên cơ sở xí nghiệp công nghiệp hiện có, dựa trên cơ sở cải tạo hoàn thiện kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường

+ KCN hình thành do giải toả các xí nghiệp công nghiệp đơn lẻ, kỹ thuật lạc hậu để chỉnh trang lại đô thị và chống ô nhiễm môi trường

+ KCN hình thành để thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thuộc các ngành công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng hoặc phát triển làng nghề truyền thống

+ KCN có quy mô lớn, tập trung, hiện đại do Chính phủ thành lập Tóm lại, các KCN hiện nay ở Việt Nam khá là đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng cả về thành phần kinh tế, quy mô và trình độ Tính chất đa dạng hoá phát triển KCN ở nước ta, một mặt cho phép phát triển ngành nghề, khai thác tiềm năng, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, mặt khác nó tạo ra khả năng thu hút vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ quản lý hiện đại

2.2 Sản phẩm và cấu trúc sản phẩm

2.2.1 Sản phẩm và cấu trúc

Sản phẩm (SP) là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình SP bao gồm dịch vụ, phần cứng, vật liệu đã chế biến, phần mềm hoặc tổ hợp của chúng SP có thể là vật chất (các bộ phận lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến), hoặc phi vật chất (thông tin, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng) SP có thể được làm ra có chủ định ( để dành cho khách hàng), hoặc không được chủ định (chất ô nhiễm hoặc kết quả không mong muốn) (Từ điển bách khoa tiếng

việt)

Cấu trúc là phương thức, cách thức tổ chức tương đối bền vững của các yếu tố trong một hệ thống Nếu như khái niệm hệ thống bao quát các mặt hết sức khác nhau của một khách thể, một chỉnh thể phức tạp nào đó (như cấu

Trang 20

tạo, thành phần, phương thức tồn tại, hình thức phát triển) thì khái niệm cấu trúc trước hết vạch ra những nhân tố như tính bền vững, tính ổn định của khách thể hay đối tượng mà nhờ đó, nó duy trì được chất của nó khi các điều kiện bên ngoài hay bên trong biến đổi Khi cấu trúc bị phá vỡ hay biến đổi thì

hệ thống không tránh khỏi bị phá vỡ hoặc biến đổi Nếu hệ thống là sự liên kết các yếu tố có mối liên hệ qua lại và quy định lẫn nhau thì cấu trúc là thành phần cấu tạo, là tổ chức bên trong của một chỉnh thể thống nhất (Từ điển bách

khoa tiếng việt)

2.2.2 Cấu trúc sản phẩm và cơ cấu kinh tế

Cấu trúc sản phẩm

Cấu trúc sản phẩm là cách thức tổ chức tương tối bền vững của các yếu tố trong một hệ thống sản xuất để tạo ra sản phẩm Hệ thống này bao gồm các yếu tố đầu vào cho sản xuất, quá trình sản xuất và sản phẩm đầu ra của ngành hay lĩnh vực nào đó

Tính bền vững và ổn định của cấu trúc sản phẩm: Một cấu trúc sản phẩm được cho là có tính bền vững, tính ổn định khi nó duy trì được chất của

nó trước những sự thay đổi của điều kiện bên trong hay bên ngoài Như vậy cấu trúc sản phẩm hướng tới giá trị tăng trưởng, chúng ta phải tổ chức sắp xếp các yếu tố đầu vào, phương thức sản xuất hợp lý để làm sao tạo ra những giá trị sản phẩm cao nhất trong điều kiện hạn chế về tài nguyên cũng như nguồn lực và được xây dựng trên thế mạnh của vùng, địa phương Giá trị này không mất khi có những thay đổi của các yếu tố trong hệ thống đó, điều này có nghĩa

là khi các yếu tố đầu vào thay đổi, phương thức sản xuất thay đổi (thay đổi thành phần và mối tương quan giữa các yếu tố) thi nó vẫn tạo ra được một lượng giá trị cao nhất, tốt nhất

Khi cấu trúc sản phẩm thay đổi sẽ làm thay đổi hệ thống hay các yếu tố bên trong của hệ thống trong cấu trúc đó Nếu cấu trúc sản phẩm của địa phương hướng tới tạo ra các giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ thi các yếu tố như đất đai phải thay đổi đất nông nghiệp sẽ phải giảm đi thay vào đó là đất dành cho

Trang 21

các KCN Lao động nông thôn cũng có sự thay đổi về mặt số lượng và chất lượng của lực lượng lao dộng Bên cạnh đó thì cơ cấu vốn đầu tư hay quá trình điều hành sản xuất cũng phải thay đổi theo để phù hợp với cấu trúc mới

Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan

hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Có các loại CCKT khác nhau: cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng,

cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật mà trước hết cơ cấu công - nông nghiệp là quan trọng nhất Trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến lược kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay là xây dựng một CCKT gồm: 1) Cơ cấu ngành: phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, mở rộng khu vực dịch vụ, từng bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện và theo hướng hiện đại 2) Cơ cấu thành phần: nền kinh tế có nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo 3) Cơ cấu vùng: phát triển những vùng chuyên môn hoá sản xuất

có hiệu quả kinh tế - xã hội cao Xác định CCKT hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch CCKT là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào

sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở

đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục sự lạc hậu của nhiều vùng,

nhiều dân tộc (Từ điển bách khoa tiếng việt)

Như vậy giữa hai khái niệm cơ cấu sản phẩm và cấu trúc sản phẩm có những điểm tương đồng và khác biệt sau:

- Cơ cấu sản phẩm là mối tương quan giữa các sản phẩm nó phản ánh quan hệ đầu ra của sản phẩm

Trang 22

Cấu trúc sản phẩm

- Cấu trúc sản phẩm là hệ thống các yếu tố có quan hệ chặt chẽ trong quá trình tạo ra sản phẩm từ các yếu tố đầu vào đến đầu ra Như vậy cấu trúc sản phẩm phản ánh cơ cấu sản phẩm nhưng nó có tính hệ thống và tính liên kết chặt chẽ với nhau

- Sự thay đổi cơ cấu chỉ phản ánh giá trị và sản lượng sản phẩm tạo ra

và mối tương quan giữa chúng Sự thay đổi cấu trúc sản phẩm là quá trình thay đổi mang tính hệ thống bắt đầu từ các yếu tố và nguồn gốc tạo ra sản phẩm đến sản lượng và giá trị đầu ra cuối cùng

2.3 Lý luận về nghiên cứu tác động của khu công nghiệp

Sự hình thành và phát triển của khu công nghiệp nó có những tác động đến địa bàn trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Trong đó tác động về mặt kinh tế luôn giữ vai trò chủ đạo và qua trọng nhất

2.3.1 Tác động của khu công nghiệp tới vấn đề kinh tế

Tác động của KCN đến vấn đề kinh tế chủ yếu tập trung ở tác động đến sản phẩm và cấu trúc sản phẩm trên địa bàn

Hình 2.1 Lý luận về tác động của khu công nghiệp đến cấu trúc sản phẩm

Các yếu tố đầu vào

Đất đai Lao động Vốn

Quá trình sản xuất

Khoa học kỹ thuật Quản lý điều hành Công cụ và phương pháp sản xuất

Đầu ra

Sản phẩm nông nghiệp Công nghiệp, xây dựng Sản phẩm dịch vụ

Tác động của KCN

Trang 23

* Tác động đến các yếu tố đầu

- KCN phát triển sẽ làm thay đổi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như quỹ đất dành cho phát triển các KCN sẽ tăng lên trong khi đó đất cho sản xuất nông nghiệp sẽ dần bị thu hẹp theo sự phát triển của các KCN Lao động trong nông nghiệp sẽ dần chuyển sang lao đông công nghiệp do nhu cầu sử dụng công nhân trong các nhà máy xí nghiệp đóng trên địa bàn Nhu cầu huy động và sử dụng vốn cũng có sự thay đổi rõ rệt: Vốn chủ yếu tập trung cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn

và phát triển các ngành nghề mới trên địa bàn, việc sử dụng vốn của người dân cũng hiệu quả hơn

* Tác động tới việc áp dụng những tiến bộ KH và thay đổi tư duy trong quá trình quản lý điều hành sản xuất

Sự hình thành các KCN có những ảnh hưởng to lớn đến việc ứng dụng khoa học kỹ thuật Khoa học kỹ thuật sẽ được áp dụng trong các doanh nghiệp, xí nghiệp Bên cạnh đó người dân địa phương cũng có nhiều cơ hội tiếp cận và áp dụng khoa hoc kỹ thuật vào sản xuất Sản phẩm sản xuất ra có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao hơn mang tính thị trường hơn

Quá trình hình thành và phát triển các KCN trong khoảng thời gian nhất định nào đó sẽ có những tác động mạnh mẽ tới tư duy quản lý điều hành kinh tế cúa các chủ thể trong xã hội như sản xuất có mục đích hơn để dáp ứng được các nhu cầu của thị trường, hoạt động sản xuất diễn ra cũng được quản lý điều hành kiểm soát theo từng quy trình cụ thể nhằm hướng tới sự hiệu quả và tính cạnh tranh cao

* Tác động tới sản phẩm đầu ra

- KCN có tác động tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương theo hướng CNH - HĐH, đa dạng ngành nghề xuất hiện những ngành nghề mới trong nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trình độ và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm được nâng cao từ đó góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước, mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế

Trang 24

- Đối với địa phương có KCN sẽ góp phần làm cho cơ cấu kinh tế của địa phương thay đổi theo hướng tích cực tăng giá trị hàng hóa, giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ, làm tăng lượng GDP cũng như tăng giá trị sử dụng đất

- Khi KCN phát triển sẽ mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất có tiền năng để thu hút được một lượng lớn lực lượng lao động tại chỗ cũng như trong vùng, giải quyết việc làm cho lao động nhờ đó đời sống kinh tế được nâng cao và việc khám chữa bệnh của người dân cũng được cải thiện tốt hơn

- Kinh tế xã hội ngày biến đổi không ngừng, xu hướng toàn cầu hoá diễn

ra ngày một phức tạp, sức ép của nền kinh tế thị trường đòi hỏi chất lượng lao động ngày một cao Do đó mà lao động làm việc trong KCN thường xuyên được đi học tập để nâng cao tay nghề Chính vì vậy ngoài việc làm tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm ổn định thì các KCN còn giúp cho người lao động

có một tương lai về học tập, nâng cao được dân trí

- KCN hoạt động thì nhu cầu về nhà ở, mức tiêu thụ hàng hoá sản phẩm cũng sẽ tăng lên, từ đó sẽ hình thành mạng lưới đa dạng về ngành nghề dịch vụ ở địa phương

* Tác động tiêu cực

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế xấu đi nếu không có sự chỉ đạo chặc chẽ của các cấp chính quyền

- Đa phần các KCN xây dựng trên đất nông nghiệp đang canh tác, lúc này

sẽ làm một số người dân bị mất đất canh tác, số hộ này sẽ khó có thể chuyển đổi được việc làm mới, số lao động có độ tuổi trên 35 có nguy cơ thất nghiệp từ đó ảnh hưởng đến kinh tế và dẫn đến thu nhập giảm Đây cũng là một yếu tố nảy sinh mâu thuẫn giữa các KCN với người nông dân trong khu vực

- Trong quá trình đầu tư thành lập các KCN, các nhà quản lý chưa xây dựng những cơ sở hạ tầng thiết yếu về chỗ ở, nơi khám chữa bệnh, đào tạo cho người lao động ở tỉnh xa, dẫn đến tình trạng lộn xộn gây mất trật tự an

Trang 25

ninh, người lao động vừa phải lo tìm việc làm, chỗ ở và nơi khám chữa bệnh Điều này tạo sự gắn kết giữa người lao động và doanh nghiệp không cao Nếu nhu cầu tối thiểu này được các KCN quan tâm tốt hơn sẽ là một trong những yếu tố quan trọng thu hút người lao động

2.3.2 Tác động của khu công nghiệp tới vấn đề xã hội

- Các KCN được xây dựng sẽ tạo một lượng lao động, các thành phần dân cư trong xã hội ở các tỉnh xa đến mưu sinh nhưng mâu thuẫn hiện nay chính là các KCN cần lao động có tay nghề kỹ thuật cao, trong khi lao động nông thôn và con em họ lại chưa có nghề nghiệp Do đó việc đào tạo, tuyển dụng lao động tay nghề còn gặp nhiều khó khăn Vì nhu cầu mưu sinh, điều này sẽ khiến các tệ nạn xã hội nhiều hơn

- Công nhân được tuyển vào làm trong các KCN tuy thu nhập cao hơn nhiều lần so với làm nông nghiệp nhưng do tác phong làm việc công nghiệp, hao phí lao động và nhà ở sinh hoạt còn gây nhiều khó khăn

Trang 26

- Ngoài ra, quá trình phát triển KCN có nguy cơ làm mất đi những phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương do lối sống của đô thị xâm nhập vào

2.3.3 Tác động của khu công nghiệp tới vấn đề môi trường

Trong thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trong KCN mặc dù

đã được chú trọng hơn nhưng đa số các KCN trên phạm vi cả nước còn chưa được cải thiện nhiều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy định

* Tác động tích cực

KCN đã có những đóng góp nhất định vào việc bảo vệ môi trường sinh thái do KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải do các doanh nghiệp thải ra để xử lý, tránh tình trạng khó kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất KCN góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất từ nội đô; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc kiểm soát ô nhiễm và có biện pháp xử lý kịp thời đối với hành vi gây ô nhiễm của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp ngoài KCN Thực tế cho thấy một số KCN thực hiện rất tốt và hài hoà mục tiêu thu hút đầu tư với giải quyết vấn đề về môi trường, thực sự là những "công viên công nghiệp", là mẫu hình để các KCN khác tiếp tục triển khai áp dụng, điển hình là KCN Biên Hoà II, KCN Thăng Long (Lê Văn Học, 2006)

Trang 27

trường đang trong tình trạng báo động đỏ, đe dọa sự phát triển bền vững trong thời gian tới (Phạm Thắng, 2006).

Nhiều KCN chưa xây dựng nơi tập trung và xử lý rác thải Việc thu gom và vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy Những nhà máy sản xuất bao bì, hoá chất, nhựa, thường có những chất khó phân huỷ, gây độc hại cho môi trường nước mặt, nước ngầm và đất

Ô nhiễm về nước thải công nghiệp càng trở nên nghiêm trọng Hiện chỉ

có 33 KCN đã có công trình xử lý nước thải tập trung, 10 KCN đang xây dựng, còn lại các KCN khác đều trực tiếp thải ra sông, biển đã gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường xung quanh, nhất là những KCN tập trung các ngành công nghiệp dệt, thuộc da, hoá chất có lượng nước thải thải ra với khối lượng lớn và có tính độc hại cao Chất thải công nghiệp ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 20% - 25% tổng lượng chất thải rắn (Lê Văn Học, 2006)

2.4 Một số kinh nghiệm thực tế về phát triển khu công nghiệp ở một số nước và kinh nghiệm đối với Việt Nam

2.4.1 Một số kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp ở một số nước

2.4.1.1 Đài Loan

Hơn 4 thập kỷ qua, phát triển công nghiệp luôn là động lực cho phát triển kinh tế của Đài Loan, trong đó các KCN giữ một vị trí quan trọng Các chính sách phát triển KCN luôn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chuyển dịch dần từ mô hình sản xuất tập trung truyền thống sử dụng nhiều lao động sang hình thức các KCN công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị thặng dư Những chính sách thông thoáng, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, hỗ trợ tài chính, khuyến khích phát triển kinh tế đã đem lại những kết quả to lớn cho phát triển kinh tế Đài Loan trong những thập niên vừa qua

Quá trình phát triển các KCN của Đài Loan khởi điểm từ những chính sách ban đầu chỉ đơn thuần tạo mặt bằng để xây dựng các xí nghiệp công

Trang 28

nghiệp được kết hợp với chính sách phát triển cân đối theo vùng và nâng cao chính sách phát triển kinh tế

Theo Lê Tuấn Dũng (2007): Nhìn lại tiến trình phát triển các KCN ở Đài Loan, chúng ta có thể phân làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn khởi đầu (1960-1970): khi các ngành công nghiệp đã phát

triển tương đối ổn định, vấn đề quy hoạch đất cho phát triển công nghiệp đã được đặt ra Luật khuyến khích đầu tư ban hành năm 1960 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về việc thành lập các KCN ở Đài Loan

- Giai đoạn tăng trưởng (1971-1980): hình thành các KCN dựa trên các

kế hoạch phát triển kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như lọc hoá dầu, luyện kim và đóng tàu biển Chính quyền Đài Loan đã phát triển các KCN chuyên ngành tại Lâm Viên, Đại Xã, một số KCN nông thôn ở Bắc Đẩu, Trúc Sơn và những vùng phụ cận khác nhằm thu hút lực lượng lao động dồi dào ở khu vực nông thôn Các KCN khác đã được thành lập tại huyện Nam Tử ở Cao Hùng và huyện Đàm Tử ở Đài Trung Việc phân bố các KCN giai đoạn này đã được mở rộng sang miền bắc và miền đông Đài Loan

- Giai đoạn chuyển đổi (1981-1990): do khủng hoảng kinh tế toàn cầu

nên nhu cầu phát triển công nghiệp trong nước giảm sút, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển các KCN ở Đài Loan Giai đoạn này, KCN công nghệ cao Tân Trúc đã được thành lập nhằm thu hút các dự án đầu tư công nghệ mới, tạo nền tảng cho việc chuyển đổi nền công nghiệp Đài Loan từ các ngành công nghiệp truyền thống sang các ngành công nghệ cao Đồng thời chính quyền đã thí điểm quy hoạch Khu vực đặc biệt phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong KCN ven biển Cao Hùng nhằm hỗ trợ các xí nghiệp vừa và nhỏ

- Giai đoạn từ sau năm 1990: là giai đoạn phát triển mới của Đài

Loan Thời gian này do phát sinh những vấn đề về tình trạng ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên và áp lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp trong nước, nên phương thức tổ chức KCN đã chuyển

Trang 29

sang hướng chuyên môn hoá, đa dạng hoá hoạt động như KCN Xi măng Hoà Bình tại Hoa Liên, KCN ven biển Chương Hoá, Vân Lâm, Khu công nghệ phần mềm Nam Cảng ở Đài Bắc, các KCN công nghệ cao ở Đài Nam và Vân Lâm Đồng thời Luật nâng cao các ngành công nghiệp ban hành năm 1990 đã quy định những ngành công nghiệp mới cần được ưu tiên phát triển và đề ra các yêu cầu về chất lượng môi trường trong các KCN

Theo số liệu của Bộ Kinh tế Đài Loan, cho đến năm 2006 Đài Loan có

88 KCN đang hoạt động trên khắp cả nước với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 11.422 ha, thu hút được hơn 11.000 dự án đầu tư, trong đó Cục Phát triển công nghiệp (IDB) trực tiếp quản lý 54 KCN có vai trò quan trọng tới việc phát triển các vùng trong lãnh thổ Ngoài ra có 23 KCN đang trong quá trình xây dựng với tổng diện tích 18,414 ha và 18 KCN khác đã được quy hoạch với tổng diện tích gần 4.400 ha Nhằm thu hút đầu tư vào các KCN, đặc biệt là các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn, chính quyền đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi khác nhau về thuế, hỗ trợ tài chính hoặc vay ưu đãi từ chính phủ, quy định mức khấu hao đặc biệt cho các thiết bị máy móc Các thủ tục xin giấy phép đầu tư, giấy phép hải quan trong các KCN, KCX đều thực hiện chế độ “một cửa” cho nhà đầu tư (Lê Tuấn Dũng, 2006)

Công tác phát triển các KCN ở Đài Loan được phân thành 4 nhiệm vụ quản lý chủ yếu sau: (i) Lựa chọn địa điểm và đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư; (ii) Lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng KCN; (iii) Bán và cho thuê đất trong KCN; (iv) Quản lý điều hành KCN Cục Phát triển công nghiệp (IDB) thuộc Bộ Kinh tế là cơ quan chịu trách nhiệm chính thực hiện xây dựng và triển khai chính sách phát triển các KCN ở Đài Loan Đối với các KCN do tư nhân xây dựng, chủ đầu tư chịu trách nhiệm hoàn toàn việc đầu tư xây dựng

và kinh doanh hạ tầng KCN theo đúng quy hoạch của chính quyền Đối với các KCN do chính quyền Đài Loan đầu tư, Cục Phát triển kinh tế sẽ thành lập nhóm công tác phát triển KCN với thành phần đại diện các cấp chính quyền

Trang 30

trung ương và địa phương cũng như các cơ quan chức năng của Bộ Kinh tế như Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững, Cơ quan quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, Cục Bảo vệ môi trường Nhóm công tác này được tổ chức thành những bộ phận chuyên trách đảm nhiệm các chức năng, nhiệm vụ cụ thể: Bộ phận hoạt động kinh doanh có trách nhiệm đầu tư, xây dựng và phát triển KCN sau khi dự án đầu tư đã được thông qua; tự huy động các nguồn vốn cần thiết để triển khai dự án và thu hồi vốn đầu tư qua việc bán, cho thuê đất đã có

hạ tầng kỹ thuật hoàn chính Việc lập kế hoạch, thiết kế và giám sát xây dựng

sẽ do các bộ phận tư vấn kỹ thuật chuyên trách đảm nhiệm Việc phối hợp công tác xây dựng với phát triển KCN như thu hồi đất, đăng ký đất đai, kết nối hạ tầng đòi hỏi sự hỗ trợ của các cấp chính quyền trung ương, địa phương

có liên quan Sau khi đã hoàn tất việc xây dựng KCN, nhóm công tác phát triển KCN sẽ ban hành các điều lệ quản lý nhằm quy định các hoạt động của các nhà máy trong KCN, các quy định về bảo vệ môi trường, thuê nhân công

và các dịch vụ tiện ích khác (Lê Tuấn Dũng, 2006)

Căn cứ vào điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế xã hội từng khu vực, kết hợp với việc dự báo, đánh giá xu hướng phát triển khoa học-kỹ thuật, công nghệ, triển vọng thị trường thế giới trong thời gian 10-20 năm, mà chính quyền Đài Loan xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế quốc dân, quy hoạch phát triển các KCN và đưa ra các chính sách phát triển phù hợp theo từng giai đoạn Chính sách phát triển KCN được hoạch định theo trình tự các bước: (i) xác định trọng tâm vấn đề cần giải quyết; (ii) xác lập mục tiêu cần phải đạt được; (iii) đề xuất các giải pháp và lựa chọn phương án, chính sách tối ưu Để đảm bảo tính khách quan trong điều hành nền kinh tế, các cơ quan hoạch định chính sách và chiến lược phát triển, quy hoạch, được tách ra khỏi cơ quan quản

lý điều hành Thí dụ Hội đồng Kế hoạch và Phát triển kinh tế chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược phát triển, quy hoạch các ngành, các vùng, kế hoạch phát triển, các chính sách phát triển KCN ; Bộ Kinh tế chịu trách nhiệm tổ

Trang 31

chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch và cụ thể hoá các chính sách Trong quá trình triển khai, các cơ quan này có thể kiểm tra công việc của nhau để kịp trình Chính phủ những giải pháp, điều chỉnh thích hợp nhằm khắc phục kịp thời những khiếm khuyết hoặc sai lệch trong quy hoạch, kế hoạch, chính sách hay trong công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện (Lê Tuấn Dũng, 2006)

Đứng trước tình hình biến đổi lớn từ giữa thập kỷ 1980 dẫn đến nhịp độ tăng trưởng của các ngành kinh tế không ổn định và mất cân đối , chính quyền Đài Loan đã thực thi chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, trên cơ sở đó đề ra nhiều chính sách và biện pháp điều chỉnh phát triển kinh

tế, nhằm tiếp tục đưa Đài Loan bước vào thời kỳ tăng trưởng mới, hướng ngoại mạnh mẽ và toàn diện theo phương châm “Ba hoá”: tự do hoá, quốc tế hoá và chế độ hoá, tiến hành chiến lược nâng cấp ngành nghề, chuyển trọng tâm xây dựng công nghiệp sang các ngành sử dụng kỹ thuật cao, cơ giới hoá,

tự động hoá, tiết kiệm tối đa năng lượng và nguyên liệu Mục tiêu cơ bản của chính sách “Ba hoá” là thực hiện mở rộng toàn diện, tập trung mọi nguồn lực

để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài (kể cả của Hoa kiều và từ Trung Quốc đại lục), khuyến khích tự do cạnh tranh, kiện toàn điều tiết thị trường, sau đó chuyển sang tăng tốc công nghiệp Chính quyền Đài Loan đã đề ra mục tiêu tăng giá trị sản xuất công nghiệp từ 254,5 tỷ USD năm 2003 đạt mức 350,5 tỷ USD vào năm 2008, giá trị sản xuất bình quân hàng năm của mỗi công nhân tăng tương ứng từ 110 nghìn USD lên 150 nghìn USD Đồng thời Đài Loan cũng đưa ra 06 nguyên tắc cơ bản đối với phát triển công nghiệp đó là: (i) có tiềm lực thị trường vững mạnh; (ii) liên kết chặt chẽ giữa các ngành; (iii) tạo giá trị gia tăng cao; (iv) công nghệ tiên tiến; (v) mức độ ô nhiễm thấp; (vi) tiêu thụ ít năng lượng (Lê Tuấn Dũng, 2006)

Theo Lê Tuấn Dũng (2006): Để đạt được các mục tiêu trên thì phát triển công nghiệp nói chung và phát triển KCN nói riêng của Đài Loan đòi hỏi phải có những thay đổi to lớn không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng Sau

Trang 32

khi Đài Loan gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO vào đầu năm

2002, chính quyền Đài Loan đã đề ra những định hướng điều chỉnh trong chính sách phát triển KCN trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, chuyển đổi thu hút đầu tư vào KCN từ dựa trên yếu tố giá thành sang yếu tố chất lượng dịch vụ: Trước đây chủ đầu tư KCN chỉ cung cấp những dịch vụ công cộng cơ bản với mức giá cho thuê đất thấp, nhằm giảm chi phí sản xuất và quản lý của các doanh nghiệp KCN thì nay chuyển hướng sang đầu tư xây dựng các KCN có chất lượng dịch vụ cao với giá cho thuê đất ở mức hợp lý

Thứ hai, chuyển từ định hướng “trọng cung” sang định hướng “trọng cầu” do phương thức đầu tư phát triển KCN theo hướng “trọng cung” trước đây không đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu và đặc điểm của phát triển công nghiệp một cách bền vững Việc cho thuê đất phát triển công nghiệp trong các KCN sẽ dựa trên nhu cầu thị trường và yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp Đồng thời, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển KCN

Thứ ba, chuyển từ mô hình phát triển các KCN tập trung sang mô hình công viên công nghiệp Trước đây các KCN truyền thống chỉ đáp ứng hạ tầng

kỹ thuật thiết yếu như hệ thống đường giao thông, cấp điện, cấp nước Với các đặc tính mới, các công viên công nghiệp sẽ chú trọng hơn công tác bảo vệ môi trường sinh thái, ưu tiên quy hoạch đất cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), các ngành công nghệ cao và các hoạt động giải trí nhằm tạo

ra một hình ảnh mới, chất lượng dịch vụ cao của các công viên công nghiệp

Thứ tư, chuyển từ cung cấp các dịch vụ cơ bản sang các loại dịch vụ cao cấp: Các KCN mới sẽ ngày càng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, không chỉ đơn thuần những dịch vụ sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng hệ thống hạ tầng như trước đây, mà còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về quản lý doanh nghiệp, dịch vụ xúc tiến thương mại, tư vấn pháp lý, phát triển công nghiệp

Trang 33

Thứ năm, phát triển “các công viên công nghiệp thông minh” để nâng cao năng lực hoạt động sản xuất của Đài Loan nhằm đưa Đài Loan thành một trung tâm công nghiệp của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp công nghệ mới, tạo giá trị gia tăng cao Các KCN thông minh này chủ yếu sẽ phát triển các ngành công nghệ thông tin, các hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D, phát triển công nghệ mới, tạo giá trị gia tăng cao, bao gồm cả các trung tâm đào tạo và các viện nghiên cứu

2.4.1.2 Nhật Bản

Nhật Bản đã rất thành công trong những năm 70 như một câu chuyện thần

kỳ trong phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ với những chiến lược và những chính sách công nghiệp hoá đạt được nhiều thành tựu đáng khâm phục mà vẫn gắn liền với xây dựng và gìn giữ một nền văn hoá đặc sắc của mình Trong suốt thời kỳ tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản, các KCN đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các ngành sản xuất công nghiệp, đảm bảo phát triển kinh tế cân đối giữa các vùng, miền của Nhật Bản, quan trọng hơn đời sống của người dân ngày một phát triển với một mức sống rất cao và hiện nay Nhật Bản là một trong những nước công nghiệp bậc nhất trên thế giới

Tính riêng đến năm 1989 cả nước Nhật đã có 602 KCN, gồm 77 KCN ven biển, 525 KCN nội địa với tổng diện tích 34.968 ha (trong đó tổng diện tích các KCN ven biển là 20.257 ha và các KCN nội địa là 14.511 ha) (Lê Tuấn Dũng, 2006)

Theo Lê Tuấn Dũng (2006): Những nhân tố cơ bản tạo nên sự thành công của hệ thống KCN Nhật Bản chính là:

- Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động và phát triển các KCN

Luật Xúc tiến di chuyển công nghiệp ban hành năm 1972 là cơ sở pháp

lý cơ bản cho sự phát triển công nghiệp vùng và hình thành các KCN Luật này khuyến khích di chuyển các xí nghiệp từ khu vực tập trung công nghiệp

Trang 34

quá đông ra các vùng kém phát triển, ít có hoạt động công nghiệp; đồng thời

đề cập đến các kế hoạch xây dựng nhà máy mới hay mở rộng các nhà máy hiện có, bảo vệ môi trường và ổn định lao động

Trên cơ sơ Luật Technopolis ban hành năm 1983, Chính phủ Nhật Bản

đã đề ra Kế hoạch Technopolis là một chiến lược mới để phát triển các vùng

xa xôi hẻo lánh bằng cách tạo ra những thành phố hấp dẫn trong đó các KCN, khu vực nghiên cứu và khu dân cư được liên kết chặt chẽ với nhau KCN ở đây tập trung các ngành công nghệ cao như điện tử, công nghệ sinh học, sản xuất vật liệu mới Khu vực nghiên cứu gồm các trường kỹ thuật, các trung tâm đào tạo hay phòng thí nghiệm nhằm cung cấp những sản phẩm khoa học

kỹ thuật cơ bản cho các doanh nghiệp trong vùng Khu dân cư được quy hoạch xây dựng đồng bộ và hiện đại để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các nhà quản lý, kỹ sư, các nhà nghiên cứu và gia đình họ

Một số luật phát triển vùng có liên quan đến việc hình thành các KCN cũng được ban hành như Luật phát triển các thành phố công nghiệp mới (1962) liên quan đến các KCN ven biển cho các ngành hoá chất và công nghiệp nặng; Luật các biện pháp đặc biệt để khai thác các mỏ than (1961)

Ngoài ra còn có một số qui định của pháp luật điều chỉnh hoạt động phát triển các KCN và quản lý đất đai như: Luật đặt vị trí các nhà máy quy định điều kiện sử dụng đất để xây dựng nhà máy, theo đó các cơ sở sản xuất phải đảm bảo diện tích trồng cây xanh nhất định; Luật quy hoạch đô thị và các quy định khác kiểm soát việc sử dụng đất đai theo các tiêu chuẩn xây dựng; Luật và quy định về bảo vệ môi trường nhằm kiểm soát chất lượng nước và không khí do các nhà máy thải ra, bao gồm cả quy định đánh giá tác động môi trường của dự án

- Lập kế hoạch và cơ chế điều phối

Trong hệ thống quản lý nhà nước của Nhật Bản, có 3 cơ quan chính quản lý hoạt động phát triển của các KCN gồm: Bộ Thương mại và công

Trang 35

nghiệp quốc tế (MITI), Cơ quan quản lý đất quốc gia (NLA) và Bộ Xây dựng (MOC) Theo đó MITI chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch di chuyển công nghiệp, xây dựng các thành phố công nghiệp và các chính sách về phát triển vùng trong đó đề ra cơ cấu công nghiệp, mục tiêu và chiến lược đặt vị trí các ngành công nghiệp, nhằm đảm bảo quy hoạch phát triển các KCN một cách cân bằng dựa trên cơ sở cung – cầu về phát triển công nghiệp của khu vực Cơ quan NLA có kế hoạch tổng thể sử dụng đất, xác định rõ định hướng áp dụng cho các dự án phát triển cả nước và phát triển vùng trong giai đoạn dài (trên

10 năm), đồng thời đưa ra những hướng dẫn về sử dụng đất đai và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng như đường xa lộ, xe điện cao tốc và viễn thông Mỗi loại cơ sở hạ tầng được lập kế hoạch theo một hệ thống riêng, do đó vị trí các KCN trong tương lai có thể được dự kiến trước Bộ Xây dựng (MOC) theo dõi việc sử dụng và phát triển đất đai, xây dựng hạ tầng như giao thông, xử lý chất thải công nghiệp Ngoài ra Bộ Nông nghiệp (MOA) và Bộ Vận tải (MOT) quản lý những vấn đề khác có liên quan

Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và thành lập các KCN do các chính quyền địa phương chủ động lập dựa trên cơ sở các kế hoạch phát triển công nghiệp của cả nước và phát triển vùng của Chính phủ Cộng đồng địa phương cũng tham gia vào việc thẩm định, đánh giá và quyết định dự án thông qua một uỷ ban được thành lập gồm các công ty kinh doanh hạ tầng, đại diện cộng đồng dân cư và các chủ sở hữu đất và các giáo sư kỹ thuật và chuyên gia về phát triển vùng của các trường đại học (trong trường hợp phát triển các KCN công nghệ cao) Để khuyến khích việc đặt các KCN trong vùng mình, các cơ quan địa phương có nhiệm vụ hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ cần thiết mà còn áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư như trợ cấp vốn, miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp

Căn cứ vào ba nguyên tắc cơ bản để phát triển các thành phố công nghiệp “technopolis” (bao gồm: (i) Xác định các khu vực dự kiến phát triển

Trang 36

công nghiệp công nghệ cao; (ii) Xác định các mục tiêu phát triển công nghiệp công nghệ cao trong nền kinh tế địa phương; và (iii) Lập các dự án kinh doanh cần thiết để đạt được các mục tiêu trên), các cơ quan có thẩm quyền xây dựng các tiêu chí cụ thể để lựa chọn địa điểm xây dựng các KCN công nghệ cao “technopolis” như:

+ Khu vực hiện không tập trung quá đông các cơ sở công nghiệp

+ Nằm gần các thành phố được coi như trung tâm hoạt động công nghiệp + Nằm gần các trường đại học đào tạo các ngành phát triển công nghệ cao + Hiện tập trung nhiều cơ sở kinh doanh thương mại

+ Gần các đầu mối hệ thống giao thông chính, xa lộ

Dựa trên các nguyên tắc nói trên, các cơ quan địa phương soạn thảo các chương trình phát triển các thành phố công nghệ cao và được các cơ quan chính phủ thẩm tra để cho phép thực hiện theo các tiêu chuẩn sau: (i) Khu vực thích hợp cho việc thiết lập thành phố công nghệ; (ii) Tuân theo đúng nguyên tắc về phát triển thành phố công nghệ; (iii) Dự án có ảnh hưởng kinh tế thuận lợi cho vùng Với chương trình phát triển trên, Chính phủ đã chỉ định có 25 khu vực phát triển thành các thàn phố công nghiệp; các KCN công nghệ cao

và các khu nghiên cứu cũng được khuyến khích thành lập đồng bộ tại các thành phố này để phục vụ cho các mục tiêu đào tạo và nghiên cứu Đồng thời, Chính phủ cũng đã qui hoạch xây dựng các thành phố sinh thái “Ecopolis” nhằm giải quyết các vấn đề về đô thị hoá và ô nhiễm môi trường sinh thái

- Một số cơ chế hỗ trợ phát triển KCN

Nhận thức được tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận tiện cho sản xuất công nghiệp, Chính phủ Nhật Bản đã dành một lượng vốn đầu tư ngày càng lớn cho lĩnh vực này Nếu như vào năm 1955, tổng vốn đầu tư của Nhà nước cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng công nghiệp là 80 tỷ yên, tương đương 0,9%

Trang 37

GDP thì vào năm 1970 số vốn này là 1.876 tỷ yên, tương đương 2,5 % GDP

và vào năm 1980 là 6.684 tỷ yên, tương đương 2,8 % GDP

Chính phủ đã áp dụng một số biện pháp khuyến khích và hỗ trợ các xí nghiệp theo các luật về phát triển công nghiệp vùng và các quy định của các chính quyền địa phương như: hỗ trợ về thuế (miễn, giảm thuế; áp dụng mức khấu khao đặc biệt); hỗ trợ vốn kinh doanh từ nguồn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; tạo điều kiện vay vốn ưu đãi của các tổ chức thuộc Chính phủ và được áp dụng khác nhau cho từng xí nghiệp trong các KCN theo các luật về phát triển vùng liên quan Một số biện pháp hỗ trợ được áp dụng cho các vùng chỉ định như: (i) miễn thuế doanh nghiệp và thuế tài sản cố định trong vòng 3 năm; (ii) miễn thuế mua bất động sản: (iii) áp dụng chế độ thuế đặc biệt về sở hữu đất đai và khâu khao đặc biệt (16 % các thiết bị sản xuất và 8 % cho các công trình xây dựng và các cơ sở phụ thuộc) Những thiết

bị và công trình xây dựng trong các thành phố technopolis được hưởng mức khấu hao đặc biệt 30 % cho thiết bị và 15 % cho công trình

Nhìn chung Nhật Bản có một hệ thống quy hoạch ổn định và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền trung ương và địa phương với các cơ quan và tổ chức khác Tuy nhiên, một trong những vấn đề khó khăn là sự cạnh tranh mạnh giữa các vùng, vì các KCN do các chính quyền địa phương chủ động thiết lập và hoạt động theo cơ chế thị trường Các doanh nghiệp thường có huynh hướng đặt các xí nghiệp tại những khu vực có điều kiện tốt như gần các thị trường tiêu thụ, vì vậy các KCN ở xa rất khó thu hút các dự

án đầu tư Để đảm bảo sự phát triển được cân đối, Chính phủ đã có chính sách phát triển các KCN trên tất cả các vùng xa xôi, hẻo lánh của đất nước

2.4.2 Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Thực tiễn phát triển các KCN ở Đài Loan cho thấy, vấn đề hoạch định chính sách, đề ra các quyết sách chính xác, mở “đột phá khẩu” đầu tiên chuẩn xác, liên tục, biết thay đổi chính sách kịp thời sát với tình hình và giải quyết

Trang 38

đúng đắn các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển là bài học quan trọng Xuất phát từ nhận thức ấy, các chính sách phát triển KCN của Đài Loan được hình thành trên cơ sở hội tụ đầy đủ các yếu tố, luận cứ khoa học về tự nhiên, xã hội, kinh tế chính trị và sự kế thừa những kinh nghiệm, lịch sử Đó

là quá trình nghiên cứu tổng hợp nhiều yếu tố nhằm tìm ra sự mở đầu mang tính quyết định cho một đường hướng phát triển lâu dài và chính xác

Trên cơ sở xác định đúng đắn chiến lược phát triển kinh tế tổng thể trong từng giai đoạn, các nhà hoạch định chính sách của Đài Loan đã đề ra các chính sách và biện pháp hoàn toàn không theo nguyên tắc cứng nhắc, mà luôn đổi mới theo sát với thực tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, các chính sách được đề ra đều rất chú trọng đến tính tổng thể, có tầm nhìn dài hạn và toàn cục được xây dựng trên cơ sở cân nhắc rất kỹ mục tiêu công nghiệp hoá cho từng thời kỳ

Hình thành một hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia là mục tiêu mà các KCN ở Việt Nam hướng đến vào năm 2015 Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại trên con đường phát triển Mặt khác, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức đang tiếp tục tạo ra những thách thức mới Nếu không tận dụng được những cơ hội để tăng trưởng với tốc độ nhanh, rút ngắn khoảng cách thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa là không thể tránh khỏi Việt Nam cũng không thể áp dụng hoàn toàn các mô hình phát triển KCN thành công trong những thập niên qua của Đài Loan do những thay đổi trong bối cảnh quốc tế cũng như sự khác biệt cơ bản về cơ cấu tổ chức xã hội và nền kinh tế Tuy nhiên, một số kinh nghiệm của Đài Loan về đầu tư phát triển các KCN nói trên sẽ rất bổ ích cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Lê Tuấn Dũng, 2006)

Trang 39

Việc phát triển các KCN của Nhật Bản diễn ra trong những thập niên đầu và giữa thế kỷ 20, trong bối cảnh thế giới khác nhiều so với thời kỳ hiện nay - thời kỳ của toàn cầu hoá, thương mại tự do và động lực tri thức Tuy nhiên, đối với nước ta – một nước đang phát triển và đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những bài học kinh nghiệm về hoạch định chính sách đầu tư phát triển các KCN của Nhật Bản vẫn rất bổ ích đối với Việt Nam

Thứ nhất, cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về KCN, tiến tới ban hành Luật về KCN làm cơ sở pháp lý ổn định và thống nhất cho việc tổ chức

và hoạt động của các KCN ở Việt Nam Các công cụ chính sách đầu tư phát triển KCN phải rõ ràng, minh bạch, đặc biệt là phải nhất quán, có tầm nhìn dài hạn và toàn cục được xây dựng trên cơ sở cân nhắc rất kỹ mục tiêu công nghiệp hoá cho từng thời kỳ

Thứ hai, quy hoạch phát triển các KCN của từng địa phương phải phù hợp với quy hoạch tổng thể các KCN trên cả nước và quy hoạch phát triển công nghiệp, quy hoạch phát triên kinh tế - xã hội vùng, miền, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương để từ đó có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương trong việc đầu tư phát triển các KCN Cần tăng cường cơ chế phối hợp và tạo sự liên thông giữa các KCN của các địa phương

để hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển theo một quy hoạch chung thống nhất của cả nước, khắc phục tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong thu hút đầu tư giữa các địa phương, làm phá vỡ mặt bằng ưu đãi chung và môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững lâu dài của các KCN

Thứ ba, cần lựa chọn cơ cấu đầu tư trong các KCN theo hướng khuyến khích phát triển, thu hút các dự án đầu tư các ngành có hàm lượng khoa học

kỹ thuật cao, có tốc độ tăng trưởng cao và sức lan toả nhanh tới các ngành kinh tế khác để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Cơ cấu đầu tư trong

Trang 40

các KCN phải tính tới lộ trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng tận dụng các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, phát huy lợi thế so sánh của các ngành công nghiệp trong nước để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Thứ tư, sớm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về KCN theo hướng đẩy mạnh việc phân cấp, giao quyền trực tiếp cho các Ban quản lý các KCN của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN Để thực hiện được nhiệm vụ này, Nhà nước cần có chiến lược ưu tiên phát triển và tăng cường năng lực thể chế, trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý các KCN tại các địa phương

Thứ năm, đổi mới vai trò hỗ trợ, điều tiết của Nhà nước trong đầu tư phát triển KCN, chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp vào các quan hệ thị trường, phát triển của các KCN, đảm bảo cơ cấu các nguồn lực cơ bản được phân bố theo cung cầu thị trường nhưng có sự điều tiết của Nhà nước theo các mục tiêu đã xác định

Ngày đăng: 20/11/2014, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Văn Dụ, Phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất: Thành tựu và những vấn đề đặt ra, tạp chí Kinh tế quản lý, số tháng 9-2008, trang 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất: Thành tựu và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Hoàng Văn Dụ
Nhà XB: tạp chí Kinh tế quản lý
Năm: 2008
4. Lê Tuấn Dũng, 2007. Kinh nghiệm hoạch định chính sách phát triển khu công nghiệp của Đài Loan.http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=69&Itemid=39 5. Lê Tuấn Dũng, Công tác hoạch định chính sách phát triển khu công nghiệp của Đài Loan. Một vài kinh nghiệm cho Việt Nam, tạp chí Công nghiệp tháng 12/2006, trang 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác hoạch định chính sách phát triển khu công nghiệp của Đài Loan. Một vài kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Lê Tuấn Dũng
Nhà XB: tạp chí Công nghiệp
Năm: 2006
7. Trịnh Minh Giang, 2006. Khái niệm khu công nghiệp tập trung và vấn đề xây dựng kinh tế vùng.http://www.mba-15.com/forum/showthread.php?t=6538. Nguyễn Thị Thu Hằng (2008). Ảnh hưởng của việc phát triển khu côngnghiệp đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.Luận văn thạc sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm khu công nghiệp tập trung và vấn đề xây dựng kinh tế vùng
Tác giả: Trịnh Minh Giang
Năm: 2006
6. Lê Tuấn Dũng, 2006, Hoạch định chính sách phát triển các khu công nghiệp ở Nhật Bản và một số kinh nghiệm cho Việt Nam.http://www.khucongnghiep.com.vn/news_detail.asp?ID=161&CID=161&IDN=869&lang=vn Link
9. Lê Văn Học, 2006. Thành tựu và những bài học kinh nghiệm qua 15 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam.http://www.khucongnghiep.com.vn/news_detail.asp?ID=159&CID=159&IDN=990&lang=vn Link
14. Vũ Anh Tuấn, 2006. Phát triển Khu công nghiệp, khu chế xuất những vấn đề đặt ra.http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1461/default.asp?Newid=4893 15. Từ điển bách khoa tiếng việt Link
1. Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 91 Khác
2. Nghị định của Chính phủ số 36/1997/ NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 1997 về quy hoạch xây dựng quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao Khác
12. Phạm Thắng, 2006. Phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở nước ta - Một số vấn đề đặt ra.ttp://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=4&ID=4080 Khác
13. Đặng Văn Thắng, 2006. Phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất. Tạp chí Công nghiệp, kì I tháng 5/2006, trang 28 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Lý luận về tác động của khu công nghiệp đến cấu trúc sản phẩm - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Hình 2.1. Lý luận về tác động của khu công nghiệp đến cấu trúc sản phẩm (Trang 22)
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Yên Mỹ - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Yên Mỹ (Trang 41)
Đồ thị 3.1 cho biết đất đai của  huyện Yên Mỹ chủ yếu được sử dụng để  sản  xuất  nông  nghiệp  (chiếm  gần  70%  tổng  diện  tích  tự  nhiên) - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
th ị 3.1 cho biết đất đai của huyện Yên Mỹ chủ yếu được sử dụng để sản xuất nông nghiệp (chiếm gần 70% tổng diện tích tự nhiên) (Trang 42)
Đồ thị 3.2. Tình hình lao động của huyện Yên Mỹ - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
th ị 3.2. Tình hình lao động của huyện Yên Mỹ (Trang 43)
Đồ thị 4.1. Tình hình đầu tư vào khu công nghiệp ở địa bàn huyện Yên Mỹ - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
th ị 4.1. Tình hình đầu tư vào khu công nghiệp ở địa bàn huyện Yên Mỹ (Trang 55)
Bảng 4.4. Tình hình cơ sở vật chất phục vụ sản xuất ở địa bàn huyện - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.4. Tình hình cơ sở vật chất phục vụ sản xuất ở địa bàn huyện (Trang 60)
Bảng 4.7. Tình hình đầu tư của hộ trên địa bàn huyện Yên Mỹ - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.7. Tình hình đầu tư của hộ trên địa bàn huyện Yên Mỹ (Trang 66)
Đồ thị 4.2. Tác động của KCN đến khả năng quản lý sản xuất của hộ - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
th ị 4.2. Tác động của KCN đến khả năng quản lý sản xuất của hộ (Trang 68)
Đồ thị 4.3. Tác động của KCN đến khả năng quản lý sản xuất của hộ - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
th ị 4.3. Tác động của KCN đến khả năng quản lý sản xuất của hộ (Trang 70)
Bảng 4.8  Tình hình áp dụng máy móc và công nghệ vào sản xuất - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.8 Tình hình áp dụng máy móc và công nghệ vào sản xuất (Trang 71)
Bảng 4.9. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành trồng trọt - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.9. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành trồng trọt (Trang 73)
Bảng 4.10. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành chăn nuôi - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.10. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành chăn nuôi (Trang 76)
Bảng 4.11. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành CN chế biến, chế tạo - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.11. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành CN chế biến, chế tạo (Trang 79)
Bảng 4.12. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành xây dựng - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.12. Giá trị và cơ cấu sản phẩm của ngành xây dựng (Trang 82)
Bảng 4.13. Giá trị và cơ cấu sản phẩm sửa chữa buôn bán - Nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến biến đổi cấu trúc sản phẩm ở địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.13. Giá trị và cơ cấu sản phẩm sửa chữa buôn bán (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w